1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức quản lý và hoạt động dự phòng giáo dục sức khỏe tại trạm y tế trung dự

18 718 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 547 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành y dược tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành y dược

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ MÔN TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ Y TẾ

- -BÁO CÁO THỰC TẬP

TỔ CHỨC QUẢN LÝ

VÀ HOẠT ĐỘNG DỰ PHÒNG GDSK

TẠI TRẠM Y TẾ PHƯỜNG TRUNG TỰ

Giảng viên hướng dẫn: Ths Ngô Trí Tuấn Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 4 –Y5B

HÀ NỘI Tháng 5 – 2013

2

Trang 2

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời cám ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong

bộ môn Tổ chức và quản lý y tế, trường Đại học Y Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn giúp đỡ chúng em hoàn thành bài báo cáo thực tập này

Chúng em cũng xin gửi lời cám ơn tới toàn thể cán bộ nhân viên trạm Y tế Phường Trung Tự đã giúp đỡ chúng em trong quá trình thực tập tại trạm y tế phường Trung Tự, quận Đống Đa

Trong thời gian thực tập, mặc dù đã cố gắng song vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Chúng em rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài báo cáo của chúng em được hoàn thiện hơn

Chúng em xin chân thành cám ơn

Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2013

Nhóm sinh viên thực hiện

Trang 4

DANH SÁCH NHÓM THỰC HIỆN

4 Nguyễn Trung Nam 6-Y5B Nhóm Trưởng

Trang 5

3 KẾT QUẢ THU THẬP SỐ LIỆU

I TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ CỦA TRẠM Y TẾ TRUNG TỰ

1 Vài nét sơ lược

-Địa chỉ trạm y tế phường Trung Tự : số 2, ngõ 4B, đường Đặng Văn Ngữ, quận Đống Đa, Hà Nội

-Vị trí địa lý: nằm cùng khuôn viên của UBND phường Trung Tự

-Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ chung: Trạm trực thuộc giám sát của phòng y tế, trung tâm y tế quận Đống Đa, UBND phường Trung Tự, Sở y tế Hà Nội…

-Trạm y tế phường chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho hai khu :Trung Tự

và Khương Thượng với diện tích 0,42km2, bao gồm 52 tổ dân phố, 3515 hộ gia

đình với tổng dân số:15641 người

- Đặc điểm khu vực dân cư: nằm trong nội thành Hà Nội, kinh tế rất phát triển, người dân trình độ dân trí cao

2 Cơ sở hạ tầng, phòng làm việc.

Cơ sở hạ tầng: Trạm y tế phường gồm: 1 khối nhà chính và một số công trình phụ trợ khác Khối nhà chính khang trang với 2 tầng có 9 phòng, có tổng diện tích khoảng 150 m2

Tầng một có 5 phòng, bao gồm:

- Phòng khám chữa bệnh: dùng để khám ,tư vấn và cho bệnh nhân nằm theo dõi

- Phòng khám sản phụ khoa với vai trò chính là nơi để khám quản lý thai, khám phụ khoa, tư vấn sản - phụ khoa, kế hoạch hóa gia đình

- Phòng tiêm là nơi để sơ cứu, tiêm truyền, làm thủ thuật hay cũng có thể là nơi lưu bệnh nhân khi cần thiết

- Tầng 1 còn có kho để đồ, 1 nhà vệ sinh

Tầng hai gồm 4 phòng, bao gồm:

- Phòng đông y

- Phòng hội trường

- Phòng tiệt trùng

- Phòng vệ sinh Khối công trình phụ trợ: Có tên biển trạm y tế , nhà để xe , hàng rào bảo vệ , phòng bảo vệ, diện tích cây xanh bóng mát bao quanh đạt trên 30% diện tích Có

Trang 6

nguồn nước, nguồn điện sinh hoạt đảm bảo và có số máy điện thoại riêng để liên lạc khi cần

3 Thuốc và trang bị y tế

Thuốc : Cơ sở thuốc thiết yếu của trạm khá đầy đủ và được phân bố như sau:

- Hộp chống sốc đầy đủ theo quy định bộ y tế: 2 ống Adrenalin 1mg/ml, 2

ống Solumedrol 40mg, nước cất, bơm tiêm, bông, dây garo, cồn 70 độ, phác đồ chống sốc phản vệ

