Tôi đã mạnh rạn nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty cổ phần khoáng sản Đông dương”.. Nghiên cứu sự vật không phải trong trạn
Trang 1PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU
1.1 Lời mở đầu
Có thể nói rằng trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thì ngành nghề nào cũng phải ra sức cạnh tranh để tồn tại phát triển và tạo lợi nhuận cao, trên cơ sở tuân thủ pháp luật của Nhà nước Trong xu hướng hội nhập toàn cầu cần xóa bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước trong các khối: AFTA, ASEAN…hay gia nhập các khối như WTO…càng đòi hỏi Nhà nước và các chủ doanh nghiệp phải có quyết định đúng đắn trong sản xuất và kinh doanh Khi điều hành một doanh nghiệp người điều hành phải nắm được chính xác, kịp thời những thông tin cần thiết về những chi phí phát sinh trong quá trình và toàn bộ các khoản khác có liên quan đến tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
Trong sản xuất kinh doanh thì sự thắng lợi hay thất bại là vấn đề đầu tiên mà các doanh nghiệp quan tâm vì vậy sự cạnh tranh quyết liệt đồi hỏi mỗi doanh nghiệp phải xác định hướng sản xuất, tìm thị trường tiêu thụ, quay vòng vốn sản xuất Doanh nghiệp phải có hàng chất lượng cao, mẫu mã đa dạng, phong phú, giá thành phù hợp Muốn làm tốt điều này doanh nghiệp phải có một bộ máy kế toán giỏi, có năng lực để theo dõi, ghi chép, tính toán kiểm tra toàn bộ trong quá trình sản xuất
Thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp phân tích và đánh giá được tình hình sử dụng lao động, vật
tu, tiền vốn có hiệu quả hay không, có đúng với kế hoạch đã đề ra hay không để từ
đó đề ra các biện pháp thích hợp cho sự phát triển của doanh nghiệp Chính vì vậy
mà việc tổ chức, quản lý chi phí sản xuất, tính toán giá thành sản phẩm là một yêu cầu cần thiết và luôn là một trong những vấn đề bức xúc được các nhà lãnh đạo quan tâm
Công ty cổ phần khoáng sản Đông Dương là một doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc sở công nghiệp Tỉnh Phú Thọ chuyên sản xuất khoáng sản cho ngành gốm sứ trong và ngoài nước Công ty được thành lập từ một doanh nghiệp Nhà nước bị giải thể chuyển sang thành công ty cổ phần do các cổ đông góp vốn và sáng lập
Ngay từ những ngày đầu sáng lập công ty gặp rất nhiều khó khăn về vốn và tài sản nên tiến độ công việc và chất lượng chưa cao, chịu nhiều sự cạnh tranh gay gắt của thị trường,làm thế nào để hạ giá thành sản phẩm, làm thế nào để hạch toán đúng, chính xác, làm thế nào để tiết kiệm chi phí….Đó là những vấn đề luôn được công ty tìm cách tháo gỡ để ngày càng phát triển như vậy yêu cầu ban giám đốc cùng toàn thể công nhân viên một lòng quyết tâm xây dựng công ty vững mạnh và phát huy những tiềm năng thế mạnh sẵn có của Công ty, tìm mọi cách mở rộng quy mô,tăng thêm chất lượng cao, hàng năm đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách nhà nước Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường Công ty còn gặp nhiều
sự cạnh tranh gay gắt bởi các công ty khoáng sản khác Làm thế nào để đứng vững
Trang 2trên thị trường đưa công ty ngày càng phát triển, làm thế nào đẻ hạch toán đúng và đầy đủ mọi chi phí sản xuất và hạ giá thành chính xác, làm thế nào đẻ tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm, đó là những vấn đề luôn được Công ty cổ phần khoáng sản Đông dương quan tâm và tìm cách tháo gỡ Là một sinh viên, qua thời gian học tập và thực tập tại đơn vị tôi nhận thức được vai trò quan trọng của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong cơ chế thị trường
Tôi đã mạnh rạn nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm của công ty cổ phần khoáng sản Đông dương”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung:
Tìm hiều công tác tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thanhf sản phẩm của Công ty cổ phần khoáng sản Đông dương
Đề xuất một số vấn đề nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm nguyên liệu gốm sứ
Hệ thống cơ bản về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty
cổ phần khoáng sản Đông dương
Đánh giá thực trạng tình hình công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại côngnty
Đưa ra một số giải pháp đúng đắn cho phù hợp có tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm của công ty cổ phần khoáng sản Đông dương.
