Kinh tế thị trường với những ưu điểm và mặt trái của nó có tác động không nhỏ đến nền văn hóa truyền thống của dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có văn hóa của dân t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em là 54 màu sắc văn hóa khác nhau tạo nên một nền văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cho nên đã hình thành các vùng văn hóa khác nhau Văn hóa gắn liền với toàn bộ cuộc sống và sự phát triển của xã hội Con người ra đời, trưởng thành là nhờ văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ văn hóa Giá trị văn hóa của một dân tộc thể hiện bản sắc của dân tộc ấy Những giá trị văn hóa của con người là thước đo trình độ phát triển và thể hiện đặc tính riêng của mỗi dân tộc Chính vì vậy, nghiên cứu đời sống văn hóa của mỗi dân tộc là nghiên cứu toàn bộ những sáng tạo, phát minh của dân tộc đó trong lịch sử phát triển của xã hội Từ đó
sẽ tìm ra được hệ thống giá trị văn hóa để tôn vinh, kế thừa và phát huy nhằm không ngừng phục vụ tốt hơn cho cuộc sống các thế hệ hôm nay và mai sau Phát triển văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội
Dân tộc Thái có dân số đông thứ hai trong tổng số 53 dân tộc thiểu
số của Việt Nam trong đó có một bộ phận lớn người Thái sinh sống ở tỉnh Sơn La Cũng như các dân tộc khác, dân tộc Thái có một nền văn hóa mang màu sắc riêng và hết sức đặc sắc, góp phần làm phong phú thêm những giá trị cho nền văn hóa đa dân tộc của Việt Nam Những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến đổi Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra như một cơn lốc hút tất cả các nước trên thế giới vào một dòng chảy, Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy này Kinh tế thị trường với những ưu điểm và mặt trái của nó có tác động không nhỏ đến nền văn hóa truyền thống của dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Trang 2Trong quá trình hội nhập, trước sự tác động của cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu văn hóa, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người Thái nói chung và người Thái ở tỉnh Sơn La nói riêng đang có nguy cơ bị mai một, pha trộn, lai căng, không còn giữ được bản sắc
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, tạo điều kiện để vùng Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc, đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu chung của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc nói chung và của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La nói riêng là một vấn đề mang tính thời sự, cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Là người Thái, sống gần gũi với đồng bào Thái Sơn La, tác giả hiểu và yêu quý nền văn hóa của dân tộc Thái Đồng thời, nhận thức được tầm quan trọng của các giá trị văn hóa đối với mục tiêu chung của cả nước và của tỉnh Sơn La
nói riêng, tác giả chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay” làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề văn hóa các dân tộc thiểu số, đặc biệt là văn hóa của dân tộc Thái đã được nhiều người quan tâm, đã có rất nhiều công trình khoa học, hàng trăm bài báo và đầu sách nghiên cứu ở những góc độ và phạm vi khác nhau,
có thể kể đến một số tác phẩm như: “Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số”, của Lò Giàng Páo, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997; “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978; “Tìm hiểu văn hóa dân tộc Thái ở Việt Nam”, Cầm Cường, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993;
“Vài nét về người Thái Sơn La”, Vì Trọng Liên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997; “Nghệ thuật trang phục Thái”, Lê Ngọc Thắng, Nxb Văn hóa dân
tộc, Hà Nội, 1990…
Trang 3Trong số các tác giả nghiên cứu về tộc người Thái, phải kể đến nhà nghiên cứu Cầm Trọng - một người con của dân tộc Thái Ông là tác giả
của nhiều cuốn sách hay và nổi tiếng về dân tộc mình như: “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam”, “Luật tục Thái ở Việt Nam”, “Văn hóa Thái Việt Nam”
Nhìn chung, các tác phẩm, công trình nghiên cứu trên đều đã đi vào khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở nước
ta Tuy nhiên, những việc nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Thái nói chung và người Thái Sơn La nói riêng nhằm giới thiệu về văn hóa dân tộc Thái nhưng chưa có công trình nào đề cập sâu đến sự cần thiết phải bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Thái, đặc biệt giá trị văn hóa của dân tộc Thái trên địa bàn cụ thể
là ở tỉnh Sơn La dưới hình thức một luận văn triết học Vì thế, qua luận văn này, tác giả muốn làm sáng tỏ các khía cạnh xung quanh việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở Sơn La như là một sự biết ơn đối với dân tộc, với quê hương đã sinh ra và nuôi dưỡng tác giả trưởng thành Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu nói trên sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quý giá
để tác giả sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, đề tài tiến hành khảo sát và đánh giá thực trạng việc sử dụng và bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La trong thời
kỳ đổi mới, góp phần xây dựng chính sách kinh tế - xã hội - văn hóa của tỉnh trong thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 4- Làm rõ các quan niệm, khái niệm có liên quan đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Thái
- Tổng hợp số liệu, phân tích số liệu qua kết quả khảo sát, từ đó đánh giá thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở Sơn La hiện nay; chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp, nhằm nâng cao công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay
* Đối tượng nghiên cứu
Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn
La hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số giá trị văn hóa Thái tiêu biểu, thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đó ở tỉnh Sơn La hiện nay
4 Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
* Các luận điểm cơ bản
- Cơ sở lý luận và thực tiễn của bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay
- Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay
- Phương hướng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
* Những đóng góp mới của tác giả
- Luận văn tiếp tục bổ sung, làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của người Thái ở Sơn La
- Góp phần làm rõ thêm những đặc điểm, tính chất, quy luật riêng biệt
có ảnh hưởng đến việc hình thành các giá trị văn hóa của cộng đồng người Thái ở Sơn La
Trang 5- Đánh giá đúng thực trạng việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Thái tỉnh Sơn La, hạn chế những tác động tiêu cực đến công tác này
- Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương trong việc hoạch định các chính sách phát triển văn hóa của tỉnh Sơn
La trong thời gian tới
- Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy các môn liên quan đến văn hóa các dân tộc ở các trường Đại học, Cao đẳng và những ai quan tâm tìm hiểu đến dân tộc Thái nói chung và dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu: phân tích - tổng hợp, qui nạp - diễn dịch, lịch sử - logic
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 5 tiết
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan niệm chung về văn hóa, giá trị văn hóa
1.1.1.1 Quan niệm về văn hóa
Trong quá trình toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập Quốc tế mạnh mẽ, văn hóa đã trở thành lĩnh vực được hầu hết các quốc gia quan tâm chú ý Văn hóa xuất hiện từ những buổi bình minh của xã hội loài người, là khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội và trên thế giới hiện nay
có hàng trăm cách định nghĩa về văn hóa Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện từ rất sớm trong ngôn ngữ nhân loại (xuất phát từ gốc chữ La tinh “Cultura” -
có nghĩa là trồng trọt, canh tác) Về sau được vận dụng và chuyển thành
“vun trồng trí tuệ” Như vậy, có thể hiểu từ “Cultura” theo nghĩa bóng, đó là chăm nom, giáo dục, đào tạo khả năng con người về mọi mặt Tuy nhiên, đến nửa sau thế kỷ XVIII, thuật ngữ “Cultura” mới thực sự trở thành một quan niệm, một thuật ngữ với tính cách khoa học Xuất phát từ những góc độ tiếp cận, nghiên cứu khác nhau, những quan niệm ấy cũng có sự biến đổi theo thời gian và theo tiến trình lịch sử xã hội
Trong cuốn Primitive Culuture (Văn học nguyên thủy) xuất bản năm
1871 ở Luân Đôn, E.B Taylor đã định nghĩa: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực cũng như những thói quen mà con người đạt được trong xã hội” [32;56]
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã nghiên cứu và có nhiều kiến giải sâu sắc và đặt nền móng cho quan niệm Mác - xít về văn hóa Mác, Ăngghen
đã có công lớn trong việc khẳng định con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của quá trình phát triển văn hóa Thông qua hoạt động thực tiễn, con
