1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển ngành công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở việt nam

106 689 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 906 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, những chỗ khó của nền công nghiệp nước nhà bao gồm:i không có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, ii cơ sở sản xuất linhkiện, bộ phận, phụ tùng và các sản phẩm trung gian k

Trang 1

MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC 4

1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG 4

1.1.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ 4

1.1.2 Công nghiệp phụ trợ điện tử 8

1.1.3 Công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học 8

1.2 VAI TRÒ CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ10 1.2.1 Công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp điện tử 10

1.2.2 Công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học giúp tăng tỷ lệ nội địa hoá của ngành công nghiệp điện tử 12

1.2.3 Công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học giúp thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu của ngành công nghiệp điện tử 13

1.2.4 Công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học giúp công nghiệp điện tử nhanh chóng hội nhập với kinh tế thế giới và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu 13

1.3 ĐIỀU KIỆN CẦN ĐỂ XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC 15

1.3.1 Điều kiện về dung lượng thị trường 16

Trang 2

1.3.2 Điều kiện về khả năng bảo đảm yêu cầu về chủng loại, chất lượng và thời hạn cung ứng các sản phẩm phụ trợ cho các ngành hạ

nguồn 17

1.3.3 Điều kiện về tiến bộ khoa học và công nghệ 18

1.3.4 Điều kiện về nguồn lực tài chính 18

1.3.5 Điều kiện về các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu, ảnh hưởng của các tập đoàn xuyên quốc gia 18

1.3.6 Điều kiện về cơ chế chính sách của Nhà nước liên quan đến phát triển công nghiệp phụ trợ 19

1.4 KINH NGHIỆM XÂY DỰNG THÀNH CÔNG CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 20

1.4.1 Kinh nghiệm của Malaysia 20

1.4.2 Kinh nghiệm của Đài Loan 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 26

2.1 TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 26

2.1.1 Sự phát triển của công nghiệp điện tử thế giới 26

2.1.2 Sự phát triển của công nghiệp điện tử Việt Nam 29

2.1.3 Một số kết quả đạt được của ngành CNĐT Việt Nam 37

2.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC VIỆT NAM 40

2.2.1 Lịch sử hình thành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam 41

2.2.2 Thực trạng phát triển ngành công nghiệp phụ trợ điện tử -tin học Việt Nam 43

Trang 3

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH

CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC VIỆT NAM 49

2.3.1 Đánh giá điều kiện cần thiết để xây dựng thành công ngành công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học 49

2.3.2 Những tồn tại trong hoạt động xây dựng và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học 58

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC 66

3.1 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ 66

3.1.1 Quan điểm phát triển 66

3.1.2 Mục tiêu phát triển 67

3.1.3 Định hướng phát triển 67

3.2 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC 70

3.2.1 Quan điểm phát triển 70

3.2.2 Mục tiêu phát triển 71

3.2.3 Định hướng phát triển 72

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC 73

3.3.1 Các giải pháp vĩ mô 73

3.3.2 Các giải pháp vi mô 88

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chương trình phát triển nhà cung cấp quốc gia NSDP

Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI

Công đoàn Hiệp hội Công nghiệp và Thương mại UAIC

Trung tâm xúc tiến Thương mại và Đầu tư ITPC

Trung tâm quản lý và kiểm định chất lượng QUATESTTrung tâm Đào tạo kỹ thuật Việt Nam - Singapore VSTTC

Tổ chức Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương OPEC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

SƠ ĐỒ 1.1: CÁC PHẠM VI CỦA CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ 5

SƠ ĐỒ 1.2: MÔ HÌNH TAM GIÁC CỦA CNPT 7

SƠ ĐỒ 1.3: GIẢM CHI PHÍ ĐƠN VỊ TRONG CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ 17

BIỂU ĐỒ 2.1: PHẦN TRĂM GIÁ TRỊ SẢN XUẤT 26

BIỂU ĐỒ 2.2: BIỂU ĐỒ TĂNG TRƯỞNG MỘT SỐ NGÀNH GIAI ĐOẠN 2006 -2011 27

BIỂU ĐỒ 2.3: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT ĐIỆN TỬ CỦA MỘT SỐ KHU VỰC NĂM 2007 29

BIỂU ĐỒ 2.4: SỐ LƯỢNG TIVI LẮP RẮP 31

BIỂU ĐỒ 2.5: SỐ LƯỢNG MỘT SỐ SẢN PHẨM ĐIỆN TỬ 31

BIỂU ĐỒ 2.6: GIÁ TRỊ XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG ĐIỆN TỬ 33

BIỂU ĐỒ 2.7: MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHÍNH HÀNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM NĂM 2008 34

BIỂU ĐỒ 2.8: NGUỒN MUA NGUYÊN VẬT LIỆU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 44

BIỂU ĐỒ 2.9: TỶ LỆ NỘI ĐỊA HOÁ CỦA CÁC NHÀ SẢN XUẤT NHẬT BẢN Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á NĂM 2003 45

BIỂU ĐỒ 2.10: DOANH SỐ NỘI ĐỊA MỘT SỐ SẢN PHẨM ĐIỆN TỬ CHỦ YẾU NĂM 2003 50

BIỂU ĐỒ 2.11: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CỦA NGÀNH CNĐT THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ 55

BẢNG 2.1: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ SO VỚI TOÀN NGÀNH CÔNG NGHIỆP 30

BẢNG 3.1: CƠ SỞ DỮ LIỆU VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ 81

