1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CNTT và truyền thông, cơ sở hạ tầng kinh tế và pháp lý, các vấn đề về nhân lực, chuyển đổi mô hình kinh doanh,

25 827 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cntt và truyền thông, cơ sở hạ tầng kinh tế và pháp lý, các vấn đề về nhân lực, chuyển đổi mô hình kinh doanh
Chuyên ngành Công nghệ thông tin
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 270 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CNTT và truyền thông, cơ sở hạ tầng kinh tế và pháp lý, các vấn đề về nhân lực, chuyển đổi mô hình kinh doanh,

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

I/ PHẦN MỞ ĐẦU 2

II/ PHẦN NỘI DUNG 3

1/ HẠ TẦNG CƠ SỞ PHÁP LÝ 3

1.1/ Một số vấn đề pháp lý trong thương mại điện tử 3

1.2 Khuôn khổ pháp lý cho thương mại điện tử ở việt Nam 7

2/ HẠ TẦNG CƠ SỞ CÔNG NGHỆ 10

3/ HẠ TẦNG CƠ SỞ NHÂN LỰC 11

4/ HẠ TẦNG THANH TOÁN TỰ ĐỘNG( THANH TOÁN ĐIỆN TỬ ) 13

5/ BẢO MẬT, AN TOÀN 16

6/ BẢO VỆ SỞ HỮU TRÍ TUỆ 23

7/ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG 24

Trang 2

I/ PHẦN MỞ ĐẦU

Vào cuối thế kỷ XX, sự phát triển và hoàn thiện của kỹ thuật số đã được áp dụng trướchết vào máy tính điện tử, tiếp đó sang các lĩnh vực khác (điện thoại di động, thẻ tín dụng )

Số hoá và mạng hoá đã là tiền đề cho sự ra đời của nền kinh tế mới - nền kinh tế số (còn gọi

là nền kinh tế tri thức, nền kinh tế dựa trên tri thức, ) Việc mua bán hàng hóa và dịch vụthông qua các phương tiện điện tử, Internet và các mạng viễn thông khác đã xuất hiện, đóchính là “Thương mại điện tử” (TMĐT)

Thương mại Điện tử là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quan đếncác tổ chức hay cá nhân tiến hành hoạt động thương mại có sử dụng các phương tiện điện tử

và công nghệ xử lý thông tin số hoá, bao gồm cả sản xuất, phân phối, marketing, mua – bán,giao hàng hoá và dịch vụ bằng các phương tiện điện tử

Tuy mới xuất hiện và chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong thương mại song TMĐT đãmang lại những lợi ích to lớn cho doanh nghiệp, chính phủ, người tiêu dùng và xã hội.Thương mại điện tử đã vượt ra khỏi lĩnh vực thương mại, ngày càng tác động đến các lĩnhvực khác và hứa hẹn mang lại những thay đổi to lớn và sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loàingười Thương mại điện tử ngày càng được sự quan tâm của Chính phủ, Doanh nghiệp vàngười tiêu dùng và đang trở thành một công cụ hữu hiệu trong quá trình toàn cầu hoá và trongxây dựng nền kinh tế số Thât khó mà hình dung ra xã hội tương lai nếu không có TMĐT

Bên cạnh đó, TMĐT cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết để khai thác các lợi

ích của TMĐT như vấn đề an toàn, an ninh cho các giao dịch trên mạng, các vấn đề về bảo vệ bí mật, tính riêng tư, các vấn đề về CNTT và truyền thông, cơ sở hạ tầng kinh tế

và pháp lý, các vấn đề về nhân lực, chuyển đổi mô hình kinh doanh, các vấn đề về quản

lý, thay đổi tập quán, thói quen trong kinh doanh…vì vậy để có thể khai thác tối đa lợi ích

của thương mại điện tử thì việc phân tích nhằm hiểu rõ các vấn đề trên là vô cùng quan trọng

và cấp thiết Từ đó có thể đưa ra những giải pháp hợp lý nhằm phát triển thương mại điện tửtrên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Trang 3