- Tủ thuốc cấp cứu chung với các mặt thuốc: Salbutamol, Solumedrol,

Morphin, Paracetamol, Adalat, Catopril, Furocemide, Oresol, các dung dịch sát khuẩn gồm cồn 70 độ, Povidin, các loại kháng sinh nhóm β-lactam, chloramphenicol, các loại dịch truyền…

- Các thuốc cấp cứu sản khoa: Giảm đau, an thần như Morphin, Seduxen,

Paracetalmol; hạ áp, chống co giật như Nifedipin, Magnesi sunfat; co tử cung như Oxytoxin, Misoprotol; kháng sinh như β-lactam (Penicillin, Ampicillin, Amoxycillin…), Erythromycin, Gentamycin…

- Ngoài cơ cấu thuốc cấp cứu nêu trên trạm còn có 1 tủ đặt tại phòng khám

có các nhóm thuốc như thuốc sốt rét, thuốc lao, thuốc huyết áp, thuốc tâm thần, dụng cụ tránh thai Bên cạnh đó trạm còn có các loại thuốc đông y

và đầy đủ các loại vaccine theo chương trình tiêm chủng mở rộng của quốc gia, cũng như một số loại vaccin mới

Trạm y tế có các trang thiết bị phục vụ cho hoat động của trạm gồm:

- Trang thiết bị phục vụ cho cán bộ y tế khám, điều trị ở tuyến đầu tiên

- Trang thiết bị khám sản, phụ khoa, kế hoạch hóa gia đình

- Dụng cụ khám chuyên khoa cơ bản: bảng đánh giá thị lực, đè lưỡi…

- Trang thiết bị bảo quản, sơ chế thuốc đông y, tranh lật giới thiệu cây thuốc

- Trang thiết bị để thực hiện công tác truyền thông giáo dục sức khỏe

- Thiết bị và dụng cụ tiệt khuẩn: nồi hấp, nồi luộc dụng cụ…

- Các thiết bị nội thất, đồ thông dụng: bàn tiếp đón, ghế, giường bệnh, đèn điện…

4 Nhân lực và chức trách cán bộ y tế:

Nhân lực trạm gồm 6 cán bộ y tế:

- 01 bác sĩ đa khoa chức vụ trạm trưởng: BS Trương Anh Tuấn

- 01 y sỹ Đông y

- 01 nữ hộ sinh trung học

Trang 7

- 02 điều dưỡng trung học

- 01 dược sỹ trung học

Chức trách cán bộ y tế:

Về cơ bản thì bên cạnh nhiệm vụ chung của trạm (sẽ được nêu trong phần 5) với

sự tham gia của hầu hết các cán bộ thì chức trách của các cán bộ cụ thể như sau:

- Trạm trưởng - BS Tuấn là người trực tiếp khám chữa bệnh đa khoa với sự

trợ giúp của 2 điều dưỡng Ngoài ra BS Tuấn là người quản lý chung công tác tại trạm, vạch ra các kế hoạch họat động cụ thể cho trạm

- Y sỹ đông y chịu trách nhiệm khám chữa bệnh bằng phương pháp YHCT

- Nữ hộ sinh tham gia cùng BS Tuấn trong vấn đề khám, quản lý thai, các vấn đề phụ khoa khác và chịu trách nhiệm trong vấn đề kế hoạch hóa gia đình

- 2 điều dưỡng trung học tham gia công tác tiếp đón bệnh nhân, sơ cứu, điều trị ban đầu, khử trùng dụng cụ…

- Dược sỹ trung học quản lý về thuốc

5 Chức năng, nhiệm vụ của trạm y tế phường Trung Tự

• Đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu thông qua việc thực hiện các chương trình y tế, phát hiện báo cáo và phối hợp xử lý kịp thời ở trên địa bàn phường

• Tổ chức các nhiệm vụ như khám tuyển nghĩa vụ quân sự, phòng chống bão lụt thiên tai thảm họa, trực cấp cứu

• Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch y tế hàng tháng- quý- năm

• Quản lý sử dụng vật tư trang thiết bị y tế, giao trách nhiệm quản lý vật tư trang thiết bị cho từng người

• Thực hiện xã hội hóa ngành y tế thúc đẩy sự tham gia cộng đồng vào sự chăm sóc sức khỏe ban đầu thông qua các đoàn thể như là hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội chữ thập đỏ, trường học, cơ quan, xí nghiệp…

• Thực hiện quy chế quản lý biểu mẫu và sổ ghi chép thông tin y tế kịp thời chính xác

• Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo thường xuyên, đột xuất với trung tâm

y tế quận

6 Nhận xét những ưu điểm, tồn tại về công tác tổ chức và biên chế nhân sự trạm y tế phường Trung Tự:

Trang 8

Ưu điểm:

 Về vị trí địa lý: nhiệm vụ của trạm Y tế phường Trung Tự là chăm sóc sức khỏe cho hai khu Trung Tự và Khương Thượng nên vị trí trạm y tế phường nằm trong khu vực Trung Tự là hoàn toàn hợp lý Bên cạnh đó trạm đặt ở

vị trí gần trục đường giao thông chính của hai địa bàn là tuyến đường Phạm Ngọc Thạch và Tôn Thất Tùng thuận lợi cho người đến khám chữa bệnh

 Về cơ sở hạ tầng, phòng làm việc: Khối nhà chính được xây dựng khang trang, khá vững chắc đạt tiêu chuẩn y tế quốc gia về cơ sở hạ tầng y tế phường Số phòng chức năng có 7 phòng: phòng khám chữa bệnh, phòng KHH GĐ, phòng tiêm, phòng đông y, phòng họp- hành chính, phòng tiệt trùng, kho lưu trữ Điều này là phù hợp với phòng chức năng của một trạm

y tế xã, phường Ngoài ra, trạm còn có bộ tranh ảnh giới thiệu thuốc nam,

có nguồn nước sinh hoạt sạch sẽ, có diện tích cây xanh bóng mát

 Về thuốc, trang thiết bị: Cơ cấu thuốc thiết yếu cũng như trang thiết bị phục vụ cho sơ cứu ban đầu đủ cả về số lượng và đảm bảo chất lượng

 Về nguồn nhân sự: Đạt tiêu chuẩn, tất cả đều đạt trình độ trung học trở lên

Nhược điểm :

 Trạm y tế không nằm tách biệt, lại đặt chung trong khối với UBND phường thậm chí còn nằm phía sau nên bị che khuất một phần

 Trạm nằm trong khu vực có nhiều cơ sở y tế cấp thành phố, trung ương, cơ

sở khám chữa bệnh tư nhân do vậy công tác quản lý khám chữa bệnh gặp nhiều khó khăn

 Về số lượng cán bộ của trạm: với một trạm y tế trên địa bàn 15.641 người

và với cơ sở trên địa bàn thì con số 6 người là vượt quá 1 nhân lực so với mức quy định là 5 biên chế/ trạm

II THÔNG TIN VÀ CHỈ SỐ VỀ HOẠT ĐỘNG DỰ PHÒNG GDSK ( trong 3 năm 2007, 2008 và 2009 )

1, Tỷ lệ CBYT trạm được đào tạo về dự phòng- truyền thông GDSK

Hàng năm các cán bộ y tế của trạm đều được đào tạo về dự phòng, truyền thông giáo dục sức khỏe 100% cán bộ của trạm đều phải tham gia các đợt tập huấn về nâng cao trình độ, kỹ năng giáo dục truyền thông do các cấp, ban ngành tổ chức Bên cạnh đó các

Trang 9

cán bộ y tế của trạm còn tham gia các buổi hội thảo trao đổi kinh nghiệm, đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe trên các phương tiện thông tin đại chúng

2, Tỷ lệ CBYT trạm tham gia hoạt động TTGDSK

Toàn bộ cán bộ y tế của trạm đều tham gia các hoạt động TTGDSK bằng nhiều hình thức trực và về nhiều nội dung khác nhau

Nội dung được CBYT của trạm thực hiện tư vấn cho người dân trong địa bàn phường khá đa dạng và đầy đủ, bao gồm:

- Thực hiện tuyên truyền phổ biến kiến thức bảo vệ sức khoẻ, vệ sinh môi trường

và an toàn vệ sinh thực phẩm

- Hướng dẫn các biện pháp chăm sóc sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh tại cộng đồng

- Tuyên truyền, giáo dục nhân dân về phòng chống HIV/AIDS

- Vận động, cung cấp thông tin, tư vấn về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình tại cộng đồng

- Thực hiện tuyên truyền, vận động chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em

a) Tư vấn về sức khỏe sinh sản và thực hiện kế hoạch hóa gia đình cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi

b) Tuyên truyền, vận động phụ nữ có thai đến trạm y tế xã đăng ký quản lý thai, khám thai và đẻ tại cơ sở y tế, tiêm phòng uốn ván cho mẹ và tiêm chủng đầy đủ các loại văcxin cho trẻ em trong độ tuổi

c) Hướng dẫn phụ nữ có thai cách chăm sóc bản thân khi mang thai, sau khi sinh, nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ, cách cho trẻ ăn hợp lý

d) phòng chống suy dinh dưỡng , tiêu chảy cấp cho trẻ em dưới 5 tuổi

Các nội dung hoạt động này cũng được CBYT ở trạm thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, cả trực tiếp và gián tiếp như tổ chức các buổi nói chuyện hay tư vấn cho người dân tới trạm, tới các hộ gia đình vận động tuyên truyền, đồng thời phát tờ rơi, phát thanh trên loa của phường