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước côngnghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nền kinh tế Việt Namhiện nay Tuy vậy, những chỗ khó của nền công nghiệp nước nhà bao gồm:(i) không có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, (ii) cơ sở sản xuất linhkiện, bộ phận, phụ tùng và các sản phẩm trung gian khác, gọi chung là côngnghiệp phụ trợ (CNPT) còn kém phát triển, đã gây cản trở cho việc thực hiệnchiến lược này Thuật ngữ CNPT có tuổi đời còn rất non trẻ ở Việt Nam,mới du nhập vào từ năm 2003 thông qua các nhà đầu tư Nhật Bản, và chínhthức được sử dụng trong các văn bản của Nhà nước từ năm 2004 Ngườikhai sinh cho thuật ngữ này là nước Nhật, một nước có nền công nghiệp rấtphát triển, đặc biệt là công nghiệp điện tử và ô tô Thực tế, để có thể hiểuchính xác và thấu đáo về ngành này là rất khó khăn bởi hiện nay vẫn còn tồntại nhiều quan điểm chưa thống nhất về khái niệm cũng như phạm vi của nó.Chính xác hơn, định nghĩa như thế nào, bao gồm những gì phụ thuộc vàomục đích sử dụng của người nghiên cứu cũng như các nhà hoạch địch chínhsách Nhưng thông thường, ngành này vẫn được hiểu là ngành cung cấpnhững linh phụ kiện, sản phẩm trung gian cho các ngành công nghiệp lắpráp Vì vậy, tháo nút rối về công nghiệp phụ trợ (CNPT) hiện đang thu hútđược sự quan tâm của rất nhiều bộ, ban ngành để có thể để có thể trợ giúp cho sựphát triển của công nghiệp nước nhà

Phát triển CNPT cho ngành điện tử - tin học là một trong năm đíchngắm của CNPT Việt Nam Thực tế cho thấy ngành công nghiệp điện tử(CNĐT) Việt Nam có những ưu điểm, hạn chế hay thời cơ, thách thức cũngnhiều Việt Nam nằm ở vòng cung điện tử Đông Á, dòng chảy “điện tử” của

Trang 7

ngoài xu thế, bởi ngành này cũng đã đạt được một số thành tựu nổi bật: tốc

độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 1995 – 2006 là 23%, là một trong 8 mặthàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD Tuy vậy vẫn còn tồn tại nhiềuhạn chế trong ngành này như tỷ lệ nội địa hoá thấp, chủ yếu là nhập khẩulinh phụ kiện về lắp ráp trong nước, trình độ công nghệ còn lạc hậu Hạn chế

về CNPT cũng là một bước cản trong thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài.Đứng trước tiềm năng về sự tăng trưởng và cơ hội phát triển của CNĐT, vấn

đề đặt ra là phải phát triển CNPT điện tử - tin học cho ngành này

Tác giả được biết đến thuật ngữ CNPT trong một Hội thảo với chủ đề

“Tuần lễ quốc gia Doanh nghiệp nhỏ và vừa” Đây là một sáng kiến củaPhòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, diễn ra trong thời gian từ17/11 – 22/11/2008, nằm trong kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

2006 – 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với chủ đề chính “Liên kết, hội nhập cùng phát triển” Trong hội thảo lần này, một vấn đềtrọng tâm đã được đặt ra: làm thế nào có thể xây dựng thành công CNPT ởViệt Nam thông qua vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) Xuất

phát từ thực tế đó, tác giả lựa chọn vấn đề “Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam” làm đề tài Khoá luận tốt nghiệp.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đưa ra những kiến thức cơ bản nhất về CNPT, tiến hànhphân tích thực trạng của ngành CNĐT nói chung và công nghiệp phụ trợđiện tử - tin học (CNPTĐTTH) nói riêng, tác giả đưa ra những nhận xét vềkhả năng phát triển cũng như những khó khăn, hạn chế của CNPTĐTTH và

từ đó kiến nghị một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển của ngành này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là thực trạng ngành CNĐT và

Trang 8

xây dựng thành công CNPTĐTTH và những hạn chế, khó khăn gặp phải đốivới ngành này.

4 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận sử dụng kết hợp các phương pháp: phân tích, thống kê, tổnghợp, so sánh và đối chiếu Tác giả đã tham khảo những tài liệu, công trìnhnghiên cứu của các chuyên gia, cũng như sưu tầm số liệu, thông tin thứ cấp

từ các tổ chức để có được cái nhìn đúng đắn và chính xác hơn

5 Kết cấu của Khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu,danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Khoá luận được bố cục thành 3chương:

Chương 1: Tổng quan về ngành phụ trợ điện tử - tin học

Chương 2: Thực trạng phát triển ngành công nghiệp phụ trợ điện

tử - tin học ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng, giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học ở Việt Nam

Chắc chắn Khoá luận còn nhiều thiếu sót do những hạn chế về tài liệu,thời gian nghiên cứu cũng như năng lực nhận thức của tác giả Tác giả mongnhận được sự thông cảm và các ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn sinhviên

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Phạm Duy Liên,người đã tận tình giúp đỡ và có những ý kiến đóng góp quý báu giúp tác giảhoàn thành Khoá luận này

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ

ĐIỆN TỬ - TIN HỌC1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG

1.1.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ

Khoảng những năm 2003 trở lại đây thuật ngữ công nghiệp phụ trợ(CNPT) thường hay được đề cập đến ở Việt Nam Thuật ngữ này cũng được

sử dụng ở nhiều nước, đặc biệt là các nước Đông Á, nhưng vẫn tồn tại rấtnhiều cách hiểu chưa thống nhất Thực tế đây là một khái niệm rất mơ hồ,chung chung, nếu không có một định nghĩa cụ thể thì không thể xác địnhđược đó là ngành công nghiệp nào, hỗ trợ cho cái gì, cho ai Vì vậy tuỳ theomục đích sử dụng mà người ta có thể hiểu CNPT theo nhiều cách khác nhau,theo nghĩa rộng hoặc hẹp

Theo bà Nguyễn Thị Xuân Thuý, chuyên viên nghiên cứu của Diễn đànphát triển Việt Nam (VDF – Vietnam Development Forum), trong tác phẩm