II/ PHẦN NỘI DUNG

1/ HẠ TẦNG CƠ SỞ PHÁP LÝ

1.1/ Một số vấn đề pháp lý trong thương mại điện tử

Các vấn đề pháp lý trong TMĐT liên quan đến nhiều chế định pháp luật thuộc các lĩnhvực khác nhau Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp nhau trực tiếp để tiếnhành giao dịch hoặc là những người đã quen biết nhau từ trước Còn trong TMĐT, các chủthể không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước Các giao dịchthương mại truyền thống được phân định rõ ràng về ranh giới quốc gia, trong khi đó TMĐTlại được thực hiện trong môi trường hay thị trường phi biên giới Tuy nhiên TMĐT không thểthực hiện được nếu không có người thứ ba là các nhà cung cấp dịch vụ mạng Nếu như trongthương mại truyền thống mạng lưới là phương tiện để trao đổi thông tin thì trong TMĐTmạng Internet chính là một thị trường Do vậy các vấn đề pháp lý nảy sinh trong thị trường ảo

là hoàn toàn khác

1.1.1 Vấn đề pháp lý trong đảm bảo an toàn và độ tin cậy cho các giao dịch TMĐT.

An toàn và tin cậy là các yếu tố mà người tham gia TMĐT phải cân nhắc trước khiquyết định tham gia Nếu người sử dụng cảm thấy thông tin về giao dịch của họ không đượcđảm bảo an toàn, có thể bị sửa đổi, có thể bị khám phá trái phép họ sẽ không tham giaTMĐT Do đó, cần phải có hạ tầng viễn thông an toàn, trên đó có các phương tiện để bảo vệthông tin, tránh khám phá, sử dụng trái phép và một hành lang pháp lý đầy đủ phân định rõràng trách nhiệm của các chủ thể tham gia TMĐT ở tất cả các công đoạn của giao dịchthương mại mà tính an toàn, độ tin cậy bị đe doạ như máy trạm, máy chủ, đường truyền Mặtkhác người sử dụng cũng phải học cách tự bảo vệ mình bằng các biện pháp kỹ thuật

Mã hoá là một công cụ hữu hiệu đảm bảo an toàn cho các giao dịch trong TMĐT Nócho phép người sử dụng bảo vệ được thông tin của mình một cách an toàn, đảm bảo nguồngốc thông tin và tính toàn vẹn của thông tin Tuy nhiên khi sử dụng mã hoá có thể xảy ratrường hợp như bọn tội phạm có thể sử dụng biện pháp mã hoá để mã hoá các thông tin

Trang 4

Đồng thời, mã hoá nhiều khi cũng gây khó khăn cho Giám đốc doanh nghiệp kiểm soát hoạtđộng của cán bộ dưới quyền.

1.1.2 Vấn đề bảo đảm tính riêng tư:

Thông tin cá nhân được luật pháp tôn trọng Cá nhân được quyền đảm bảo bí mật cácthông tin về đời tư Khi thực hiện các giao dịch trong môi trường Internet, các chủ thể thamgia giao dịch thường được yêu cầu phải khai báo các thông tin cá nhân ví dụ như số thẻ tíndụng, địa chỉ, ngày tháng năm sinh, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại cá nhân để phục vụ chomục đích xác nhận, kiểm tra Sở dĩ có điều đó là do các bên tham gia giao dịch không quenbiết nhau Các thông tin về đời tư này dễ bị bên thứ ba lấy cắp và sử dụng vào mục đích khác,gây phương hại đến người tham gia giao dịch TMĐT Do đó, trong TMĐT cần quy định rõtrách nhiệm pháp lý của các bên tham gia giao dịch đối với các thông tin của các chủ thể

1.1.3 Bảo vệ người tiêu dùng:

Do trong TMĐT cả người mua lẫn người bán không cần gặp nhau, biết nhau nên dễxảy ra các rủi ro và người bị thiệt thường là người tiêu dùng bởi vì họ phải trả tiền trước chocác sản phẩm, dịch vụ mà họ mua qua mạng song lại chưa biết được chất lượng sản phẩm vàviệc giao hàng có diễn ra đúng như người bán đã cam kết không Vấn đề sẽ trở nên phức tạphơn khi hai chủ thể ở hai quốc gia khác nhau, chịu các luật điều chỉnh khác nhau, thẩm quyềntài phán khác nhau Do vậy trong quy định pháp lý cho các bên tham gia TMĐT, các quốc giađều bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, do luật pháp các nước là không giống nhau nên nếuhai chủ thể thuộc hai quốc gia khác nhau thì hai bên cần thoả thuận trước về luật sẽ áp dụng

1.1.4 Các vấn đề về hợp đồng

Theo pháp luật, hợp đồng được xác lập khi các bên đạt được sự nhất trí về các điềukiện ghi trong hợp đồng bất kể là thoả thuận miệng hay bằng văn bản Vấn đề nảy sinh là xácđịnh nơi giao kết hợp đồng để xác định luật giải quyết khi có tranh chấp Trong hầu hết cáctrường hợp thì quốc gia nơi đặt webserver không hề được quan tâm và không phải lúc nào vịtrí của webserver cũng rõ ràng Domain name cũng không phải là căn cứ để xác định nơi giao

Trang 5

kết hợp đồng Có nhiều doanh nghiệp Việt Nam buôn bán qua domain name nước ngoài vàngược lại.