Trang 3CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM2.1 Tình hình cơ bản của công ty
2.1.1 Tình hình lao động của công ty cổ phần khoáng sản Đông Dương
Do đặc điểm sản xuất của công ty nên lao động của công ty cũng được xét trong đặc điểm đó, lao động được phân thành hai bộ phận rõ rệt: Bộ phận sản xuất
và bộ phận kho Theo từng công đoạn sản phẩm lao động được chia thành tổ để theo dõi và chấm công, ở mỗi công đoạn sản xuất lại có cơ cấu lao động khác nhau như tổ lọc, tổ sấy, tổ đóng bao nói chung các tổ đều có cả nam và nữ riêng có tổ tuyển chọn thì nữ chiếm ưu thế hơn
Bộ phận kho là bộ phận cần có số công nhân nhiều nhất đóng và vận chuyển, bốc xếp hàng Thường số lao động tăng khi có nhiều đơn đặt hàng, nếu số lượng công nhân không đáp ứng đủ công ty phải thuê lao động bên ngoài
Tình hình lao động được thể hiện qua biểu 1
Biểu 1: Tình hình lao động của công ty
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 2006/2005 2007/2006
SL(ng) CC(%) SL(ng
) CC(%) SL(ng) CC(%) SL(ng) CC(%) SL(ng) CC(%)Tổng số LĐ 130 100 121 100 135 100 -9 -6,92 14 11,57 Lao động trực tiếp 120 92,3 110 90,9 123 91,11 -10 -8,33 13 11,91 Lao động nữ 70 53,84 67 55,37 85 62,96 -3 -4,82 18 26,86 Lao động nam 60 46,16 54 44,63 50 37,04 -6 -9,99 -4 -7,4 Lao động hợp đồng 100 76,9 98 81,79 103 76,29 -2 -2 5 5,1 Lao động gián tiếp 10 7,7 11 9,1 12 8,89 0 0 1 9,09 Trình độ đại học 3 30 4 36,36 5 41,67 1 33,33 1 9,09 Trình độ cao đẳng 3 30 3 27,27 4 33,33 0 0 1 33,33
Thông qua biểu 1 ta thấy tình hình lao động trong 3 năm gần đây có sự biến đổi không đáng kể năm 2006 tổng lao động giảm so với năm 2005 là 9 người giảm 6,92% nhưng đến năm 2007 số lao động lại tăng lên so với năm 2006 là 14 người tức là tăng lên 11,57% Nguyên nhân của sự tăng lao động này là do sản xuất phát
Trang 4triển, công ty nhận được nhều đơn đặt hàng mơi, tiến độ sản xuất cũng tăng lên đòi hỏi nhu cầu lao động nhiều hơn.