Công nghiệp hỗ trợ, Tổng quan về khái niệm và sự phát triển, đã cho rằng

khái niệm CNPT định hình tùy vào quan điểm và mục đích khác nhau[27,38] Theo đó, CNPT là một khái niệm xuất phát từ Nhật Bản, xuất hiện

lần đầu tiên trong Sách trắng về hợp tác kinh tế năm 1985 Nguyên nhân của

việc ra đời thuật ngữ này bắt nguồn từ việc đồng Yên Nhật lên giá Theo BộCông nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản, sau Hiệp định Plaza (tháng9/1985), đồng Yên lên giá đột ngột từ 240 yên/1 USD lên đến 160 yên/1USD, làm tăng giá hàng xuất khẩu của Nhật Bản và ảnh hưởng đến cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này Các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu của đất nước mặt trời mọc phải giảm sản xuất và chuyển cơ sở sản xuấtsang các nước có nguồn lao động rẻ hơn Tuy nhiên các doanh nghiệp Nhật

Trang 10

vẫn phải nhập khẩu linh phụ kiện từ các nhà thầu trong nước vì các nướcđang phát triển chưa thể cung ứng những linh phụ kiện quan trọng, kể cả cácnước ASEAN 4 (gồm Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Phillipines)

Cùng với việc chuyển dịch chuỗi giá trị sang các nước châu Á, với sứcảnh hưởng của nguồn FDI từ Nhật Bản, CNPT được các nước đang pháttriển tiếp để trợ giúp trong xây dựng và điều chỉnh các chiến lược về côngnghiệp Cũng theo nghiên cứu này, CNPT được hiểu theo nghĩa rộng gồm tất

cả các ngành công nghiệp sản xuất đầu vào và theo phạm vi hẹp là chỉ một

số ngành sản xuất các bộ phận sản phẩm, linh kiện và thiết bị phục vụ chomột số ngành sẽ tùy thuộc vào mục đích tiếp cận của người sử dụng [27,30]

SƠ ĐỒ 1.1: CÁC PHẠM VI CỦA CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ

Nguồn: Nguyễn Thị Xuân Thuý, (2006), Công nghiệp phụ trợ: tổng quan về khái niệm và

sự phát triển), tr.38

Như vậy, sơ đồ 1.1 minh hoạ ba khái niệm và phạm vi tương ứng củaCNPT

Trang 11

- CNPT theo phạm vi chính, cũng chính là phạm vi hẹp nhất, được địnhnghĩa là những ngành cung cấp linh kiện, phụ tùng và các công cụ sản xuất

ra các linh kiện, phụ tùng này

- CNPT theo phạm vi rộng 1: bao gồm phạm vi chính cộng với các dịch

lượng Hoa Kỳ trong ấn phẩm năm 2004 với tên gọi: Supporting industries –

Industries of the future: Fiscal year 2004 annual report (Các ngành công nghiệp phụ trợ: công nghiệp của tương lai) đã định nghĩa CNPT là những

ngành sử dụng nguyên vật liệu và các quy trình cần thiết để định hình và chếtạo ra sản phẩm trước khi chúng được lưu thông đến ngành công nghiệp sửdụng cuối cùng (end-use indutries) [39,1] Tuy khái niệm của Phòng Nănglượng Hoa Kỳ đưa ra rất tổng quát nhưng cơ quan này, trong phạm vi chứcnăng của mình, tập trung chủ yếu vào mục tiêu tiết kiệm năng lượng Do đó,CNPT theo quan điểm của cơ quan này là những ngành tiêu tốn nhiều nănglượng như than, luyện kim, thiết bị nhiệt, hàn, đúc…

 Theo cách cụ thể: Định nghĩa của Văn phòng phát triển CNPT TháiLan (Bureau of Supporting Industries Development - BSID): CNPT là các

Trang 12

ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói

và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản (nhấn mạnh cácngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện tử là những ngànhCNPT quan trọng) [27,31]

 Theo cách liệt kê: Hội đồng đầu tư Thái Lan phân loại các ngànhcông nghiệp sản xuất thành phẩm thành 3 bậc: lắp ráp, sản xuất linh kiện vàphụ kiện, và các ngành CNPT Năm sản phẩm chính của ngành CNPT là giacông khuôn mẫu, gia công áp lực, đúc, cán và các gia công nhiệt [27,31]

Về phía Tiến sĩ Đỗ Mạnh Hồng, (Viện Công nghiệp, Đại học Obirin,Nhật Bản) thì CNPT, tên tiếng Anh là “supporting industries” là một kháiniệm đối xứng với “assembly industries” Một bên là “công nghiệp sản xuấtphụ tùng, linh kiện” và một bên là “công nghiệp lắp ráp” Bản thân cụm từ

“supporting industries” được dịch trực tiếp từ thuật ngữ gốc trong tiếng Nhật

là “Suso-no San-gyou” (suso-no nghĩa là chân núi, san-gyou là công

nghiệp)

SƠ ĐỒ 1.2: MÔ HÌNH TAM GIÁC CỦA CNPT

Nếu hình dung cấu trúc toàn bộ qui trình sảnxuất một sản phẩm như một quả núi (hay đơngiản là một hình tam giác), thì các ngành côngnghiệp Susono đóng vai trò chân núi, còn “côngnghiệp lắp ráp” đóng vai trò đỉnh núi Chân núi

là những ngành sử dụng tất cả các kỹ thuật giacông cơ bản (đúc, dập, gò, hàn, cắt, gọt, khoanđột, uốn kéo, cán ép, tạo hình, dệt lưới, in ấnbao bì ) gia công các loại vật liệu từ các loạikim loại, tới cao su, nhựa, gốm, gỗ và các loại

Nguồn: Thời báo kinh tế Sài Gòn,

http://www1.thesaigontimes.vn/Ho

me/thoisu/sukien/

Trang 13

ráp Với cách hiểu này, “supporting industries” bao trùm nhiều lĩnh vực,không chỉ riêng phục vụ sản xuất ô tô, xe máy.

