1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC CỦA INTEL TẠI VIỆT NAM

49 624 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 771 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHÓM ĐÁNH GIÁ 1. Quách Tất Kiên–Vụ GDTrH, Bộ GDĐT (Trưởng nhóm) 2. Nguyễn Thanh Bình,Viện NCSP, ĐHSP Hà Nội 3. Vũ Thị Sơn, Viện NCSP, ĐHSP Hà Nội 4. Nguyễn Kim Dung, Viện NCSP, ĐHSP Hà Nội 5. Nguyễn Thị Hằng, Viện NCSP, ĐHSP Hà Nội Ngoài ra còn có các cộng tác viên là nhà khoa học, cán bộ Sở, giáo viên tham gia chương trình được mời tham gia một số công việc trong quá trình đánh giá nhưng không được liệt kê trong danh sách trên đây. MỤC LỤC TÓM TẮT 3 I. MỤC TIÊU ĐÁNH GIÁ 3 II. TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI ĐÃ ĐẶT RA 3 1. ITP trong giai đoạn 20042007 đã mang lại những lợi ích cho những đối tượng nào ? 3 2. Có những thay đổi gì đã diễn ra trong thực tiễn dạy học và quản lý dạy học ở các trường tham gia ITP? 3 3. Những lí do nào đã hỗ trợ hoặc cản trở hiệu quả tác động ITP trong thực tế? 3 4. Làm thế nào để ITP có những tác động tốt hơn đối với thực tiễn dạy học ở trường phổ thông của Việt Nam? 3 5. Những chủ trương, chính sách, các chương trình nào của Bộ đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả triển khai ITP? 3 III. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU MINH CHỨNG CHO CÁC CÂU TRẢ LỜI 3 1. ITP trong giai đoạn 20042007 đã mang lại những lợi ích gì và cho những đối tượng nào? 3 2. Có những thay đổi gì đã diễn ra trong thực tiễn dạy và học ở các trường tham gia vào Chương trình dạy học của Intel? 3 3. Những lí do đã hỗ trợ hoặc cản trở việc triển khai ITP 3 4. Làm thế nào để Chương trình dạy học của Intel có những tác động tốt hơn đối với thực tiễn dạy và học ở trường phổ thông của Việt Nam? 3 5. Những chủ trương, chính sách, các chương trình của MOET đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả triển khai ITP 3 IV. PHỤ LỤC 3 TÓM TẮT Năm 2004, ITP (Intel Teach Program) đã được triển khai thí điểm thành công ở các trường phổ thông của Việt Nam. Sau khi thí điểm thành công, Ministry of Education and Training of Vietnam (MOET) và Intel Semiconductor Company Ltd., Hanoi Representative Office (Intel) kí Bản thoả thuận (Agreement) triển khai chính thức ITP trong 3 năm 2005, 2006 và 2007. Năm nay là năm kết thúc giai đoạn 3 năm hợp tác triển khai chính thức ITP. Chương trình đánh giá này nhằm mục đích tổng kết 4 năm triển khai ITP vừa qua. Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở giúp Intel và MOET triển khai hiệu quả hơn ITP tại Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo. Đến nay, ITP đã tiến hành bồi dưỡng được khoảng 8.000 GV (giáo viên), tại 170 trường, thuộc 17 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Chương trình đánh giá đã tiến hành khảo sát, lấy ý kiến của các đối tượng tham gia; thu thập các báo cáo, công văn, tư liệu liên quan; Tham gia các hội nghị, hội thảo liên quan đến ITP. Sau khi nghiên cứu, xử lí dữ liệu, về tổng quan cho thấy ITP đã được triển khai thành công, hiệu quả trong các trường phổ thông của Việt Nam. Chương trình được các đối tượng tham gia đánh giá cao. ITP là một điểm sáng trong bức tranh tổng thể về đổi mới PPDH (Phương pháp dạy học) và ứng dụng ICT vào dạy học của MOET trong giai đoạn vừa qua. Những hạn chế của ITP là không nhiều và hoàn toàn có thể khắc phục được. Chương trình đánh giá cũng đã đề xuất một số biện pháp nhằm khắc phục hạn chế, nâng cao hơn nữa hiệu quả, tác động của ITP trong giai đoạn tiếp theo. Những số liệu, tư liệu, thông tin thu thập được trong quá trình khảo sát, đánh giá là khá lớn. Mặt khác, nhóm đánh giá mong muốn trình bày báo cáo ngắn gọn, súc tích và tập trung vào mục tiêu của Chương trình đánh giá. Do vậy, báo cáo được trình bày theo hướng trả lời các câu hỏi đã đặt ra cho Chương trình đánh giá; Sau đó sử dụng các số liệu, tư liệu, thông tin thu thập, khảo sát được để minh chứng cho câu trả lời; Một số số liệu quan trọng, các mẫu phiếu khảo sát được đưa vào phần Phụ lục để quý vị tham khảo khi cần thiết. Nhóm đánh giá xin trân trọng cám ơn và mong nhận những ý kiến đóng góp của quý vị. Nhóm đánh giá TỪ VIẾT TẮT MOET Bộ Giáo dục và Đào tạo DOET Sở Giáo dục và Đào tạo BOET Phòng Giáo dục và Đào tạo THPT Trung học phổ thông THCS Trung học cơ sở TH Tiểu học ST Giảng viên cao cấp MT Giáo viên cốt cán PT Giáo viên cấp trường CNTT Công nghệ Thông tin GV Giáo viên HS Học sinh HSBD Hồ sơ bài dạy PPDH Phương pháp dạy học ITP Chương trình dạy học của Intel TTTH Trung tâm tin học ICT Công nghệ thông tin và truyền thông GD Giáo dục RTA Đơn vị thực thi chương trình ITGS Khoá học khởi đầu PPCT Phân phối chương trình PBL Dạy học theo dự án CT Chương trình SGK Sách giáo khoa BD bồi dưỡng I. MỤC TIÊU ĐÁNH GIÁ Mục tiêu của việc đánh giá tình hình triển khai Chương trình Intel Teach trong các trường phổ thông của Việt Nam là: Xác định những thành công và hạn chế của Chương trình, xác định được những thuận lợi và khó khăn đối với việc triển khai Chương trình, chỉ ra được yếu tố hỗ trợ và yếu tố cản trở đối với Chương trình để đề xuất được các phương hướng, biện pháp để nâng cao hiệu quả và mở rộng quy mô triển khai Chương trình trong giai đoạn tiếp theo. II. TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI ĐÃ ĐẶT RA 1. ITP trong giai đoạn 20042007 đã mang lại những lợi ích cho những đối tượng nào ? ITP đã mang lại lợi ích cho các đối tượng sau: + Các cấp quản lý giáo dục: MOET, DOETs (Departement of Education and Training), BOETs (Bureaus of Education and Training); + Hiệu trưởng các trường; + MTs (Mater Trainer), PTs (Participant Teacher); + HS (học sinh); + Những đối tượng khác: Phụ huynh HS, Các TTTH (Informatics Technology Center) của DOET. + Nâng cao hiệu quả của việc triển khai ITP trong các trường sư phạm (Khối Preservice). 2. Có những thay đổi gì đã diễn ra trong thực tiễn dạy học và quản lý dạy học ở các trường tham gia ITP? Những thay đổi về dạy học và quản lý dạy học ở các trường phổ thông mà ITP mang lại bao gồm: + Sự thay đổi về nhận thức, phương hướng ứng dụng ICT (Informatics and Communication Techology) để đổi mới PPDH của các cấp quản lý GD; + Thay đổi thái độ của lãnh đạo nhà trường đối với ứng dụng ICT để đổi mới PPDH; + Thay đổi cách quản lý dạy học; + Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, Kĩ năng ICT của giáo viên (GV); Tạo ra động cơ, sự nhiệt tình trong đổi mới PPDH, ứng dụng ICT trong dạy học trong đội ngũ GV, kể cả GV có thâm niên cao. + Mang lại bầu không khí thi đua tích cực trong nhà trường: tạo không khí thi đua đổi mới PPDH, ứng dụng ICT giữa các GV (GV), giữa các học sinh (HS) và giữa GV với HS. + Gắn liền hoạt động giáo dục của nhà trường với thực tiễn của nhà trường, của cộng đồng và của xã hội. Tạo được sự đồng thuận, sự ủng hộ của phụ huynh HS và các đơn vị bên ngoài. 3. Những lí do nào đã hỗ trợ hoặc cản trở hiệu quả tác động ITP trong thực tế?  Những nguyên nhân dẫn đến thành công: + Trước hết phải nói ITP là một chương trình được xây dựng đạt được tính khoa học, tính hiện đại và tính sư phạm cao. Chương trình là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa PPDH, cách tổ chức dạy học và Kĩ năng ICT; Thể hiện rõ việc dạy học lấy HS làm trung tâm. + ITP được giới thiệu với MOET vào đúng thời điểm MOET đang cần. Đó là thời điểm MOET đang tập trung đẩy mạnh đổi mới PPDH và ứng dụng ICT trong nhà trường. + Cách thức hợp tác triển khai ITP mà MOET và Intel thực hiện là cách tiếp cận mang tính hệ thống, bài bản. Cơ chế phối hợp chặt chẽ, sự tạo điều kiện và hiểu biết lẫn nhau giữa 2 bên. + Cung cấp tài liệu đầy đủ, kịp thời và miễn phí. + Việc localization đã đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra. + Các trường học của Việt Nam đang được tăng cường đầu tư trang bị máy tính, Internet.

