1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng Hy Lạp và khu vực eurozone trước khi khủng hoảng nợ công xảy ra.doc

58 1,6K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng Hy Lạp và khu vực eurozone trước khi khủng hoảng nợ công xảy ra
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại bài luận
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 918 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng Hy Lạp và khu vực eurozone trước khi khủng hoảng nợ công xảy ra.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Bắt đầu ý tưởng được cho là “không tưởng“ về một châu Âu thốngnhất, trải qua mấy thế hệ gian khổ nỗ lực, những người dân trên“lục địa già“cảm thấy hoan hỉ vì những thành tựu đạt được khiến thế giới kính nể trongviệc nhất thể hoá kinh tế và chính trị Những gì mà châu Âu gặt hái trên conđường đi tới “Liên bang châu Âu“ tới nay được phản ánh rõ nét nhất ở sự rađời đồng tiền chung euro Nhưng không ai ngờ 50 năm sau khi Tuyên ngônSchumann (đánh dấu ý tưởng hợp nhất các nước châu Âu) đồng tiền chungcủa “lục địa già“ phải đối mặt với mối đe doạ nghiêm trọng từ cuộc khủnghoảng nợ công Hy Lạp

Sự hiện hữu của "bóng ma" khủng hoảng nợ đã và đang làm đau đầucác nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu (EU) Gói cứu trợ dài hạn EU/IMF 110

tỷ euro dành cho Hy Lạp, đạt được sau nhiều tuần tranh cãi, đã chứng tỏmức độ nghiêm trọng của "cơn sóng ngầm" nợ công Khủng hoảng nợ của

Hy Lạp là bài kiểm tra lớn nhất về mức độ tín nhiệm mà khu vực Eurozonephải đối mặt kể từ khi chính sách sử dụng một đồng tiền duy nhất được đivào đời sống

Trang 2

I Thực trạng Hy Lạp và khu vực eurozone trước khi khủng hoảng

nợ công xảy ra:

I.1 Thực trạng khu vực đồng tiền chung eurozone:

Ngày 1/1/2009, eurozone chính thức kết nạp thêm Slovakia nâng tổng

số nước sử dụng chung đồng tiền euro lên con số 16, với dân số hơn 300triệu người, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên 12.000 tỉ Euro Đến nay,sau 11 năm phát triển, khu vực đồng tiền chung châu Âu đã phát triển, trảiqua những thăng trầm Đồng Euro đã trở thành một công cụ thanh toán toàncầu và trở thành một đối trọng với đồng USD của Mỹ

Trước giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008, nền kinh tế của khu vựceurozone đã có những thành tựu nhất định:

Tỉ lệ tăng trưởng GDP hàng năm của khu vực đồng Euro từ năm 1999

- 2007 ở mức trung bình 2.59% /năm, và có lúc lên cao nhất vào năm 2006:3.5%; giá trị GDP trung bình trong khoảng thời gian từ năm 1999 – 2007 làkhoảng 8200 tỷ USD/năm Trong giai đoạn trên, Euro đã góp phần tạo thêm

15 triệu việc làm mới khiến thương mại và du lịch trở nên dễ dàng hơn

Có được điều đó là do việc gia nhập vào khu vực đồng tiền chung châu

Âu, sử dụng chung 1 đơn vị tiền tệ đã hình thành nên 1 thị trường thống nhất

về vốn, sức lao động, hàng hóa và giúp cho các giao dịch trong khối diễn rathuận tiện và dễ dàng, giúp các nước trong khu vực tận dụng được các nguồnlực sẵn có cũng như các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển

Trang 3

Biểu đồ về tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của khu vực Euro ( 1999-2007 )

Đơn vị : %

Nguồn : TradingEconomics.com; European Commission

Ngoài ra, do có một Ngân hàng trung ương cho cả khu vực cùng với

chính sách tiền tệ độc lập và không hề chịu sự tác động hay can thiệp của bất

kỳ một quốc gia nào trong nội bộ khối nên kể từ khi thành lập, ECB đã giữđược tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý, góp phần giữ ổn định giá cả, kiềm chếlạm phát cho các hoạt động của nền kinh tế

Cụ thể, trong giai đoạn 1999-2007, giá cả ở Châu Âu tăng với tốc độbình quân vào khoảng 2.2% mỗi năm bất chấp giá lương thực và nhiên liệu

có xu hướng leo thang liên tục trong những năm gần đây

Trang 4

Biểu đồ về tỷ lệ lạm phát của khu vực đồng Euro( 1999 – 2007 )

Đơn vị : %

Nguồn : TradingEconomics.com; European Commission

Bên cạnh đó, ECB đã duy trì một mức lãi suất ổn định, điều này đãgiúp hạn chế những biến động lớn có thể gây ra rủi ro cho các nhà đầu tư vàcác doanh nghiệp Lãi suất bình quân ở mức 2,89% năm trước giai đoạn

khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới 2008

Nhờ sự ổn định và tăng trưởng kinh tế mà mức sống của người dântrong khu vực Eurozone tăng lên, thể hiện qua sự gia tăng thu nhập bìnhquân đầu người Tính đến cuối năm 2007, thu nhập bình quân của cả khuvực là khoảng 22000 USD/người; còn nếu tính theo giá sức mua tươngđương thì thu nhập bình quân là khoảng 33500 USD

Trang 5

Biểu đồ thu nhập bình quân ( 1980 – 2009 )

Đơn vị : USD

Nguồn : TradingEconomics.com; The World Bank Group

Không chỉ là biểu tượng của cho sự hội nhập của Châu Âu, việc ra đờiđồng Euro đã tạo ra sự thay đổi lớn trong hệ thống tiền tệ thế giới Đó lànhững thay đổi trong việc thanh toán các loại dịch vụ và buôn bán quốc tế,

kể cả các giao dịch trên thị trường chứng khoán khi đồng Euro trở thành mộtphương tiện thanh toán tương đối ổn định và có sức chuyển đổi cao, khiếnEuro dần trở thành 1 trong những kênh đầu tư an toàn Bên cạnh đồng USD

dự trữ như trước đây thì NHTW các nước có thêm 1 sự lựa chọn nữa là đồngEuro Trên thực tế, dự trữ ngoại hối của các quốc gia trên thế giới bằng đồngEuro có xu hướng tăng lên chứng tỏ Euro đã được các công ty và chính phủcác nước chấp nhận như là 1 ngoại tệ mạnh Khi mới đưa vào lưu hành, giátrị 1 Euro chưa bằng 1 USD Tuy nhiên, đồng tiền này đã từng đạt mức kỷlục 1 Euro đổi được 1,6 USD trong năm 2008