Do các quan niệm khác nhau về CNPT, việc hiểu và vận dụng đúngkhái niệm này trong các chính sách công nghiệp thường gặp nhiều khó khăn.Trên thực tế, khái niệm công nghiệp phụ trợ được hiểu và tiếp cận một cách

“thực dụng”, nghĩa là tùy mục tiêu, tùy chiến lược mà sử dụng hay tiếp nhận.CNPT, vì vậy, phải được hiểu trong một khung phân tích về chính sách

1.1.2 Công nghiệp phụ trợ điện tử

Công nghiệp phụ trợ phục vụ ngành điện tử nếu nhìn theo quan niệmcứng, sẽ đi vào những ngành sản xuất linh kiện điện tử và các cấu kiện nhựa,kim khí, khuôn đúc phục vụ cho ngành CNĐT

Nhóm linh kiện điện tử bao gồm:

- Linh kiện tích cực: là những linh kiện, phụ tùng điện tử chính, đóngvai trò quan trọng trong một sản phẩm điện tử như mạch tích hợp, bộ cảmbiến, đèn hiệu ứng trường, transistor NPN, transistor PNP

- Linh kiện thụ động: như điện trở, cuộn cảm, tụ điện, điốt

- Ăngten: ống dẫn sóng, cáp dẫn sóng

Nhóm các cấu kiện nhựa và kim khí bao gồm:

- Các cấu kiện nhựa như vỏ máy, đế bảng mạch điện tử

- Các cấu kiện kim khí như khung thiết bị, khớp nối, trục, chốt, ốc vít,đinh hãm

1.1.3 Công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học

Ngành công nghiệp và dịch vụ điện tử - tin học được coi là phần cơ bảncủa ngành kinh tế thông tin Hiện nay, kinh tế thông tin đang trở thành

Trang 14

khí, Ở các nước có ngành công nghiệp điện tử đúng nghĩa thì phải sản xuấtđược công cụ lao động điện tử - tin học phục vụ kinh tế an ninh quốc phòng, cáchoạt động văn hoá xã hội, y tế giáo dục, và phải xuất khẩu được với tỷ trọnglớn.

Các sản phẩm chính của ngành công nghiệp điện tử tin học là:

* Các thiết bị và hệ thống thiết bị điện tử tin học có cấu trúc đa ngànhphức tạp bao gồm tổ hợp kỹ thuật điện tử- điện kỹ thuật- cơ khí chính xác-quang học- hoá học- sinh học trong đó có kỹ thuật điện tử- tin học là chủđạo (gọi chung là phần cứng)

* Các thiết bị và hệ thống thiết bị nêu trên được cấu thành từ các loạivật liệu, linh kiện điện tử tích cực, linh kiện thụ động, các cụm chi tiết, cấukiện khác Bản thân các thiết bị điện tử - tin học (nói chung) khá nhậy cảmvới môi trường khí hậu và điều kiện làm việc, ngược lại chúng có tác độngnhất định đối với con người và môi trường

Một hình dung cụ thể về phạm vi cụ thể của CNPT phục vụ ngành điện

tử - tin học bao gồm các lĩnh vực sau:

- Đào tạo: nhấn mạnh vào hai mảng kỹ thuật trong ngắn hạn và nănglực thiết kế trong dài hạn

- Công nghệ thông tin: phần mềm, phần cứng, các dịch vụ cung ứnggiải pháp, thiết kế, , trong đó tập trung vào các dịch vụ cao cấp

Trang 15

- Nghiên cứu thiết kế: nhấn mạnh vai trò của các trung tâm nghiên cứu,ứng dụng, giải mã công nghệ.

- Các dịch vụ sân sau cho sản phẩm điện tử: bảo hành, logistic, cungứng hạ tầng…

1.2 VAI TRÒ CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ TIN HỌC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ

-Trong những năm gần đây, CNPT ngày càng được chú trọng phát triểnbởi vai trò ngày càng tăng của ngành này Đặc biệt trong xu thế toàn cầuhoá, hội nhập với nền kinh tế thế giới và xu hướng chuyên môn hoá, phâncông lao động trên toàn cầu, thì các nước đang phát triển, đặc biệt là nhữngnước Đông Á, càng phải chú trọng hơn cho sự phát triển của CNPT để cóthể vượt qua những thách thức như cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoàihay hàng hoá ngoại nhập tràn lan trên thị trường

1.2.1 Công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp điện tử

Trong xu thế toàn cầu hoá, một quốc gia không tự đảm nhận hết cáccông đoạn trong chu trình sản xuất ra một sản phẩm nữa, mà tiến tới phâncông lao động và chuyên môn hoá Từ những năm 1980, các doanh nghiệp

đa quốc gia đã bắt đầu chuyển dịch đầu tư sang các nước đang phát triển đểtranh thủ lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên, lao động và đặc biệt là môitrường kinh tế, chính trị ổn định Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả để có thể

là điểm đến lý tưởng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài Sự phát triển củangành CNPT cũng đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng bởi nó hỗ trợcho sự phát triển của công nghiệp lắp ráp, chế tạo Các công ty lớn về lắp rápthông thường chỉ đảm nhận những khâu chính, đòi hỏi một trình độ công

Trang 16

nghệ cao như nghiên cứu, phát triển, hoàn thiện sản phẩm, và nhường lạicông tác sơ chế hay cung cấp những linh kiện phụ cho các doanh nghiệp phụtrợ

Châu Á hiện là một trong những điểm đầu tư hấp dẫn nhất trên thế giới,với những cái tên như Trung Quốc (quốc gia trong nhiều năm liền đều đứngđầu danh sách những nước thu hút được nhiều vốn đầu tư), Thái Lan, ViệtNam, Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan Trung Quốc và Thái Lan vẫn giữavững được vị thế hàng đầu trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài từ năm