Lao động trực tiếp là lao động phổ thông, trình độ tay nghề chuyên sâu theo công việc và theo sản phẩm khoán do đó thu nhập cũng hưởng theo sản phẩm sản xuất ra Lao động kỹ thuật có thu nhập cao hơn lao động thô sơ, trong công ty có
cả lao động thợ nghề và lao động học việc, lao động chủ yếu là lao động hợp đồng, tất cả công nhân đều được hưởng mọi chế độ tiêu chuẩn của công ty trong quốc doanh
Lao động gián tiếp nhìn chung tương đối ổn định tuy có biến đổi nhưng không đáng kể giữa các năm, cụ thể năm 2006 so với năm 2005 lao động có trình độ đại học đã tăng lên 1 người, tăng lên 33,33% đến năm 2006 so với năm 2005 lao động
có trình độ toàn công ty thấp do vậy công ty cần có kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ nhất là trong điều kiện công nghệ thông tin như hiện nay, vì khách hàng có
cả khách hàng nước ngoài
Thu nhập bình quân của mỗi công nhân trên tháng dần dần được ổn định qua các năm đã tăng từ 500.000đ/tháng lên 650.000đ/tháng Đời sống công nhân viên được nâng lên cả về vật chất và tinh thần, hàng năm công ty đều tổ chức cho công nhân đi du lịch các nơi
2.1.2 Tình hình tài sản của công ty
Qua mấy năm trở lại đây do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường công ty phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, tạo nên bộ mặt mới cho công ty
Nhìn chung qua 3 năm tổng tài sản của công ty biến đổi không lớn, năm 2006
so với năm 2005 tổng tài sản tăng lên 526,97 triệu đồng tăng lên 6,234%, sang năm
2007 so với năm 2006 tổng tài sản chỉ tăng được có 1,405% tức là tăng hơn năm trước 165,19 triệu đồng, nguyên nhân của sự thay đổi này là do lượng hàng tồn kho vào năm 2006 quá nhiều, hàng tồn kho tăng 2350,59 triệu đồng chiếm 165,3% chủ yếu hàng chưa tiêu thụ được do chất lượng chưa đạt Tuy nhiên đến năm 2007 tỷ lệ hàng tồn kho đã giảm được 983,94 triệu đồng, giảm 26,08% so với năm 2006 Tài
Trang 5sản lưu động chiếm tỷ lệ tương đối lớn 73,556% tổng tài sản vào năm 2005 sang năm 2006 tăng lên 75,72% và giảm suống còn 70,86% tổng tài sản vào năm 2007
Về tài sản cố định qua 2 năm đầu không tăng nhưng tăng mạnh vào năm 2007 nguyên nhân là công ty chuyển trụ sở làm việc đầu tư xây dựng văn phòng khu hành chính và xây thêm lò sấy và mua thêm máy rửa làm cho tài sản tăng thêm 472,68 triệu đồng chiếm 21,678%
Nhìn chung với tổng tài sản như vậy công ty cần có kế hoạch sử dụng tài sản cho hiệu quả hơn
Tình hình tài sản và sự biến động của nó được thể hiện qua biểu 2:
Trang 6Biểu 2: Tình hình tài sản công ty ĐVT: Triệu đồng
Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu Giá trị cấu Cơ +(-) % +(-) % +(-) %
Trang 7Biểu 3: Tình hình nguồn vốn công ty ĐVT: Triệu đồng
Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu +(-) % +(-) % +(-) %
Trang 82.1.3 Tình hình nguồn vốn của công ty
Nguồn vốn được cấu thành do nợ phải trả trong đó chủ yếu là nợ ngắn hạn, năm 2005 nợ ngắn hạn chiếm 91,33% Năm 2006 là 90,07% và năm 2007 giảm suống còn 81,19% Tuy nhiên nợ ngắn hạn có giảm theo các năm nhưng vẫn rất lớn có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của công ty Nếu xét về hệ số thanh toán nhanh thì công ty có rất ít nhưng xét trên mặt khác thì công ty đã tranh thủ đồng vốn của bạn hàng và các doanh nghiệp khác, nói cách khác khả năng chiếm dụng vốn của công ty cao, thông qua biểu 3 ta thấy rõ điều đó
Nhìn chung qua tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty cho thấy năng lực tài chính của công ty còn thấp tuy nhiên trong mấy năm gần đây công ty có chiều hướng đi lên rõ rệt do vậy công ty cần giữ vững và phát huy xu hướng này
2.1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