3.Mục tiêu 1 : Số nội dung và vấn đề chính TTGDSK trong 3 năm 2007-2008-2009

3.1.Bảng số liệu 1 :

Trang 10

STT Nội dung Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009

3 Phòng chống tai nạn thương tích và thảm họa thiên nhiên. 3 3 3

8

Bệnh dịch và các bệnh hay mắc phổ biến: tăng huyết áp, đái tháo

9

Nội dung khác: bảo hiểm y tế, hiến máu nhân đạo, chất độc màu da cam, các ngày kỷ niệm, ngày thế giới …

5

40 3.2 Nhận xét :

Trạm Y tế phường Trung Tự đã hoàn thành hết các nội dung cần truyền thông giáo dục sức khỏe tại tuyến y tế cơ sở Tuy nhiên, sự phân bố giữa các nhóm nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe có sự khác nhau

Các vấn đề mà trạm y tế tập trung truyền thông bao gồm: vệ sinh an toàn thực phẩm, dân số và kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em

Trang 11

Số lượng nội dung chiến dịch truyền thông sức khỏe phụ thuộc rất nhiều vào tình hình bệnh tật của từng năm diễn ra trên địa phương Thống kê chỉ ra số nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe tăng lên từng năm, phụ thuộc rất lớn vào tình hình dịch bệnh trong khoảng thời gian đó Cụ thể nhóm bệnh về cao huyết áp, đái tháo đường, tim mạch có xu hướng tăng trong các năm Và còn một nhóm bệnh mà chưa nêu ra ở đây,

là nhóm bệnh về đường hô hấp trong khoảng thời gian này cũng diễn biến khá nhanh

Số nội dung TTGDSK của trạm y tế phường tăng lên theo từng năm phù hợp với điều kiện

Nhìn chung trạm y tế đã thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe đúng mục đích

và phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng, địa bàn cụm dân cư và vấn

đề còn tồn tại tại cộng đồng

4 Số lượt người dân được truyền thông trực tiếp/ năm

4.1 bảng số liệu 2:

Loại hình TT Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Tổng

Sinh họat

CLB

Tư vấn gia

đình

Trang 12

4.2 Nhận xét :

Kết quả : Số lượt người dân được truyền thông giáo dục sức khỏe bằng các hình thức

trực tiếp giảm dần qua các năm từ 2007 đến năm 2009 Tỉ lệ các hình thức cũng có sự khác nhau giữa các năm, Hình thức sinh họat câu lạc bộ giảm mạnh trong năm 2008, và duy trì ở mức này trong năm tiếp theo, tư vấn gia đình tăng đột biến trong 2 năm 2008 và 2009, 2 hình thức còn lại luôn được duy trì ở mức ổn định

Đánh giá: Nhìn chung, lượng người được truyền thông trực tiếp giảm qua các năm,

đặc biệt là hình thức sinh họat câu lạc bộ, điều này có thể do: trình độ trí thức của người dân cao, có nhiều cơ sở tư nhân khám và tư vấn bệnh tại địa phương, người dân không có nhiều thời gian để tham dự do vấn đề kinh tế xã hội

Ý nghĩa: Đánh giá mức độ lượt người tham gia vào các hoạt động truyền thông giáo

dục sức khỏe đã cho thấy sự đóng góp ngày càng ít của truyền thông giáo dục sức khỏe vào các hoạt động truyền thông nói chung Điều đó chịu tác động

của nhiều yếu tố, của nhiều khía cạnh: các hoạt động truyền thông gián tiếp,

tính hiệu quả của các hoạt động truyền thông trực tiếp và ý thức tham gia của người dân

5 Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe gián tiếp:

5.1 Hình thức truyền thông gián tiếp

-Truyền thanh trên loa

- Phát tờ rơi

-Pano, áp phích

Trong đó chủ yếu là phát thanh truyền thông trên loa, số liệu cụ thể được thể hiện qua bảng dưới đây