2000 Sở dĩ Trung Quốc có được vị thế như vậy là vì theo đánh giá củaNgân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (Japan Bank for International Co-operation – JBIC) thì các yếu tố đem lại hấp dẫn cho môi trường đầu tưTrung Quốc có: (i) Quy mô thị trường nội địa lớn; (ii) chi phí lao động thấp;(iii) CNPT phát triển Còn đối với Thái Lan, sức hút đầu tư lớn nhất là lựclượng lao động rẻ, tiếp đến mới là dung lượng thị trường nội địa và cung củaCNPT lớn Cả hai quốc gia này đều có CNPT phát triển, bởi tỷ lệ nội địa hoácủa Trung Quốc là 55,9% năm 2003 và Thái Lan là 47,9% năm 2004[35,15] Vì thế, để Việt Nam có thể cạnh tranh với Trung Quốc trong thu hútFDI, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu phải là xây dựng một ngành CNPT vữngmạnh

Để có thể thấy rõ hơn việc phát triển CNPTĐTTH sẽ giúp thu hút FDIvào ngành điện tử như thế nào, người viết xin trình bày thêm mối quan hệgiữa FDI và CNPT:

i Trước khi FDI vào đã có nhiều công ty trong nước sản xuất sản phẩmCNPT cung cấp cho các công ty lắp ráp, sản xuất sản phẩm chính cho thịtrường nội địa Khi có FDI, một bộ phận những công ty sản xuất CNPT sẽphát triển mạnh hơn nếu được tham gia vào mạng lưới chuyển giao công

Trang 17

nhiên hình thành mà các công ty CNPT phải tỏ ra có tiềm năng cung cấplinh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được với hàngnhập Tiềm năng đó sẽ thành hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từdoanh nghiệp FDI.

ii Đồng thời với sự gia tăng của FDI, nhiều doanh nghiệp bản xứ ra đờitrong các ngành CNPT chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của các doanhnghiệp FDI Những doanh nghiệp sớm hình thành sự liên kết với doanhnghiệp FDI sẽ được chuyển giao công nghệ và sẽ phát triển nhanh

iii Sau một thời gian hoạt động của doanh nghiệp FDI với lượng sản xuấtngày càng mở rộng, tạo thị trường ngày càng lớn cho CNPT, nhiều công

ty nhỏ và vừa ở nước ngoài sẽ đến đầu tư Ở đây có trường hợp các công

ty con hoặc các công ty có quan hệ giao dịch lâu dài của các doanhnghiệp FDI đến đầu tư do sự khuyến khích của các doanh nghiệp FDI;cũng có trưòng hợp các công ty nhỏ và vừa ở nước ngoài độc lập với cácdoanh nghiệp FDI nhưng thấy thị trường của CNPT đã lớn mạnh nên đếnđầu tư

1.2.2 Công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học giúp tăng tỷ lệ nội địa hoá của ngành công nghiệp điện tử

Hiện nay, trước xu toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, các doanhnghiệp nội địa nên tranh thủ hợp tác, liên doanh với nước ngoài để có thểtiếp cận nguồn vốn, học tập phương pháp quản lý, tiếp thu trình độ côngnghệ, đào tạo nguồn nhân lực Các quan điểm đều cho rằng nội địa hoánhững linh phụ kiện điện tử sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà lắp ráp có vốnđầu tư nước ngoài và nhà cung cấp linh kiện trong nước Càng có nhiều linhkiện sản xuất trong nước, các nhà lắp ráp có vốn đầu tư nước ngoài càng có

cơ hội giảm chi phí vận tải nhờ không phải nhập khẩu, trong khi các nhà

Trang 18

hiện đại nhờ có quan hệ với các nhà lắp ráp có vốn đầu tư nước ngoài Do

đó, thúc đẩy tỷ lệ nội địa hoá của ngành điện tử là chìa khoá cho sự tăngtrưởng do đầu tư trực tiếp nước ngoài dẫn dắt ở các nước đang phát triển

1.2.3 Công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học giúp thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu của ngành công nghiệp điện tử

Có thể nói CNPT là công cụ quan trọng, mang tính quyết định mặt chấtcủa nỗ lực giảm nhập siêu Nếu định hướng nền công nghiệp hướng vào xuấtkhẩu mà CNPT chưa phát triển thì quốc gia đó sẽ phải nhập khẩu chi tiếtlinh kiện đầu vào, cùng với dòng hàng nhập khẩu đó là những chi phí cao từcác nền kinh tế phát triển (thậm chí còn bị nâng cao một cách giả tạo), làmcho sức cạnh tranh của sản phẩm lắp ráp kém hấp dẫn, nhất là quy mô lắpráp lại nhỏ bé Điều đó kéo theo việc phải tiếp tục xuất khẩu tài nguyên hoặctiếp tục “nhập để xuất”, và đất nước đó sẽ dễ bị kéo vào vòng xoáy nhậpkhẩu, đồng thời cũng du nhập luôn cả các “căn bệnh” của các nền kinh tếkhác như lạm phát, tỷ giá, các ràng buộc phi kinh tế khiến cho càng nỗ lựcxuất khẩu thì nhập siêu cũng càng lớn Như vậy, về lâu dài, chính CNPT mới

là công cụ giải quyết cơ bản tình trạng nhập siêu của một nền kinh tế nóichung và của ngành điện tử nói riêng

1.2.4 Công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học giúp công nghiệp điện tử nhanh chóng hội nhập với kinh tế thế giới và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

Trong một thế giới phẳng, một thế giới hợp tác không còn những hìnhthức bảo hộ như độc quyền, thuế quan Một quốc gia cũng như một doanhnghiệp, chỉ có thể phát triển bền vững khi phát triển trên quy mô toàn cầu.Doanh nghiệp như vậy có quan hệ thương mại trên phạm vi quốc tế và mọihoạt động được phân chia giữa các doanh nghiệp trải rộng trên thế giới