Nói chung các loại hợp đồng đều có thể giao kết qua mạng, tuy nhiên cũng có một sốloại hợp đồng theo quy định của pháp luật phải thể hiện bằng văn bản, có công chứng, đăng

ký Luật pháp các nước đều không phủ nhận giá trị pháp lý của hợp đồng ảo chỉ vì nó là dạng

dữ liệu (bản ghi điện tử)

Có nhiều loại hợp đồng trong không gian ảo, đó là hợp đồng hàng hoá, dịch vụ và cácdịch vụ số hoá Hàng hoá khi chào bán trên mạng phải đảm bảo chất lượng phù hợp với mụcđích sử dụng, an toàn và không có khuyết điểm nhỏ Sẽ không được coi là có khuyết điểmnhỏ nếu như người bán chỉ ra cho người mua trước khi ký kết hợp đồng Cung cấp dịch vụchính là cung cấp sức lao động, kỹ năng Việc mua một phần mềm tại cửa hàng thì phần mềm

là hàng hoá, còn hợp đồng với một công ty tin học thuê viết một phần mềm thì đó là hợpđồng cung cấp dịch vụ Dịch vụ số hoá là người bán có thể gửi cho người mua các loại sảnphẩm như băng video, âm nhạc, sách báo, phần mềm… qua mạng Internet

1.1.5 Các yêu cầu hình thức văn bản, chữ ký, văn bản gốc

Có một số loại giao dịch pháp luật quy định phải thực hiện bằng văn bản Các loại giaodịch này thường là giao dịch về tài sản có đăng ký Các loại giao dịch mà pháp luật đòi hỏihình thức văn bản phải là văn bản trên giấy sẽ không tiến hành qua mạng Giống như các vănbản trên giấy, các giao dịch TMĐT khi cần phải có chữ ký để ràng buộc chủ thể với nội dungtài liệu Chữ ký điện tử sẽ được sử dụng trong những trường hợp như vậy UNCITRAL đãnêu luật khung về chữ ký điện tử để các nước tham chiếu khi xây dựng luật của mình

Đảm bảo tính nguyên vẹn (bản gốc) của tài liệu trong TMĐT là một nhu cầu Đối vớinhững tài liệu về quyền sở hữu hay giấy tờ có giá (như vận đơn) khi quyền đi liền với việcchiếm hữu tài sản đó, thì điều cơ bản là đảm bảo rằng bản gốc phải ở trong tay người cóquyền sở hữu tài sản mà giấy tờ thể hiện Trong TMĐT con người có thể tạo được các bảnsao giống hệt như bản gốc một cách dễ dàng Điều quan trọng là tập dữ liệu do một người

Trang 6

khởi tạo không bị thay đổi về nội dung, hay nói cách khác là đảm bảo sự nguyên vẹn của dữliệu.

1.1.6 Thời điểm, địa điểm gửi, nhận thông điệp điện tử

Thời gian giao kết rất quan trọng để xác định thời điểm bắt đầu nghĩa vụ của các bên

Do các bên trong TMĐT không quen biết nhau, ở xa nhau, liên lạc với nhau qua mạng nênxác định thời điểm giao kết thương mại là khó khăn và các bên rất dễ hiểu khác nhau về thờiđiểm giao dịch Điều đó dễ dẫn đến các tranh chấp

Người được chào hàng có thể chấp nhận lời chào hàng và theo đó tạo ra một hợp đồngtrực tiếp Sự phản hồi của khách hàng chấp nhận đơn chào hàng là sự trả giá Trường hợp nàyngười mua là người trả giá, người bán là người chấp nhận hợp đồng Việc xác lập hợp đồngkhông nhất thiết phải do con người thực hiện, mà có thể chấp nhận tự động bằng hệ thốngmáy móc Ví dụ, khi người chủ đặt máy bán nước giải khát tự động, được coi là chấp nhận trảgiá khi khách bỏ tiền vào máy Khi tiến hành TMĐT, người chào hàng có thể quy định thờigian gửi ý kiến chấp nhận, khi đó thời điểm chấp nhận hợp đồng là thời điểm thông tin chấpnhận của khách hàng nhập vào hệ thống của người chào hàng