Khi đánh giá bất kỳ một công việc gì chỉ tiêu kiên quyết là kế quả trong sản xuất kinh doanh đây là yếu tố quan trọng, đối với danh nghiệp thì lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu là đòn bẩy hữu hiệu thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nhờ có quá trình đánh giá này các chủ thể quản lý kinh tế nắm bắt được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình rồi tìm ra những biện pháp hữu hiệu để nâng cao lợi nhuận Là một doanh nghiệp ngoài quốc doanh nên kết qủa sản xuất kinh doanh được đặt lên hàng đầu
Qua biểu 4 cho thấy kết quả sản suất kinh doanh của công ty là rất tốt lợi nhuận khá cao và không chênh lệch giữa các năm
Trong 3 năm lợi nhuận vào năm 2006 là thấp nhất do tỷ lệ giá vốn / doanh thu cao nhất chiếm 84,99% tăng 10,65% so với năm 2005 sang năm 2007 tỷ lệ này đã giảm đi 13,82% chứng tỏ công ty đã điều chỉnh chi phí hợp lý làm cho giá thành sản phẩm giảm mang lại lợi nhuận cho công ty
Trang 9Biểu 4: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty CP-NLGS Đông dương
10 Tổng lợi tức trước thuế 466,8064 366,2742 483,2228
11 Thuế thu nhập DN phải nộp 219,6736 172,3643 187,9199
12 Lợi tức sau thuế 466,8064 366,2742 438,2228
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán công ty)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chung
Để có kết quả cao nhất khi nghiên cứu một vấn đề gì người ta phải áp dụng các phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu đúng đắn khoa học sẽ mang lại sự thuận lợi cho kết quả nghiên cứu, tuy nhiên tuỳ theo đối tượng nghiên cứu cụ thể mà lựa chọn phương pháp nghiên cứu khác nhau
Nói chung khi nghiên cứu đối tượng nào cũng phải dựa trên phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp duy vật lịch sử và phương pháp duy vật biện chứng như sau:
Nghiên cứu sự vật không trong trạng thái tĩnh mà trong quá trình biến đổi vận động không ngừng
Trang 10Nghiên cứu sự vật không phải trong trạng thái biệt lập mà phải trong mối quan
2.2.2 Phương pháp chuyên môn
Ngoài phương pháp cơ bản áp dụng chung cho các môn khoa học khi tiến hành nghiên cứu công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty cổ phần khoáng sản Đông Dương, công ty đã sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp thống kê kinh tế
Đây là phương pháp nghiên cứu hiện tượng kinh tế xã hội dựa trên cơ sở thu thập tài liệu thứ cấp thu thập tài liệu số liệu trên cơ sở quan sát, ghi chép sổ sách của công ty
Tổng hợp hệ thống hoá tài liệu đó trên cơ sở thống kê, phân tích tài liệu, tình hình biến động và mối quan hệ giữa các chỉ tiêu
Trang 11Đánh giá: Là phương pháp dùng đơn vị đo lường bằng tiền để biểu thị giá trị của các loại tài sản trong công ty, trên cơ sở sản lượng và chất lượng của mỗi tài sản cụ thể.
+ phương pháp tính giá thành: Là phân loại và tập hợp chi phí sản xuất theo từng đối tượng tính giá thành, theo các khoản mục đã quy định phù hợp với từng đối tượng cụ thể để xác định giá thành thực tế của các loại tài sản, vì chỉ có đánh giá thành thực tế thì kế toán mới thu được những tài liệu đúng về tình trạng chính của công ty
+ Phương pháp só sánh
Dùng để so sánh tình hình cơ bản của công ty để đánh giá mức độ tăng hay giảm của các chỉ tiêu, so sánh kết quả thực hiện kế hoạch năm trước, năm sau để thấy được tốc độ tăng lên tốc độ phát triển của quá trình sản xuất giữa các kỳ
+ Phương pháp đối chiếu
Qua việc xem xét, khảo sát và mô tả cảnh thực tập, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành của công ty sẽ đối chiếu với lý luận đã học qua trường lớp, qua các tài liệu sẽ nhận xét về tính đúng đắn, hợp lý mà công ty đã thực hiện từ đó có cơ sở