Trang 6

Khu vực Eurozone chỉ chiếm 16,5% sản lượng kinh tế toàn cầu, nhưngđồng Euro lại chiếm tới 27% dự trữ ngoại hối của thế giới Sau hơn 3 năm đivào hoạt động, tỷ trọng của Euro trong quỹ dự trữ của các NHTW trên thếgiới vào năm 2005 đạt 24,3% (của USD là 66,4%) và cho tới cuối năm 2007,

đã là khoảng 27,8%

Khủng hoảng kinh tế tài chính 2008 thực sự là một thách thức với khuvực đồng tiền chung eurozone

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra vào năm

2008, kinh tế EU liên tục phải đối mặt với nhiều khó khăn như tốc độ lạmphát, tỷ lệ lạm phát cao khiến cho việc lựa chọn đối sách của khu vực EU trởnên phức tạp Như nhận định của Ủy ban Châu Âu, khủng hoảng tài chính

đã gây ra những tác động nặng nề, đã quét sạch những thành tựu mà EU đạtđược trong thập kỷ qua Sản lượng công nghiệp của EU trở lại mức củanhững năm 1930, 23 triệu người hay 10% dân số độ tuổi lao động bị thấtnghiệp

Kinh tế các nước Eurozone lần đầu tiên kể từ ngày được thành lậpnăm 1999, đã rơi vào giai đoạn suy thoái, do tăng trưởng âm (GDP đều giảm0,2%) trong hai quý liên tiếp Sang đến đầu năm 2009, kinh tế các nướcEurozone tiếp tục sụt giảm 0.5% sau khi chỉ tăng 1.1% năm 2008 Cụ thể,mảng dịch vụ và chế tạo tại 16 nước Eurozone đều sụt giảm kỷ lục so vớitháng 1/09 Ngoài ra, kinh tế khu vực Eurozone cũng đã có 4 quý liên tiếpxuất hiện tăng trưởng kinh tế âm

Lạm phát ở khu vực Eurozone tăng lên mức kỷ lục vào tháng 6/2008với 4%, vượt cả mức dự đoán xấu nhất là 3,9% và gấp đôi so với mục tiêu2% mà ECB đặt ra

Trang 7

Tỷ lệ thất nghiệp ở EU lên cao nhất trong 10 năm qua ở châu lục này.Trong đó, hơn 15 triệu người đã thất nghiệp ở khu vực đồng Euro, tươngđương với mức tăng 9,5% vào tháng 5/2009 so với mức 9,3% hồi tháng4/2009 Nếu nhìn con số theo một năm, thì tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực 16quốc gia sử dụng đồng tiền chung này là 7,5% hồi tháng 4/2008, một con số

đã được cho là khá cao Bước sang năm 2010, mặc dù đã qua đáy của khủnghoảng, bắt đầu bước sang giai đoạn phục hồi, đến tháng 5/2010, tỷ lệ thấtnghiệp tại 27 nước Liên minh Châu Âu vẫn ở mức cao nhất trong thập kỷ là9.6% còn trong khu vực eurozone là 10%, trong đó, Áo có tỷ lệ thất nghiệpthấp nhất là 4%, Hà Lan 4,3 %, cao nhất là tại Latvia 20% và Tây Ban Nha

là 19,9%

Trang 8

Biều đồ: Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đồng euro từ 2008- 2010

Đơn vị : % Nguồn : TradingEconomics.com; European Commission

Xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng là những động lực chính thúc đẩy kinh

tế EU tăng trưởng Khủng hoảng tài chính làm thương mại toàn cầu suygiảm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới kim ngạch xuất khẩu của EU nói chung

và eurozone nói riêng

Theo “Báo cáo ổn định tài chính” của ECB tháng 12/2009 đã nâng dựtính về khoản lỗ và sự giảm giá của chứng khoán các ngân hàng thuộc 16

Trang 9

nước trong khu vực đồng tiềng chung eurozone phải chịu do khủng hoảng từ

65 tỷ EUR lên 286 tỷ EUR

Cùng với suy giảm kinh tế, thất nghiệp gia tăng, việc áp dụng các góigiải cứu như hạ lãi suất, cắt giảm thuế, bơm tiền ồ ạt cho hệ thống ngân hàngtài chính đã làm nảy sinh vấn đề thâm hụt ngân sách và nợ công gia tăng ởmột loạt quốc gia, vượt xa giới hạn cho phép của Liên minh là thâm hụtkhông quá 3% GDP, nợ công không quá 60% GDP

I.2 Thực trạng Hy Lạp

Hy Lạp là một quốc gia nhỏ ở Nam Âu, là thành viên của khu vựcđồng tiền chung Châu Âu Dân số Hy Lạp khoảng 11 triệu người chiếm2,2% EU, đóng góp 2.8% GDP của EU Hy Lạp có thu nhập bình quân đầungười khoảng 15360USD, bằng khoảng 2/3 các nước phát triển trongEurozone Tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 10.2% (trong khi tỷ lệ này ở EU là10%) nhưng lại duy trì được tốc độ tăng trưởng cao so với các nước trongEU-16

Hy Lạp có nền kinh tế phát triển với khu vực kinh tế quốc doanhchiếm khoảng 40%GDP Cơ cấu kinh tế của Hy Lạp năm 2009 như sau:dịch vụ chiếm 76%, công nghiệp 20,6% và nông nghiệp 3.4% Trong đó dulịch là ngành thế mạnh của Hy Lạp, là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu, đónggóp 15% GDP Bên cạnh đó, các ngành kinh tế khác như ngân hàng, tàichính, viễn thông, sản xuất các thiết bị công nghệ cao cũng phát triển mạnh.Những chính sách cải cách kinh tế hợp lý cùng với việc gia nhập Liênminh Châu Âu đã thúc đẩy nền kinh tế Hy Lạp phát triển mạnh mẽ, đồngthời nâng cao mức sống cho người dân Hy Lạp Chỉ số phát triển con người