Trang 19

Một trong những đặc điểm cơ bản của ngành điện tử thế giới là tínhchuyên môn hoá và toàn cầu hoá: thay đổi cơ cấu sản xuất và phương thứcsản xuất Thí dụ, để cho ra đời một sản phẩm điện tử hoàn chỉnh cần tớihàng trăm linh kiện khác nhau và xu thế chung của thế giới là sự phân cônglao động quốc tế ngày càng chi tiết Chẳng hạn, một máy tính hiệu IBMnhưng ổ cứng lại là Seagate, màn hình Samsung, main của Intel, thậm chítừng con ốc phải cần đến các nhà sản xuất chuyên nghiệp Vì vậy chỉ có đadạng hoá liên doanh liên kết, hợp tác đầu tư thì các doanh nghiệp của cácquốc gia mới là một mắt xích trong dây truyền sản xuất toàn cầu Theo đó,các công ty và những tập đoàn lớn không còn tham gia vào tất cả các khâutrong chu trình sản xuất nữa, họ chỉ tập trung vào những khâu có giá trị giatăng cao (nghiên cứu và phát triển, tiếp thị, bán hàng ), còn lại họ thuê cáccông ty khác dưới hình thức đấu thầu Quá trình sản xuất cũng được phânchia thành nhiều công đoạn, với sự tham gia của nhiều quốc gia vào mộthoặc nhiều công đoạn đó, theo yêu cầu và điều kiện cụ thể, tạo ra một mạnglưới sản xuất sản phẩm điện tử mang tính toàn cầu Tất yếu là mỗi quốc gia

có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành điện tử nếu xác địnhđược những ưu điểm, thế mạnh của mình, từ đó quyết định tham gia vàonhững công đoạn nào hoặc những sản phẩm có giá trị gia tăng nào mà mình cókhả năng làm tốt, để có vị trí trong ngành công nghiệp điện tử khu vực và thu hútđược nhiều lợi nhuận hơn

CNPTĐTTH sẽ giúp các quốc gia đang phát triển đa dạng hoá các sảnphẩm thương mại, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và liên kết chặt chẽhơn với các doanh nghiệp điện tử có vốn đầu tư nước ngoài cũng như cáccông ty đa quốc gia Cụ thể, nếu một đất nước sản xuất được những sảnphẩm như cuộn biến áp, cầu chì, phím nguồn, phím điều khiển, các chi tiếtnhựa đáp ứng đầy đủ các điều kiện về thông số kỹ thuật cũng như độ chính

Trang 20

xác, thì chắc chắn rằng, nước đó sẽ trở thành nhà đồng hành không thể thiếucho các doanh nghiệp lớn trên thế giới như Canon, Phillips, Panasonic, LG Hay nói cách khác, các quốc gia phải xây dựng, phát triển được ngànhCNPT vững mạnh CNPTĐTTH giúp doanh nghiệp trong nước trở thành đốitác tin cậy với nhà đầu tư nước ngoài, cung cấp những linh kiện, chi tiết, phụtùng cho doanh nghiệp lắp ráp lớn Họ sẽ không còn phải nhập khẩu linhkiện từ chính quê nhà với chi phí cao do phải cộng thêm những chi phí vềvận chuyển, bảo hiểm, kho vận, mà thay vào đó là hợp tác với các doanhnghiệp địa phương để được cung cấp linh kiện Các doanh nghiệp trongnước cũng vì thế mà trở thành đối tác chủ yếu của các công ty đa quốc gia,các tập đoàn lớn và tham gia vào thị trường toàn cầu

1.3 ĐIỀU KIỆN CẦN ĐỂ XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC

Phát triển CNPT là điều kiện quan trọng để sự nghiệp công nghiệp hoádiễn ra nhanh chóng, thuận tiện cũng như đòi hỏi việc hoạch định chính sáchcẩn trọng và phức tạp Đặc biệt với các nước đang phát triển, nguồn lực cònhạn hẹp, quy mô các ngành kinh tế còn nhỏ bé, thì việc giải quyết tốt mốiquan hệ giữa các ngành công nghiệp hạ nguồn với các ngành CNPT của nó,càng là vấn đề nan giải Việc phân tích các điều kiện cần để xây dựng pháttriển thành công CNPT nói chung cũng như của ngành CNPTĐTTH sẽ tạo

ra những luận cứ khoa học vững chắc để lựa chọn chiến lược phát triểnCNPT cho phù hợp

Trang 21

1.3.1 Điều kiện về dung lượng thị trường

Khả năng bảo đảm sự tương thích giữa quy mô của các ngành phụ trợ

và khu vực hạ nguồn, nghĩa là quy mô sản xuất của khu vực hạ nguồn phải

đủ lớn để tạo ra thị trường ổn định cho phát triển có hiệu quả các ngành phụtrợ Nếu khu vực hạ nguồn có quy mô nhỏ, sản xuất những sản phẩm cóchủng loại đa dạng và sản lượng không lớn, thì lượng sản xuất của cácngành phụ trợ sẽ nhỏ Do đó, giá thành chế tạo sẽ tăng cao Điều này sẽ vấpphải sự từ chối của chính khu vực hạ nguồn trong nước và gặp khó khăn khimuốn xuất khẩu sản phẩm phụ trợ ra nước ngoài

Dung lượng thị trường lớn đóng vai trò rất quan trọng đối với CNPT vìngành này đòi hỏi phải có lượng đặt hàng tối thiểu tương đối lớn thì mới cóthể tham gia vào thị trường Thực tế là CNPT là ngành đòi hỏi nhiều vốn đầu

tư bởi phải mua sắm nhiều máy móc, trang thiết bị đắt tiền CNPT, như tạokhuôn mẫu, gia công kim loại, ép nhựa đòi hỏi phải đầu tư nhiều máy mócđắt tiền và cần ít nhân công Hơn nữa, những máy móc này lại không thểchia nhỏ được (tức là không thể mua từng phần máy móc được) Một khi đãđầu tư lắp đặt hệ thống máy móc thì chi phí vốn cho nhà máy sẽ vẫn ở mộtmức cố định cho dù hệ thống này được vận hành liên tục 24 giờ một ngày và