đề xuất hoàn thiện
+ Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp tham khảo ý kiến của phòng kế toán công ty, các thầy giáo hướng dẫn và các thầy cô trong khoa kinh tế và phát triển nông thôn
PHẦN 3HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI C
CÔNG TY CỔ PHẦN KHOÁNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG3.1 Tập hợp chi phí sản xuất
3.1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Là một đơn vị kinh doanh ngoài quốc doanh ngày từ khi đầu tiên công ty xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, do vậy nên các khâu tiếp theo
Trang 12đối tượng tập hợp chi phí đã xác nhận rõ dẫn đến việc tập hợp chi phí được nhanh chóng và thuận tiện Xác định phạm vi giới hạn sản xuất rồi tập hợp chi phí sản xuất trong phạm vi này sẽ giúp cho việc tập hợp chi phí sản xuất chính xác, tiết kiệm chi phí tránh tiêu hao nguyên vật liệu.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở công ty cổ phần khoáng sản Đông Dương ở từng phân xưởng từng tổ sản xuất khác nhau và địa điểm không tập chung cùng một chỗ Công ty có 2 phân xưởng lọc Cao lanh và 1 phân xưởng tuyển chọn đá Trường thạch, phân xưởng chính là phân xưởng I
Các phân xưởng này cùng nay thi đua đẩy mạnh sản xuất cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm, trong từng phân xưởng các tổ sản xuất quan hệ chặt trẽ với nhau do đó đối tượng tập hợp chi phí sản xuất được quy định chặt trẽ ở mỗi tổ sản xuất
Tổ lọc là lọc ép phân loại làm men A, hoặc loại B giao cho tổ sấy nửa thành phẩm tổ sấy xong lại giao cho tổ đóng gói nửa thành phẩm, hoặc tổ rửa đá xong lại giao cho tổ tuyển chọn, tổ tuyển chọn lại phân ra làm ba loại, loại không phải đóng bao, có loại phải đóng bao đây là công đoạn cuối cùng để nhập kho
Khác với chi phí sản xuất tính giá thành là sản phẩm cuối cùng sản phẩm đã hoàn thành là (đóng bao), các tổ sản xuất không tính giá thành nửa thành phẩm mà tính sản phẩm ở khâu cuối cùng, các tính giá thành áp dụng ở công ty là tính theo phương pháp hệ số Từ thành phẩm căn cứ vào một số sản phẩm tiêu chuẩn xây dựng hệ số cho các sản phẩm khác
Chi phí sản xuất được tập hợp từ các tổ sản xuất, phân sưởng và được phản ánh qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Từ đó căn cứ vào chứng từ gốc kế toán sử dụng nhật ký chung để ghi các nghiệp vụ rồi vào sổ cái tài khoản có liên quan.Toàn bộ quá trình này được quản lý và thực hiện trên máy vi tính qua hệ thống kế toán máy của công ty Do sản xuất còn thủ công nên ở các tổ sản xuất, phân xưởng không mở tài khoản chi tiết mà chỉ theo dõi trên tài khoản tổng hợp ở
Trang 13phòng kế toán Tóm lại đối tượng tập hợp chi phí sản xuất được công ty xác định rất chặt chẽ phù hợp với đặc điểm sản xuất hàng nguyên liệu gốm sứ.
3.1.2 Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí sản xuất, tại công ty cổ phần khoáng sản Đông Dương chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được chia thành các loại sau:
+ Chi phí nguyên vật liệu chính
+ Chi phí nhiên liệu
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp khác
- Nguyên vật liệu chính là khâu đầu tiên trong qúa trình sản xuất, nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất chủ yếu là cao lanh và đá Trường Thạch thô
- Đất đá này công ty không tự sản xuất được mà phải mua ở các mỏ đó là mỏ đất cao lanh và mỏ đá trường thạch của huyện Đoan Hùng và Hạ Hoà
- Nhiên liệu chủ yếu là than dùng cho lò sấy bột cao lanh sau khi cao lanh đã được lọc để sấy khô