Trang 10

xếp thứ 22 trên thế giới Tốc độ tăng trưởng thường xuyên nằm ở mức caonhất so với các nước trong Eurozone Bình quân giai đoạn 2000 – 2009,GDP của Hy Lạp tăng trưởng khoảng 3.1%, GDP năm 2009 là 333 tỷ USD,thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 15360 USD/năm (khoảng29000USD/năm theo PPP)

Trang 11

Biểu đồ về tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Hy Lạp (

Trang 12

Nợ công, lạm phát, thất nghiệp của Hy Lạp luôn ở mức cao so vớitrung bình chung của khu vực eurozone Năm 2009, tình trạng thất nghiệptăng cao lên đến 9.4% là do những tác động của khủng hoảng tài chính

Biểu đồ tỷ lệ lạm phát ở Hy Lạp từ 1/2002-1/2010

Đơn vị: %

Nguồn: TradingEconomics.com; NSS

Trang 13

Biểu đồ tình trạng thất nghiệp của Hy lạp giai đoạn 2002-2010

Đơn vị: %

Nguồn: TradingEconomics.com; European Commission

II.Diễn biến khủng hoảng nợ công Hy Lạp.

Cuộc khủng hoảng nợ bắt đầu vào tháng 12/2009 khi thủ tướng mớicủa đảng xã hội Hi Lạp, ông George A Papandreou, thông báo rằng ngườitiền nhiệm của ông đã che dấu tình trạng thâm hụt ngân sách khổng lồ mànước này đang mắc phải Thâm hụt ngân sách chính phủ của nước này là12,7% GDP, chứ không phải 3,7% như chính phủ tiền nhiệm dự báo trước

đó Nợ công của nhà nước đã tới ngưỡng gần 300 tỷ euro, tương đương125% GDP, chiếm khoảng 4% tổng nợ của khu vực đồng tiền chung Theo

dự tính trong năm 2010, con số này sẽ lên tới 326 tỷ euro, tương đương133% GDP Theo quy định của Hiệp ước về ổn định tài chính của Khu vựcđồng tiền chung Châu Âu, thâm hụt ngân sách của các nước thành viên

Trang 14

không được phép vượt quá 3% GDP Như vậy, mức thâm hụt ngân sách của

Hy Lạp đã vượt quá khoảng 4 lần

Với mức vay nợ như trên, Hy Lạp phải đối mặt với khoản nợ đến hạnthanh toán 8,5 tỷ euro (tương đương với 11,3 tỷ USD) trái phiếu chính phủvào ngày 19/5/2010 Hầu hết các khoản nợ của Hy Lạp là ngắn hạn, trong

đó, số nợ phải trả trong năm 2010 là 16% tổng nợ

Định mức tín nhiệm của nước này tiếp tục đi xuống trong mắt các tổchức quốc tế S&P tiếp tục hạ điểm của Hy Lạp xuống còn BBB- vào ngày16/12

Các nhà đầu tư bị sốc mạnh Vào đầu năm 2010, nỗi lo sợ về khảnăng mất thanh toán của Hi Lạp đã chuyển thành sự hoảng loạn tài chính khicác nhà đầu tư nghi ngờ khả năng của chính phủ Hi Lạp trong việc thực hiệncác biện pháp cứng rắn như cam kết nhằm cắt giảm thâm hụt ngân sách

Tuần cuối cùng của tháng 1/2010, lãi suất trái phiếu chính phủ Hy Lạp

kì hạn 10 năm đã lập mốc cao kỷ lục kể từ khi gia nhập Eurozone Chủ tịchnhóm đồng tiền chung Châu Âu, Jean Claude Junker tuyên bố không loại trừnguy cơ Nhà nước Hy Lạp bị phá sản Theo nhận định của cơ quan thẩmđịnh mức độ rủi ro FITCH, khả năng thanh toán nợ của Athena đã xuốngđến mức thấp nhất trong vòng 10 năm

Trái phiếu Chính phủ Hy Lạp liên tục phải nâng lãi suất trên thị trường tài chính quốc tế.

Trang 15

Lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp từ tháng 9/2009 đến nay (đơn vị: %) Nguồn: Thomson Reuters

Khi sự sợ hãi này lan sang cả với Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, cácnhà lãnh đạo của các nước có ảnh hưởng lớn ở châu Âu như Đức và Phápbắt đầu lo ngại về sự nguy hại kéo dài của nó đối với đồng euro Họ cam kếtbảo vệ đồng tiền của khu vực nhưng từ chối một gói cứu trợ ngay đối với HiLạp

Sau nhiều tháng tranh cãi, vào cuối tháng 3/2010, các nước sử dụngchung đồng euro đã đồng ý về một giải pháp an toàn cho Hi Lạp Theo đó HiLạp sẽ nhận được các khoản vay từ các quốc gia châu Âu và IMF Tuy nhiênnhững cam kết thiếu cụ thể này chưa đủ sức thuyết phục để làm giảm sức éplãi suất trên thị trường trái phiếu đối với chính phủ Hi Lạp Lãi suất tráiphiếu chính phủ Hi Lạp tiếp tục tăng mạnh do lo ngại của giới đầu tư về khảnăng mất khả năng thanh toán của chính phủ nước này Vào ngày 11/4 cácnhà lãnh đạo châu Âu thông báo hứa sẽ cho chính phủ Hi Lạp vay 30 tỉ $,cùng với khoản vay 15 tỉ $ từ IMF, với mức lãi suất 5% - thấp hơn so vớimức lãi suất 7,5% mà Hi Lạp đang phải trả

Cũng trong tháng 4/2010, ông Papandreou đã chính thức thỉnh cầu góicứu trợ trị giá 60 tỉ $ nhằm cứu con tàu kinh tế đang chìm dần Giới đầu tư