365 ngày một năm, hay chỉ vận hành trong một khoảng thời gian nhất định

Do vậy, chi phí vốn đơn vị (tổng chi phí chia cho số sản phẩm sản xuất) sẽ

tỷ lệ nghịch với lượng sản phẩm đầu ra Ví dụ, một nhà máy sản xuất600.000 linh kiện nhựa một năm sẽ đạt được hiệu quả sản xuất, trong khimột nhà máy khác chỉ sản xuất 2.000 linh kiện nhựa một năm thì khó mà tồntại được Đây chính là lý do tại sao các nhà sản xuất linh phụ kiện đầu tưtrực tiếp nước ngoài cần đảm bảo dung lượng thị trường phải đủ lớn (hoặcdung lượng thị trường sẽ lớn trong tương lai gần) trước khi họ đầu tư vào

Trang 22

SƠ ĐỒ 1.3: GIẢM CHI PHÍ ĐƠN VỊ TRONG CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ

Nguồn: Diễn đàn phát triển Việt Nam, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của

các nhà sản xuất Nhật Bản.

Theo sơ đồ 1.3, chi phí và sản lượng trong doanh nghiệp sử dụng nhiềuvốn, cụ thể ở đây là doanh nghiệp phụ trợ, có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau.Khi sản lượng tăng, tất yếu chi phí đơn vị giảm Ngược lại, đối với doanhnghiệp sử dụng nhiều lao động, mức chi phí đơn vị là cố định cho dù có giatăng sản lượng

1.3.2 Điều kiện về khả năng bảo đảm yêu cầu về chủng loại, chất lượng

và thời hạn cung ứng các sản phẩm phụ trợ cho các ngành hạ nguồn

Theo tiêu chuẩn sản xuất của Nhật Bản, tính cạnh tranh phụ thuộc vàochất lượng, chi phí và giao hàng (QCD – Quality, Cost, Delivery) Với cácnhà sản xuất linh phụ kiện Nhật Bản, khi chất lượng đã được đảm bảo thì haiyếu tố quan trọng cần được cải thiện là chi phí và giao hàng Ngoài ra, cácnhà lắp ráp lớn còn đặt ra yêu cầu về việc giao hàng đúng giờ, tần suất giaohàng cao nhằm cải thiện chi phí lưu kho và thời gian sản xuất Họ yêu cầuviệc giao hàng sẽ phải tiến hành hàng ngày hoặc thậm chí là hàng giờ Việcgiảm thiểu được chi phí vận tải, giao hàng cũng như lưu kho, lưu bãi sẽ giúpcác doanh nghiệp nâng cao tính cạnh tranh Thông thường, yêu cầu của cácdoanh nghiệp ở khu vực hạ nguồn là khắt khe, nhằm bảo đảm những cam kết

Trang 23

1.3.3 Điều kiện về tiến bộ khoa học và công nghệ

Việc áp dụng thành tựu mới của khoa học và công nghệ trong cácngành phụ trợ ảnh hưởng có tính chất “dẫn dắt” sự phát triển khu vực hạnguồn nhờ tạo ra những chi tiết, bộ phận hoặc vật liệu mới, góp phần tạo ra

sự thay đổi căn bản trong thiết kế và chế tạo sản phẩm ở khu vực hạ nguồn.Mặt khác, việc thiết kế và chế tạo các sản phẩm mới ở khu vực hạ nguồn đặt

ra những yêu cầu cho khu vực CNPT phải nghiên cứu và chế tạo những vậtliệu, phụ liệu, bộ phận hay chi tiết sản phẩm phù hợp

Sự phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử cho phép “làmcác bên có cung và có cầu gần lại với nhau” và giảm thời gian giao dịch giữa

họ Điều đó cho phép mở rộng không gian tổ chức quan hệ giữa khu vực phụtrợ và khu vực hạ nguồn

1.3.4 Điều kiện về nguồn lực tài chính

Giải quyết quan hệ giữa khu vực CNPT và khu vực hạ nguồn cũng làgiải quyết mối quan hệ liên ngành công nghiệp Đầu tư vào các ngành phụtrợ bất lợi hơn so với đầu tư vào khu vực hạ nguồn: Suất đầu tư lớn; côngnghệ phức tạp; thời hạn đầu tư và hoàn vốn đầu tư dài; độ rủi ro trong đầu tưcao Từ đó cho thấy, việc cân đối nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triểncông nghiệp và chính sách huy động các nguồn lực ấy có vai trò hết sức tolớn trong việc bảo đảm các ngành CNPT phát triển có hiệu quả và bền vững

1.3.5 Điều kiện về các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu, ảnh hưởng của các tập đoàn xuyên quốc gia

Với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, các quan hệ liênkết kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng Việc bảo đảm quan hệ giữa khu vựcphụ trợ và khu vực hạ nguồn không thể chỉ bó hẹp trong phạm vi từng quốcgia, mà cần được thực hiện trong phạm vi khu vực và phạm vi toàn cầu

Trang 24

Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải cân nhắc thận trọng việc quyết định mức

độ đầu tư vào khu vực CNPT trong nước Khuynh hướng cần tránh là đầu tưkhép kín theo kiểu khu vực hạ nguồn cần gì thì đầu tư phát triển khu vực phụtrợ sản xuất cái đó