Trang 7người đã tạo ra thế giới văn hóa, đồng thời tạo ra chính bản thân mình, phát triển năng lực tiềm tàng của bản thân Văn hóa gắn với năng lực sáng tạo của con người và sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động hay chính là sự thăng hoa của sản xuất vật chất, hành vi trên của con người là văn hóa, các vật phẩm do con người làm ra đều mang dấu ấn của con người và đến lượt nó,
nó tác động trở lại bồi đắp tính người Mác viết: “Một tác phẩm nghệ thuật, cũng như mọi sản phẩm khác tạo một công chúng nghệ thuật và có khả năng thưởng thức cái đẹp Bởi vậy, sản xuất không chỉ sản xuất ra vật phẩm cho chủ thể mà còn sản xuất ra chủ thể vật phẩm” [1;50] Trong triết học, mỹ học Mác - xít, khái niệm văn hóa được xác định trong mối quan hệ biện chứng với con người và xã hội Văn hóa là tổng hòa các giá trị mà con người, xã hội đã sáng tạo ra trong suốt chiều dài lịch sử bằng các hoạt động vật chất và tinh thần của mình Văn hóa là sự thể hiện những năng lực bản chất của con người, là sự kết tinh những giá trị tinh thần của con người, là kết quả của các hoạt động sáng tạo, tự do của con người trong quá trình không ngừng nhận thức, khám phá, biến đổi tự nhiên
Bàn đến văn hóa và sự phát triển của văn hóa, chủ nghĩa Mác còn thừa nhận, với tư cách là một hệ giá trị, văn hóa bị chi phối bởi những điều kiện lịch
sử, bởi năng lực thực hiện “lực lượng bản chất người” Vì vậy, mỗi bước tiến của lịch sử là một bước tiến tương ứng của văn hóa Mặc dù hệ giá trị văn hóa rất đa dạng, luôn luôn biến đổi cùng lịch sử nhưng hệ giá trị đó bao giờ cũng dịch chuyển về phía chủ nghĩa nhân đạo mà hằng số là chân - thiện - mỹ
V.I.Lênin là người đặc biệt coi trọng vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng Sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, Lênin có nhiều đóng góp, cống hiến cho lĩnh vực này Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, bảo
vệ và phát triển các nguyên lý của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng, Lênin đã phân tích sâu sắc thêm về mặt xã hội của văn hóa với
Trang 8quan trọng trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới Đó là nguyên tắc về tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc và tính nhân loại trong văn hóa; xác định sự nghiệp văn hóa là một bộ phận trong guồng máy cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Ông khẳng định tính kế thừa biện chứng của sự phát triển văn hóa, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong văn hóa Lênin viết: “Văn hóa vô sản không phải bỗng nhiên mà có, nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản phát minh ra Đó hoàn toàn là điều ngu ngốc Văn hóa vô sản phải là sự phát triển phù hợp quy luật của tổng số những kiến thức mà loài người đã tích lũy được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và xã hội của bọn quan liêu” [15;36]
Giáo sư Federieco Mayor - Cựu Tổng giám đốc Tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc, đã khẳng định trong lễ phát động “Thập niên thế giới phát triển văn hóa” tại Pháp (21/01/1998): Thực tế đã thừa nhận rằng, văn hóa không thể tách rời cuộc sống, ngoài sự tư duy và hoạt động của mỗi cá nhân và cộng đồng, bởi văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại; qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu tạo thành hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình
UNESCO cũng thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển
xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu, động lực cho sự phát triển xã hội Văn hóa giúp con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác
Kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ truyền thống văn hiến ngàn năm của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã định nghĩa về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc
Trang 9sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở, và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó gọi là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [24;43] Quan điểm của Người đã khái quát được nội dung của phạm trù văn hóa, chỉ ra văn hóa không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần mà còn bao hàm cả hoạt động vật chất Người chỉ ra nguồn gốc sâu xa của văn hóa đó chính là nhu cầu sinh tồn của con người, với tư cách là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội Nó biểu hiện sự thống nhất của yếu tố tự nhiên, yếu tố con người, biểu hiện khả năng
và sức sáng tạo của con người trong lao động
Nghiên cứu về văn hóa, các nhà văn hóa Việt Nam cũng có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau
Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam -
Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1998 định nghĩa: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”
Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: “Văn hóa -
vô sở bất tại” nghĩa là “Văn hóa - không nơi nào không có” Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa, nơi nào có con người, nơi đó có văn hóa
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [43;10]
Trang 10Trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, trực tiếp là quan niệm về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn lịch sử phát triển của dân tộc, Đảng ta luôn gắn sự nghiệp xây dựng nền văn hóa với cách mạng trong giai đoạn cụ thể và luôn hướng tới xây dựng một nền văn hóa phục vụ nhân dân Cuốn Đề cương văn hóa của Đảng ra đời năm 1943 đã khẳng định đường lối văn hóa của Đảng đó là nền văn hóa mang nội dung: dân tộc, khoa học và đại chúng Đảm bảo tính dân tộc tức là bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc Quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong suốt quá trình tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII quan điểm đó được cụ thể hóa trong Nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Đến Đại hội XI, Nghị quyết Đại hội một lần nữa khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội”
Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Lịch sử văn hóa là lịch
sử của con người và loài người Con người tạo ra văn hóa và văn hóa là cái nôi hình thành và phát triển nhân cách con người Nói cách khác, văn hóa làm cho con người trở thành NGƯỜI Văn hóa thể hiện phương thức tồn tại của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần của con người và xã hội Từ đó, văn hóa được chia làm hai lĩnh vực cơ bản, đó là: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, bởi “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là
“vật chất hóa” các giá trị tinh thần, các giá trị văn hóa tinh thần không phải bao giờ cũng tồn tại thuần túy tinh thần, mà thường được “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất Ngoài ra, còn các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực giao tiếp, ứng xử, đạo đức, phong tục Dù có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau, song về cơ bản đều thống nhất là văn hóa tồn tại
Trang 11và phát triển trong mối quan hệ thích nghi giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội, giữa con người với con người Mối quan hệ đó luôn có sự biến đổi trong tiến trình lịch sử Chính vì vậy, văn hóa cũng không cố định, bất biến mà luôn luôn phát triển
1.1.1.2 Quan niệm về giá trị văn hóa
Để hiểu về giá trị văn hóa, trước hết cần phải hiểu giá trị là gì? Khái niệm giá trị có lịch sử lâu đời, bắt nguồn từ thời cổ đại ở trong triết học Hy Lạp, Trung Quốc, Ấn Độ khi bàn đến cái cao cả, cái chân, cái thiện, cái mỹ, cái ích trong cuộc sống Đến thế kỷ XIX trở đi thì khái niệm giá trị mới trở thành khái niệm trung tâm của giá trị học với tính cách là một khoa học nhờ
sự khám phá và phát hiện của các nhà triết học lớn như Kant Khái niệm giá trị đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như: kinh tế học, triết học, toán học, đạo đức học Cũng giống như văn hóa, từ trước đến nay đã có không ít định nghĩa về giá trị
Giá trị là khái niệm có độ bao quát rất lớn bởi nó mang tính tương đối Chủ nghĩa Mác coi giá trị là hiện tượng xã hội đặc thù, là một số biểu hiện của các quan hệ xã hội và của mặt tiêu chuẩn đánh giá trong ý thức xã hội
Đại từ điển Bách khoa của Nga định nghĩa: “Giá trị là ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực của các đối tượng thuộc thế giới bao quanh con người, của nhóm xã hội, của xã hội nói chung, được xác định không phải do các tính chất
tự thân của chúng, mà là do chúng được lôi k o vào lĩnh vực hoạt động đời sống, các mối quan tâm, các nhu cầu, và các quan hệ xã hội của con người”
Sự lôi kéo này tạo ra tính chủ quan “Giá trị còn là những tiêu chí và phương pháp đánh giá ý nghĩa ấy, thể hiện qua các nguyên tắc và chuẩn mực, lý tưởng, phương hướng, mục tiêu đạo đức” [Ценности БЭC 1999 - 2000]
Nhà địa lý Nhật Bản Tsunesabura Makiguchi (1871 - 1944) định nghĩa:
“Giá trị là sự thể hiện có tính định hướng về mối quan hệ giữa chủ thể đánh
Trang 12James People và Garrick Bailley cho rằng: “Giá trị là cái ý tưởng về các loại mục đích hay các loại lối sống của một cá thể, nhóm hoặc toàn xã hội mong muốn hay được coi là có ý nghĩa Đó là những phẩm chất cơ bản cần phải có để bảo đảm con đường sống, các chuẩn mực tối thượng chỉ đạo mọi hoàn cảnh thực tiễn”