Trang 1

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ

CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC

CỦA INTEL TẠI VIỆT NAM

QUÁCH TẤT KIÊN (TRƯỞNG NHÓM)

Bộ Giáo dục và Đào tạo

49 Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam Telephone (84)-04- 8684271 Fax (84)-08- 8697285 Email: qtkien@moet.gov.vn or qtkien@moet.edu.vn

Hà Nội - tháng 12, 2007

Trang 2

NHÓM ĐÁNH GIÁ

1 Quách Tất Kiên–Vụ GDTrH, Bộ GD&ĐT (Trưởng nhóm)

2 Nguyễn Thanh Bình,Viện NCSP, ĐHSP Hà Nội

3 Vũ Thị Sơn, Viện NCSP, ĐHSP Hà Nội

4 Nguyễn Kim Dung, Viện NCSP, ĐHSP Hà Nội

5 Nguyễn Thị Hằng, Viện NCSP, ĐHSP Hà Nội

Ngoài ra còn có các cộng tác viên là nhà khoa học, cán bộ Sở, giáo viên tham gia chươngtrình được mời tham gia một số công việc trong quá trình đánh giá nhưng không được liệt

kê trong danh sách trên đây

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM TẮT 3

I MỤC TIÊU ĐÁNH GIÁ 3

II TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI ĐÃ ĐẶT RA 3

1 ITP trong giai đoạn 2004-2007 đã mang lại những lợi ích cho những đối tượng nào ? 3

2 Có những thay đổi gì đã diễn ra trong thực tiễn dạy học và quản lý dạy học ở các trường tham gia ITP? 3

3 Những lí do nào đã hỗ trợ hoặc cản trở hiệu quả tác động ITP trong thực tế? 3

4 Làm thế nào để ITP có những tác động tốt hơn đối với thực tiễn dạy học ở trường phổ thông của Việt Nam? 3

5 Những chủ trương, chính sách, các chương trình nào của Bộ đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả triển khai ITP? 3

III PHÂN TÍCH DỮ LIỆU MINH CHỨNG CHO CÁC CÂU TRẢ LỜI 3

1 ITP trong giai đoạn 2004-2007 đã mang lại những lợi ích gì và cho những đối tượng nào? 3

2 Có những thay đổi gì đã diễn ra trong thực tiễn dạy và học ở các trường tham gia vào Chương trình dạy học của Intel? 3

3 Những lí do đã hỗ trợ hoặc cản trở việc triển khai ITP 3

4 Làm thế nào để Chương trình dạy học của Intel có những tác động tốt hơn đối với thực tiễn dạy và học ở trường phổ thông của Việt Nam? 3

5 Những chủ trương, chính sách, các chương trình của MOET đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả triển khai ITP 3

IV PHỤ LỤC 3

Trang 4

TÓM TẮT

Năm 2004, ITP (Intel Teach Program) đã được triển khai thí điểm thành công ởcác trường phổ thông của Việt Nam Sau khi thí điểm thành công, Ministry of Educationand Training of Vietnam (MOET) và Intel Semiconductor Company Ltd., HanoiRepresentative Office (Intel) kí Bản thoả thuận (Agreement) triển khai chính thức ITPtrong 3 năm 2005, 2006 và 2007 Năm nay là năm kết thúc giai đoạn 3 năm hợp tác triểnkhai chính thức ITP Chương trình đánh giá này nhằm mục đích tổng kết 4 năm triển khaiITP vừa qua Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở giúp Intel và MOET triển khai hiệu quả hơnITP tại Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo

Đến nay, ITP đã tiến hành bồi dưỡng được khoảng 8.000 GV (giáo viên), tại 170trường, thuộc 17 tỉnh, thành phố của Việt Nam

Chương trình đánh giá đã tiến hành khảo sát, lấy ý kiến của các đối tượng thamgia; thu thập các báo cáo, công văn, tư liệu liên quan; Tham gia các hội nghị, hội thảoliên quan đến ITP

Sau khi nghiên cứu, xử lí dữ liệu, về tổng quan cho thấy ITP đã được triển khaithành công, hiệu quả trong các trường phổ thông của Việt Nam Chương trình được cácđối tượng tham gia đánh giá cao ITP là một điểm sáng trong bức tranh tổng thể về đổimới PPDH (Phương pháp dạy học) và ứng dụng ICT vào dạy học của MOET trong giaiđoạn vừa qua

Những hạn chế của ITP là không nhiều và hoàn toàn có thể khắc phục được.Chương trình đánh giá cũng đã đề xuất một số biện pháp nhằm khắc phục hạn chế, nângcao hơn nữa hiệu quả, tác động của ITP trong giai đoạn tiếp theo

Những số liệu, tư liệu, thông tin thu thập được trong quá trình khảo sát, đánh giá làkhá lớn Mặt khác, nhóm đánh giá mong muốn trình bày báo cáo ngắn gọn, súc tích vàtập trung vào mục tiêu của Chương trình đánh giá Do vậy, báo cáo được trình bày theohướng trả lời các câu hỏi đã đặt ra cho Chương trình đánh giá; Sau đó sử dụng các sốliệu, tư liệu, thông tin thu thập, khảo sát được để minh chứng cho câu trả lời; Một số sốliệu quan trọng, các mẫu phiếu khảo sát được đưa vào phần Phụ lục để quý vị tham khảokhi cần thiết

Nhóm đánh giá xin trân trọng cám ơn và mong nhận những ý kiến đóng góp củaquý vị

Nhóm đánh giá

Trang 5

TỪ VIẾT TẮT

MOET Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 6

64 DOETs

547 BOETs

2400 Trường THPT

24000 trường THCS và trường Tiểu học

HỆ THỐNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM

Trang 7

I MỤC TIÊU ĐÁNH GIÁ

Mục tiêu của việc đánh giá tình hình triển khai Chương trình Intel Teach trong các trường

phổ thông của Việt Nam là: Xác định những thành công và hạn chế của Chương trình, xác định được những thuận lợi và khó khăn đối với việc triển khai Chương trình, chỉ ra được yếu tố hỗ trợ và yếu tố cản trở đối với Chương trình để đề xuất được các phương hướng, biện pháp để nâng cao hiệu quả và mở rộng quy mô triển khai Chương trình trong giai đoạn tiếp theo.

II TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI ĐÃ ĐẶT RA

1 ITP trong giai đoạn 2004-2007 đã mang lại những lợi ích cho những đối tượng

nào ?

ITP đã mang lại lợi ích cho các đối tượng sau:

+ Các cấp quản lý giáo dục: MOET, DOETs (Departement of Education and Training),BOETs (Bureaus of Education and Training);

+ Hiệu trưởng các trường;

+ MTs (Mater Trainer), PTs (Participant Teacher);

2 Có những thay đổi gì đã diễn ra trong thực tiễn dạy học và quản lý dạy học ở các

trường tham gia ITP?

Những thay đổi về dạy học và quản lý dạy học ở các trường phổ thông mà ITPmang lại bao gồm:

+ Sự thay đổi về nhận thức, phương hướng ứng dụng ICT (Informatics andCommunication Techology) để đổi mới PPDH của các cấp quản lý GD;

+ Thay đổi thái độ của lãnh đạo nhà trường đối với ứng dụng ICT để đổi mới PPDH;+ Thay đổi cách quản lý dạy học;

+ Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, Kĩ năng ICT của giáo viên (GV);Tạo ra động cơ, sự nhiệt tình trong đổi mới PPDH, ứng dụng ICT trong dạy học trong độingũ GV, kể cả GV có thâm niên cao

+ Mang lại bầu không khí thi đua tích cực trong nhà trường: tạo không khí thi đua đổimới PPDH, ứng dụng ICT giữa các GV (GV), giữa các học sinh (HS) và giữa GV vớiHS

+ Gắn liền hoạt động giáo dục của nhà trường với thực tiễn của nhà trường, của cộngđồng và của xã hội Tạo được sự đồng thuận, sự ủng hộ của phụ huynh HS và các đơn vịbên ngoài

3 Những lí do nào đã hỗ trợ hoặc cản trở hiệu quả tác động ITP trong thực tế?

Những nguyên nhân dẫn đến thành công:

Trang 8

+ Trước hết phải nói ITP là một chương trình được xây dựng đạt được tính khoa học,tính hiện đại và tính sư phạm cao Chương trình là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa PPDH,cách tổ chức dạy học và Kĩ năng ICT; Thể hiện rõ việc dạy học lấy HS làm trung tâm.+ ITP được giới thiệu với MOET vào đúng thời điểm MOET đang cần Đó là thời điểmMOET đang tập trung đẩy mạnh đổi mới PPDH và ứng dụng ICT trong nhà trường.+ Cách thức hợp tác triển khai ITP mà MOET và Intel thực hiện là cách tiếp cận mangtính hệ thống, bài bản Cơ chế phối hợp chặt chẽ, sự tạo điều kiện và hiểu biết lẫn nhaugiữa 2 bên.

+ Cung cấp tài liệu đầy đủ, kịp thời và miễn phí

+ Việc localization đã đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra

+ Các trường học của Việt Nam đang được tăng cường đầu tư trang bị máy tính,Internet

+ MOET đưa môn Tin học vào giảng dạy trong nhà trường

+ Cơ chế hợp tác của Bộ ngày càng thông thoáng Ngày càng đánh giá cao sự hỗ trợ củacác đối tác

+ Sự ủng hộ của MOET, DOETs, BOETs và lãnh đạo nhà trường với việc triển khaiITP

+ MOET tiến hành đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng đánh giá đúng năng lực, đặcbiệt là năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của HS

+ STs được các chuyên gia của Intel đào tạo trực tiếp, có trình độ và kĩ năng sư phạmtốt

+ Các lớp bồi dưỡng MTs đạt kết quả khá tốt, đạt yêu cầu về nội dung chuyên môn vàtạo được sự đam mê, hứng thú và lòng nhiệt huyết của MTs

+ RTA là đơn vị đã thực hiện tốt nhiệm vụ, hỗ trợ tốt cho việc triển khai chương trình.+ Việc MOET và Intel hợp tác triển khai thêm Chương trình ITGS (Intel Teach GettingStarted Course) và ICT for Education đã giúp hỗ trợ triển khai hiệu quả hơn ITP

Những nguyên nhân làm hạn chế việc triển khai ITP:

+ Do MOET đang trong quá trình đổi mới giáo dục phổ thông nên nguồn lực, nhân lựcdành cho ITP còn hạn chế

+ Chương trình ITP còn cồng kềnh, đòi hỏi thời gian bồi dưỡng dài, khó áp dụng vàothực tế giảng dạy trong nhà trường