Thời gian nhận được thông điệp điện tử được xác định theo nguyên tắc sau:

a/ Nếu người nhận chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thì thời gian nhận là khithông điệp điện tử nhập vào hệ thống thông tin đó hoặc khi nhập vào hệ thống thông tin khácnhưng người nhận đang làm việc để truy lục thông điệp điện tử

b/ Nếu người nhận không chỉ định hệ thống thông tin thì tính thời điểm nhận là thờiđiểm thông điệp điện tử truy nhập vào hệ thống thông tin của người nhận

1.2 Khuôn khổ pháp lý cho thương mại điện tử ở việt Nam

Cùng với hệ thống pháp luật chung, các văn bản pháp luật liên quan đến thương mạiđiện tử cũng bước đầu được hình thành và dần hoàn thiện

Trang 7

1.2.1 Luật giao dịch điện tử.

Luật Giao dịch điện tử được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/03/2006 Luật gồm 8 chương, 54 điều quy định về thôngđiệp dữ liệu, chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử, giao kết và thực hiện hợp đồngđiện tử, giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước, an ninh, an toàn, bảo vệ, bảo mật trong giaodịch điện tử, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong giao dịch điện tử Phạm vi điềuchỉnh chủ yếu của Luật là giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tronglĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại

Luật Giao dịch điện tử nhấn mạnh nguyên tắc tiến hành giao dịch điện tử là tự nguyện,được tự thoả thuận về việc lựa chọn công nghệ để thực hiện giao dịch, trung lập về côngnghệ, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn

Chữ ký điện tử là một nội dung được đề cập đến trong Luật Giao dịch điện tử Luậtcông nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, nêu lên nghĩa vụ của bên ký, bên chấp nhận chữ

ký và tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử và dành hẳn một chương đề cậpđến giao dịch điện tử của cơ quan Nhà nước

1.2.2 Luật thương mại.

Luật Thương mại (sửa đổi) được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày14/06/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/01/2006 là văn bản pháp lý làm nền tảng cho các hoạtđộng thương mại, trong đó có thương mại điện tử Điều 15 của Luật quy định “Trong hoạtđộng thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quyđịnh của pháp luật thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản” Ngoài ra, tại khoản 4,Điều 120 (các hình thức trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ), trong đó coi “Trưng bày,giới thiệu hàng hoá, dịch vụ trên Internet” là một hình thức trưng bày, giới thiệu hàng hoá,dịch vụ

Trang 8

1.2.3 Bộ luật dân sự.

Tại khoản 1, điều 124 “Hình thức giao dịch dân sự” của Bộ luật dân sự (Quốc hội khoá

XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/01/2006) quy định

“Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi

là giao dịch bằng văn bản” Bộ luật Dân sự đưa ra quy định cụ thể về các trường hợp giao kết,sửa đổi, thực hiện, huỷ bỏ hợp đồng Theo đó, thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên

đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự do các bênthoả thuận, nếu không có thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là nơi cư trú của

cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng Đây là những kháiniệm quan trọng cần tính đến khi xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến giao kết vàthực hiện hợp đồng trong môi trường điện tử

1.2.4 Luật Hải quan.

Luật Hải quan (sửa đổi) được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày14/06/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/01/2006 có bổ sung một số quy định về trình tự khai hảiquan điện tử, địa điểm khai, hồ sơ hải quan điện tử, thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuấtnhập khẩu bằng Thương mại điện tử

1.2.5 Luật sở hữu trí tuệ.

Luật sở hữu trí tuệ được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005

và có hiệu lực từ ngày 1/07/2006 thể hiện một bước tiến trong việc hoàn thiện hệ thống vănbản pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Luật Sở hữu trí tuệ có một số điều khoản liên quanđến thương mại điện tử như quy định về các hành vi bị xem là xâm phạm quyền tác giả,quyền liên quan trong môi trường điện tử như cố ý huỷ bỏ, thay đổi thông tin quản lý quyềndưới hình thức điện tử có trong tác phẩm, dỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền dướihình thức điện tử mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan Tuy không có quyđịnh cụ thể liên quan đến lĩnh vực thương mại điện tử, nhưng các nguyên tắc trong Luật Sởhữu trí tuệ có thể áp dụng đối với lĩnh vực này Đến ngày 19/ 6/ 2009 Quốc hội Việt Nam

Trang 9

thông qua Luật số 36/2009/QH12 để sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số50/2005/QH11.