Giá trị là một phạm trù hàm chứa nhiều ý nghĩa, song có thể hiểu một
cách chung nhất rằng giá trị là khái niệm dùng để chỉ cái làm cơ sở, căn cứ, tiêu chí để con người dựa vào đó để xem x t, đánh giá, so sánh các sự vật,
hiện tượng trong hiện thực cuộc sống của mình
Từ đó có thể hiểu giá trị văn hóa là cái dùng để căn cứ vào đó xem xét, đánh giá, so sánh giữa nền văn hóa dân tộc này với nền văn hóa dân tộc khác;
là cái để xác định bản sắc văn hóa của một dân tộc, những n t đặc thù về truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị chân, thiện, mĩ
Bản chất của giá trị văn hóa là chiều cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát vọng nhân văn biểu hiện ở hoạt động sống của cá nhân, cộng đồng, dân tộc như các hoạt động: ăn, mặc, ở, đi lại, phong tục tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ
Mục đích của giá trị văn hóa là nhằm hướng tới các giá trị nhân bản, hướng tới sự hoàn thiện của mỗi cá nhân nói riêng và của cả cộng đồng, dân tộc nói chung Tính mục đích của giá trị văn hóa được thể hiện ở ngay trong quá trình sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần
Trong xã hội có giai cấp, giá trị văn hóa cũng mang tính giai cấp Bởi
lẽ, về thực chất văn hóa là sản phẩm của một cộng đồng, dân tộc nhất định, do những thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc ấy tạo ra và họ chịu sự thống trị của một giai cấp nhất định - giai cấp lãnh đạo toàn thể xã hội, mọi sản phẩm họ tạo ra đều nhằm phục vụ giai cấp thống trị Với tư cách là phương thức sản xuất tinh thần, văn hóa không thể không phản ánh và chịu sự quy
Trang 13định của phương thức sản xuất Điều kiện sinh hoạt vật chất của các giai cấp khác nhau sẽ làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm khác nhau Tính giai cấp thể hiện sự vận động của văn hóa trong thời kỳ lịch sử có giai cấp, thể hiện tính phức tạp của đời sống văn hóa trong xã hội hiện nay Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa tính giai cấp của văn hóa vì sự tác động của giai cấp vào văn hóa của một cộng đồng, dân tộc tùy thuộc vào từng biến động của lịch sử,
nó tác động tới bước đi của nền văn hóa chứ không thể quyết định được bản chất của nền văn hóa
Giá trị văn hóa là thành quả mỗi cộng đồng dân tộc và nhân loại đã đạt được trong quan hệ với tự nhiên, xã hội và trong sự phát triển của bản thân mình Có những giá trị bị mai một, không còn thích ứng với sự phát triển của
xã hội, cũng có những giá trị tồn tại mãi mãi trong lịch sử Chân, thiện, mĩ là những giá trị trường tồn trong lịch sử loài người, là trụ cột của văn hóa nhân loại Khi nào chân, thiện, mĩ bị lãng quên, khi đó văn hóa sẽ bị trượt dốc, thay vào đó là những biểu hiện suy thoái về văn hóa của con người
Khi xem x t giá trị văn hóa, chúng ta thừa nhận giá trị văn hóa có tính dân tộc, tính giai cấp, tính nhân loại phổ biến Như vậy, giá trị văn hóa là một phạm trù lịch sử được biểu hiện trong truyền thống văn hóa dân tộc, luôn vận động và phát triển cùng xã hội
1.1.2 Vài nét về dân tộc Thái
1.1.2.1 Nguồn gốc dân tộc
Theo những ghi ch p trong các tập sử thi của người Thái thì họ thiên di
từ Tây Nam, Vân Nam (Trung Quốc) vào Tây Bắc Việt Nam với nhiều đợt kể
từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XIV Trong đó, có ba đợt thiên di lớn vào thế
kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ XI
Có ý kiến cho rằng: ngành Thái Trắng và bộ phận Thái Đen ở Mường Thanh có nguồn gốc bản địa, tổ tiên của họ là người Tày - Thái cổ Vào đầu
Trang 14vào việc xây dựng quốc gia Âu Lạc của Thục An Dương Vương, sau đó một
bộ phận di cư sang phía Tây, tách khỏi bộ phận gốc là người Tày hiện nay Còn bộ phận Thái đen có mặt đầu tiên tại Mường Lò (Văn Chấn - Yên Bái),
là con cháu của Tạo Xuông, Tạo Ngần, gốc từ Vân Nam (Trung Quốc) di cư sang Vì vậy, người Thái Đen ở Thuận Châu luôn coi Mường Lò là “quê cha đất tổ” Đến thế kỷ thứ XII, thủ lĩnh Lạng Chương, cháu Tạo Xuông đưa quân
từ Mường Lò tràn qua lưu vực sông Đà, sông Mã và sông Nặm U, đánh chiếm
và làm chủ Mường Thanh Trong thời kỳ này, trung tâm Thái Đen Mường Muổi (Thuận Châu) cũng phát triển quy tụ hai thế lực Thái, Mường Lay và Mường Sang Bắt đầu từ thế kỷ XV - XVI, vùng Tây Bắc đã có 16 Châu
Mường, nên được mang tên là “mười sáu Châu Thái” (xíp hốc chụ tay) Sau
hiệp ước Pháp - Thanh năm 1884, 6 Châu Mường đã bị cắt và nhập vào tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), chỉ còn lại 10 Châu Mường, nên xuất hiện tên gọi
“thập châu” (xíp chụ tay)
Do có sự tách nhập và sắp xếp lại các Châu Mường, nên từ 1908 - đến
1911, tỉnh Sơn La có 12 Châu Mường “xíp sòng chụ tay” Trong đó, Mường
Mụa (Mai Sơn) vốn do Cầm Văn Oai (Bun Oai) được Pháp cho giữ chức Quản Đạo, chỉ huy lính Thái nên nhiều người vẫn nhầm hiểu như một sự phục hồi một Châu Mường trung tâm để quy tụ khu vực 12 Châu Thái Năm 1933, tên gọi 12 Châu Thái đã mất hẳn
Về tên gọi, người Thái tự gọi mình là Phủ tay hay Côn Tay đều có nghĩa là người Thái Theo số liệu thống kê năm 2009, dân tộc Thái ở Việt Nam có 1.550.423 người chiếm 1,8% dân số cả nước, riêng tại Sơn La tính đến tháng 5 năm 2013 có 611.120 người chiếm 53% dân số tỉnh Sơn La Địa bàn cư trú của người Thái trải dài suốt từ miền Tây Bắc, qua Hòa Bình cho đến tận phía Tây hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An Những năm gần đây, người Thái còn có mặt tại một số tỉnh Tây Nguyên Ngoài ra, còn có khoảng 20.000 người Thái gốc Việt Nam sinh sống tại Pháp, Hoa Kỳ
Trang 15Trải qua hàng ngàn năm sinh sống trên địa bàn lãnh thổ Việt Nam, dân tộc Thái đã cùng các dân tộc anh em khác tham gia dựng nước và giữ nước Đây cũng chính là quá trình hình thành tộc người để phát triển đến ngày nay
Người Thái được chia thành hai ngành, mỗi ngành lại chia thành nhiều nhóm khác nhau:
Thái Đen (Tay Đăm): cư trú chủ yếu ở các tỉnh Sơn La (hầu khắp địa
bàn toàn tỉnh), Nghĩa Lộ (Mường Lò) thuộc tỉnh Yên Bái, tỉnh Điện Biên, tỉnh Lai Châu và một số ở phía Tây Nam tỉnh Lào Cai
Thái Trắng (Tay Đón hoặc Tay Khao): tập trung ở Mường Lay, Mường
So (Phong Thổ - Lai Châu), Mường Chiến (Quỳnh Nhai), một số khác tự xưng là Thái Trắng nhưng có nhiều n t giống Thái Đen sống tập trung ở Mường Tấc (Phù Yên) và Bắc Yên, Mường Sang (Mộc Châu - Sơn La)
Nhóm Thái ở huyện Mai Châu, Đà Bắc tỉnh Hòa Bình có n t giống nhóm Thái ở tỉnh Thanh Hóa Nhóm Thái ở Thanh Hóa cư trú ở Mường Một,
Mường Đeng tự nhận mình thuộc ngành Đen (Tay Thanh), ngành Trắng (Tay Mường - Hàng Tổng, Tay Dọ) Nhóm Thái Nghệ An với việc chia ngành Đen,
ngành Trắng đã mờ nhạt, họ chỉ quan tâm đến thời gian và quê hương xuất xứ của mình khi đến nơi này
Người Thái ở Việt Nam không theo một tôn giáo chính cống nào trên
thế giới mà theo một trong những tục có nghi thức thờ Nước (nặm) và Đất gọi là Cạn (bốc) Nước có biểu tượng thần chủ là con Rồng (tô Luông) mang tên chủ nước (chảu nặm), và đất có biểu tượng thần chủ là loài Chim ở núi mang tên chủ đất (chảu đin) Hai biểu tượng thần chủ Rồng, Chim cũng là
Mẹ, Cha của Mường và tục thờ này nằm trong toàn bộ nghi lễ cúng mường
(xên mương)
Theo truyền thống, Thái Đen và Thái Trắng có tục thờ Mẹ - Cha gắn với biểu tượng thần linh Rồng - Nước và Chim - Cạn trong cúng mường ch o
Trang 16Mường Thái Đen thờ: Mẹ - Rồng - Nước >< Cha - Chim - Cạn
Mường Thái Trắng thờ: Mẹ - Chim - Cạn >< Cha - Rồng - Nước
Ở Sơn La, người Thái cư trú ở khắp các huyện của tỉnh, tiêu biểu như: Mường La, Mường Muổi (Thuận Châu), Sông Mã, Quỳnh Nhai, Mường Vạt (Yên Châu),
Như vậy, người Thái có nguồn gốc từ Trung Quốc, qua các con sông đã thiên di vào vùng Tây Bắc Việt Nam và đã định cư ở khu vực này từ thế kỷ thứ IX Văn hóa của người Thái Tây Bắc cho đến nay là nền văn hóa còn lưu giữ được những truyền thống cổ xưa, ít bị pha trộn với nền văn hóa xung quanh Người Thái ở Tây Bắc nói chung, ở Sơn La nói riêng, đóng vai trò quan yếu nhất trong khu vực tựa như người Kinh trong toàn quốc
1.1.2.2 Phương thức canh tác
Do điều kiện môi trường sống có nhiều điểm đặc thù cho nên định hướng tác động trong khai thác tự nhiên của truyền thống Thái là đồng ruộng thung lũng lòng chảo và nương rẫy bên sườn núi Trải qua hàng nghìn năm khai thác thiên nhiên, họ đã tạo ra được hệ sinh thái nhân văn thường gọi là
“văn hóa thung lũng” Đồng bào có truyền thống chính là làm ruộng, làm nương Ngoài ra, các gia đình nông dân Thái đều chăn nuôi; trong đó gia cầm thì chú trọng việc nuôi gà, vịt và gia súc thì có trâu, lợn Các gia đình Thái còn tiến hành làm các nghề phụ, trong đó đàn ông thì đan lát và đan chài, đàn
bà thì dệt vải và thêu thùa Sản phẩm là những tấm thổ cẩm nhiều màu sắc văn hoa khá đẹp mắt Nhu cầu về vải ở người Thái rất cao nên người phụ nữ phải suốt đời gắn với nghề dệt Xưa, ở một số nơi như Mường Chanh còn tiến hành làm đồ gốm
Ở khu vực người Thái sinh sống có hai mùa rõ rệt: mùa mưa (mùa nóng) bắt đầu từ tháng 5,6 đến tháng 10,11 dương lịch, tương ứng với lịch Thái là từ tháng 10 đến tháng 3; mùa hanh khô (mùa r t) bắt đầu từ tháng 10,11 đến tháng 4,5 dương lịch, tương ứng với lịch Thái là tháng 4,5 đến