+ STs là giảng viên đại học không sát thực tế phổ thông cho nên không hướng dẫn MTs,PTs áp dụng vào điều kiện cụ thể của họ Giữa nội dung tập huấn với trường học thực tếcòn có khoảng cách

+ Kiến thức về PBL (Project Base Learning), Kĩ năng ICT của GV chưa đáp ứng đượcyêu cầu của ITP

+ Từ năm học 2006 trở về trước GV phải dạy học theo PPCT (phân phối chương trình)của MOET PPCT của MOET quy định tiết dạy cụ thể, không linh hoạt, không phù hợpcho việc áp dụng PP PBL và cách tổ chức dạy học của ITP

+ Kĩ năng ICT của HS chưa đáp ứng được yêu cầu của các giờ học áp dụng ITP

+ Tâm lí ngại thay đổi, bảo thủ của GV khi chuyển sang cách dạy học mới

+ Phần lớn GV, HS không có hoặc thiếu máy tính, Internet ở nhà Ở trường thì việc sửdụng máy tính, internet bị hạn chế, không thuận tiện Tốc độ truy cập internet còn chậm + Một số cán bộ, lãnh đạo DOETs, BOETs và hiệu trưởng nhà trường chưa nhận thức,quan tâm đúng mức đến hiệu quả, lợi ích của việc triển khai ITP

+ Cách dạy học của ITP phù hợp với tâm sinh lí, trình độ tư duy của HS THPT hơn làvới THCS (Trung học cơ sở), TH (Tiểu học)

Trang 9

+ Công tác kiểm tra, giám sát, theo dõi tình hình triển khai ITP chưa được thườngxuyên, liên tục, chưa sâu sát, chưa toàn diện

+ Khó khăn về kinh phí triển khai Chương trình

+ Bên cạnh các chương trình giáo dục của Intel (Intel Education Programs), MOET cònđang hợp tác triển khai các trường trình khác làm phân tán sự tập trung nguồn lực củaMOET cho Chương trình của Intel với Việt Nam

+ Việc localization tuy đã đã thành công, nhưng còn chưa hoàn toàn phù hợp với thực tếdạy học trong nhà trường

4 Làm thế nào để ITP có những tác động tốt hơn đối với thực tiễn dạy học ở trường

phổ thông của Việt Nam?

Giữ vững, phát huy ưu điểm hiện có, trong đó cần đặc biệt coi trọng hai yếu tố sau đây:

+ Luôn đảm bảo ITP là chương trình khoa học, sư phạm, hiện đại và hiệu quả bằng cáchluôn cập nhật, cải tiến, hoàn thiện;

+ Giữ vững và phát huy sự phối hợp chặt chẽ, sự hiểu biết lẫn nhau giữa MOET vàIntel; Tiếp tục triển khai ITP theo cách tiếp cận hệ thống từ MOET xuống;

Khắc phục hạn chế:

+ Tăng khả năng áp dụng vào thực tiễn của ITP;

+ Đưa ITP đến đúng nơi sẵn sàng tiếp nhận;

+ Bồi dưỡng về PPDH mới và Kĩ năng ICT cho GV trước khi tham gia ITP;

+ Nâng cao nhận thức của các cấp quản lí giáo dục, lãnh đạo nhà trường;

+ Tăng cường việc kiểm tra, giám sát;

+ Mở rộng thêm các biện pháp hợp tác triển khai ITP;

+ Phối hợp với MOET để có văn bản hướng dẫn việc chi tiết hoá PPCT ở DOETs,BOETs và ở nhà trường tránh gây khó khăn cho việc triển khai áp dụng ITP

+ Tập trung triển khai ITP ở THPT, hạn chế triển khai ITP ở THCS và TH

+ Đề nghị MOET bố trí nguồn kinh phí để triển khai chương trình Tốt nhất là lấy trongnguồn kinh phí chi thường xuyên, ổn định hằng năm cho giáo dục

+ Đến năm học 2008-2009 MOET hoàn thành việc triển khai chương trình các môn học

và SGK phổ thông của MOET Sau khi hoàn thành, sẽ có thêm các nguồn lực, nhân lựccho các chương trình đổi mới PPDH, ứng dụng ICT Đây là thời điểm có thể đặt vấn đềtăng cường, mở rộng việc triển khai ITP

5 Những chủ trương, chính sách, các chương trình nào của Bộ đã, đang và sẽ ảnh

hưởng đến quy mô và hiệu quả triển khai ITP?

+ Chủ trương về đổi mới PPDH, ứng dụng công nghệ trong dạy học;

+ Chính phủ VN và MOET nói riêng ngày càng đánh giá cao sự hỗ trợ của các cá nhân,

tổ chức, công ty trong việc hỗ trợ cho ngành giáo dục;

+ Hiện nay MOET đang tiến hành cuộc vận động "nói không với tiêu cực trong thi cử

và bệnh thành tích trong giáo dục";

+ MOET thay đổi cách quản lý dạy học;

+ Việc triển khai dạy học môn Tin học ở trường TH, THCS, THPT sẽ tạo điều kiệntriển khai hiệu quả ITP;

+ MOET tiến hành biên soạn tài liệu và tổ chức bồi dưỡng về đổi mới PPDH, quản lýdạy học cho tất cả các hiệu trưởng trường THPT, tất cả GV của cả nước;

Trang 10

+ MOET có nhiều dự án trong mỗi dự án đều có phần kinh phí dành cho ứng dụng ICTtrong nhà trường;

+ Việc ban hành Luật ICT

Trang 11

III PHÂN TÍCH DỮ LIỆU MINH CHỨNG CHO CÁC CÂU TRẢ LỜI

1 ITP trong giai đoạn 2004-2007 đã mang lại những lợi ích gì và cho những đối

Trong Agreement giữa MOET và Intel , tháng 6/2005, có ghi: "Căn cứ kết quả thíđiểm thành công ở Việt Nam năm 2004, hai bên thấy Chương trình phù hợp với Chỉ thị58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnhứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đạihoá giai đoạn 2001-2005 và Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng côngnghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-2005."

Tại trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, TP.HCM, khi tiếp ngài Craig Barret,Chủ tịch tập đoàn Intel, và phu nhân, Thứ trưởng MOET Nguyễn Tấn Phát đã phát biểu:

"Chương trình đang góp phần vào việc triển khai ứng dụng ICT một cách hiệu quả

để đổi mới phương pháp giảng dạy của GV, đổi mới phương pháp học tập của HS và đổimới công tác quản lí của nhà trường

Việc Bộ GD&ĐT hợp tác với Công ty Intel triển khai Chương trình ITP là một

biện pháp cụ thể nhằm thực hiện thành công chủ trương đẩy mạnh ứng dụng ICT tronggiáo dục."

Tại cuộc tiếp ngài Sean Maloney, Phó Chủ tịch thường trực Tập đoàn Intel, ngài John Antone, Phó Chủ tịch Tập đoàn Intel, phụ trách khu vực châu á - Thái Bình Dương, Bộ trưởng MOET Nguyễn Thiện Nhân đã phát biểu: Chúng tôi tin tưởng rằng,

Chương trình này sẽ góp phần phát triển đội ngũ GV có kỹ năng vững vàng trong việcứng dụng ICT để đổi mới PPDH và giúp HS đổi mới phương pháp học tập, nâng cao tínhchủ động, tích cực, hứng thú trong học tập Sự hỗ trợ của Chương trình giáo dục của Inteltại Việt Nam là rất cần thiết cho giáo dục Việt Nam trên con đường hiện đại hoá

Tại các buổi tiếp và làm việc với Lãnh đạo Intel như bà Brenda Musilli-Tổng

Giám đốc giáo dục toàn cầu của Intel, bà Page Kunie-Giám đốc chương trình ITP toàn

cầu của Intel, ngài John Price-Giám đốc nghiên cứu Chương trình GD dành cho khối phổthông của Intel, bà Loo Cheng Cheng-Giám đốc chương trình giáo dục của Intel khu vựcchâu Á, Ông Thân Trọng Phúc-Tổng giám đốc Intel Việt Nam và ông Nguyễn ThượngHải-Giám đốc chương trình giáo dục của Intel Việt Nam đặc biệt trong bài phát biểu tại

Lễ Khai trương Chương trình ITP với sự tham dự của lãnh đạo các Bộ, ban ngành có liênquan, đại diện BOETs, trường phổ thông ông Lê Quán Tần, Vụ trưởng Vụ GDTrH,trưởng Ban điều hành triển khai Chương trình giáo dục của Intel tại Việt Nam đã nhiềulần phát biểu, đánh giá cao và hết sức ủng hộ Chương trình

Trang 12

ITP được giới thiệu trong ít nhất 4 tài liệu của MOET Các tài liệu này được chínhthức sử dụng để bồi dưỡng hiệu trưởng các trường THPT và giáo viên trên toàn quốc.