Trang 16

quốc tế tiếp tục hạ thấp mức tín nhiệm của trái phiếu chính phủ Hi Lạp, điềunày khiến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các đối tác của Hi Lạp ở châu Âubuộc phải đứng ra cam kết một gói cứu trợ lớn hơn Theo kế hoạch này,công bố ngày 2/5 và được thông qua bởi quốc hội Hi Lạp ngày 6/5, Hi Lạp

sẽ nhận được khoản vay trị giá 110 tỉ euro hay tương đương 140 tỉ $ trongvòng 3 năm tới nhằm tránh mất khả năng thanh toán Đổi lại, chính phủ HiLạp phải đáp ứng những cam kết cắt giảm nợ trong vòng 3 năm tới và thựchiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng

Tuy nhiên, thị trường tiếp tục hoài nghi với các khoản vay được camkết này, các nhà đầu từ tiếp tục đẩy lãi suất đối với trái phiếu chỉnh phủ HiLạp lên cao hơn cả trái phiếu chính phủ của các nước đang phát triển như Ấn

Độ và Philippines, khiến Hi Lạp lâm vào tình thế khó khăn hơn trên thịtrường tài chính

Ngày 18/5 Hi Lạp đã nhận được khoản vay đầu tiên trong gói cứu trợkéo dài 3 năm của 10 nước châu Âu, trong đó có Đức, và IFM nhằm tránhkhả năng phá sản Gói cứu trợ kéo dài 3 năm này được đưa ra nhằm giúp HiLạp không cần dựa vào thị trường tài chính cho tới cuối năm 2011 và quýđầu của năm 2012 Khoản giải ngân này đã giúp Hi Lạp trả món nợ trị giá8,5 tỉ euro đáo hạn vào ngày hôm sau Khoản nợ tiếp theo mà chính phủ HiLạp cần phải chi trả trị giá 8,6 tỉ euro sẽ đáo hạn vào tháng 3/2011

Nằm trong kế hoặc thắt lưng buộc bụng nhằm nhận được gói cứu trợ,vào đầu tháng 3/2010 chính phủ Hi Lạp đã phê chuẩn một kế hoạch cắt giảmchi tiêu bao gồm: cắt giảm ngân sách dành cho y tế, quốc phòng, tăng thuế,lãnh đạo Hy Lạp tuyên bố một chính sách lương thưởng hà khắc đối vớikhối dịch vụ công: cắt giảm lương của khu vực công và cắt giảm lương hưu,

Trang 17

với mục tiêu cắt giảm quỹ lương khoảng 4% Những biện pháp thắt lưngbuộc bụng khó khăn này đã gặp phải sự phản ứng giận dữ từ công chúng khi

mà có tới 1/3 lực lượng lao động thuộc khu vực nhà nước Các nhà phân tíchcho rằng, các cuộc biểu tình có thể là tín hiệu khởi đầu của một xã hội bất

ổn Nó có thể làm tê liệt và đẩy nền kinh tế lún sâu vào suy thoái

Hy Lạp đã tăng thuế VAT từ 21% lên 23%, giữ nguyên tiền lương và

bỏ tiền thưởng của khu vực công Đồng thời, các thành viên quốc hội sẽkhông nhận tiền thưởng, những quy định đặc biệt cho phép về hưu sớm sẽđược thắt chặt và chính phủ dự định tăng thuế đối với nhiên liệu, thuốc lá, vàrượu khoảng 10% Hi Lạp hi vọng những cải cách kinh tế sẽ giúp thâm hụtngân sách của Hi Lạp giảm xuống còn 8,1% GDP trong năm nay, so vớimức 13,6% của năm 2009 Theo quy định của EU, các nước nên giới hạnthâm hụt ngân sách không quá 3% GDP nếu không muốn bị trừng phạt HiLạp dự kiến sẽ cắt giảm thâm hụt ngân sách xuống còn 4,9% vào năm 2013

và xuống dưới mức giới hạn của EU vào năm 2014

Khác với ở Đức, sự gia tăng tiền lương ở Hi Lạp trong thời gian quakhông tương ứng với sự gia tăng năng suất Khả năng cạnh tranh kém đã làmgiảm cầu về hàng hóa Hi Lạp và dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại cao(khoảng 14% GDP) Hơn nữa, do sử dụng đồng tiền chung châu Âu nên HiLạp không có khả năng phá giá tiền tệ nhằm khôi phục khả năng cạnh tranh.Tăng trưởng kinh tế năm 2009 của Hi Lạp giảm 1,2% và các cuộc biểu tìnhbãi công khiến cho khả năng hồi phục càng chậm lại Các giải pháp thắt lưngbuộc bụng hiện tại có thể chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề Các nước đangkêu gọi Hi Lạp cần phải cắt giảm chi tiêu chính phủ Tuy nhiên, khi nền kinh

tế đang lâm vào suy thoái và thất nghiệp cao, việc thắt chắt chặt tài khóatrong khi không có khả năng nới lỏng tiền tệ, chỉ làm cho mọi thứ xấu thêm

Trang 18

Do vậy, có lẽ còn phải rất lâu nữa kinh tế Hi Lạp mới thoát khỏi cái mớbòng bong hiện tại.

Hai quý đầu năm 2010, tăng trưởng kinh tế đều ở mức âm QuýI/2010 là âm 0,8% còn quý II, tăng trưởng ở mức âm 1,8% Số liệu thống kêquốc gia Hy Lạp nói mức tiêu thụ quý II giảm 4,2% thường niên so với mứctiêu thụ gia tăng của 1,5% quý trước Tổng vốn đầu tư giảm 18,6%, trongkhi xuất khẩu giảm 5% Tuy nhiên mức thâm hụt ngân sách đã giảm 46%trong nửa năm đầu, cao hơn mức dự kiến là 40%

Tỷ lệ thất nghiệp tháng 5 tăng lên 12% từ mức 11,9% trong tháng 4,đây là tỷ lệ cao nhất từ tháng 2/2010 với con số 12,1% Đặc biệt, tỷ lệ giớitrẻ độ tuổi từ 15 – 24 thất nghiệp trong tháng 5 đã lên tới mức kỷ lục với32,5%, cao hơn nhiều so với mức 25% của đầu năm ngoái

Theo Liên minh châu Âu và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tổng mức giảmGDP của Hy Lạp trong năm 2010 dự đoán sẽ vào khoảng 4%