1.2.6.Luật và văn bản thương mại điện tử năm 2008, 2009

* Nghị định số 97/2008/NĐ-CP - quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thôngtin điện tử trên internet

* Nghị định số 90/2008/NĐ-CP - chống thư rác

* Thông tư số 78/2008/TT-BCT - hướng dẫn thi hành một số nội dung của Nghị định

số 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính

* Thông tư số 09/2008/TT-BCT - hướng dẫn Nghị định thương mại điện tử về cungcấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử

* Thông tư số 05/2008/TT-BTTTT - hướng dẫn Nghị định 97/2008/NĐ-CP về quản lý,cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet

* Thông tư số 07/2008/TT-BTTTT - hướng dẫn hoạt động cung cấp thông tin trêntrang thông tin điện tử cá nhân trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP

* Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT - hướng dẫn quản lý và sử dụng tài nguyên internet

* Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT - quy định giải quyết tranh chấp tên miền quốc giaViệt Nam

* Quyết định số 343/2008/QĐ-TTg - thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệthông tin

Luật và văn bản thương mại điện tử năm 2009

* Nghị định số 28/2009/NĐ-CP - xử phạt vi phạm hành chính trong dịch vụ internet vàthông tin điện tử

Trang 10

* Thông tư số 28/2009/NĐ-CP - quy định hồ sơ và thủ tục cấp phép, đăng ký, côngnhận các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số.

* Thông tư số 03/2009/TT-BTTTT - quy định mã số quản lý và mẫu giấy chứng nhận

mã số quản lý đối với nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo bằng thư điện tử, tin nhắn, nhà cungcấp dịch vụ tin nhắn qua mạng Internet

2/ HẠ TẦNG CƠ SỞ CÔNG NGHỆ.

TMĐT không phải là một sáng kiến ngẫu hứng, mà là hệ quả tất yếu của sự phát triển

kỹ thuật số hoá, của công nghệ thông tin, mà trước hết là kỹ thuật MTĐT Vì thế chỉ có thểthực sự có và thực sự tiến hành TMĐT có nội dung và hiệu quả đích thực khi đã có một cơ sởcông nghệ thông tin vững chắc

Hạ tầng cơ sở công nghệ ấy bao gồm từ sự liên kết các chuẩn của doanh nghiệp, của cảnước với các chuẩn quốc tế tới kỹ thuật ứng dụng và thiết bị ứng dụng; và không chỉ củariêng từng doanh nghiệp, mà phải là một hệ thống quốc gia, với tư cách như một phân hệ của

hệ thống thông tin khu vực và toàn cầu, và hệ thống ấy phải tới được từng cá nhân trong hệthống thương mại.Chi phí các phương tiện công nghệ thông tin (điện thoại, máy tính ) và chiphí dịch vụ truyền thông( phí điện thoại, phí nối mạng và truy cập ) phải đủ rẻ để đông đảongười sử dụng có thể tiếp cận được

Hiện nay hệ thống mạng thông tin và truyền thông của nước ta nhìn chung vẫn chưa đápứng được nhu cầu truy cập mạng Internet nhanh của người tiêu dùng và các doanh nghiệp.Giá cước truy nhập Internet hiện còn quá cao so với thu nhập của đa số dân chúng và cao hơnnhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới Chính điều này đã hạn chế rất nhiều đến

số lượng người truy nhập vào Internet, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh TMĐT ởnước ta Ngoài vấn đề giá cả viễn thông, chất lượng dịch vụ viễn thông, đặc biệt là chất lượngdịch vụ Internet chưa thoả đáng cũng ảnh hưởng nhiều đến việc triển khai ứng dụng TMĐT ởnước ta Hệ thống máy chủ của các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) chưa thật sự đủ mạnh

để đáp ứng được số lượng lớn người truy cập vào mạng khi Việt Nam ứng dụng TMĐT Với

số thuê bao chỉ đạt khoảng 0,4% dân số, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người sử

Trang 11

dụng Internet thấp nhất ASEAN (tỷ lệ sử dụng trung bình khối ASEAN là 1,5%, thế giới8%).