Có thể nói ITP đã đến VN đúng lúc MOET đang cần Hay nói theo cách của ngườiViệt Nam mà ông Lê Quán Tần đã sử dụng là "Một miếng khi đói bằng một gói khi no"

Các báo cáo của DOETs, BOETs đều khẳng định tính hiệu quả, tiên phong củaITP DOETs đều đề nghị MOET cho phép mở rộng số lượng trường tham gia ITP trongnhững năm tới

TTTH TP.HCM đã sử dụng ITP để tập huấn cho GV của TP.HCM Giám đốcTTTH Huỳnh Kim Sen đã phát biểu "Tôi mặn mòi với ITP"

Tại buổi làm việc với bà Loo Cheng Cheng, giám đốc DOET Lâm Đồng phátbiểu: ITP mang đến sự đột phá về PPDH, tạo ra sự lan toả không những trong nhữngtrường tham gia Chương trình mà còn ở những trường chưa tham gia ITP

Tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng trị, BOET Hải Lăng đã tổ chức dạy, phổ biến ITPcho tất cả các trường trong huyện (ngoài yêu cầu của MOET và Intel) Ở đây bài giảngcủa MT Nguyễn Ngọc Huy (MT của trường THCS thị trấn Hải Lăng) đã được làm bàigiảng mẫu để các GV, cán bộ quản lý tham khảo

Tại quận Phú Nhuận, TP.HCM, từ năm 2004 ngay khi ITP còn đang trong giaiđoạn thí điểm, BOET Phú Nhuận đã sử dụng ITP để bồi dưỡng bắt buộc cho tất cả cáctrường của THCS, TH của quận Mặc dù họ gặp nhiều khó khăn về việc đăng kí tham giachương trình, nhưng họ đã tự tìm cách để đưa ITP vào các trường của quận trong khi cònchưa nhận được sự hỗ trợ kịp thời của MOET và của DOET

Hiệu trưởng

Báo cáo của các trường đều có chung những nhận xét tích cực, ITP đã giúp lãnhđạo nhà trường tạo được không khí tích cực, cho họ một cách nhìn mới, một cách làmmới hiệu quả; tạo phong trào thi đua đổi mới trong nhà trường; tạo điều kiện xã hội hoá

GD, kêu gọi được phụ huynh và các đơn vị ủng hộ, tài trợ cho hoạt động giáo dục củanhà trường

Hiệu trưởng trường THPT Bắc Đông Quan, Thái Bình đã trực tiếp đi tham dự lớpbồi dưỡng MTs, khi về trường đã lập tức cho triển khai bồi dưỡng PTs Ông tâm sự:Chương trình khoa học, sư phạm, một cách nhìn đầy đủ về ứng dụng ICT về đổi mớiPPDH Chương trình này là một biện pháp để tôi nâng cao trình độ đội ngũ GV, nâng caochất lượng học tập của HS Với ITP tôi đã có công cụ, biện pháp để đưa nhà trường trởthành một trong những trường trọng điểm của Thái Bình

Hiệu trưởng trường THPT An Dương, Hải Phòng cho biết: Khi nghe MTs đi bồidưỡng về báo cáo và đọc tài liệu tôi thực sự ấn tượng về ITP Tôi hiểu ngay đây là cái tôiđang tìm kiếm và tôi lập tức cùng với MTs nghiên cứu, xây dựng kế hoạch triển khai ápdụng MOET chỉ yêu cầu nhân rộng 40 PTs nhưng tôi đã bồi dưỡng cho tất cả 120 GVcủa nhà trường Một chương trình hay như thế này thì tất cả GV của tôi đều phải đượctiếp cận

Trường THPT Trần Đại nghĩa, TP HCM là một trường lớn, có truyền thống vềchất lượng dạy học Ông Nguyễn Bác Dụng hiệu trưởng đã phát biểu trong chuyến viếngthăm của bà Loo Cheng Cheng cùng các quan chức của MOET và của DOETs TP.HCM:Chúng tôi tìm kiếm để đổi mới PPDH, ứng dụng ICT từ lâu và đến nay đã chọn đượcIntel Từ 2004, MOET cho trường, thầy cô được tham gia ITP Sau đó hàng năm vẫn tổ

Trang 13

chức 2 lớp bồi dưỡng nhân rộng cho PTs của nhà trường Đã đưa việc áp dụng ITP làmchương trình thi đua toàn trường, tạo động lực để áp dụng ITP vào dạy học trên lớp học.

GV có sự tiến bộ rõ rệt Tôi thấy rõ Chương trình đã tạo ra không khí tích cực đổi mớiPPDH, một bầu không khí tích cực trong nhà trường của tôi

Ông Minh, hiệu trường trường THCS Trần Văn Ơn, TP.HCM: trước khi có ITPchúng tôi gặp khó khăn trong việc tổ chức dạy học tự chọn Vì học môn này không ghiđiểm vào học bạ nên HS không chịu học, chán nản Khi có ITP chúng tôi tổ chức dạy họctheo dự án, chủ đề gắn với những vấn đề thực tiễn của nhà trường Vì vậy, GV, HS đềuhứng thú học Bây giờ HS thích học các tiết tự chọn hơn là các tiết học khác Không khíhọc tập từ những tiết tự chọn đã tác động tích cực đến các tiết học khác Và như vậy GVđôi khi phải chạy theo sự phát triển của HS, vì vậy GV cũng phát triển, GV phát triển thìlại tác động lại HS Một sự chạy đua để tránh tụt hậu đã diễn ra tại trường của tôi

Ông Khánh, hiệu trưởng trường THCS Giảng Võ, Hà Nội phát biểu tại cuộc làmviệc với MOET và Intel ngày 12/3/2007: Tôi đã tìm hiểu và thấy đây là chương trình rấtphù hợp, có lợi cho đổi mới PPDH vì chúng tôi đang tiến hành đổi mới PPDH Phươngpháp trước đây làm HS thụ động tiếp thu kiến thức Nhưng đến bây giờ chúng tôi phảitìm mọi cách để HS tích cực lĩnh hội kiến thức ITP là một chương trình phù hợp, hỗ trợchúng tôi thực hiện hiệu quả việc đổi mới PP này

Trường THPT Bùi Thị Xuân, Lâm Đồng: Với ITP đã giúp nhà trường có cách đểphụ huynh tham gia với nhà trường trong các hoạt động giáo dục Trong buổi làm việcvới MOET và Intel, nhà trường đã mời một PHHS đến và phụ huynh đã phát biểu: Chúngtôi tán thành với ITP Lơ là một chút là con em mình đã vượt mình rồi Chúng tôi ủng hộviệc hỗ trợ kinh phí, phương tiện để nhà trường có thêm điều kiện nâng cao chất lượngdạy học

Tác động của ITP còn tạo điều kiện để nhà trường tăng cường điều kiện CSVC,kinh phí: Ông Xuân, PGĐ (Phó giám đốc) DOET Lâm Đồng cho biết: Trước đây cáctrường có rất ít máy vi tính (MVT), khi tham gia và thấy lợi ích của ITP, đến 3/2007 đãđầu tư mua thêm 2.400 MVT để trang bị cho các trường

Các trường tham gia ITP còn được MOET, DOETs cho phép sử dụng nguồn kinhphí của nhà trường cho việc triển khai ITP DOET TT-Huế đã quyết định hỗ trợ kinh phícho các trường tham gia ITP Mỗi khoá tập huấn nhân rộng (The training of the PTs)được DOET hỗ trợ 5.000.000 đồng

Với sự triển khai ICT for Education, 21 trường tham gia ITP được tài trợ mỗitrường một phòng máy tính theo Chương trình này năm 2007

MTs, PTs:

Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, Kĩ năng ICT, tạo môi trường cộng táclàm việc, tính thân thiện, tạo điều kiện giao lưu giữa các GV

* Qua phiếu hỏi

Tác động của ITP đến việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của MTs, PTsđược minh chứng bởi câu hỏi số 9: Hãy đánh giá mức độ hữu ích của từng nội dung trongkhoá bồi dưỡng ITP với việc dạy học

Ở câu hỏi này, có 9 nội dung được xin ý kiến

Trang 14

92% MTs, PTs đánh giá các nội dung trong khoá bồi dưỡng ITP là hữu ích hoặcrất hữu ích với họ.

Trong số 9 nội dung được hỏi, Tìm kiếm thông tin trên Internet là nội dung mà cónhiều GV đánh giá là hữu ích và rất hữu ích: 98% Thiết kế trang Web là nội dung có tỉ lệthấp nhất: 85% (Xem thống kê chi tiết về ý kiến đánh giá mức độ hữu ích của từng nộidung của khoá bồi dưỡng trong phụ lục ở cuối tài liệu này)

Tại câu hỏi số 13, ITP có làm thay đổi việc dạy học của thầy/cô không? Đã có68% trả lời là có

68%

32%

Có thay đổi Không thay đổi

68% MTs, PTs trả lời ITP đã làm thay đổi cách dạy học của họ

* Theo báo cáo của Intel Việt Nam ngày 23/8/2004, về ý kiến của MTs tại khoá

bồi dưỡng MTs (theo mẫu chuẩn toàn cầu của EDC ) Tổng số đã có 49 MTs tham gia trảlời phiếu đánh giá Kết quả như sau:

100% MTs cho biết những ý tưởng và kỹ năng học được trong khoá học sẽ giúp

họ ứng dụng công nghệ có hiệu quả cho các bài tập và hoạt động của HS (63.3% ở mức

độ cao, 36.7% ở mức độ vừa phải)

83.7% MTs cho biết khoá học đã cung cấp được (ở mức tương đối trở lên) nhữngPPDH áp dụng được với HS (câu hỏi 2b)

97.9% MTs cho biết khoá học đã giới thiệu và minh hoạ được (ở mức tương đốitrở lên) những ứng dụng công nghệ có hiệu quả đối với HS (câu hỏi 2c)

* Qua báo cáo đánh của MOET

Theo Agreement giữa MOET và Intel, MOET tiến hành đánh giá độc lập về hiệuquả triển khai ITP và chia sẻ kết quả đánh giá của MOET với Intel

Tại hội thảo triển khai Chương trình ITP ở TT-Huế tháng 10/2005, MOET đãcông bố kết quả:

Trang 15

97% GV cho rằng Chương trình đã cho rằng ITP là chương trình giúp họ đổi mớiPPDH theo hướng lấy HS làm trung tâm, đảm bảo tính tích cực của người học

98% GV cho rằng ITP giúp họ có cách nhìn nhận mới, đúng đắn về ứng dụng hiệuquả ICT trong đổi mới PPDH

94% GV cho rằng PBL là phương pháp mới đối với họ, họ đã học được PPDH vàcách tổ chức dạy học từ Chương trình ITP

Một MT, của trường Quốc học Huế, 56 tuổi: Cả cuộc đời dạy học bây giờ tôi mớihiểu thế nào là đổi mới PPDH, dạy học lấy HS làm trung tâm, biết thế nào là dạy học gắnliền thực tiễn