Trang 19

III Nguyên nhân khủng hoảng nợ công Hy Lạp

Tác nhân bên ngoài và rõ nét nhất thường được các nhà lãnh đạo EU

đề cập là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Để cứu vãnnền kinh tế khỏi cơn suy thoái, chính phủ Hy Lạp đã tung ra những gói hỗtrợ khổng lồ nhằm kích thích kinh tế phát triển Gói hỗ trợ này làm gia tăngchi ngân sách và nợ công một cách đáng kể Tuy nhiên, thực trạng này diễn

ra ở hầu hết các nước trên thế giới, không chỉ có ở Hy Lạp và EU Do vậy,ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu chỉ là tác nhân thêm vàonhững vấn đề sẵn có trong nội tại nền kinh tế Hy Lạp

Chính sách "vung tay quá trán" và "căn bệnh thành tích" đã khiến HyLạp trượt sâu trong vũng lầy nợ công Thực chất, nợ không phải là điều gìxấu, nhưng vấn đề đặt ra đối với mỗi quốc gia là mức nợ ấy phải rõ ràng vàtrong tầm kiểm soát

So sánh với Nhật Bản với khoản nợ công lên tới 10.710 tỷ USD,tương đương với số nợ bình quân đầu người là 84.435 USD, lên tới 200%GDP so với mức 60% của 20 năm trước, có sự khác biệt khá lớn giữa nợcông của nước này với nợ công của Hy Lạp, thể hiện ở chỗ, 95% trái phiếuchính phủ của Nhật Bản do người dân nước này nắm giữ, trong khi 70% nợchính phủ Hy Lạp do người nước ngoài nắm giữ Bên cạnh đó, Nhật còn tựchủ về tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ của Nhật cũng ở mức rất cao (theo con

số mà Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày 12-5, tính đến cuối tháng

4-2010, dự trữ quốc gia của Nhật là 1.046,873 tỉ USD) Do vậy, nền kinh tếNhật Bản, mặc dù ngoài nợ công cao còn đứng trước nhiều khó khăn khác

Trang 20

nữa, nhưng vẫn được dự báo là khó có thể trở thành mục tiêu tấn công củagiới đầu cơ quốc tế.

Ở trường hợp Hy Lạp, có thể thấy rằng khủng hoảng nợ công bắtnguồn từ sự "lạm chi" và sự lơi lỏng của EU khi Brussel sốt ruột muốn đẩynhanh tiến trình hội nhập của Hy Lạp Nói cách khác, những "ảo tưởng" vềmột viễn cảnh mới, về ánh hào quang của EU đã khiến Athens phớt lờ mọicảnh báo, tiếp tục mạnh tay chi tiêu và hậu quả nhãn tiền đều như người ta

đã thấy

Sau đây chúng ta sẽ đi sâu vào những nguyên nhân riêng có của HyLạp

III.1 Nạn nhân của bệnh thành tích

Có nhiều dẫn chứng thuyết phục cho thấy chính việc châu Âu nhiềulần làm ngơ trước các hành xử vô nguyên tắc của thành viên khiến Hy Lạp

ra nông nỗi ngày nay

Theo Hiệp ước Maastricht, để tham gia vào khu vực đồng tiền chung,các quốc gia thành viên phải đáp ứng nhiều chuẩn mực, trong đó có quyđịnh mức bội chi của ngân sách phải nhỏ hơn hoặc bằng 3% GDP, có xemxét trường hợp mức thâm hụt đang trong xu hướng được cải thiện hoặc mứcthâm hụt lớn hơn 3% nhưng mang tính tạm thời, không đáng kể, không làmức bội chi cơ cấu; nợ chính phủ nhỏ hơn hoặc bằng 60% GDP, có xem xétcác trường hợp đang điều chỉnh

Mười một sáng lập viên lúc bấy giờ vẫn ấn định giờ G là ngày1/1/1999 ra mắt đồng euro Nhưng không có quốc gia nào trong khối lúc bấygiờ đáp ứng được tiêu chí trên Thậm chí, lúc đó Bỉ có tổng nợ quốc gia lênđến 131% GDP, gấp 2,2 lần mức cho phép

Theo những quy định của Hiệp ước này, Hy Lạp chưa đủ điều kiệntham gia khu vực đồng tiền chung Châu Âu vào tháng 5/1998 Nhưng 2 năm

Trang 21

sau, ngày 1/1/2001, mặc dù chưa đủ chuẩn, Hy Lạp cũng được chấp thuậngia nhập vào khu vực đồng tiền chung với điều kiện phải nỗ lực cải thiệnmức thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ Tuy nhiên, đến nay, các ràng buộctrên vẫn chỉ là lời hứa của Hy Lạp Bội chi ngân sách và nợ nước ngoài

không những không được cải thiện mà có xu hướng ngày càng tăng

III.1.1 Gia nhập vội vã

Tham vọng tạo ra một khối kinh tế chung có sức ảnh hưởng đã khiếncho các thành viên sáng lập lúc bấy giờ muốn có càng nhiều thành viên càngtốt Điều đó khiến các tham vọng chính trị va vấp với những thực trạng vềnền kinh tế các quốc gia

Đối với Athens khi đó, việc gia nhập khu vực sử dụng đồng Euro(Eurozone) vừa là vấn đề danh dự, vừa là sự cần thiết, vì nếu Hy Lạp sửdụng đồng tiền chung, giới đầu cơ tiền tệ sẽ không thể tấn công và nền kinh

tế của nước này sẽ có được sự bình ổn Bên cạnh đó, việc tham gia “câu lạc

bộ nhà giàu” Eurozone cũng đồng nghĩa với việc Hy Lạp có thể tiếp cậnđược với nguồn vốn tín dụng lãi suất thấp

Bất chấp tất cả, các quốc gia châu Âu “làm đẹp” sổ sách bằng mọi giá

để kịp tiến độ gia nhập Lúc đó, con số “sạch đẹp” thâm hụt 4% của Hy Lạpkhiến một số người nghi ngờ

Thần kỳ hơn khi Hy Lạp giảm được mức thâm hụt xuống còn 2,5%vào năm 1998 và dự báo lúc bấy giờ nói thâm hụt chỉ còn 1,9% vào năm