Trang 17tháng 9,10 Dựa vào đó, đồng bào hướng việc sản xuất phù hợp với tự nhiên
để đảm bảo cuộc sống Kinh tế trồng trọt là yếu tố quyết định sự tồn tại của xã hội cổ truyền Thái Đồng bào trồng nhiều loại cây nhưng chủ yếu là cây lúa Nông nghiệp của đồng bào Thái mang tính độc canh rõ rệt, mọi hoạt động sản xuất đều xoay quanh việc làm ra thóc gạo Nếu như người Kinh có câu “quý
hồ nhiều lúa là tiên” thì người Thái có câu “thóc lúa ngồi trên, tiền bạc ngồi
dưới” (khảu nặm năng nưa, ngân căm năng tạư) Đối tượng lao động chủ yếu
của đồng bào Thái là ruộng và nương Người Thái gọi tầng lớp lao động của
mình là “ông nương - bà ruộng” (po hay - me na)
Bình nguyên thung lũng thông thường được tạo bởi một hay nhiều dòng suối, con sông và cá chi lưu của nó Bám trụ trong điều kiện tự nhiên
như thế, dân tộc Thái đã tạo ra được đồng ruộng trồng lúa (na, tông na) với biện pháp dẫn thủy nhập điền, được đúc kết như một thành ngữ: mương, phai, lái, lin Đó chính là bốn cách biến dòng chảy tự nhiên thành nguồn nước tưới
và tiêu nước cho toàn bộ đồng ruộng mà ta có thể tóm tắt như sau:
Mương: Là đường khai thông để dẫn nước vào ruộng, với việc đào
mương có thể dễ thấy người Thái đã đạt được những thành tựu đáng kể
Phai: Là một loại đập ngăn trên con sông hoặc suối do người Thái
dựng bằng gỗ, tre, nứa để dâng nước đổ vào mương rồi dẫn tới ruộng Phai quyết định lưu lượng nước trong mương Phai vững thì mương có nước tưới cho ruộng và mùa màng thu hoạch tốt Ngược lại, phai vỡ thì mương, ruộng khô, mùa màng thất bát
Lái: Bao gồm những phai của hệ thống cọn nước Hệ thống cọn nước tiếng Thái được gọi là “lốc” và “cọn” Lái bao gồm những phai phụ của phai
chính dùng để ngăn nước ở những đoạn mương bị vỡ, dẫn nước mương chảy qua những chướng ngại vật lớn như tảng đá, cây cối lái cũng là những đoạn phai ngăn đắp ở phần suối nước trên bờ lở để tránh nước sói mòn vùng bờ
Trang 18Lin: Là hệ thống máng dẫn nước vào ruộng Hệ thống này thường được
làm bằng các loại cây có dóng như: tre, nứa, bương, vầu, thân gỗ đục hoặc vỏ cứng của cây báng, cây móc Máng cũng có nhiều loại và mỗi loại có tên gọi
khác nhau Máng ngắn dẫn nước từ mương vào ruộng gọi là “to” hay “lay”, máng dài gọi là “lin”
Những biện pháp thủy lợi thủ công này đã xuất hiện cùng với việc ổn định nơi cư trú, lập bản dựng mường của người Thái Dân tộc Thái cũng là một dân tộc sớm biết dùng trâu k o cày Ngày nay, do học được người Kinh, người ta đã bắt đầu dùng cả bò k o Tuy rất hiếm, nhưng chúng ta cũng có thể bắt gặp ở đâu đó lối canh tác cổ xưa mà thuật ngữ khoa học hay dùng là:
“hỏa canh thủy nậu” - phát đốt, che bờ, cho ngập nước, dùng trâu súc thành bùn để cấy lúa
Bên cạnh ruộng, người Thái vẫn làm nương Nương có nhiều tác dụng Nương lúa cùng ruộng lúa có tác dụng cung ứng về thóc gạo, nương ngô giúp thêm cái ăn cho con người và gia súc Nương còn cung cấp các loại thức ăn
có bột khác như khoai sọ, khoai lang, sắn ; những cây có dầu như lạc, vừng ; đặc biệt là cây bông để làm nguyên liệu dệt Người Thái làm nương theo phương pháp chặt, phát cây, đốt, chọc lỗ, tra hạt Nương chỉ làm được ba
vụ rồi phải bỏ hóa theo chu kỳ khép kín Cách sản xuất dựa vào nương rẫy này đã lỗi thời, cần bỏ vì việc chặt phá rừng gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường sống Thay vào đó là việc phát triển các loại cây có giá trị hàng hóa cao để tăng thu nhập, đồng thời trồng rừng và phục hồi rừng dưới sự lãnh đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương Trong cấu trúc văn hóa mưu sinh, hình thức canh tác nương rẫy chiếm phần quan trọng sau làm ruộng, nằm trong lãnh thổ bản
Như vậy, có thể khẳng định người Thái có phương thức canh tác chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, với hai loại hình là ruộng nước và nương rẫy, công cụ sản xuất thủ công và thô sơ
Trang 191.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tính tất yếu khách quan của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Thái
Bảo tồn, được hiểu là hoạt động gìn giữ một cái gì đó không để nó mất
đi Nhưng bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc phải là bảo tồn có chọn lọc, không được giữ thái độ bảo thủ trong bảo tồn mà phải tăng thêm sự vững chắc của nền tảng các giá trị văn hóa dân tộc nhằm phát triển các hình thức biểu hiện giá trị văn hóa dân tộc mới Ở đây phải có sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, nói cách khác là bảo tồn trong dạng động Bảo tồn “động” tức là bảo tồn các giá trị văn hóa trên cơ sở kế thừa Kế thừa là một trong những vấn đề có tính quy luật của phủ định biện chứng, là cầu nối giữa cái cũ
và cái mới
Bách khoa thư Triết học xem “Kế thừa là mối liên hệ giữa những giai đoạn hay nấc thang phát triển khác nhau, mà bản chất của mối liên hệ đó là bảo tồn những yếu tố này hay yếu tố khác của chỉnh thể” [1; 360]
Theo quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan luôn nằm trong quá trình vận động, biến đổi
và phát triển không ngừng theo những quy luật nhất định Một trong những quy luật chung, biểu hiện khuynh hướng của sự phát triển là quy luật phủ định của phủ định mà kế thừa là một đặc trưng cơ bản Tính kế thừa thực chất chính là mối liên hệ tất yếu khách quan giữa mới và cũ trong quá trình phát triển Trong mối quan hệ đó, cái mới luôn ra đời, thay thế và phủ định cái cũ, nhưng giữa chúng lại có mối liên hệ khăng khít với nhau, đó là sự kế thừa của cái mới đối với cái cũ Quá trình phủ định diễn ra không phải là sự phủ định siêu hình, phủ định sạch trơn, mà là sự phủ định biện chứng, đó là quá trình
“tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so với cái cũ bị phủ định” [21; 333] Phủ định
Trang 20khách quan của phủ định biện chứng thể hiện ở chỗ: phủ định là kết quả của quá trình giải quyết mâu thuẫn nội tại bên trong sự vật chứ không phải do sự
áp đặt từ bên ngoài Phủ định biện chứng là sự phủ định mang tính kế thừa
Do đó, phủ định cũng là khẳng định Giá trị kế thừa biện chứng được quy định bởi vai trò của nó trong sự ra đời của cái mới Không có cái mới nào ra đời từ hư vô Việc giữ lại những nhân tố tích cực của cái bị phủ định tạo thành tiền đề cho sự ra đời cái mới
Như vậy, kế thừa là một trong những đặc trưng quan trọng, phổ biến của quy luật phủ định của phủ định Nó là sự biểu hiện mối quan hệ giữa cái
cũ và cái mới trong quá trình phát triển của sự vật; cái mới tuy phủ định cái cũ nhưng là một sự phủ định có kế thừa Sự kế thừa biểu hiện ở chỗ: một hay nhiều yếu tố của sự vật được bảo tồn khi sự vật chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác Kế thừa là sự bảo tồn những đặc điểm, đặc tính vốn có trong
sự vật và hiện tượng, mặt khác phải luôn luôn gắn liền với lọc bỏ và đổi mới
Vì vậy, cần có sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát huy
Phát huy, là làm cho cái hay, cái tốt lan tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm Phát huy các giá trị văn hóa dân tộc là làm cho các giá trị này ngoài việc được bảo tồn, giữ lại còn phải tiếp tục nâng cao các giá trị chân, thiện,
mỹ, phù hợp với những điều kiện mới
Vấn đề bảo tồn phải luôn đi liền với phát huy, chỉ thông qua phát huy thì các giá trị văn hóa dân tộc mới được biểu hiện, qua đó mới có thể khẳng định nó còn phù hợp hay không phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn Nhờ đó, chúng ta biết bảo tồn và phát huy những giá trị nào, biết loại bỏ những yếu tố lạc hậu nào Nói cách khác, việc kết hợp bảo tồn với phát huy mới đảm bảo yêu cầu của nguyên tắc về sự phát triển và nguyên tắc về tính lịch sử cụ thể
Văn hóa không phải là một hiện tượng siêu nhiên từ bên ngoài áp đặt
và ban phát cho con người, cũng không phải do ý muốn chủ quan của con
Trang 21người, mà nó hình thành dựa trên những nhân tố khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội Chính vì lẽ đó mà không phải bất kỳ một giá trị văn hóa nào hay bất kỳ một n t văn hóa nào cũng đều phù hợp với mọi chế độ xã hội và được con người chấp nhận Cũng không phải giá trị văn hóa nào cũng có thể phát huy tác dụng để thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của xã hội Ngược lại, có những giá trị văn hóa lại làm cản trở sự phát triển vì nó đã lỗi thời, không còn phù hợp với thực tiễn, với thời đại Thậm chí, ngay trong một giá trị văn hóa, có mặt là nhân tố thúc đẩy, mặt khác lại là nhân tố gây cản trở Tuy nhiên, chúng
ta không thể bảo tồn và phát huy tất cả những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái đã có từ xa xưa, chúng ta nên và cần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa còn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn nhưng đang đứng trước nguy cơ bị mai một Vì vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc, trong đó có dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La mang tính tất yếu khách quan và thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Thái