Mỗi khoá tập huấn đều tổ chức lấy ý kiến của MTs về những cảm nghĩ của họ,cũng như trong quá trình phỏng vấn trao đổi trực tiếp, cho thấy có rất nhiều ý kiến củaMTs, PTs, họ đều đánh giá cao về hiệu quả của ITP đem lại cho họ về: Kĩ năng tin học(Internet, Word, Powerpoint, Excel); về PPDH (nhất là về PBL); về cách tổ chức HS làmviệc theo nhóm; về việc thiết kế, chuẩn bị một hồ sơ bài dạy; về bộ câu hỏi định hướngbài học; về việc quan hệ đồng nghiệp, chia sẻ chuyên môn nghiệp vụ và giao lưu vớiđồng nghiệp

Phạm Phương Như

Qua cách học với chương trình này, em được làm việc theo nhóm, được thêm tình đoànkết giữa các thành viên, được tự sáng tạo, được làm việc với Thầy Cô, được nhìn thấythành quả của một quá trình làm việc, và quan trọng nhất được vừa học vừa chơi, có cảmgiác vào bài học hơn Em rất thích học chương trình này…

Hà Thị Hồng Hạnh

…Tuy là hoạt động còn khá vất vả, chúng em phải họp nhóm nhiều lần, thi nhau tìm tưliệu, phân công bố trí việc làm…Nhưng nhờ đó, chúng em đã có thể tập làm việc theo

Trang 16

nhóm, biết điều khiển, quản lý một cách độc lập, không nhờ cậy mọi người Thứ hai,chúng em biết làm việc cùng nhau trên máy tính, cùng nhau lựa chọn, thảo luận qua côngnghệ mạng thông tin, cùng nhau tạo nên sản phẩm của chính mình……

Ngô Anh Tuấn

Con rất thích khi được học bằng cách này vì nó giúp chúng con có được tính tự lập, tựmày mò, suy nghĩ Đây là một cách học rất tuyệt vời ! Qua lần vừa rồi, con càng hiểuthêm tác dụng của nó : Giúp chúng con có tính đoàn kết, học theo nhóm giúp chúng congắn bó với nhau hơn và giúp ích cho sau này Con rất mong cô đồng ý cho chúng conđược học bằng cách này

Hồ Đăng Khoa

Có lẽ trong thời đại high-tech, thế kỷ 21, HS chúng em ai chẳng thích làm việc trên máy

vi tính Đây là cơ hội để chúng em có thể học và làm việc theo nhóm - một việc rất bìnhthường tại các nước phát triển như Mỹ, Úc…Qua việc làm việc theo nhóm, chúng em sẽbiết những ưu khuyết điểm của mình để phát huy Thứ hai, chúng em sẽ được rèn luyệntính đồng đội, hòa đồng với mọi người Thứ hai, chúng em sẽ bổ sung cho nhau về kiếnthức Cứ như vậy, chúng em sẽ càng ngày dễ dàng được tiếp xúc với những điều mới mẻ

Em xin cám ơn mọi người đã tạo cho em một cơ hội tốt để tiếp xúc với thế giới “Côngnghệ thông tin”…

Trần Phạm Nhật Vi

Qua bài thuyết trình, em cảm thấy tổ chúng em như đoàn kết với nhau hơn Ai cũng làmviệc thật tích cực để bài thuyết trình được tốt hơn : Người thì tìm tài liệu, người chụphình, người làm máy tính…Các tổ làm việc một cách độc lập, không dựa vào ngườilớn…Em mong ước sau này sẽ được học nhiều lần nữa theo phương pháp này…

Nguyễn Thu Thủy

…Nếu có thể nêu lên một điều mong muốn qua bài cảm nghĩ này, em xin ước :”Bộ Giáodục sẽ mở mang dự án này khắp mọi miền đất nước để tất cả các HS, chủ nhân tương laicủa đất nước được khám phá những thành quả của người đi trước, noi gương theo, để saunày trở thành những công dân tốt, những vị chủ nhân gương mẫu xây dựng đất nước giàumạnh”

* Qua quan sát giờ học của HS

Nhân chuyến thăm của bà Page Kunie cùng các thành viên trong đoàn của Intel tạiViệt Nam, Đoàn đã đến thăm và dự tiết học ứng dụng ITP tại trường THPT Xuân Đỉnh,

Hà Nội: HS đã trình bày và thảo luận về ảnh hưởng của chất CFC với tầng Ozon HS đãmạnh dạn, tự tin trao đổi với bà Page Kunie Các em còn hỏi bà Page Kunie, nếu là tổngthống Hoa Kì thì bà có phê chuẩn hiệp ước Kyoto?

Tại trường THPT Bùi Thị Xuân, THPT chuyên Thăng Long, Lâm Đồng: HS đãtrình bày các dự án của mình trước phái đoàn Intel do là Loo Cheng Cheng dẫn đầu vàđại diện MOET, DOET, Ban giám hiệu nhà trường, phụ huynh HS và hơn 150 HS củatrường HS đã tự tin trả lời, trao đổi với khách tham dự

Đặc biệt, trong chuyến viếng thăm và dự giờ của bà Loo Cheng Cheng tại trườngTHCS Trần Văn Ơn, TP.HCM HS đã trình bày một dự án tìm hiểu về đất nước Malaysiaquê hương của Bà HS đã đề nghị bà Loo Cheng Cheng giới thiệu về đất nước, conngười, nền giáo dục của Malaysia Bà Loo Cheng Cheng đã giới thiệu về đất nước

Trang 17

Malaysia và giới thiệu Ông Lê Quán Tần nói về hệ thống giáo dục phổ thông củaMalaysia (Ông Lê Quán Tần đã sang Malaysia thăm quan, tìm hiểu về hệ thống giáo dụcphổ thông của Malaysia) Đó là một tiết học rất tự nhiên, sôi nổi, sinh động, ở đó cảkhách mời, HS đều tham gia.

Thầy Minh hiệu trưởng trường Trần Văn Ơn phát biểu: Với cách dạy này HS học

ở nhiều nơi, nhiều chỗ chứ không chỉ ở GV Cách học này dẫn đến một thực tế và cónhững kiến thức HS còn biết trước thầy cô giáo So với lứa HS trước (những HS khôngđược học theo PP ITP) thì lứa HS này năng động hơn hẳn

Những đối tượng khác

Phụ huynh HS

Đại diện Ban cha mẹ HS trường Bùi Thị Xuân cho biết: Con tôi và các bạn củacủa nó thường xuyên liên lạc với nhau để trao đổi nội dung học tập Nó hỏi tôi nhiều hơn,yêu cầu giúp đỡ nhiều hơn để hoàn thành các bài học Chỉ lơ là một chút là các cháu đãvượt mình rồi Các em được tăng cường về kĩ năng ICT Sử dụng ICT, Internet để họctập Chúng tôi mong muốn được sự hỗ trợ tạo điều kiện để các em có điều kiện học theocách mới này

Bà Trần Thị Hạnh, phụ huynh HS trường tiểu học Lê Văn Tám, Hà Nội: Con tôimay mắn được học lớp có cô giáo đã được tập huấn ITP Cách học nhẹ nhàng, con tôi rấtvui mỗi khi đến trường và tự giác học tập ở nhà

TTTH của DOETs

Một tác động tích cực ngoài sự mong đợi của Chương trình đó là một số TTTH(Trung tâm Tin học-Informatics Commucation Center) ở địa phương đã tìm được phươnghướng hoạt động của mình

TTTH TP.HCM do ông Huỳnh Kim Sen làm Giám đốc đã là nơi tổ chức các lớptập huấn ITP theo yêu cầu của DOET TP.HCM và theo yêu cầu riêng của từng nhàtrường TTTH này đã có hẳn một bộ phận chuyên trách chỉ để triển khai ITP và cácchương trình GD của Intel Hiện nay, chương trình giáo dục của Intel đang là nhữngchương trình chủ lực mà TTTH này sử dụng để triển khai ứng dụng ICT ở các trường

TTTH này đã mở một Forum cho các MTs, PTs để trao đổi về Chương trình Bêncạnh đó khi cần thiết TTTH này đã tổ chức các cuộc thảo luận trực tiếp hết sức sôi nổi,hiệu quả về việc triển khai Chương trình Thành viên nhóm đánh giá đã có lần được dựmột cuộc thảo luận như vậy tại TTTH TP.HCM

TTTH Hải Phòng, ông Nam giám đốc cho biết: Cán bộ của TT đã tham gia lớpMTs (mặc dù không có trong thành phần) để nắm bắt, hiểu rõ về Chương trình ITP sẽ làchương trình chính của chúng tôi để tiến hành bồi dưỡng GV của các trường ở HP trongviệc ứng dụng ICT đổi mới PPDH

Ngoài ra, một số GV tham gia ITP đã được mời làm giảng viên bồi dưỡng đổi mớiPPDH cho các trường phổ thông Ví dụ thầy Nguyễn Văn Hiền ở trường ĐHSP Hà Nội,thầy Lê Huy Lâm (trường ĐHSP TP.HCM), thầy Tạ Viết Quý ở trường THPT Trần ĐạiNghĩa, TP.HCM, thầy Huy ở trường THCS Hải Lăng, Quảng Trị

Khai thác tốt cơ sở vật chất máy tính, internet

Với chủ trương đẩy mạnh việc ứng dụng ICT trong nhà trường MOET đã tiếnhành mạnh mẽ việc kết nối Internet đến trường phổ thông Đến năm 2007 đã có 98 %trường THPT kết nối Internet và khoảng 50% trường THCS kết nối Internet Kinh phítriển khai được cấp từ nguồn kinh phí quốc gia Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là hiệu quả

sử dụng, khai thác internet đã được kết nối còn hạn chế Nhiều trường kết nối internet

Trang 18

xong không biết để làm gì Thậm chí, trước đây đến một số trường phổ thông đã được kếtnối khi hỏi về tình hình sử dụng thì nhà trường còn không biết là hiện nay internet có cònhoạt động hay không (vì không sử dụng nên không biết).