- Nguyên vật liệu trực tiếp khác đối với sản phẩm là khoáng sản còn có một số nguyên liệu khác nếu thiếu nó thì không thể tạo nên độ trắng được, đó là chất hoá chất nguyên liệu này chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong chi phí sản xuất của mỗi sản phẩm,
nó quyết định đến giá thành cũng như sự tồn tại của sản phẩm vì nó làm tăng thêm
độ trắng về chất lượng
Từ đặc điểm trên ta có thể nhận thấy nguyên vật liệu trực tiếp sản xuất chủ yếu là đất đá thô nhiên liệu đốt, cong chất phu gia khác không đáng kể, do đó loại chi phí này sẽ được hạch toán theo đúng đối tượng chịu chi phí theo giá thực tế của nguyên liệu đó
Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh tới đâu được kê khai theo phương pháp kê khai thường xuyên do đó kế toán luôn nắm sát tình hình phát sinh của nguyên vật liệu để hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp hệ số, từ các định mức tiêu hao nguyên vật liệu công xây dựng các hệ số tính
Trang 14giá thành cho từng sản phẩm Chính từ phương pháp tính giá thành này mà tại các phân xưởng, tổ sản xuất không mở tài khoản chi tiết theo dõi chi phí, bởi vì sản phẩm của tổ sản xuất này lại là nguyên liệu đầu vào của tổ sản xuất kia, tiếp tục cho đến khi tạo thành sản phẩm, chính ở giai đoạn này kế toán mới tiến hành hạch toán giá thành sản phẩm trên tài khoản tổng hợp Tuy nhiên đối với nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn thì lại mở tài khoản chi tiết để thuận lợi cho quản lý.Tài khoản sử dụng để tập hợp nguyên vật liệu trực tiếp của công ty gồm những tài khoản sau:
TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK 152: Nguyên vật liệu trực tiếp
TK 1521: Nguyên vật liệu trực tiếp
TK 1521a: Nguyên vật liệu trực tiếp: Đất cao lanh
TK 1521b: Nguyên vật liệu trực tiếp: Đá trường thạch
TK 1522: Nhiên liệu: Than
TK 1523: Nguyên vật liệu trực tiếp khác: Chất hoá chất
* Cách hạch toán nguyên vật liệu trực tiếp
+ Nguyên vật liệu mua ngoài trực tiếp sản xuất
Đối với hình thức nguyên vật liệu này khi mua về không nhập kho mà đưa trực tiếp vào sản xuất phát sinh thuế VAT thì sẽ được hạch toán với tài khoản TK
133 để khấu trừ với thuế đầu ra vì công ty hạch toán thuế theo phương pháp thuế VAT được khấu trừ, giá tính nguyên vật liệu được phản ánh đúng theo giá trị thực
tế mua về
+ Nguyên liệu nhập kho
Đối với nguyên vật liệu mua về chưa sản xuất ngay sẽ nhập kho thì giá ghi vào sổ sẽ là giá trên hoá đơn (giá chưa có thuế VAT) cộng với các khoản chi phí thu mua, bốc rỡ theo phương thức sau:
Thuế nhập khẩu (nếu có)
Trang 15+ Vật liệu thuê gia công chế biến
Giá vật liệu nhập kho = Giá vật liệu gia công + Chi phí gia công và chi phí khác
Thường thì công ty phải thuê gia công chế biến nguyên vật liệu vì công xuất của máy lọc ép không đủ cao lanh để sấy khi có nhiều đơn đặt hàng công ty phải thuê ép cao lanh
+ Nguyên liệu tận dụng
Loại nguyên liệu này chiếm một tỷ lệ nhỏ bởi vì nếu sản phẩm đã cho lên sấy không may bị khói than ám vào làm chuyển màu không thể cho vào tái sản xuất được nữa, do vậy nguyên vật liệu tận dụng chỉ ở những giai đoạn nhất định
Giá trị nguyên vật liệu thu hồi nhập lại kho được tính theo giá ước tính
Giá thực tế vật
liệu nhập kho =
Đơn giá thực tế bình quân xuất kho +
Khối lượng nguyên liệu xuất kho
Số lượng nguyên vật
Số lượng nguyên vật liệu nhập kho
Trong đó:
Trang 16- 1 liên người lĩnh giữ
- 1 liên phòng tài chính kế toán
- 1 liên thủ kho giữChúng ta có thể theo dõi quá trình xuất kho nguyên vật liệu thông qua phiếu xuất kho tại công ty sau đây
Phiếu xuất khoNgày 03 tháng 3 năm 2005
Họ tên người nhận hàng: Hà Văn NgưĐịa chỉ: Phân sưởng I
Lý do xuất: Để sản xuất bột cao lanh A
Đất cao lanh thô
A
Mét khối
15
205.000
3.075.000
…………