Nói đến văn hóa của dân tộc Thái là ta nói đến hệ thống những giá trị văn hóa do chính cộng đồng tộc người đó tạo ra và sản phẩm của con người bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa thiết chế xã hội Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả xin trình bày những giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
1.2.2.1 Giá trị văn hóa vật thể
Văn hóa vật thể bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: công cụ lao động, nhà ở, đồ ăn, đồ mặc,
đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, Nó có tính đặc thù riêng do mỗi dân tộc sống
ở trên một vùng đất riêng, điều kiện tự nhiên khác nhau, ý tưởng sáng tạo của mỗi dân tộc cũng khác nhau Dân tộc Thái đã tạo ra nhiều vật phẩm mang đậm dấu ấn của dân tộc mình như: Nhà ở, trang phục, Đó là những
Trang 22n t đặc trưng tạo nên giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc nói chung
và ở Sơn La nói riêng
* Công cụ lao động
Dân tộc Thái trên bước đường phát triển của mình không thể không biết sử dụng các công cụ kim loại trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt Tuy nhiên, trong chế tác những kim loại đó, họ chưa có kỹ thuật nấu, đúc,
khoan, mà chỉ biết rèn, gò ở trình độ thô sơ, đơn giản Trong tổng thể văn hóa
thung lũng với nền nông nghiệp phức hợp thì việc sản xuất các công cụ lao động tinh xảo chưa được chú ý Công cụ lao động trên cánh đồng và làm nương rẫy trên các sườn dốc, dân tộc Thái chỉ cần bốn công cụ k p có lưỡi
kim loại, đó là: Dao (mịt hay pạ), rìu (khoan), cày (thay), mai (lủa)
Từ xa xưa, dân tộc Thái đã coi con dao là công cụ lao động quan trọng bậc nhất trong việc tạo ra những giá trị văn hóa, đặc biệt là văn hóa vật chất Có công cụ lao động người ta lấy tre, gỗ, dựng nhà ở, tạo ra các vật dụng phục vụ sinh hoạt hàng ngày, dùng để chế biến thức ăn, phát cây cỏ, làm nương rẫy, Trong cung cách làm ăn ấy, dao được xem như công cụ vạn năng
Cày và mai là hai công cụ không thể thiếu trong sản xuất đồng áng của dân tộc Thái Theo truyền thống, cày và mai là công cụ lao động của nam giới, vì cho rằng đây là công việc nặng nhọc, phụ nữ không sử dụng loại công cụ này Ngoài dao, rìu, việc làm nương còn có các công cụ khác như: cuốc, vách, thuổng Công cụ gieo hạt là chiếc gậy vót nhọn để chọc lỗ tra hạt Trong quá trình làm ruộng còn có chiếc bừa, thường được làm bằng
gỗ Công cụ thu hoạch gồm có: liềm, nhíp, n o, ván đập lúa, quạt, tấm phơi đan bằng tre, nứa
* Nhà ở
Nói đến văn hóa Thái chúng ta không thể không kể đến văn hóa nhà sàn - một n t văn hóa độc đáo và thú vị Đó là một chỉnh thể thống nhất giữa tính khoa học, tính hợp lý và tính mĩ quan
Trang 23Tuy chưa có một tài liệu nào khẳng định chắc chắn, nhưng theo nhiều nghiên cứu, nhà sàn xuất hiện từ thời văn hóa Đông Sơn Cách lý giải về nhà sàn không hoàn toàn giống nhau Có rất nhiều truyền thuyết thú vị về nhà sàn
Dân gian xưa kể lại rằng: Ngày xưa, lâu lắm rồi người Thái cũng làm nhà đất để ở, có một năm trời mưa to, nước ngập hết nhà cửa, ruộng vườn Người H’Mông sợ quá chạy lên núi cao để ở, người Thái không lên núi mà làm nhà sàn để tránh nước ngập, tránh rắn rết và thú dữ Từ đó, nhà sàn là nơi
để người Thái tạo lập gia đình và chống chọi với mưa nắng,
Theo truyền thống, người Thái ở nhà sàn làm bằng gỗ, tre, nứa lợp bằng cỏ tranh Thực tế, không chỉ có riêng dân tộc Thái ở nhà sàn, nhưng trong tâm thức người Thái vẫn coi đây như là một trong những n t văn hóa của dân tộc mình Chỉ với mái tranh, gỗ, tre thô sơ mà nó đã trở thành lá chắn cho con người qua hàng ngàn năm Có khi chỉ một nếp nhà sàn mà truyền từ đời ông, đời cha, đời con, đời cháu sinh sống
Nếp nhà sàn là một không gian văn hóa Căn cứ vào hình thể ta có thể phân chia nhà sàn của người Thái ở Sơn La thành hai loại cơ bản Một là: nhà sàn người Thái Đen với cấu tạo mái khum hình mai rùa, hai bên nóc hồi có
khắc hình gỗ trang trí (khau cút) Hai là: nhà sàn của người Thái Trắng với
kiểu kiến trúc theo giải pháp mặt bằng hình chữ nhật gần vuông, bốn mái vươn ra bốn phía đều đặn Điều đặc biệt trong nếp nhà sàn truyền thống là mặc dù được dựng lên bằng những loại thân cây gỗ và cây có gióng, lợp bằng
cỏ tranh nhưng không hề phải dùng đến một mẩu sắt, cái đinh nào trong thiết
kế xây dựng Tất cả chỉ là hệ thống dây chằng buộc, thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt tre, giang và mây hoặc vỏ một số loại cây trong rừng Để nối các cột kèo nhà người Kinh thì lắp mộng thắt, còn nhà sàn người Thái là những đòn dầm xuyên suốt các lỗ đục của các cột Kiểu kiến trúc này có vẻ đơn giản nhưng bền và vững chắc, đủ sức chống lại mưa, nắng, gió bão
Trang 24Nhà sàn của người Thái được bố trí mở cửa ra hai đầu hồi, hai bên sườn
mở nhiều của sổ Lên xuống nhà bằng cầu thang 9 hoặc 11 bậc Đây là ý niệm
về số lẻ Trong kiến trúc nhà sàn Thái chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy số lẻ gắn với khá nhiều thiết kế: gian nhà, số đòn tay ở hai bên mái cũng không đều nhau Theo quan niệm dân gian, người Thái cho rằng số lẻ tượng trưng cho sự vận động, phát triển đi lên, còn số chẵn tượng trưng cho sự yên tĩnh, không vận động, không phát triển Quan niệm đó chi phối sự sáng tạo các sản phẩm văn hóa dân tộc, những sản phẩm để cho con người sử dụng thường được thiết kế
với số lẻ Nhà sàn thường bao gồm các gian lòng “hỏng tô”, các gian đầu hồi
“hỏng tụp”, nếu mở rộng thêm một gian nữa ở đầu hồi gọi là “hỏng tịp”
Là một tổng thể thống nhất, kiến trúc nhà sàn bao gồm nhiều bộ phận, mỗi bộ phận có những chức năng và ý nghĩa riêng Dù gia đình nhỏ hay lớn đều có sự thống nhất cộng đồng tộc người trong giải pháp nội thất xử lý phân chia mặt bằng thành khái niệm: Phân đôi không gian dọc theo chiều đòn nóc thành hai phần, phân đôi bổ ngang theo chiều quá giang
Phân đôi không gian dọc theo chiều đòn nóc thành hai phần thì một bên dùng làm chỗ ngủ, gian thờ chính, một bên đồng bào dùng làm nơi tiếp khách
và các sinh hoạt văn hóa khác trong gia đình Tục ngữ Thái có câu: “Hua mun đin, tìn mun nặm” tức là “đầu gối đất, chân kề nước” Câu tục ngữ này quy
định tập quán đặt nơi ngủ thống nhất quay đầu vào sườn núi, đó cũng là “m đầu” hay “phía trên” của thân nhà, duỗi chân về phía cánh đồng, dòng sông, con suối, đây cũng là “m chân” hay “phía dưới” của ngôi nhà Ở phía dùng làm nơi ngủ và thờ cúng của gia đình, chủ nhà bao giờ cũng nằm kề sát gian
thờ tổ tiên, tục gọi là ngủ “cài hoóng”, tiếp đó là gian ngủ theo thứ tự từ con
cả đến con thứ của gia đình
Phân bổ theo chiều quá giang thì một bên là “quản”, một bên là
“chan” Nhà sàn người Thái thường có hai cầu thang bắc ở hai bên đầu hồi
của ngôi nhà Một bên cầu thang dẫn lên lan can đi vào cửa chính bên hồi để
Trang 25vào nội thất Gian đầu tiên là gian thờ tổ tiên, đó là một buồng có vách ngăn
được gọi là “hoóng” Tiếp đến là buồng ngủ của chủ nhà, phía chân chỗ ngủ
của chủ nhà thường đặt thêm một bếp lửa để cả gia đình cùng xum họp sưởi
ấm, chuyện trò trước khi đi ngủ Nửa này thường tính từ giữa nhà đổ về phía
lan can đầu hồi được gọi là bên “quản” Bên này chủ yếu dành cho sinh hoạt
của đàn ông Một bên cầu thang dẫn lên nhà sàn có sàn phơi và nơi đặt nước
dùng (xích nặm) Sàn phơi là nơi để các thiếu nữ ngồi k o sợi làm vải và tâm
sự cùng người yêu Qua cửa vào là gian bếp nấu ăn hàng ngày, đối diện là nơi sinh hoạt của phái đẹp, gọi là “cửa sổ gương” Nửa này tính từ giữa nhà đổ về
phía bên sàn phơi gọi là “chan”, bên này chủ yếu dành cho sinh hoạt của đàn
bà, gắn với các công việc nội trợ
Trong nhà sàn Thái có hai cái cột rất quan trọng, nó chứa đựng văn hóa
tâm linh của đồng bào, đó là cột “sau chảu sửa”(cột chủ áo) và cột “sau hek” Theo cách tư duy truyền thống này thì ngôi nhà sàn là nơi “trú ngụ của
các linh hồn” mỗi thành viên trong gia đình, được tập trung vào khái niệm
“linh hồn chủ nhà” và có vật tượng trưng là “cột chủ áo” treo “thanh gươm thiêng của dân tộc”, khẩu súng kíp cùng túi đựng thuốc súng, đạn dược và nếu
có thì treo thêm túi đựng “vật bùa hộ mệnh” (khụt seng) Tín ngưỡng linh hồn
gắn liền với nếp nhà sàn, nó không những biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày, mà còn sống động trong văn học, âm nhạc
* Vải vóc
Dân ca Thái có câu: “úp bàn tay nên hoa, ngửa bàn tay thành bông”
(khoăm mư pên lái, hai mư pên boók), ca ngợi đôi bàn tay kh o l o, tài hoa
của người phụ nữ Thái Từ đôi bàn tay ấy, họ đã tạo ra biết bao sản phẩm quý giá và thiết thực cho đời sống tộc người, trong đó phải kể đến vải vóc Theo phân công tự nhiên thì việc làm ra vải vóc chủ yếu là của nữ giới Tập quán,
xã hội Thái đã rèn luyện cho người phụ nữ tay nghề làm vải tài hoa Nếp sống
Trang 26chăm chỉ mọi việc đến đâu cũng bị xã hội cho là chây lười, khiến cho đàn ông không muốn lấy làm vợ Người đàn bà sành nghề làm vải thì được bản mường tặng danh hiệu “đàn bà tám cạnh sắc n t” Nói như vậy để thấy việc tạo ra vải vóc vô cùng quan trọng đối với người dân Thái, đặc biệt đối với phụ nữ Thái, điều đó được thể hiện:
Thứ nhất, nó được coi như vật tượng trưng cho phái đẹp Người Thái có