Trong lĩnh vực điện tử- tin học Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn

Lĩnh vực điện tử: Phần lớn còn tập trung ở khâu lắp ráp (máy thu thanh, thu hình, cassetes) Hướng đi này chỉ thích hợp cho giai đoạn phát triển ban đầu Ngoài ra, tổ chức sảnxuất còn tản mạn, công nghệ sản xuất và trình độ quản lý còn lạc hậu

radio-Lĩnh vực thiết bị tin học: Phần cứng thiết bị tin học chủ yếu là nhập khẩu Nước ta hiệnvẫn là thị trường tiêu thụ máy tính của nước ngoài Mặc dù nước ta đã lắp ráp máy vi tínhmang thương hiệu Việt Nam, nhưng tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, phần lớn linh, phụ kiện vẫnphải nhập khẩu với giá thành còn cao

- Lĩnh vực điện tử công nghiệp và điện tử chuyên ngành khác: phần lớn còn nhập ngoại,phần sản xuất được trong nước cũng chỉ ở mức riêng lẻ, đơn chiếc, quy mô nhỏ

bộ trung bình trên một đơn vị là kết quả của sự tăng cường đầu tư trong những doanh nghiệp

đã triển khai ứng dụng thương mại điện tử từ những năm trước

Hình 1: Tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về CNTT và TMĐT qua các năm

Trang 12

Phân tích sâu hơn mối quan hệ giữa các chỉ tiêu khảo sát, có thể thấy việc bố trí nhân

sự chuyên trách cho thương mại điện tử thường gắn liền với một số ứng dụng cụ thể và làhướng đi của những doanh nghiệp đã có chiến lược triển khai thương mại điện tử rõ ràng.Trong số doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về TMĐT, 58,9% đã xây dựng web-site, gấphơn hai lần tỷ lệ website trong những doanh nghiệp chưa bố trí cán bộ chuyên trách (25,3%).Tương tự, 18,1% doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về TMĐT đã tham gia sàn giao dịch,

so với 6,3% doanh nghiệp không có cán bộ chuyên trách triển khai được hoạt động này Tuynhiên đó vẫn là những con số còn quá khiêm tốn và hầu hết các doanh nghiệp cho rằng,

nguồn nhân lực TMĐT còn thiếu và yếu Vì vậy các doanh nghiệp phải tự cứu mình bằng

hình thức đào tạo tại chỗ (60% DN), 30% DN áp dụng hình thức cử nhân viên đi học, 8% tự

mở lớp đào tạo Tỷ lệ DN không có bất cứ hình thức đào tạo nào là 26,5% Đào tạo tại chỗ làcách rẻ nhất và nhanh nhất để phục vụ nhu cầu trước mắt của doanh nghiệp, nhưng về mặtchiến lược, hình thức này không trang bị được cho nhân viên những kiến thức bài bản, có hệthống, do đó hiệu quả về lâu dài không cao Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp mới quan tâmđến đào tạo TMĐT bề nổi mà chưa có bề sâu Do đó, khi xây dựng trang Website hoặc thamgia vào các sàn giao dịch điện tử, những doanh nghiệp này vẫn chưa khai thác và tận dụng tối

đa các cơ hội kinh doanh mà Internet đem lại

Ngày 6/11/2006, Bộ GDĐT và Bộ Thương mại đã có cuộc họp chung nhằm thúc đẩycông tác đào tạo TMĐT Hai Bộ đã thảo luận cụ thể một số công việc nhằm sớm triển khai dự

án đào tạo nguồn nhân lực chính quy trong các trường Đại học, Cao đẳng và THCN do BộGiáo dục chủ trì theo Quyết định 222/QĐ-TTG về Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT 2006 -

2010 như: xây dựng các chương trình khung, xây dựng giáo trình và bồi dưỡng đội ngũ giảngviên, sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách đào tạo sau Đại học (Chương trình 322) để khuyếnkhích học tập TMĐT Quan trọng hơn cả là 2 Bộ đã thống nhất đầu mối cho hoạt động hợptác và phát triển dự án là Vụ Đại học và Sau Dại học (Bộ GDĐT) và Vụ Thương mại Điện tử(Bộ Thương mại) Thống nhất đầu mối là bước tiến cơ bản vì từ nay đã có một địa chỉ để tiếpcận, phản hồi và giải quyết những vướng mắc từ các cơ sở đào tạo TMĐT trong cả nước Bêncạnh đó, Bộ Thương mại cũng đang xúc tiến thành lập Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM)nhằm đáp ứng yêu cầu của các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này

Ngày đăng: 28/03/2013, 14:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w