MOET có những dự án trang bị phòng máy tính cho các trường Ví dụ dự ánTHCS trang bị phòng máy vi tính cho khoảng 1000 trường THCS Dự án THPT cung cấpphòng máy tính cho khoảng 100 trường THPT Tuy nhiên, theo báo cáo kết quả đánh giáviệc khai thác sử dụng còn nhiều hạn chế

Năm 2007, MOET đã trang bị đảm bảo 100 % trường THPT có phòng máy vi tínhkết nối Internet để tiến hành dạy học môn Tin học Tuy nhiên, nếu các MVT trang bị chỉ

để dạy thực hành môn Tin học thì hiệu quả sử dụng sẽ thấp

Nhưng với những trường tham gia ITP, kể từ khi có ITP MOET đã chỉ đạo DOET,nhà trường phải tạo điều kiện để GV, HS sử dụng trang thiết bị CSVC để áp dụng ITP.Với những trường này, HS, GV có thể đến phòng máy để chuẩn bị bài ngoài giờ lên lớp

Ở những trường tham gia ITP, do nhu cầu sử dụng lớn, nhiều trường đã mở cửa phòngmáy cho HS, GV cả ngoài giờ làm việc như: trường Tiểu học Lê Văn Tám (Hà Nội),trường THCS Trần Văn Ơn (TP.HCM), trường THCS Hải Lăng (Quảng Trị), trườngTHPT Chu Văn An (Thái Nguyên)

Nhu cầu sử dụng máy tính, Internet đã thúc đẩy nhiều GV trang bị máy tính, kếtnối Internet tại gia đình

Không chỉ phòng máy tính, Internet mà các phòng thí nghiệm của nhà trường cũng

đã mở cửa để HS đến tự nghiên cứu tìm tòi cho dự án của mình

+ Việc triển khai ITP trong các trường phổ thông (khối Inservice) tạo điều kiện để nângcao hiệu quả việc triển khai ITP ở các trường sư phạm (khối Preservice)

Theo báo cáo đánh giá việc triển khai ITP ở các trường sư phạm thì khoảng trên2/3 giáo sinh không có điều kiện để áp dụng ITP khi đến thực tập hoặc giảng dạy tại cáctrường phổ thông Nguyên nhân chính là các trường này chưa tham gia ITP, họ khôngbiết gì về ITP Do vậy, khi triển khai ITP ở trường phổ thông ở diện rộng sẽ tạo nhiều cơhội hơn cho giáo viên mới (new teacher) đã được tập huấn ITP ở trường sư phạm áp dụngITP vào dạy học Điều đó sẽ nâng cao hiệu quả, ý nghĩa của ITP trong khối các trường sưphạm

2 Có những thay đổi gì đã diễn ra trong thực tiễn dạy và học ở các trường tham gia

vào Chương trình dạy học của Intel?

+ Sự thay đổi về nhận thức, phương hướng ứng dụng ICT để đổi mới PPDH của các cấpquản lý GD

 Đánh giá cao vai trò của Intel trong việc hỗ trợ ngành giáo dục thực hiện mụctiêu đổi mới giáo dục

MOET hiện đang đánh giá cao sự hợp tác, hỗ trợ của Intel trong việc hỗ trợ ngànhgiáo dục đổi mới PPDH Với MOET, Intel không chỉ là công ty trong lĩnh vực điện tử, tinhọc mà còn là đối tác rất hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục Năm 2007 MOET đã đề xuấtChính phủ VN tổ chức buổi lễ tuyên dương các đơn vị, cá nhân đã hỗ trợ cho giáo dục.Buổi lễ này nhằm tôn vinh, ghi nhận những đơn vị, cá nhân đã có công với ngành giáodục và cũng là một hình thức thể hiện sự thay đổi của MOET trong việc tiếp nhận hỗ trợ,viện trợ từ bên ngoài cho ngành GD Tại buổi lễ này Ông Thân Trọng Phúc-Tổng giámđốc Intel Việt Nam và ông Nguyễn Thượng Hải Giám đốc chương trình giáo dục IntelViệt Nam đã vinh dự được nhận Bằng khen do Chủ tịch nước cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam đích thân trao tặng

Trang 19

 Xác định được phương hướng triển khai đổi mới PPDH và đặc biệt là phươnghướng triển khai hiệu quả việc ứng dụng ICT vào dạy học.

Một cán bộ (xin không đưa tên) trong Ban điều hành triển khai ITP củaMOET tâm sự: Mình đang "bí" thì may quá có ITP Không thì mình không biết lần mòkiểu gì

Hiệu quả triển khai ITP đã tạo dựng được sự tin cậy của MOET cho nên cácchương trình tiếp theo của Intel như ITGS, ICT for Education đã được đón nhận nồngnhiệt

 Chuyển từ tự nghiên cứu, viết tài liệu sang tiếp thu có lựa chọn và có điềuchỉnh những thành quả đã có để phục vụ việc ứng dụng ICT vào đổi mớiPPDH

Trước khi có ITP, MOET đã bắt đầu triển khai đề án đưa tin học vào trường phổthông Trong dự án này có một thành phần biên soạn tài liệu phục vụ công tác bồi dưỡngtập huấn GV Đề án này cũng đã biên soạn được một số tài liệu về ứng dụng ICT trongdạy học Đó là các tài liệu đổi mới PPDH hoặc là lý thuyết chung hoặc là khai thác mộtphần mềm dạy học cụ thể của một môn học cụ thể Các tài liệu này cũng đã đáp ứng phầnnào yêu cầu của MOET Tuy nhiên thực tế cho thấy việc áp dụng rất khó khăn, hiệu quảrất thấp

Kể từ khi có ITP, MOET đã tổ chức thẩm định và phê duyệt làm tài liệu bồidưỡng Các nhận xét của chuyên gia thẩm định của MOET đều đánh giá cao về ITP và đềnghị cho triển khai đại trà ngay

Cùng với quá trình tìm tòi nghiên cứu của MOET, DOETs cũng như BOETs vàcác nhà trường cũng tìm kiếm, thu thập tài liệu cho chính mình Thực tế cho thấy họ đãmất nhiều thời gian, công sức và thậm chí là kinh phí nhưng vẫn chưa tìm được cái họmuốn Sự xuất hiện của ITP thật đúng lúc và họ đã nồng nhiệt tiếp nhận làm giải phápchính thức cho họ

Ví dụ: DOETs TT-Huế, Đà Nẵng, Lâm Đồng, TP.HCM, BOET Hải Lăng (QuảngTrị), BOET Phú Nhuận (TP.HCM): Sử dụng ITP làm chương trình chính thức của Sởhoặc của phòng để bồi dưỡng GV

Trường THPT Trần Đại Nghĩa, THPT Bắc Đông Quan: Sử dụng chương trình làmột phần bắt buộc đối với GV Việc tham gia và áp dụng Chương trình là tiêu chí thi đuacủa GV

+ Thay đổi cách quản lý dạy học

 Từ năm học 2007-2008 MOET đã thay đổi cách quản lý dạy học thông quaviệc thay đổi PPCT PPCT chuyển từ quy định chi tiết, cụ thể nội dung, thờilượng dạy học sang chỉ quy định mục tiêu cần đạt và khung thời lượng dạyhọc

Kể từ năm 2006 trở về trước, khi trả lời phiếu xin ý kiến, trong báo cáo của cácDOETs, các trường và trong các hội thảo triển khai ITP, 100% GV tham gia đều nêu khókhăn về việc triển khai dạy học trên lớp do phải tuân thủ PPCT của MOET PPCT củaMOET là một bản kế hoạch dạy học, trong đó quy định nội dung, thời lượng của từng tiếthọc tương ứng với từng bài học cụ thể Tất cả GV đều phải tuân thủ, thực hiện nghiêmtúc PPCT Cách quản lý dạy học như vậy không phù hợp với cách tổ chức dạy học củaITP Sự bất hợp lí của PPCT với cách dạy học mới của ITP đã khởi đầu một quá trình đòihỏi thay đổi cách quản lí dạy học Và đến năm 2007 này, MOET đã thay đổi PPCT vàchuyển sang cách quản lí dạy học mới Trong PPCT mới, MOET chỉ quy định về mụctiêu dạy học và khung thời lượng cho từng chủ đề dạy học Một sự thay đổi rất quantrọng mà ITP đã góp công lớn

Trang 20

Tương tự như vậy, trước năm 2007, trong thống kê xin ý kiến MTs, PTs củaMOET thì 97% GV cho rằng học theo cách của ITP thì tốt, HS có năng lực nhưng đi thithì kết quả không cao Nguyên nhân chính là cách đánh giá hiện tại tập trung vào kiếnthức, nặng về thuộc lòng và ghi nhớ Tiếng nói, đề xuất của GV, nhà trường và cácDOETs tham gia ITP là một yếu tố khởi đầu, yếu tố quan trọng cho việc tiến hành đổimới thi cử, đánh giá mà MOET đang tiến hành

Ngược lại, bây giờ ITP lại là một biện pháp, một cách dạy học hiệu quả phù hợpvới yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánh giá của MOET Từ năm 2007 MOET tiến hành mạnh

mẽ việc đổi mới thi cử, đánh giá nhằm đảm bảo đánh giá đúng năng lực HS Theo thống

kê phiếu xin ý kiến ở câu số 11: Thầy/cô tán thành với phát biểu nào dưới đây Ở nộidung thứ 6: Dạy học theo cách của ITP HS không đạt kết quả cao trong kì thi hiện nay thì

có đã tới 66% không tán thành với phát biểu này

34%

66%

Tán thành Không tán thành

Năm 2007 đã có 66% GV không tán thành với phát biểu:Dạy học theo cách củaITP HS không đạt kết quả cao trong kì thi hiện nay Điều này hoàn toàn khác với nhữngnăm 2004 và 2005: trên 90% cho rằng học theo ITP HS không đạt kết quả cao trong các

kì thi

+ Thay đổi thái độ của lãnh đạo nhà trường đối với ứng dụng ICT để đổi mới PPDH

Báo cáo của trường THCS Hải Lăng cho biết: Công tác quản lý: nhà trường đãtừng bước Tin học hoá các công tác quản lý như: quản lý GV, quản lý HS, quản lýđiểm, Nhà trường đưa ra tiêu chí đánh giá GV đứng lớp giỏi là GV phải có sự đổi mớiPPDH mà cụ thể ở đây là biết ứng dụng PPDH của Intel vào mỗi tiết học, mỗi chủ đề