câu thành ngữ “thân hình thanh cao, óng ánh trong, tựa giải lụa”, cái nết của người phụ nữ đó là “vui làm, vui ăn, vui quay xa thành sợi, vui k o sợi ươm tơ”
Thứ hai, nó là vật dùng trong suốt cả cuộc đời của con người, hầu hết
quần áo của mọi người trong gia đình do người phụ nữ dệt thành, vải vóc còn được sử dụng nhiều trong các đám cưới, tang ma
Thứ ba, vải vóc tượng trưng cho sự giàu sang trong xã hội Trong cuộc
sống thường ngày, người ta coi vải vóc là sản phẩm quý Đối với dân tộc Thái, có thật nhiều vải vóc là người giàu có
Thứ tư, vải vóc là văn hóa kỹ thuật mà người sản xuất phải qua quá
trình hiểu biết và nhiều công đoạn khác nhau mới làm ra được: trước hết là trồng bông, từ bông se thành sợi, rồi dệt thành vải, sau đó là nhuộm vải thành nhiều màu khác nhau bằng những nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên (Ví dụ: màu đỏ được pha bằng cánh kiến nấu với nhựa cây rừng) Khung cửi dệt vải của người Thái không thể dệt được vải khổ rộng quá 50cm Cách đo vải thì tính bằng đốt tay, nắm tay, khuỷu tay, sải tay Cứ bốn sải thì được một đơn vị
gọi là “chau”, mười “chau” được một “ton” Khi đã có vải, người phụ nữ
Thái tạo thành các sản phẩm tiêu dùng, đáp ứng các yêu cầu khác nhau của đời sống xã hội Thái
Thứ năm, vải vóc là nơi thể hiện hoa văn Thái - lĩnh vực nghệ thuật
được bảo lưu từ ngàn xưa của dân tộc Thái Thứ vải đã được thêu dệt đó được gọi là vải thổ cẩm Đã từ lâu đời, những tấm thổ cẩm Thái nổi tiếng bởi nghệ thuật trang trí hoa văn Trên những tấm thổ cẩm ấy, với kỹ thuật dệt, thêu,
Trang 27chắp gh p những mảnh vải màu, phụ nữ Thái đã miêu tả tài tình sự hòa đồng giữa con người và thiên nhiên, diễn đạt những cảm xúc, tâm tư, mơ ước của mình bằng những họa cảnh, họa tiết hoa văn phong phú, đa dạng Nhìn vào tấm thổ cẩm Thái ta trân trọng, tự hào Cái đẹp truyền thống làm cho ta khâm phục không chỉ ở trình độ nghệ thuật trang trí mà còn ở sức mạnh tư duy trừu tượng của người dân lao động Thái
* Trang phục
Người dân tộc khác đã không sai khi nhận x t rằng, người Thái là cộng đồng tộc người biết mặc và mặc đẹp Trang phục của họ phân biệt theo giới tính; trang phục thường ngày với lễ phục; khi chết và để tang; lúc đi làm ngoài đồng, nương rừng với ở nhà; mùa nóng bức với những tháng đông lạnh giá trong năm; độ tuổi chưa thành niên với khi đã trưởng thành và khi nhắm mắt xuôi tay
Nam phục: Do tiếp thu người Kinh, trang phục nam giới đang trên đà
âu hóa rất mạnh Tuy nhiên, trong nghiên cứu văn hóa, chúng ta vẫn có thể tìm thấy được cách ăn vận cũ từng tồn tại Đàn ông Thái khi đã lớn thì mặc quần mang kiểu “chân què”, không dùng dải rút mà khâu cạp để thắt dây lưng, quần chỉ có hai loại quần dài và quần đùi Áo cũng có hai kiểu, thường ngày và lễ phục Nam giới thường ngày mặc áo có tên gọi là “mở lòng” màu đen, cổ tròn, xẻ ngực, cài cúc vải, hai bên sườn giáp hông có đường xẻ thân
áo không bị bó sát vào người, ở đây người ta đính thêm vật trang trí gọi là
“quả chi”, mặt trước có hai túi dưới vạt Nếu là áo người Thái Đen thì có thể
có hoặc không có túi ngực bên trái, nhưng áo người Thái Trắng ở phía Bắc thì phải có Lễ phục của nam giới có kiểu quần không đổi nhưng áo dài được cắt theo kiểu xẻ nách tương tự áo dài của người Kinh
Xưa, nam giới đội hai loại khăn chàm đen không phân biệt Thái Đen,
Thái Trắng Thường ngày thì đội loại khăn có tên là “đỡ” (chọc), còn trong lễ
Trang 28phục thì cuốn khăn bằng một sải vải đen chàm có tên “cộm” (khăn pau) Cho
đến khi chết thì người thân cũng cuốn cho quanh đầu một sải vải như thế
Trước đây, nam giới toàn đi chân đất, về già có người dùng giầy vải mua của người Hoa Thời Pháp thuộc, quý tộc và chức dịch đã bắt đầu ăn vận
Âu phục, đi bít tất, giầy da Thời xưa, chỉ có nam giới nhà giàu sang mới đeo vòng ngọc thạch mua của người Hoa hoặc vòng bạc có chạm hai đầu rắn chầu
nguyệt gọi là “vòng đầu hổ mang” (pó khen ngu háu) Thứ vòng bạc này được coi như “bùa hộ mệnh” được gọi là “chống” (căm)
Nữ phục: Với nữ giới, y phục Thái in đậm bản sắc văn hóa dân tộc, thể
hiện giá trị văn hóa hết sức độc đáo Nó không những đẹp về kiểu dáng mà hơn hết nó còn tôn lên được vẻ đẹp trời ban của người phụ nữ Y phục của người phụ nữ Thái nổi tiếng bởi sự hài hòa giữa cái che đi và cái phô ra, giữa cái giản dị mà lộng lẫy Có lẽ vì thế mà cụm từ “cô gái Thái” đã trở thành
ngôn ngữ biểu tượng trong văn hóa Folklore Việt Nam
Nữ giới mặc váy khâu liền (xỉn) còn được gọi là “váy ống”, dài chấm
gót chân và có màu đen tuyền Đầu váy có cạp, khâu bằng dải vải màu đỏ, trắng hoặc xanh, miễn là không đồng màu với màu thân váy Dải cạp là để gập m p sao cho bó sát eo, làm nổi rõ vòng eo M p dưới bên trong váy được may táp một dải vải có bề rộng từ 3cm đến 4cm, màu phổ biến là màu đỏ, có thể là màu xanh, vàng, hoa, nhưng tuyệt đối không dùng màu trắng
Khác với váy, áo của phụ nữ được thể hiện nhiều hình, nhiều vẻ, nhiều màu sắc hơn: đen, trắng, vàng, đỏ, xanh, hoa, Áo cổ truyền có hai kiểu:
Trong sinh hoạt thường ngày cũng như khi cần làm dáng, phụ nữ Thái
mặc loại áo có tên là “Cỏm” (cộc, cụt, ngắn) Áo cộc tay người ta gọi là “áo cỏm cộc tay” (xửa cỏm khen tển) phân biệt với “áo cỏm dài tay” (xửa cỏm khen hi) Chữ “cỏm” ở đây chỉ độ dài, ngắn của thân áo Như vậy, nhìn vào chiếc áo “Cỏm” ta sẽ thấy ngay cái gọi là cộc, cụt, ngắn của nó được giới hạn
bởi phần thân áo vừa chấm thắt lưng mà không nhằm vào hai bên cánh tay
Trang 29Từ đó, đòi hỏi thợ may phải có kỹ thuật cắt khâu để chiếc áo vừa ôm sát lấy thân hình người mặc, thể hiện được thẩm mỹ của người Thái Cắt áo phải đúng kích cỡ của chiều rộng sao cho chiếc áo che phủ toàn thân thật kín đáo, nhưng khi mặc phải bó rất sát để hình dáng thân thể như được phô ra Nách áo phải được chiết sao cho ngực nở căng tròn, đạt tiêu chuẩn như câu ngạn ngữ
“mình thon vú dựng” Kỹ thuật này làm cho cơ thể và hai chi trên tưởng như
bị áo bó chặt nhưng vẫn hoàn toàn tự do khi vận động Đặc biệt hơn cả là việc tạo dáng áo Cỏm từ lâu đã trở thành tiêu chí để nhận biết cách ăn vận theo từng địa phương Áo Cỏm có sự phân biệt giữa Thái Đen và Thái Trắng Áo của nhóm Thái Đen thì dải viền hai vạt ở cửa áo để cài cúc không liền với dải
ở cổ áo, do đó dựng theo kiểu cổ đứng; trong khi đó, áo của nhóm Thái Trắng
có đường viền cổ và hai vạt của áo liền một dải, có tên gọi là “áo liền cổ”
(xửa co long hoặc xửa co diên) Trên hai đường viền vạt áo xẻ ngực, người ta
thường cài cúc đồng, nếu không có thì thay bằng hạt cườm Lúc ăn diện thì
mặc áo Cỏm cài cúc bạc (má pém), đây là một phần rất đẹp và hấp dẫn trong
trang phục của phụ nữ Thái Cúc bạc có hình dẹt, mỏng, được khâu đính bám trên hai dải vạt áo chạy suốt từ cổ qua ngực, xuống eo thắt, được khâu xếp đối
xứng thành từng đôi, dải thành hai hàng, bên phải là những con đực (tô po), bên trái là những con cái (tô me) Vì làm bằng bạc nên bộ khuy này khá bền,
có những bộ không chỉ dùng suốt đời mẹ mà còn truyền sang đời con
Nói đến vẻ hoàn mỹ của trang phục phụ nữ Thái thì không thể không nói tới dải thắt lưng dệt bằng sợi tơ tằm có chiều dài hơn 2m, tức là bằng một sải tay và một khuỷu tay theo cách đo truyền thống của người Thái Nó không chỉ là dải vải để thắt giữ váy mà còn là chỗ để tạo dáng thắt đáy lưng ong của các bà, các mẹ, các chị Đối với người Thái Trắng, màu thắt lưng còn là tín hiệu xác định hai độ tuổi Từ tuổi niên thiếu đến tuổi 30 người ta dùng thắt lưng màu xanh, lứa tuổi lớn hơn chuyển sang màu tím
Trang 30Trong các dịp lễ, người phụ nữ Thái có trang phục riêng Áo của nhóm Thái Đen có màu đen chàm buông dài xuống giữa bụng chân, ở mặt trong có táp một mảng trang trí theo cách khâu gh p những miếng vải nhiều màu xếp thành hình tam giác, các ô vuông sát kề nhau hoặc những miếng thổ cẩm gọi
là khít, cho chạy dọc theo hai sống ngực nối xuống tạo thành mảng ở phần lưng gấu Khi mặc chỉ thấy mặt vải của thân áo đen tuyền, song vì đây là lễ phục và đặc biệt là đồ khâm niệm nên bình thường ít thấy ai mặc, chỉ mùa đông tháng giá mới thấy người ta khoác áo này bên ngoài Khi ấy người ta thường lộn phía trong ra ngoài để các màu của mảng trang trí phô ra như được khuôn vào nền áo cỏm và váy đen, tạo thành lối trang phục sinh động Về cơ bản, áo của nhóm Thái Trắng cũng giống áo của nhóm Thái Đen
Trang phục nữ còn có tấm khăn đội đầu Phụ nữ Thái đội khăn Piêu
(thực ra “piêu” đã có nghĩa là khăn rồi) bằng vải đen chàm, dài một sải tay ở
hai đầu có thêu hoa văn hình kỷ hà bằng chỉ nhiều màu Cùng với áo, váy, chiếc khăn Piêu đã được nhiều người ca ngợi bằng văn, thơ, nhạc, họa và điện ảnh Có một chi tiết đặc biệt đó là những hoa cuộn và thêu chỉ màu gọi là
“kút”, đính thành chùm ở m p đường viền hai đầu Nếu chùm ba thì được gọi
là “piêu kút sam”, chùm năm được gọi là “piêu kút hả” Theo quan niệm
truyền thống Thái số chẵn 2, 4 tượng trưng cho hạnh phúc đôi lứa và 3, 5 chính là sự phát triển con cái - hệ quả của hạnh phúc vợ chồng trọn vẹn
Kiểu búi tóc của người Thái Đen cũng khác khi chưa có chồng và đã có
chồng Búi tóc đằng sau gáy (khót phôm) khi chưa có chồng, khi có chồng búi tóc ngược lên đỉnh đầu hơi nghiêng về bên trái (tẳng cảu), nếu chồng chết,