Mặc dù công ty mới áp dụng chế độ kế toán máy trong thời gian ngắn nhưng
nó đã phát huy vai trò mạnh mẽ của mình trong việc quản lý các số liệu, trong các trương trình cài sẵn căn cứ vào chứng từ gốc (phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, hoá đơn giá trị gia tăng…) kế toán gõ theo lệnh để vào các sổ tương ứng rất chính xác, sau đây là biểu mẫu về sổ nhật ký chung phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng 3 năm 2005
Biểu số 5: Nhật ký chungQuý I năm 2005
NKC
Đã vào
Trang 17Xuất đất cao lanh thô
A,B cho phân xưởng I sản xuất
Xuất thanh cho phân xưởng I để đốt lò sấyTiền lương cho công nhân phân xưởng II
Khấu hao tài sản cố định phân xưởng I
Tiền lương cho công nhân phân xưởng I
Tiền điện phải trả cho công nhân phân xưởng ITiền bảo hiểm, kinh phí công đoàn, y tế
621152
612152612152622334627214622344627311
627338
11.131.000
23.526.000
27.426.000
78.713.000
10.000.000
58.618.000
5.700.000
4.907.000
11.131.000
23.526.00027.426.00078.713.00010.000.00058.681.0005.700.000
4.907.000
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán công ty)Từng tổ sản xuất nhưng nguyên vật liệu trực tiếp thì có Nó được phân bổ cụ thể chi tiết cho từng phân xưởng để theo dõi quản lý được tốt Phòng kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thông qua bảng phân bổ nguyên liệu trong tháng
Biểu 6: Bảng phân bổ nguyên liệu trong tháng 3/ 2005
TK ghi có TK 152
Trang 1864.768.000
14.693.00037.768.00012.307.000
476.396.000
426.312.00037.768.00012.307.000
II Tài khoản 627 chi
31.109.169
13.302.0008.037.6946.281.306Tổng chi phí 411.628.00
0
68.256.169 27.621.000 476.369.000 31.109.169
Nhìn vào bảng phân bổ nguyên vật liệu ta có thể nắm bắt được tốc độ, quy
mô sản xuất của từng phân xưởng từ đó điều chỉnh cho hợp lí Trong tháng 3 chi phí nguyên vật liệu phân bố chủ yếu vào phân xưởng 1 Nguyên nhân là do phân xưởng này là phân xưởng chính ,quy mô cả về chiều rộng và chiều sâu Chính vì vậy công ty cần điều chỉnh để phát triển tương đối giữa các phân xưởng
Căn cứ vào cách hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành, căn cứ vào bảng phân bố nguyên vật liệu cũng như chi phí trên tài khoản 621 và tải khoản 152
Từ đó kế toán chi phí giá thành kết chuyển vào tài khoản tính giá thành của công ty: TK 154 chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Các định khoản như sau:
Nợ TK 621: 476.396.000
Có TK 152: 476.396.000
Trang 19Cuối tháng kế toán tập hợp chi phí và kết chuyển sang tài khoản chi phí sản xuất kinh doanh dở dang để tính giá thành.
Nợ TK 154: 476.3963000
Có TK 621: 476.396.000
Kế toán sử dụng hệ thống tài khoản và sơ đồ chữ T để hạch toán tuy nhiên khi sử dụng hệ thống kế toán này chỉ cần khai thác các thông só yêu cầu là chế độ làm việc tự động của máy tiến hành một cách nhanh chóng
TK 152 TK 621 TK 154
476.396.000 476.396.000
3.1.3 Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp theo một cách nói ngắn gon hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở các doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp Bởi đó chính là quản lý lao động – quản lý nhân sự Có quản lý nhân sự tốt mới thúc đẩy sản xuất, làm cho người lao động yên tâm sản xuất, tuy nhiên mức lương nhận được cũng phải sứng đáng với công sức bỏ ra Công ty cổ phần khoáng sản Đông Dương là một doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất nên rất chú ye đến vấn đề này Chi phí nhân công ở công ty bao gồm những tài khoản sau:
+ Chi phí tiền lương:
Sản xuất hàng khoáng sản theo công nghệ thủ công, từ khâu đầu đến khâu cuối hoàn toàn qua đôi bàn tay của người công nhân, do đó chi phí nhân công chủ yếu là tiền lương