Bà Dương Thị Trúc Bạch, hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai nhậnxét: ITP là một chương trình tốt, xuất phát từ ITP nhà trường đã có phong trào áp dụngITP Các tổ môn thi đua với nhau, các GV thi đua với nhau tạo ra không khí thi đua sôiđộng trong nhà trường HS học rất hứng thú, trong HS cũng xuất hiện phong trào thi đuahọc tập như trong đội ngũ GV

Hiệu trưởng trường THCS Trần Văn Ơn cho biết: Với ITP, việc dạy chủ đề tựchọn từ khó khăn, nhàm chán chuyển sang dễ dàng, hứng thú GV và HS thi đua vớinhau Tạo ra sự lan toả về cách dạy học mới từ môn học này sang môn học khác, từ thầy

cô này sang thầy cô khác và từ HS lớp này sang HS lớp khác Nhà trường thấy rõ mộtsinh khí mới So với lớp HS trước không được học theo cách của ITP các em năng độnghơn hẳn Thầy hiệu trưởng đã đồng ý để HS trường Trần Văn Ơn đã tự làm trang webgiới thiệu về nhà trường HS là người tư vấn cho phụ huynh, các em sắp vào THCS là tạisao nên chọn trường Trần Văn Ơn

Hiệu trưởng trường THPT Xuân Đỉnh cho biết: Chính nhờ ITP mà nhà trường đãxây dựng được kho dữ liệu cho từng môn học GV soạn bài, thu tập tư liệu về môn học,nhà trương tập trung lại và lưu trữ để sử dụng chung trong nhà trường và còn chia sẻ chocác trường bạn GV tham gia ITP đã được nâng cao, cập nhật về trình độ nghiệp vụ sưphạm, PPDH và Kĩ năng ICT GV Nhiệt tình, tự nguyện trong việc đổi mới PPDH, cách

tổ chức dạy học, ứng dụng ICT kể cả những GV có thâm niên cao và những GV trước

Trang 21

đây thờ ơ, đứng ngoài ngoài cuộc vận động đổi mới PPDH Đặc biệt tôi thấy các giờ dạyứng dụng ICT thực sự hiệu quả, chắc chắn nâng cao được chất lượng giáo dục.

+ Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, Kĩ năng ICT của GV Tạo ra động cơ, sựnhiệt tình trong đổi mới PPDH, ứng dụng ICT trong dạy học trong đội ngũ GV, kể cả GV

có thâm niên cao Bầu không khí của nhà trường đã chuyển biến tích cực: tạo không khíthi đua đổi mới PPDH, ứng dụng ICT giữa các GV, giữa các HS và giữa GV với HS

Trong báo cáo đánh giá của MOET cho thấy: 98% GV đã được nâng cao Kĩ năngICT (đặc biệt GV đánh giá cao nội dung tìm kiếm thông tin trên Internet) 96% GV đãđược nâng cao về PPDH mới, PPDH lấy HS làm trung tâm

Ông Hùng, Hiệu trưởng trường THPT Vũng Tàu cho biết: Trước đây thúc GV vàophòng máy tính không được, phòng máy rỗi không biết khai thác thế nào Bây giờ lạiphải nghĩ làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu sử dụng phòng máy của GV

Tại huyện Hải Lăng, Quảng Trị: Nhà trường cùng địa phương và BOET đã đầu tưmáy vi tính, projector, kết nối Internet, và các cơ sở vật chất liên quan, nhưng nhìnchung vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu học tập của GV và HS

THCS Hải Lăng: Sinh hoạt chuyên môn, nghiệp vụ: Đa số GV đón nhận chươngtrình một cách hồ hởi, thảo luận rất nhiệt tình trong các buổi sinh hoạt chuyên môn vềcách dạy học dựa trên dự án

Các MTs trở về nhà trường đương nhiên được lãnh đạo nhà trường coi là ngườitiên phong trong đổi mới PPDH và ứng dụng ICT vào dạy học Ở trường THPT AnDương Hải Phòng, MTs trở về trước tiên là "tập huấn" cho hiệu trưởng và phó hiệutrưởng nhà trường Thầy hiệu trưởng đã ngồi nghe, sau khi đã hiểu ông đã cùng với MTslập kế hoạch triển khai có các GV trong trường

Nhiều MTs được tín nhiệm cử đi thi GV dạy giỏi ví dụ như: Cô Hường ở trườngTHPT Xuân Đỉnh (Hà Nội), cô Giang ở trường THPT Trương Định (Hà Nội), cô Nhi ởtrường THPT Nguyễn Huệ (TT.Huế) Một số GV được các trường bạn mời đến trao đổikinh nghiệm về ứng dụng ICT trong đổi mới PPDH như thầy Quý trường Trần Đại Nghĩa(TP.HCM), thầy Huy ở trường THCS Hải Lăng (Quảng Trị)

Trong báo cáo của các trường, phần lớn đều cho thấy:

o Các tiết học đã có những chuyển biến tích cực theo hướng lấy HS làm trungtâm một cách thực thụ

o Chuyển từ không có nhu cầu khai thác, sử dụng phòng máy tính, internetchuyển sang khai thác hiệu quả, tự nguyện

o Các MTs, PTs được coi là những người tiên phong trong việc đổi mới PPDH,ứng dụng hiệu quả ICT để dạy học

+ Gắn liền hoạt động giáo dục của nhà trường với thực tiễn của nhà trường, của cộngđồng, xã hội Tạo được sự đồng thuận, ủng hộ của phụ huynh HS

Tại trường THCS Trần Văn Ơn, GV đã cho HS thiết kế trang trí bể bơi của nhàtrường và phương án thiết kế của HS đã được Hiệu trường nhà trường đồng ý triển khai

HS cũng đã lập trang web để giới thiệu về nhà trường, tư vấn việc lựa chọn trường chophụ huynh, học sinh cấp học dưới

Phương pháp của ITP đã làm phụ huynh HS, các tổ chức đoàn thể quan tâm nhiềuhơn đến việc học hành của con, đến các điều kiện để tổ chức hoạt động dạy học của nhàtrường Nhiều buổi học của HS đã có sự tham gia của phụ huynh, các tổ chức đoàn thểtrong và ngoài nhà trường

Trang 22

Tại trường THCS An Khương, TP.HCM GV đã áp dụng cách tổ chức dạy học củaIntel để HS nhà trường tìm cách hỗ trợ một HS của nhà trường có hoàn cảnh khó khăn.Kết quả đã HS đã kêu gọi được sự trợ giúp của cộng đồng, các nhà hảo tâm giúp đỡ em

HS này

3 Những lí do đã hỗ trợ hoặc cản trở việc triển khai ITP

Những nguyên nhân dẫn đến thành công của Chương trình:

+ Trước hết phải nói ITP là một chương trình được xây dựng đạt được tính khoa học,hiện đại và sư phạm Chương trình là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa PPDH, cách tổ chứcdạy học và ICT Thể hiện rõ việc dạy học lấy HS làm trung tâm

Trước khi triển khai MOET đã thành lập hội đồng thẩm định gồm các nhà khoahọc, các nhà quản lý giáo dục, GV có kinh nghiệm 100% các thành viên của Hội đồng đãcho ý kiến đánh giá cao tính khoa học, tính sư phạm và tính hiện đại của ITP Với kếtluận của Hội đồng thẩm định, MOET đã có văn bản chính thức phê duyệt sử dụng ITPlàm tài liệu bồi dưỡng GV nhằm phục vụ cho việc đổi mới PPDH, ứng dụng ICT trongdạy học

Trong báo cáo của MOET tại các hội thảo đều khẳng định sự tích hợp hài hoà giữaPPDH, ICT và cách tổ chức dạy học của ITP

Trong các lớp bồi dưỡng MTs, khi được xin ý kiến sau mỗi ngày học đã có rấtnhiều MTs phát biểu thể hiện sự bất ngờ, thú vị với nội dung ITP Một MTs, 51 tuổi,trong buổi tổng lễ bế mạc lớp MTs năm 2005 tại Đà Nẵng đã phát biểu: Tôi chưa thấymột chương trình nào hay như thế này Bây giờ tôi mới hiểu được thế nào là dạy học lấy

HS làm trung tâm

+ ITP được giới thiệu với MOET vào đúng thời điểm MOET đang tập trung vào đổimới giáo dục và khi đó MOET đang thiếu những chương trình hiện đại, phù hợp Đặcbiệt là khi đó MOET còn đang tìm kiếm cách thức để triển khai hiệu quả ICT vào trườnghọc

MOET tiến hành đổi mới giáo dục ở cả đại học và các trường phổ thông Đến nay

đã triển khai thay sách giáo khoa đến lớp 11 THPT, đang ở giai đoạn cuối của đổi mớiChương trình, nội dung, thiết bị dạy học Trong quá trình đổi mới Chương trình, nộidung, thiết bị dạy học MOET đã nhận ra tầm quan trọng của PPDH PPDH và ứngdụng Công nghệ mới là một phần không thể tách rời và là một phần quan trọng cho thànhcông của đổi mới giáo dục ngày nay Chính vì vậy, thời điểm này đang là giai đoạn màMOET tập trung mạnh mẽ vào PPDH và ứng dụng Công nghệ trong dạy học

Mặt khác, đội ngũ GV, cán bộ quản lí giáo dục là một yếu tố quyết định của chấtlượng dạy học, quyết định sự thành công của việc triển khai đổi mới giáo dục Chính vìvậy, hiện nay MOET đang tập trung vào việc bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn,nghiệp vụ cho đội ngũ GV, cán bộ quản lí giáo dục

Để tiến hành đổi mới PPDH, ứng dụng công nghệ trong dạy học, MOET tiến hànhnghiên cứu, tìm kiếm cách thức, tài liệu phù hợp, hiệu quả để bồi dưỡng GV, cán bộ quản

lí giáo dục

MOET đã xây dựng và triển khai Đề án dạy học Tin học và ứng dụng ICT trongtrường phổ thông giai đoạn 2001-2006 Tuy nhiên, qua báo cáo của MOET cho thấy hiệuquả của việc triển khai ứng dụng ICT của Đề án này cò rất hạn chế

Trong bối cảnh đó, ITP đã được giới thiệu và được tiếp nhận nồng nhiệt MOET

đã sử dụng ITP như là một biện pháp hữu hiệu để triển khai ứng dụng ICT đổi mớiPPDH

Trang 23

+ Cách thức hợp tác triển khai ITP mà MOET và Intel thực hiện là cách tiếp cận mangtính hệ thống, bài bản (từ MOET, đến DOETs, đến BOETs, đến trường, đến GV và HS).