trong thời gian để tang chồng thì búi tóc ở lưng chừng giữa đỉnh đầu với gáy
gọi là “búi tóc kiêng” (khót phôm căm) hay “búi tóc bà góa” (khót phôm me mải), khi hết tang lại búi ngược như khi chồng còn sống Người Thái Trắng
thì không dùng tóc làm tín hiệu báo có hoặc không chồng mà chỉ búi đằng sau hoặc vấn trên đầu Hai bên dái tai người phụ nữ Thái đeo đồ trang sức hình
Trang 31ống (óng hu) hoặc hoa (cỏng hu), còn ngón tay đeo nhẫn Người có thì đeo đồ
vàng, bạc, ngọc ngà; người không có thì đeo vòng đồng, xương Trong truyền thuyết, người con gái nhà nghèo còn đeo vòng bằng dây mây rừng
Khi trong gia đình có người chết thì nhân thân mặc trang phục màu trắng, không mang sắc phục màu đen trong những ngày làm nghi thức lễ tang
* Ngủ
Đây là một trong những n t sinh hoạt văn hóa, truyền thống lâu đời của dân tộc Thái được vật chất hóa và biểu hiện bởi những sản phẩm chăn, đệm, gối Vì vậy, người phụ nữ Thái dành nhiều thời gian lao động vào việc sản xuất bộ sản phẩm để ngủ Dân tộc Thái không theo nếp nằm chiếu, giường,
mà quanh năm trải đệm Nằm đệm, chăn đến ngày nay vẫn là nếp sống phổ
biến của người Thái Bộ vật dụng cần cho việc ngủ bao gồm: đệm (xứa), chăn (pha), gối (mòn), màn (dắn), rèm (man), cót (sát), chiếu (phu) Những sản
phẩm như: đệm, chăn, gối đều là những sản phẩm lao động thủ công tỉ mỉ của những người phụ nữ Thái từ việc trồng bông, nuôi tằm, se sợi, dệt vải, nhuộm vải, thêu thùa Nó không những làm cho con người ấm cúng hơn mà còn tượng trưng cho sự chăm chỉ và giàu có hoặc phản ánh sự biếng nhác và nghèo nàn của mỗi gia đình người Thái
* Văn hóa ẩm thực
Ăn: Lương thực chủ yếu của người Thái là lúa, gạo, cơm (khảu) Nếu
người Kinh ăn cơm xôi (cơm nếp) lót dạ vào bữa sáng và trong các nghi thức tập quán như cúng lễ, cưới xin thì người Thái dùng xôi hàng ngày Đây là một n t đặc trưng và in đậm trong văn hóa tộc người Bữa ăn của người Thái
thường chế biến các món: xôi đồ (khảu nửng) chấm với ch o (chẳm chéo),
măng rau đồ, thịt cá nướng, thịt cá làm chua, lạp sống hoặc chín, gỏi, mọ Từ gạo chế biến thành cơm lam đã biểu hiện rõ bản sắc cộng đồng tộc người Cách chế biến này làm cho cơm nếp có mùi thơm đặc biệt và ngon
Trang 32Dụng cụ chính để chế biến thức ăn, đặc biệt món xôi nếp chính là “ninh đồng” và “chõ” Chõ được đục đẽo từ khúc của thân cây gỗ, đồ rau thì làm bằng khúc cây bương Trong gia đình người dân tộc Thái, ninh đồng là một trong những thứ gia truyền, theo tập quán thì chiếc chõ còn là vật chứa đựng
“điều cấm kỵ” Khi dùng với cơm nếp xôi, người Thái có những thực phẩm chế biến từ ba nguồn gọi chung là: rau, thịt, cá được lấy trong tự nhiên hoặc
do con người lao động sản xuất ra Ngoài ra, cá, thịt còn được chế biến bằng cách nướng với các loại gia vị riêng tạo nên mùi vị thơm ngon, độc đáo của món ăn dân tộc Thái
Uống: Người Thái cũng như rất nhiều dân tộc khác đã biết uống trà từ
rất lâu nhưng đáng nói đến nhất là rượu Rượu là thức uống trong các dịp lễ hiếu, hỉ, các dịp vui, buồn và là vật tượng trưng của các nghi thức Vì vậy, trong sinh hoạt cuộc sống, với ý nghĩa nào đó dân tộc Thái đã xem rượu cần thiết ngang tầm với cơm Họ dùng rượu khi tiếp khách, cúng lễ, cưới xin, hội
hè, ngâm thuốc, tang ma Ở bản, không có ngày nào là không có người uống rượu, nên có thể coi đây là thức uống được dùng quanh năm
Rượu có hai loại chính: rượu cất (lảu xiêu), rượu cần (lảu xá) Kỹ thuật
trưng cất rượu cũng rất công phu, được lên men từ gạo, sắn Rượu cần và tục uống rượu cần là một trong những n t văn hóa rất độc đáo của đồng bào dân tộc Thái được nhiều người biết đến Vị của rượu cần vừa ngọt, vừa cay, vừa thơm, đồng bào mời rượu bằng những lời có cánh, bằng thơ, bằng câu hát nhưng trên hết là bằng cả tấm lòng
Bộ mâm ghế ăn, dụng cụ đựng xôi (ép khảu), bầu đựng rượu Tất cả
những sản phẩm này đều sử dụng nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên như: mây, tre, quả bầu tuy đơn giản nhưng lại mang những sắc Thái văn hóa của tộc người một cách rõ rệt
Dân tộc Thái là một dân tộc mến khách, điều đó được thể hiện trọn vẹn trong mâm cơm tiếp khách Người Thái luôn tâm niệm “người được ăn đồn
Trang 33tiếng tốt, ma được ăn sẽ phù hộ”, đặc biệt họ rất coi trọng gia đình nhà vợ,
cho nên khi “anh em đến, họ ngoại lại” họ sẽ mổ gà, mở rượu “khả cáy, khay lảu”, linh đình hơn thì mổ lợn tiếp
1.2.2.2 Giá trị văn hóa phi vật thể
Văn hóa phi vật thể bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: ngôn ngữ, văn học nghệ thuật những
n t đẹp văn hóa ấy có ảnh hưởng đến tâm hồn con người, có giá trị tinh thần
to lớn đối với mỗi người con của dân tộc Thái
* Ngôn ngữ và chữ viết
Là cư dân nông nghiệp, đồng bào Thái có đời sống văn hóa tương đối đặc sắc, có tiếng nói, chữ viết riêng, có chung cội nguồn ngôn ngữ (cùng hệ ngôn ngữ) với các dân tộc: Tày, Nùng, Lào, Bố Y, Lự, Sán Chay ở Việt Nam; với tiếng Lào, Thái Lan; với tiếng Choang và tiếng Thái ở miền Nam của Trung Quốc Về mặt cấu trúc ngôn ngữ, ta có thể thấy tiếng Thái nổi bật lên một số n t cơ bản như sau:
Do cùng chung cội nguồn ngôn ngữ, nên ngôn ngữ Thái có được một tổng thể thống nhất Là một thứ tiếng có khá nhiều vùng thổ ngữ Tuy nhiên, nếu tường tận nghe, nói, đọc, viết được một loại thổ ngữ có thể giao tiếp được với người Thái ở các nhóm Thái, các vùng khác nhau Tiếng Thái có âm tiết
và thanh điệu, mỗi âm mang một thanh tạo thành một từ biểu đạt ý Về cấu trúc các thành phần trong tiếng Thái cùng một mô tuýp với tiếng Việt, có chủ ngữ - vị ngữ - các thành phần tân ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ
Ví dụ: Tôi - đang học bài - ở nhà
Cù - lang p sư - cơ hươn
Ngôn ngữ Thái rất phong phú, thể hiện được nhiều cung bậc tình cảm khác nhau Trong quá trình phát triển, người Thái đã du nhập, vay mượn các yếu tố ngôn ngữ sắc tộc khác, trong đó có phần đóng góp của tiếng Việt hiện
Trang 34tường tận để có thể có được một nền ngữ pháp cũng như từ điển Do đó, ngôn ngữ Thái mới chỉ đạt ở trình độ văn hóa dân gian
Đặc biệt dân tộc Thái có chữ viết riêng, là một trong những dân tộc được đánh giá là có chữ viết sớm nhất vùng Đông Nam Á cổ đại Chữ Thái thuộc hệ chữ Phạn cổ như chữ Lào, Thái Lan, Miến Điện Chữ viết của dân tộc Thái Sơn La sớm có mặt ở hầu hết các bản mường từ khoảng thế kỷ VII
và truyền bá sử dụng rộng rãi vào cuối thế kỷ thứ XIII - XIV cùng với sự xuất hiện của trung tâm Thái vùng Tây Bắc Có hai loại chữ cổ truyền thống: chữ
Tay Đèng (tiêu biểu ở tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An), chữ Tay Đăm/Tay Khao Chữ Thái cổ Sơn La thuộc loại chữ Tay Đăm
Có ngôn ngữ, chữ viết, người Thái đã xây dựng cho mình một nền văn hóa văn minh Có thể coi đây là sự tổng kết quá trình tư duy tự nhiên, xã hội bằng hình tượng của nghệ thuật ngôn ngữ, cấu tạo thành hai luồng cơ bản:
Văn học dân gian truyền miệng, gồm có các câu truyện cổ tích, thần thoại, tục ngữ, ngạn ngữ, thành ngữ giúp ta có thể hình dung về bức tranh lịch sử của dân tộc Thái Các câu truyện cổ tích thường mang nội dung đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người giàu, người nghèo, giữa lao động, trí tuệ và kẻ ngồi mát ăn bát vàng kết quả bao giờ cũng khẳng định sự toàn thắng của yếu tố thiện, của những người lao động chăm chỉ Ngôn ngữ Thái phát triển thoát khỏi lớp từ vựng cơ bản để vươn tới tri thức văn học
Văn học được ghi ch p thành văn: Văn hóa Thái bao gồm kho tàng những pho sách cổ - tài sản vô giá không chỉ của dân tộc Thái mà của cả dân tộc Việt Nam Những cuốn sách cổ này nêu lên ba chủ đề lớn:
Lịch sử xã hội: Cuốn Kể chuyện bản mường (Quam tô mương), tác
phẩm này đã được dịch ra và xuất bản bằng tiếng Việt Cùng với đó còn có
các tập thơ lịch sử Dựng mường lớn (Phanh mương luông), Dựng mường nhỏ (Phanh mương nọi), đặc biệt là tập sử thi nổi tiếng nhan đề Những bước đường chinh chiến của cha ông (Táy Pú Xấc) Ngoài ra, còn có các tập thơ
Trang 35Chống giặc cờ vàng (1873 - 1880), Cuộc nổi dậy của người tù Sơn La do Khai Cạt đứng đầu (1911), Cuộc nổi dậy chống Pháp ở Sầm Nưa - Sơn La
(1914 - 1016)
Những ghi ch p về luật lệ bản mường, phong tục tập quán, hôn lễ, tang
ma được tập hợp trong cuốn Luật tục Thái ở Việt Nam (1999) do soạn giả
Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng biên soạn Những tập tục mang nội dung văn hóa tâm linh, biểu hiện thế giới quan folklore của dân tộc Thái
Những tác phẩm văn chương bằng thơ, đến nay có nhiều tác phẩm đã
được biên dịch và xuất bản: Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu), Khun lú nàng Ủa, Tản chụ xiết xương Trong đó phải kể đến tập truyện thơ Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) - tập thiên tình ca không chỉ đạt đỉnh cao trong
loại hình văn học này mà cho cả nền văn học cổ điển Thái ở Việt Nam
* Họa tiết trang trí: bao gồm những họa tiết được trang trí trên gỗ, đan
mây, tre, họa tiết trên vải
Hoạ tiết điêu khắc trên gỗ mang tên “khau cút” treo trên đầu hồi mái