1999 Cả châu Âu đã hoan hô thành tích này, tung hô Hy Lạp như một câuchuyện thần kỳ khiến một số nước phải ngưỡng mộ Tây Ban Nha, Pháp, BồĐào Nha cũng cố gắng “đạt thành tích” thâm hụt chỉ 3%

III.1.2 Những số liệu “ma”

Trang 22

Quả đúng như người ta nghi ngờ Tháng 3.2000, dưới một tiêu chuẩn

kế toán mới, cho thấy thâm hụt thực sự của Hy Lạp vào năm 1998 là 3,2%.Đến năm 2004 một báo cáo khác lại chỉ ra con số thâm hụt của Hy Lạp vàonăm 1998 là 4,3%, bởi Hy Lạp đã nhập nhằng tiền chi tiêu mua sắm côngvới viện trợ chính phủ đến 2 tỉ euro

Không chỉ thế, Hy Lạp còn cố ý không tính đến một số chi tiêu quân

sự cũng như y tế trong tổng chi chính phủ Ngược lại, quốc gia này còn xemmột số viện trợ từ châu Âu là khoản thu vào của chính phủ

Với cách này, Hy Lạp đã “bùa” thâm hụt ngân sách năm 2003 mộtcách khó tin Vào tháng 3/2004, Hy Lạp công bố thâm hụt ngân sách 2,6 tỉeuro tương đương 1,7%, tức thấp hơn nhiều so với mức trung bình của EU là2,7% Điều đó khiến nhiều người nghi ngờ và EU gây áp lực khiến Hy Lạpcông bố lại

Dưới áp lực từ châu Âu, Hy Lạp công bố là 3,2% bởi trước đó đã tínhcác trợ cấp thuế ước tính của châu Âu vào nguồn thu chính phủ Bốn thángsau đó, Hy Lạp thừa nhận đã bỏ qua một số khoản chi tiêu quân sự, tính caolên giá trị thặng dư an sinh xã hội cùng lãi suất thấp đi, nên con số thực phải

là 4,6% Đến tháng 3.2005, Hy Lạp “thành thật” thông báo thâm hụt củanăm 2003 là 5,2% Và trong lần “thành thật” cuối cùng vào cuối năm đó,con số tăng lên mức 5,7% Sau 18 tháng, số liệu thâm hụt năm 2003 đã tăng

từ 2,6 tỉ lên 8,8 tỉ euro

III.1.3 Có lợi cùng hưởng, có hoạ… tự chia

Vấn đề hiện tại của Hy Lạp cũng cho thấy thể chế tài chính của EUkhông đủ năng lực và chuyên môn để kềm chế những thành viên không tuânthủ hiệp ước của khối Ngay từ khi thành lập, Liên minh tiền tệ đã được xem

Trang 23

là công cụ cho liên minh chính trị, nên các “sáng lập viên” chẳng hề quantâm nhiều đến chuyện trừng phạt thành viên vi phạm quy chế chung.

Năm 1996, khi thảo luận xem liệu có cần thiết có những công cụ trừngphạt những thành viên vi phạm hay không, Tổng thống Pháp Jacques Chirac

và Thủ tướng Đức Helmut Kohl cho rằng nên dựa vào ý thức, và cuối cùng

EU ủng hộ chủ trương này EU cho rằng các quốc gia sẽ phải tự điều tiết lấy

Chính thái độ thờ ơ,bàng quan của EU trước những sai phạm của cácnước thành viên như ngọn gió thổi vào khủng hoảng :

“Ở thời điểm đó, đã có những bằng chứng rõ ràng cho thấy, Hy Lạpđưa ra những số liệu không trung thực, đặc biệt là về thâm hụt ngân sách,nhằm đưa ra hình ảnh về tình hình tài chính công của họ ‘đẹp’ hơn thực tế.Nhưng các nhà lãnh đạo châu Âu đã không phản đối Vì lý do chính trị, họphải cho Hy Lạp tham gia đồng Euro”, Giáo sư kinh tế học Jürgen vonHagen thuộc Đại học Bonn, Đức, cho biết

Chính sự thờ ơ, thiếu kiểm soát chặt chẽ này đã tiếp tay gây ra cuộckhủng hoảng Ở thời điểm đó, EU có thể nhìn rõ mối nguy hiểm của buônglỏng quản lý và ra tay ngăn chặn

Các năm 2002, 2003, và 2004, ngay cả Đức và Pháp đã không tuânthủ được các điều khoản về thâm hụt ngân sách, tạo ra một tiền lệ nguyhiểm Các nước lớn có thể vi phạm, tại sao các nước nhỏ lại ko? Điều nàycàng giảm đi tính kỷ luật của chính sách chung

Tới năm 2004, việc Hy Lạp công bố số liệu kinh tế giả mạo đã rõ nhưban ngày EU đã mở cuộc điều tra đầu tiên nhằm vào tình trạng bội chi củaAthens Mặc dù Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) thu thập đủ bằngchứng về sự gian dối số liệu của Hy Lạp, nhưng các quan chức của châu Âuvẫn tuyên bố rằng, việc trục xuất Hy Lạp khỏi Khu vực đồng tiền chungeuro không phải là lựa chọn của họ

Trang 24

Trên thực tế, chỉ có 2 trong số 16 quốc gia thuộc Eurozone đáp ứngđầy đủ những tiêu chí này là Phần Lan và Luxembourg Sự "vượt rào" tậpthể này là một trong những nguyên nhân chính khiến châu Âu trở thành đệ

tử của "chúa chổm" Hiện tại, tổng giá trị nợ của khu vực sử dụng đồng eurochiếm 84% GDP của khối

III.2 Tác động tiêu cực của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực

Quá trình hình thành đồng tiền chung được chia thành ba giai đoạnnhằm giúp các quốc gia điều chỉnh nền kinh tế theo hướng hội nhập toàndiện và sâu rộng - hàng hóa, vốn và sức lao động được tự do hóa hoàn toàn.Tuy nhiên, hội nhập cũng có mặt trái của nó Đối với các quốc gia nhỏ, nănglực cạnh tranh yếu thì đây thực sự là thách thức