Cơ chế phối hợp chặt chẽ, sự tạo điều kiện và hiểu biết lẫn nhau giữa 2 bên

Ở VN MOET là cơ quan quản lí, chỉ đạo triển khai tất cả các chương trình giáodục trong nhà trường Việc ITP tiếp cận hệ thống từ trên xuống: từ MOET đến DOETs,rồi đến BOETs, đến các trường và đến GV, HS là cách tiếp cận tốt nhất, hiệu quả nhất đểtriển khai Chương trình

Đây là một quy trình triển khai rất phù hợp với mô hình quản lí của MOET hiệnnay Đây là cách tiếp cận mang tính hệ thống, chính quy và bài bản Cách tiếp cận nàytạo được lòng tin, uy tín với địa phương khi tham gia chương trình Chính cách triển khai

từ MOET xuống là yếu tố quan trọng mang lại những thành công trong việc triển khaiChương trình

Thêm nữa, việc Intel thuê riêng một đơn vị như RTA chuyên theo dõi, hỗ trợ việctriển khai là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo việc thực thi đúng kế hoạch ởđịa phương RTA là một yếu tố mới trong mô hình quản lý, triển khai công việc màMOET vẫn thực hiện từ trước tới nay Chính yếu tố mới này đã cho thấy sự khác biệt củaviệc triển khai ITP RTA đã hỗ trợ đắc lực trong việc đôn đốc địa phương, các trườngthực hiện đúng kế hoạch, hiệu quả chương trình

MOET và Intel có Agreement rất cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm của mỗi bên và cơchế phối hợp hành động Việc thành lập Ban điều hành của MOET với sự tham gia củaGiám đốc GD Intel VN là một sự thể hiện về cơ chế phối hợp chặt chẽ và tôn trọng lẫnnhau

Sự tôn trọng và thực thi nghiêm túc Agreement là cơ sở ban đầu để hai bên cóđược sự thống nhất, hiểu biết và hợp tác tốt như hiện nay Tất cả các hoạt động liên quanđến ITP MOET đều xin ý kiến và chỉ tiến hành khi Intel nhất trí

Chính cách tiếp cận hệ thống từ cơ quan quản lí từ cấp trên xuống và sự phối hợpchặt chẽ đã làm cho ITP trở thành là chương trình do MOET chủ trì, chủ động triển khai

và Intel trở thành đối tác hỗ trợ đắc lực cho MOET Chính vì vậy, trong một lần đồng trảlời phỏng vấn các nhà báo cùng với ông Lê Quán Tần, Vụ trưởng Vụ GDTrH, ông ThânTrọng Phúc, tổng Giám đốc Intel Việt Nam đã nói: Cứ nói là ITP là của Intel nhưng thực

ra tôi đâu có nắm được bao nhiêu, ông Tần hiểu rõ ITP hơn chúng tôi, đây là Chươngtrình của MOET mới đúng

+ Cung cấp tài liệu đầy đủ, kịp thời và miễn phí

Kể từ khi triển khai ITP thí điểm năm 2004 đến nay, Intel cung cấp miễn phí tàiliệu và CD kèm theo cho từng trường tham gia, mỗi GV 01 bộ Đây là một ưu điểm củaChương trình ITP 100% lãnh đạo nhà trường và 100% GV được hỏi đều khẳng định đãnhận đủ tài liệu và kịp thời cho lớp bồi dưỡng PTs cũng như lớp bồi dưỡng MTs

+ MOET ngày càng đẩy mạnh việc đổi mới PPDH, ứng dụng ICT vào dạy học, tăngcường đầu tư trang bị máy tính, Internet

Năm học 2008-2009 đã được Phó Thủ trưởng-Bộ trưởng MOET đặt trọng tâm lànăm đổi mới PPDH và ứng dụng Công nghệ trong dạy học

MOET đang tiến hành biên soạn tài liệu về đổi mới giáo dục phổ thông để bồidưỡng cho GV, hiệu trưởng các trường phổ thông

ITP ngày càng phù hợp với điều kiện của các trường phổ thông VN Nguyên nhân

là do MOET đã đang và sẽ tiếp tục đầu tư trang bị máy tính, Internet cho các trường phốthông Theo báo cáo của MOET, hiện có 2.435 trường THPT, trong đó 99% các trườngTHPT đã có ít nhất 01 phòng máy tính với 25 MVT được kết nối Internet (trung bình 34

Trang 24

MVT/trường) Và với khoảng trên 6000 trường THCS, TH có phòng máy tính, kết nốiInternet để dạy học Như vậy, có thể nói số lượng các trường đủ điều kiện về máy vi tính

và Internet để tham gia ITP là rất lớn

+ Cơ chế hợp tác của Bộ ngày càng thông thoáng Ngày càng đánh giá cao sự hỗ trợ củacác đối tác

Như ở trên đã nêu, MOET đánh giá cao sự hỗ trợ của Intel cho ngành giáo dục Sựtin cậy của MOET vào các chương trình GD của Intel, sự hợp tác chặt chẽ, hiểu biết lẫnnhau giữa hai bên đã, đang và sẽ tiếp tục là yếu tố tích cực, quan trọng để triển khai hiệuquả ITP cũng như các chương trình hợp tác khác giữa MOET và Intel

+ Việc triển khai dạy học môn Tin học ở trường phổ thông đã kéo theo việc trang bịphòng máy tính kết nối internet, tuyển GV Tin học và HS được trang bị Kĩ năng ICT.Điều này làm cho số lượng các trường đủ điều kiện để tham gia ITP tăng vọt; GV và HS

có Kĩ năng ICT sẽ giúp triển khai ITP dễ hơn và hiệu quả hơn

Việc triển khai dạy học môn tin học ở trường phổ thông của Việt Nam đã dẫn đếncác trường có GV chuyên môn Tin học Đội ngũ GV Tin học là một nguồn lực tốt giúpnâng cao trình độ Kĩ năng ICT của GV nhà trường Vì vậy, Kĩ năng ICT của đội ngũ GVđược nâng cao cũng tạo điều kiện để triển khai tốt hơn ITP HS được học tin học, có Kĩnăng ICT cũng sẽ tạo điều kiện để triển khai hiệu quả, thuận lợi ITP trên lớp

+ Sự ủng hộ của MOET, DOETs, BOETs và lãnh đạo nhà trường với việc triển khaiITP

PTTg-Bộ trưởng MOET Nguyễn Thiện Nhân mới nhậm chức được khoảng 1 nămnay nhưng đã 02 lần trực tiếp tiếp phái đoàn của Intel đến thăm và làm việc với MOET

về chương trình giáo dục của Intel trong trường phổ thông Điều đó thể hiện sự quan tâm,đánh giá cao của ngài PTTg-Bộ trưởng tới sự hợp tác giữa MOET với Intel Hơn nữa,việc MOET đề xuất để chính phủ Việt Nam tổ chức tuyên dương và tặng bằng khen chocác đơn vị, cá nhân đã hỗ trợ MOET đã là bằng chứng sự coi trọng, đánh giá cao sự hợptác, hỗ trợ từ các đối tác cho giáo dục Chính trong buổi lễ long trọng này Chủ tịch nướcNguyễn Minh Triết đã trực tiếp trao bằng khen cho ông Thân Trọng Phúc và ông NguyễnThượng Hải của Intel Việt Nam để ghi nhận đóng góp của Intel, trong đó đóng góp quantrọng nhất là Chương trình ITP

Cũng giống như MOET, DOETs và các nhà trường cũng tích cực ủng hộ, tiếpnhận ITP Thực hiện chủ trương của MOET về đổi mới PPDH, đánh giá đảm bảo thựcchất năng lực, chống bệnh thành tích trong giáo dục, DOETs đã nhận thức được việc triểnkhai ITP là cho chính họ chứ không chỉ là làm theo yêu cầu của MOET Vì vậy, nhiềuDOETs cũng như các nhà trường đã có những biện pháp cụ thể để triển khai hiệu quả,thực chất ITP Ví dụ: TP.HCM, Lâm Đồng, TT-Huế, Đà Nẵng đã cấp kinh phí, đưa ITPthành Chương trình chính thức, phát động phong trào thi đua ứng dụng ITP

Cũng như các DOETs, nhiều trường đã xác định được đổi mới PPDH, đánh giáđúng thực chất năng lực HS là chìa khoa cho việc nâng cao vị thế, uy tín của nhà trường.Với những trường này, ITP thực sự là phương tiện để họ đạt mục tiêu chất lượng dạy học

Có thể kể đến một số trường điển hình như: THPT Nguyễn Thị Minh Khai, THPTTrương Định, THPT Bắc Đông Quan, THPT Chu Văn An

+ MOET thực hiện mạnh mẽ việc đổi mới đánh giá nhằm đánh giá thực chất năng lựccủa HS Đặc biệt việc đổi mới PPCT đã tháo gỡ khó khăn về khung thời gian cho việc ápdụng ITP

Như đã nêu ở trên, trước đây GV tham gia ITP đều gặp khó khăn khi áp dụng doPPCT và cách kiểm tra đánh giá Nhưng từ 2007 PPCT đã thay đổi theo hướng mở đểdành quyền chủ động cho GV, đồng thời MOET đang tiến hành đổi mới đánh giá, thi cử

Ngày đăng: 21/12/2014, 21:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w