nhà sàn của một số nhóm Thái, ở gian thờ của gia chủ Xưa, nhìn vào họa tiết trang trí này mà người ta biết được vị trí xã hội của chủ nhà Họa tiết điêu khắc còn thực hiện trên khung và tấm chắn cửa sổ và các họa tiết trang trí trên mặt các dụng cụ đựng thức ăn, vật dụng Các mẫu hoa văn tuy nhiều hình,
nhiều vẻ nhưng đều gọi chung là hoa văn “ăm”
Mây, tre là vật liệu được người Thái sử dụng nhiều và phổ biến trong
đời sống Họa tiết trang trí được thể hiện trên những chiếc ghế mây (tắng), tấm trải phơi, hộp đựng cơm (ép khảu) Những họa tiết trang trí này thể hiện
sự kh o l o, tỉ mỉ của những người đàn ông Thái
Họa tiết trang trí trên vải có nguồn gốc trực tiếp từ việc kế thừa cách thể hiện hoa văn “ăm” và từ việc dệt các tấm thổ cẩm để làm chăn, gối, đệm, thể hiện bằng phương pháp thêu thùa bằng chỉ màu trên khăn đội đầu (khăn
Trang 36hình kỷ hà Ngoài ra còn có nghệ thuật khâu, gh p, đáp vải màu kế thừa từ việc khâu gh p da các loài thú săn bắt Nghệ thuật khâu gh p này phổ biến ở phía Bắc, nó thể hiện sự kh o l o của người phụ nữ Thái, đã bứt khỏi khuôn mẫu chật hẹp của cách dệt hoa văn hình kỷ hà Nó làm cho nghệ thuật folklore Thái vươn tới đỉnh cao hiện thực Đôi tay họ hoàn toàn tự do trong việc thực hiện các đường viền cong, dễ tạo ra các vòng tròn, uốn lượn, làm cho họa tiết trang trí trên vải của người Thái thêm đẹp hơn, muôn hình, muôn
vẻ, đóng góp to lớn vào nền hội họa Việt Nam
* Múa xòe
Người Thái từ lâu đã nổi tiếng trong các điệu dân vũ Khi nói đến người Thái, mọi người đều hình dung ra những cô gái đẹp, mềm mại, cuốn hút trong điệu múa xòe của mình Xòe đã trở thành một trong những biểu hiện đặc trưng thật sự đậm đà bản sắc dân tộc Thái, phản ánh về lao động, sản xuất, quan hệ giữa con người với thiên nhiên, quan hệ giữa con người với con người trong quá trình xây dựng bản mường, tập quán Múa xòe vô hình dung trở thành sự thừa nhận mang tính truyền thống đối với nền nghệ thuật của người Thái như một loại hình vũ điệu Múa xòe đã phát triển và đạt đến sự phân chia thành hai cấp độ: múa tập thể dân dã mà tiêu biểu là múa xòe vòng và cấp độ múa biểu diễn
Múa xòe vòng bắt nguồn từ đời sống lao động của nhân dân và được ra đời từ rất xa xưa Qua các giai đoạn lịch sử, xòe vòng được phát triển và cho đến ngày nay xòe vòng vẫn không cũ, không mòn Sức hấp dẫn, đậm đà tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc của âm nhạc xòe vòng luôn có sức mạnh mới, thỏa mãn nhu cầu của mọi người, phục vụ nhiều sinh hoạt của xã hội Cho
đến nay còn giữ được năm điệu xòe cơ bản: xòe nâng khăn mời rượu (khắm khăn mơi lảu), xòe tung khăn (nhôm khăn), xòe tiến lùi (đổn hôn), xòe bổ bốn (phá xí), xòe vỗ tay múa vòng tròn (ỏm lom tốp mư)
Trang 37Múa biểu diễn hay còn gọi là múa phong cách mà đặc trưng là sự phô trương tối đa vẻ đẹp của hình tượng văn hóa - cô gái Thái Loại hình múa này đòi hỏi số lượng người tham gia không nhiều từ 8 - 20 người Có thể kể đến một số điệu múa phổ biến: múa nón, múa chai, múa khăn, múa quạt,
trưng thanh nhạc Thái Thanh nhạc chia thành các loại hình cơ bản là: Khắp
xư (hát chữ), khắp mo dùng trong lễ nghi và diễn ca sử thi Tay Pú Xớc toát lên vẻ trang nghiêm, mạnh mẽ, khắp chương dùng cho giọng nam trung, nam trầm diễn các tập sử thi anh hùng ca , khắp một là tiếng Thái làm ma thuật để
chữa bệnh - đây là loại hình thanh nhạc mang tính cảm thụ tôn giáo làm người
nghe sùng bái các điều tín, khắp xe tức là hát múa
Người Thái dùng âm thanh, nhịp điệu của các nhạc cụ để thổ lộ tư tưởng, tình cảm của mình trên sự phô diễn nhạc cụ như nhị, tính tảu, đàn môi,
pí, sáo, tiêu, khèn Mỗi nhạc cụ tiêu biểu đại diện cho những địa phương nhất định: đàn tính tảu (huyện Quỳnh Nhai), sáo “pí pặp” (huyện Mai Sơn), sáo “pí tam” (huyện Mường La), sáo “pí thiu” (huyện Mộc Châu)
Bộ gõ gồm có trống, chiêng, chũm chọe, bộ ba hòa vào nhau tạo thành dàn nhạc Người Thái dùng các loại nhạc cụ thích hợp trong hầu hết các thể loại hát then và múa xòe
* Tôn giáo, tín ngưỡng
Người Thái có ngôn ngữ, văn tự, chữ viết, có tư duy và văn hóa nhưng
Trang 38Chúa Tín ngưỡng của người Thái được biểu hiện sinh động dưới nhiều dạng
vẻ khác nhau, nhưng theo một quan niệm thẩm mỹ, một nhân sinh quan vũ trụ
và nhân sinh quan tộc người thống nhất
Người Thái quan niệm về thế giới gồm có thế giới thực tại và thế giới
hư vô Thế giới thực tại gồm sự tồn tại của muôn vật và con người mà chúng
ta có thể nhận thức bằng trực giác Thế giới hư vô tồn tại trong ý niệm bao
hàm cái gọi là “Phi” Thế giới hư vô và thực tại có quan hệ chi phối lẫn nhau
Theo dân tộc Thái, họ quan niệm cõi hư vô là bao la, là siêu nhiên trong vũ trụ, mà thế giới của sự sống chỉ là một phần nhỏ trong thế giới hư vô đó Vì vậy vẫn giữ quan niệm vạn vật hữu linh nên cây cỏ, đất đá, sông núi và cả
muôn loài đều có hồn (mi khon) có chủ cai quản (mi chảu, mi mé), tất cả lại
ở giữa sự cai quản chung của đấng tối cao là Then Luông (Then lớn - Mường
trời) Dưới Then là các thứ bậc của phi (tức là ma) Ở Sơn La quan niệm về
phi có nhiều loại như: phi khuôn (linh hồn), phi mường - phi bản, phi hươn (ma nhà hay tổ tiên), phi pa heo (ma rừng ma), phi pá (có thể hiểu là ma rừng), phi luông (ma lớn), phi nà (ma ruộng), phi phay (ma bếp), phi thẳm
(ma hang động),
Ngoài ra, dân tộc Thái còn có quan niệm về Then Ngoài những nơi sinh sống thực tại gọi là Mường Mùn như: Mường La, Mường Muổi, Mường Chanh còn có Mường Then (Mường trời) Đó là vùng Mường rộng lớn trên cõi trời Mường Then bao gồm các then tượng trưng cho sự sáng tạo ra các hiện tượng tự nhiên Người Thái Sơn La cho rằng Mường Then là nơi sinh ra
loài người và khi chết con người cũng quay về cõi đó
Từ những quan niệm trên, người Thái có những nghi thức và tập tục cúng riêng theo cách của mình Người Thái Sơn La có hai nghi thức thờ cúng
chính: thờ cúng trời, đất, mường, bản (xên), thờ cúng tổ tiên Thờ cúng là nghi
lễ, là thủ tục, là phương tiện giao tiếp bày tỏ nguyện vọng, quan niệm của con người trong thế giới thực tại và thế giới hư vô
Trang 39* Tục lệ xã hội
Gắn liền với tín ngưỡng là phong tục Đó là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống của mỗi con người, mỗi dân tộc Phong tục của người Thái Sơn La thể hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội như tục cưới xin,
lễ tết, tang ma, lễ hội
Cưới xin là một hình thái sinh hoạt tinh thần ngày nay còn lưu lại
không ít những n t cổ truyền xa xưa Các bước của hôn nhân bao gồm: Lễ
dạm hỏi (pay ôm), lễ đi hỏi (pay váy), lễ ở rể còn gọi là đưa rể (xống khươi),
lễ cưới (sú phá sú pha non) Hôn nhân của người Thái tương đối tự do và rất
linh đình song lại ít câu nệ cho nên mới có tập tục cưới chịu Việc cưới chịu nhằm mục đích là nếu gia đình nhà trai có khó khăn không thể dẫn cưới thì nhà gái vẫn cho ở rể đến khi có điều kiện tổ chức thì mới tổ chức lễ cưới
Người con gái sau khi lấy chồng thì phải búi tóc ngược (tẳng cẩu) Ngoài ra, người Thái còn tổ chức rất cẩn thận lễ đưa dâu về nhà chồng (xống pạư/xống pay hươn phùa), cô dâu được mang theo về nhà chồng của hồi môn, trang
sức, tiền bạc, chăn màn, gối đệm, Như vậy có thể nhận thấy tập tục hôn nhân của dân tộc Thái rất đặc trưng và độc đáo, đặc biệt là tục ở rể
Quan niệm về thế giới của người Thái đã chi phối tục tang ma của họ Đám tang của dân tộc Thái ở các địa phương tỉnh Sơn La có những chi tiết khác biệt, song vẫn đảm bảo hai bước cơ bản:
Bước 1: Tiễn ma/ tiễn phần hồn người quá cố (xống phi) lên thiên đàng
về với tổ tiên, thi thể đưa ra rừng chôn cất, đào sâu chôn chặt, không có tục bốc mả Một số dòng họ thì hỏa táng, thiêu đốt ngay tại nơi chôn cất Có nhà
mồ và cờ phướn cho đàn ông và đàn bà riêng
Bước 2: Đón, rước ma/phần hồn trở về nhà (tỏn phi khửn hươn) trú ngụ tại gian thờ cúng gọi là Klohoóng
Người Thái rất coi trọng việc ma chay, coi việc ma chay là việc đại sự,
Trang 40Sinh hoạt lễ hội của người Thái Sơn La được coi như sự giao lưu văn
hóa, giải trí, là nơi gặp gỡ, giao duyên của lứa đôi, là cầu nối tình cảm giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên, với quê hương xứ sở Mục đích của phần lễ trong các lễ hội là mời thần thánh, hồn của các ông, các
bà đã có công khai phá, lập bản, lập mường, các thế lực siêu nhiên về ăn cỗ và phù hộ cho con người gặp nhiều may mắn, mùa màng tốt tươi, Hàng năm,
có nhiều lễ hội như: Lễ tết, lễ xên bản, xên mường, lễ hội muôn lẩu nó, lễ hội lên nhà mới, lễ hội hoa ban, lễ hội Hạn Khuống, Vẻ đẹp truyền thống của dân tộc Thái ở Sơn La được biểu hiện rõ n t trong các buổi lễ hội
1.2.2.3 Các giá trị văn hóa với tư cách là thiết chế xã hội
thành Lung ta, tức là họ bên ngoại Những anh em trai bên vợ lập gia đình
riêng, thì những anh em cọc chèo của họ sẽ tổ hợp thành nhóm thân tộc gọi là
Nhinh xao, tức là họ nhà rể Theo người Thái, mỗi chiều ấy được gọi là một
họ, với những mối quan hệ khác nhau phải tuân theo những quy tắc nhất định
mà truyền thống cũng như tập quán tư duy đặt ra Trong một gia đình người Thái, tất cả đều do người chồng, người cha quyết định, nhưng người vợ, người mẹ vẫn có một chỗ đứng vững vàng Có lẽ, đây là ưu điểm của truyền