Việc gia nhập vội vã của Hy Lạp đã bộc lộ những mặt trái của nó Vớimột quốc gia có nguồn tài nguyên hạn hẹp, lợi thế thương mại thấp, năng lựccạnh tranh thấp thì họ không thể xây dựng rào cản để bảo hộ nền sản xuấttrong nước Hàng hóa thiếu cạnh tranh, sản xuất đình trệ, tỷ lệ thất nghiệpgia tăng, thu ngân sách giảm, chi an sinh xã hội cao

Theo quy định của EU, các quốc gia được phép giữ lại 25% thuế xuấtnhập khẩu hàng hóa vào EU để trang trải chi phí hoạt động và 75% còn lạiđược chuyển vào ngân sách chung của EU Điều này có nghĩa, các quốc gia

có vị trí thuận lợi về giao thông quốc tế: sân bay, bến cảng sẽ nhận đượcmột nguồn thu đặc biệt từ thuế nhập khẩu vào EU mà các quốc gia nhỏ hơn,

ở vị trí bất lợi hơn như Hy Lạp không nhận được; thậm chí đó là khoản thuếđánh trên hàng hóa nhập khẩu đang tiêu thụ tại nước mình Nguồn thu ngânsách của họ bị suy giảm

Trang 25

Ngoài ra, tại các nước kém phát triển hơn như Hy Lạp, để tránh lànsóng di dân khi thực hiện tự do hóa lao động, chính phủ buộc phải gia tăngcác khoản chi phúc lợi, chi an sinh xã hội cho công dân của mình Điều nàygóp phần làm gia tăng thâm hụt ngân sách.

III.3 Thiếu sót trong cơ cấu của Hiệp định Maastricht- Mối quan

hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài chính

Trong điều kiện nền kinh tế không có khủng hoảng, việc duy trì camkết giữ mức thâm hụt ngân sách nhà nước ở mức 3% GDP và tổng nợ côngkhông được vượt quá 60% GDP không gặp khó khăn gì đặc biệt Nhưng khicuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ cuối năm 2008, hầu hết các nước thamgia hệ thống đồng euro đã buộc phải phá rào trước cả hai điều khoản nói trên

để cứu nguy ngành ngân hàng, và qua đó, cứu nguy nền kinh tế Đặc biệt,đáng lo ngại là mức thâm hụt ngân sách của 4 nước Bồ Đào Nha, Tây BanNha, Ai Len, Hy Lạp đã lên tới 9-14%, vượt xa quy định của Hiệp ướcMaastricht

Hy Lạp là mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền Euro Trước khủnghoảng, nước này có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất trong khối EU nhờ tập trungphát triển các ngành dịch vụ, ngân hàng, du lịch và địa ốc Tuy nhiên, kinh

tế ngầm chiếm tới hơn 30% GDP và sản xuất kém phát triển nên nước nàyluôn phải nhập siêu Khủng hoảng nổ ra, nợ công lên tới 115% GDP (gấpđôi quy định của hiệp ước) và thâm hụt ngân sách quốc gia là 14% GDP(cao hơn quy định 3,5 lần) Khả năng thanh toán nợ của Chính phủ Hy Lạp

bị nghi ngờ và các nhà đầu tư vội vã rút vốn khỏi Hy Lạp và không choChính phủ nước này vay thêm tiền

Việc cam kết giảm thâm hụt ngân sách về mức 3% được xem như bấtkhả thi do: thứ nhất, Hy lạp không thể hạ giá đồng euro để khuyến khích

Trang 26

xuất khẩu, thứ hai là Chính phủ không thể tự ý điều chỉnh lãi suất cơ bản đểvực dậy nền kinh tế Nếu đứng ngoài khối euro, làm hai việc trên không khóđối với Hy Lạp.

Đồng tiền chung hệ thống ngân hàng trung ương châu Âu bao gồmNgân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 16 ngân hàng trung ương của cácquốc gia thành viên ECB điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạmphát

Quy định này tạo nền tảng cho việc hình thành và ổn định đồng euro.Nhưng nó cũng mang lại nhiều thách thức cho các chính phủ do họ khôngthể sử dụng chính sách tiền tệ làm công cụ hữu hiệu để hỗ trợ kinh tế pháttriển

Tuy nhiên, yếu kém trong thanh khoản của Hy Lạp đã làm lộ ra thiếusót mang tính cơ cấu trong chính sách tiền tệ chung: Các quốc gia thành viênkhu vực đồng euro chấp thuận một ngân hàng trung ương chung, một chínhsách tiền tệ chung nhưng không chấp thuận một chính sách thuế chung

Nguyên nhân sâu xa là mỗi quốc gia có một nhà nước riêng và nhànước riêng thì cần có ngân sách riêng với hàng loạt nguyên tắc chi tiêu đínhkèm Điều này hợp lý nhưng lại là rào cản đối với khu vực đồng tiền chungbởi vì chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa luôn có mối quan hệ khắngkhít với nhau

Nếu các chính phủ cắt giảm chi tiêu để trở về mức quy định trongHiệp ước Maastricht thì điều đó đồng nghĩa với việc làm tiêu tan những nỗlực vực dậy nền kinh tế và làm tăng thất nghiệp, từ đó khởi động quá trìnhgiảm phát trên phạm vi toàn Châu Âu Nếu để các chính phủ tự ý quyết địnhmức thâm hụt ngân sách và công nợ của họ, Hiệp ước Maastricht có nguy cơtan vỡ

Trang 27

Cụ thể, lãi suất trên thị trường tiền tệ phụ thuộc vào chính sách lãisuất do ECB định đoạt Lãi suất trái phiếu chính phủ lại do bộ tài chính củatừng quốc gia quyết định

Quyết định của bộ tài chính phụ thuộc vào chính sách tài khóa củatừng quốc gia Đối với một số nước có năng lực cạnh tranh kém hơn, thâmhụt ngân sách lớn hơn các quốc gia khác trong khối, để bình ổn nền kinh tế,phát hành trái phiếu chính phủ với lãi suất cao hơn là giải pháp được ưachuộng Vì vậy, khủng hoảng nợ do mất khả năng chi trả chỉ còn là vấn đềthời gian

Ngoài ra, so với các quốc gia khác, khoản chi phúc lợi - an sinh xã hội

và thu thuế của EU rất cao so với nhiều quốc gia khác trên thế giới Thậtvậy, Mỹ có thu nhập bình quân đầu người là 34.320 đô la nhưng chỉ dành19,4% GDP chi phúc lợi và an sinh xã hội Con số tương tự ở Nhật là 25.130