5.2 Bảng số liệu 3

Trang 13

Số lượng lượt phát

thông

5.3 Nhận xét

Số lượng phát thanh truyền thông qua loa giữ ở mức ổn định qua các năm Lần lượt các năm 2007, 2008,2009 là 550, 570, 580 lần phát thanh, trung bình được 1,5 lượt phát thanh/ngày Tỷ lệ này khá cao, cho thấy trong 3 năm qua, cứ 1 ngày trạm y tế

sẽ phát thanh ít nhất là 1 lần về các vấn đề giáo dục sức khỏe

6 Mục tiêu 2 : Số tài liệu TTGDSK được phát ra / năm

6.1 Bảng số liệu 4:

Tài liệu

Phát hành/năm

6.2 Nhận xét :

Kết quả:

Số lượng tài liệu truyền thông được phát ra tăng lên qua từng năm, cụ thể, từ 720 năm 2007 lên 750 năm 2008 và lên đến 780 năm 2009 Tỉ lệ tăng qua từng năm ổn định, không có sự biến đổi nhiều

Đánh giá, ý nghĩa:

Hoạt động truyền thông thông qua hình thức tài liệu vẫn được coi trọng và là một trong những trọng tâm của hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của trạm

7 Nhận thức của các đối tượng

7.1 Nhận thức của người dân

Trang 14

- Đa số dân cư trên địa bàn có trình độ kiến thức nên mức độ hiểu biết và ý thức của nhân dân trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe ở mức tương đối cao

- Nhân dân trong phường nắm bắt được những kiến thức chung nhất về các vấn đề sức khỏe tồn tại một cách phổ biến như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch…, biết cách phòng tránh và có ý thức phòng tránh các bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết, lao …,

- Không có số liệu thống kê rõ rệt qua các năm nhưng theo như các cán bộ TT-GDSK

của phường đưa ra, ước tính khoảng 80-90 % nhân dân có ý thức tốt trong việc bảo vệ

và chăm sóc sức khỏe

7.2.Nhận thức của đối tượng đích

- Các đối tượng đích: Người già, trẻ em, phụ nữ có thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ

Nhân dân trong vùng dịch tễ của các vụ dịch…

- Xét trong điều kiện các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe rất phát triển việc TT-GDSK

có nhiều thuận lợi

-Bên cạnh đó, cũng vấp phải nhiều khó khăn trong việc thống kê các số liệu liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe của nhân dân

- Không thống kê được số liệu của các đối tượng đích khác

8 Khó khăn thuận lợi trong công tác TTGDSK

* Khó khăn chung

- Vấn đề truyền thông giáo dục sức khỏe là vấn đề lớn có ý nghĩa quan trọng thiết thực

và tiên quyết đến vấn đề sức khỏe của nhân dân Việc phòng tránh bệnh, loại trừ hoặc làm giảm đi những yếu tố gây bệnh, phát hiện sớm để có ý thức điều trị kịp thời có vai trò cực kì quan trọng, không phải chỉ đối với cá nhân mà đối với cả cộng đồng

- Công tác mà TTGDSK phải thực hiện là phòng tránh và khám chữa bệnh cho cả cộng đồng có nghĩa là một lượng người rất lớn trong xã hội, trong khi việc thực hiện điều trị bệnh tại bệnh viện chỉ được thực hiện cho một số ít người

- Tuy nhiên vẫn tồn tại thực trạng là xã hội ta quá coi trọng vấn đề điều trị lâm sàng mà quên mất việc tăng cường hỗ trợ cho công tác truyền thông giáo dục sức khỏe Vấn đề này có vẻ ít cấp thiết và ít ý nghĩa nhưng kì thực lại có ý nghĩa và mang lại hiệu quả lớn hơn rất nhiều Trong khi ở nước ngoài rất chú trọng đầu tư cho công tác dự phòng truyền thông giáo dục sức khỏe, đầu tư cho công tác truyền thông tương đương với đầu

tư cho việc điều trị tại bệnh viện thì tại nước ta đầu tư cho công tác dự phòng truyền thông lại thường chỉ chiếm có 1/3, dao động trên dưới 30% Như thế có nghĩa là xảy ra một vấn đề bất cập, dù công việc phải thực hiện là rất nhiều, đối tượng phục vụ là rất

Ngày đăng: 21/12/2014, 23:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

6.1. Bảng số liệu 4: - Tổ chức quản lý và hoạt động dự phòng giáo dục sức khỏe tại trạm y tế trung dự
6.1. Bảng số liệu 4: (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w