+ Bảo hiểm xã hội:
Được công ty trích lập để tài trợ cho công nhân viên phòng khi đau ốm, bệnh tật, tai nạn rủi ro…
+ Bảo hiểm y tế:
Trang 20Phục vụ cho công nhân viên khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ…
+ Kinh phí công đoàn:
Luôn được công ty quan tâm, tổ chức công đoàn của công ty nằm trong sự chỉ đạo của công đoàn công ty cổ phần khoáng sản Đông Dương, thường xuyên có các hoạt động của tổ chức lao động, bảo vệ quyền lợi của người lao động
Căn cứ vào đặc điểm sản xuất và tình hình lao động công ty áp dụng hai hình thức trả lương
Trả lương theo sản phẩm
Trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương chủ yếu là trả lương theo sản phẩm, tiền lương được trả theo bộ phận, từng bộ phận có đơn gía sản phẩm khác nhau Quản đốc phân xưởng tập hợp theo dõi công việc của công nhân của các tổ sản xuất rồi tổng hợp tại phòng kế toán hành chính để tính lương
Quy trình tính và thanh toán lương tại công ty
Bảng chấm công Bảng thanh toán Phòng kế toán
lương ở phân xưởng
Lưu chứng từ Kế toán tổng
hợp
Thủ quỹ phát tiền
Giám đốc duyệt chi
Trang 2212 Lê Minh Hương x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x - - - - x 23
Trang 23Biểu 8: BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG Đơn vị: CTCPNLGSĐD Tháng 3 năm 2008
Bộ phận : PXI-Tổ lọc
Trang 24Trình tự quy trình như sau:
Các tổ sản xuất theo dõi thời gian sản xuất cũng như sản phẩm thực hiện của mỗi công nhân, tập hợp chở thành các bảng chấm công của các tổ rồi tập hợp về quản đốc phân xưởng, tại đây quản đốc phân xưởng tập hợp thành một bảng thanh toán lương chung cho toàn phân xưởng rồi gửi lên phòng kế toán Phòng kế toán
sẽ tính lương hàng tháng cho từng bộ phận, từng công nhân Sau khi trình giám đốc duyệt chi thủ quỹ sẽ phát lương Khi nhận lương công nhân đều phải ký vào bản lương, bảng lương sẽ được lưu làm chứng từ gốc để hạch toán vào chi phí nhân công trực tiếp
Biểu 9: bảng đơn giá tiền lương sản phẩm tại phân xưởng
STT Nội dung công việc Sản phẩm thực
hiện (tấn) lương (đồng) Đơn gía tiền Tiền lương sản phẩm
1
2
3
Công nhân tổ lọc cao lanh
Tổ sấy cao lanh
Tổ rửa đá trường thạch
1.005 2.171 1.769
10.000 5.000 15.000
10.050.000 10.855.000 26.535.000
N Tổng số
Trang 25Căn cứ vào bảng đơn giá này kế toán sẽ tiến hành hạch toán tiền lương cho công nhân.
+ Tính lương theo thời gian: Cách hạch toán này ít đựơc dùng mà chủ yếu tập hạch toán tiền lương theo sản phẩm tuy nhiên khi phát sinh thì kế toán cũng hợp vào tài khoản chi phí nhân công trưc tiếp, hạch toán lương theo thời gian chỉ tính cho các ngày nghỉ lễ, nghỉ phép, nghỉ tết
Tiền lương thời gian
của một công nhân =
trong tháng
Mức lương thời gian bình quân một ngày x của một công nhân
Số ngày nghỉ lễ, tết, nghỉ phép
Trong đó:
Mức lương thời gian
bình quân 1 ngày của =
290.000 x 2,14 26
x 8 = 190.953 đồngTheo cách tính trên kế toán tính lương thời gian cũng như lương sản phẩm của toàn bộ công ty sau đó hạch toán vào các tài khoản có liên quan, ngoài lương ra công ty còn có các khoản trích theo lương đó là các khoản phải trả khác tính theo phần trăm trong quỹ lương cơ bản và quỹ lương thực tế BHXH, BHYT, KPCĐ…
Hệ thống tài khoản được công ty sử dụng để hạch toán tiền lương và các khoản theo lương gồm:
TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp của công ty
TK 335: Tiền lương phải trả cho công nhân viên
TK 338: Các khoản phải trả theo lương
Trang 26TK 3382: Kinh phí công đoàn (KPCĐ)
Trang 27Biểu 10: Bảng phân bổ lương BHXH, BHYT, KPCĐ tháng 3/2008
ĐVT: đồng
Lương sản phẩm
Lương cơ bản
Tổng tài khoản 334
3382 KPCĐ
3383 BHXH
3884 BHYT
Tổng TK 338