đô la Mỹ/người và 18,6% Trong khi đó, tại EU, tỷ lệ này dao động từ trên20-38,2%

Để có tiền chi phúc lợi và an sinh xã hội, các nước buộc phải gia tăngcác khoản thuế Thực tế cho thấy, tỷ lệ thu thuế tính trên GDP của các nướctrong khối EU cũng tăng vượt trội so với các quốc gia khác trên toàn cầu Tỷ

lệ này biến động từ trên 30-50% GDP

Trong khi đó, tỷ lệ này tại Mỹ, Nhật, Canada lần lượt là 28,2%;27,4%; 33,4% Để có nguồn thu lớn, EU đã xây dựng một biểu thuế suất caohơn Thuế giá trị gia tăng trung bình trên 20%, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ vàHàn Quốc khoảng 10%; tại Nhật và Canada là 5% Chính điều này đã làmcho EU trở thành thiên đường của hưởng thụ hơn là nơi hấp dẫn nhà đầu tư

bỏ vốn kinh doanh Lợi thế trong thu hút nguồn vốn nước ngoài của EUcũng bị tác động

Trang 28

Là một thành viên của EU, trong các hoạt động kinh tế đối ngoại vớicác quốc gia ngoài EU, Hy Lạp cũng gặp những khó khăn tương tự Khôngchỉ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài, Hy Lạp còn bị thất thế trong cácgiao dịch nội khối Là một quốc gia nhỏ, nghèo tài nguyên, năng lực cạnhtranh của Hy Lạp giảm Mặc dù Hy Lạp thiết lập một tỷ lệ thu thuế và chiphúc lợi và an sinh xã hội ở mức trung bình của khu vực đồng tiền chung,nhưng nó cũng làm tăng mức thâm hụt ngân sách, tạo áp lực gia tăng nợcông.

III.4 Sự yếu kém trong điều hành đất nước của chính phủ Hy

Lạp

Gia nhập khu vực đồng tiền chung euro năm 2001 là cơ hội lớn để HyLạp có thể tiếp cận với thị trường vốn quốc tế Đáng buồn thay, đây lại lànguyên nhân khiến quốc gia này lâm vào cảnh “chúa chổm”

III.4.1 Tham nhũng, hối lộ, trốn thuế có hệ thống.

Hy Lạp hiện đang là một trong những nước có nạn tham nhũngnghiêm trọng nhất EU Dựa theo CPI (chỉ số nhận thức tham nhũng) của Tổchức Minh bạch Quốc tế (TI), Hy Lạp đứng cuối cùng, sau cả Rumani vàBungari

Thiệt hại mà tham nhũng gây ra cho Hy Lạp được ước tính vàokhoảng 8% GDP Nói cách khác, khoảng hơn 50% số thâm hụt ngân sáchnăm 2009 của Hy Lạp là do tham nhũng mà ra

Và, điều thật nghịch lý, theo các nhà phân tích, chính sự trợ giúp của

EU trong những năm qua lại là “đòn bẩy” khiến tham nhũng ở Hy Lạp tănglên nhanh chóng Chỉ tính trong vòng 3 thập kỷ kể từ khi Hy Lạp gia nhập

EU, nước này đã nhận được tổng cộng khoảng 300 tỷ euro tiền trợ cấp từ

Trang 29

EU Vậy mà, họ vẫn lâm vào cuộc khủng hoảng nợ trầm trọng Còn EU, lạimột lần nữa phải “bơm tiền”.

Nhiều năm qua, các quan chức, chính trị gia ở Hy Lạp liên tục phải từchức vì liên quan đến tham nhũng, nhận hối lộ Nhưng, cho đến nay, rất ítngười bị xét xử và kết án vì tội danh tham nhũng Chính điều này đã khiếnngười ta nghĩ đến một điều luật “bất thành văn”, đó là việc, các quan chứctham nhũng, nhận hối lộ rất “mạnh tay”, nhưng đến khi bị cơ quan điều traphát hiện thì lại rất nhanh và “mạnh mồm” tuyên bố từ chức, và sẽ không bịđưa ra xét xử nữa

Trong các bảng xếp hạng của TI về tham nhũng, cả ở EU hay chỉtrong nhóm sử dụng đồng tiền chung châu Âu thì Hy Lạp luôn “đội sổ”.Theo tính toán, hàng năm, nạn tham nhũng ở Hy Lạp đã lấy đi khoảng 10%GDP của nước này Còn người dân Hy Lạp, vì tham nhũng lan tràn tronggiới công chức, quan chức nên đã được coi như là những người “hối lộchuyên nghiệp” Người dân Hy Lạp đã phải hối lộ để thi lấy bằng lái xe, đểđược cấp giấy phép xây nhà, để khám chữa bệnh, để giành được những hợpđồng trong kinh doanh, đặc biệt khi đối tác là các cơ quan Nhà nước…Những điều này luôn là thực tế trong xã hội Hy Lạp Bản thân Thủ tướngGeorge Papandreou, khi nhậm chức hồi năm ngoái đã phải thừa nhận:

“Tham nhũng ở Hy Lạp là có hệ thống” và cam kết “sẽ kiên quyết loại trừ tệnạn này” Thế nhưng, sẽ rất khó để “tiêu diệt” tham nhũng, vì một khi đã trởthành “hệ thống” cũng có nghĩa là nó đã được “bảo vệ”, kể cả trong nhữngquy định của luật pháp Đơn cử, người nhận hối lộ, khi bị tố cáo sẽ khôngphải ra trước tòa đối chứng, trong khi đó, người tố cáo sẽ phải đối chất trướctòa về các bằng chứng cáo buộc Điều này hiển nhiên sẽ khiến những người

tố cáo tham nhũng, hối lộ nản chí

Ngày đăng: 17/09/2012, 16:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Số liệu về thực trạng nợ và thâm hụt ngân sách năm 2009 của EU. - Thực trạng Hy Lạp và khu vực eurozone trước khi khủng hoảng nợ công xảy ra.doc
ng Số liệu về thực trạng nợ và thâm hụt ngân sách năm 2009 của EU (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w