Trong phát triển kinh tế thế giới ngày nay, các tập đoàn xuyên quốc gia

có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế quốc tế Với nguồn lực to lớn

về tài chính, khoa học và công nghệ, các tập đoàn này có mạng lưới sản xuất

và phân phối rộng với chiến lược phát triển và thương hiệu thống nhất, các

bộ phận trong mạng lưới đó được chuyên môn hoá hợp lý nhằm khai thác lợithế ở mỗi quốc gia và mỗi khu vực, có những chi nhánh chuyên sản xuất một

số loại chi tiết, bộ phận nhất định cung cấp cho các chi nhánh khác ở phạm

vi khu vực, thậm chí toàn cầu Nếu nhìn một cách thực tế hơn, để phát triểnCNPT phải bắt đầu từ việc thu hút các nhà cung cấp linh phụ kiện trực tiếpnước ngoài đến đầu tư trong nước, sau đó nâng cao dần năng lực của các nhàcung cấp linh kiện trong nước Trong việc hoạch định chiến lược phát triểncác ngành CNPT, cần có các chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

và kết hợp hợp lý giữa sản xuất trong nước với các chi nhánh của các tậpđoàn xuyên quốc gia ấy

1.3.6 Điều kiện về cơ chế chính sách của Nhà nước liên quan đến phát triển công nghiệp phụ trợ

Sự ảnh hưởng của nhân tố này thể hiện trên hai mặt chủ yếu: Quanđiểm của Nhà nước về phát triển CNPT trong định hướng chiến lược pháttriển công nghiệp; các chính sách hỗ trợ phát triển khu vực CNPT (chínhsách “nội địa hoá”; chính sách đầu tư phát triển CNPT; chính sách thuế đánhvào khâu nhập khẩu và khâu sản xuất các sản phẩm phụ trợ; mức độ đầu tưcủa Nhà nước vào nghiên cứu khoa học và công nghệ)

Trang 25

1.4 KINH NGHIỆM XÂY DỰNG THÀNH CÔNG CÔNG NGHIỆP PHỤTRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Quan sát chung cho thấy các nước đã thực hiện nhiều biện pháp nhằmtăng cường cơ sở hạ tầng công nghiệp Trong nửa đầu thế kỷ 20, các biệnpháp phi thuế và chính sách bảo hộ, như các quy định về nội địa hoá, đượctận dụng triệt để nhằm bảo hộ nền kinh tế non trẻ Khi các quy định này bị

dỡ bỏ do áp lực của toàn cầu hoá, đầu tư nước ngoài được sử dụng như làlực lượng dẫn dắt nền kinh tế Ngoài ra, liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ

và vừa (SMEs) với các doanh nghiệp lớn, giữa doanh nghiệp trong nước vớiMNC, cũng như sự tham gia vào các mạng lưới sản xuất toàn cầu được coi

là những yếu tố quyết định cho sự phát triển công nghiệp nói chung vàCNPT nói riêng ở nhiều nước

1.4.1 Kinh nghiệm của Malaysia

Công nghiệp điện và điện tử là ngành công nghiệp quan trọng trong nềnkinh tế Malaysia, chiếm 3,5% tổng số nhân công trong cả nước, 56% kimngạch xuất khẩu và 49% kim ngạch nhập khẩu của nền kinh tế [18,15] Giaiđoạn đầu, các công ty sản xuất nước ngoài đầu tư vào Malaysia với mục đíchtận dụng chi phí sản xuất rẻ nhờ vào các chính sách cơ chế khuyến khích đầu

tư, nguồn nhân lực rẻ, các khu chế xuất và hệ thống cơ sở hạ tầng như đường

sá, hải cảng, sân bay và thông tin liên lạc Hơn nữa, hoạt động đầu tư pháttriển không ngừng trong suốt hơn 30 năm dưới nền tảng của một nền chínhtrị ổn định, minh bạch, nhất quán và khả năng giao tiếp tiếng Anh cũng nhưcác điều kiện môi trường thuận lợi, đã chuyển hoá Malaysia thành một trungtâm sản xuất công nghiệp điện tử - tin học Ở góc độ các chính phủ địaphương, họ liên tục điều chỉnh các chính sách nhằm tạo ra môi trường kinhdoanh thuận lợi nhất cho các công ty nước ngoài và cung cấp những dịch vụ

Trang 26

tư tuần hoàn thuận lợi cho việc mời gọi các dự án mới theo sau Hiện tại,Malaysia có 14 khu chế xuất, 200 khu công nghiệp mà hầu hết được xâydựng do sự quản lý và khuyến khắch của chắnh phủ địa phương [50] Cáccông ty sản xuất các sản phẩm và linh kiện cho ngành công nghiệp điện tử -tin học ở Malaysia hầu hết là các công ty của Nhật, đã thành lập các cụm sảnxuất sản phẩm linh kiện và đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu Các công ty

mà hình thành các cụm sản xuất này thường phụ thuộc lẫn nhau và thu hútđược lợi thế nhờ tập trung và chuyên môn hoá Các tập đoàn sản xuất thiết bịđiện tử viễn thông cũng rất ưa chuộng đặt địa điểm sản xuất, phát triển ởMalaysia Motorola có một trung tâm nghiên cứu và phát triển cũng nhưtrung tâm phát triển phần mềm Tập đoàn Altera cũng vận hành trung tâmnghiên cứu và phát triển về kiểu dáng công nghiệp với hơn 50 sản phẩmđược cải tiến không ngừng Một số ngành CNPT đóng góp vào sự phát triểncủa công nghiệp bán dẫn của Malaysia như sản xuất khung dây dẫn và dâyliên kết Ba nhà sản xuất dây dẫn liên kết cũng đã đặt đại bản doanh ởMalaysia là: công ty điện tử Tanaka, sản xuất dây liên kết lõi bằng vàng vànhôm Còn công ty Elektrisola với lõi đồng, điện tử Malaysia với lõi vàng.Dưới đây là một số tình hình phát triển của một vài ngành cơ bản của

CNPTĐTTH Malyasia, theo nghiên cứu Opportunities in MalaysiaỖs

Electronics Industry, xuất bản bởi Phòng công nghiệp điện, điện tử và công

nghệ thông tin vào tháng 04/2004:

Ngành sản xuất nhựa khuôn đúc: là một trong những ngành CNPT

chắnh cho khu vực điện tử, bao gồm hơn 400 công ty sản xuất các linh kiện,

bộ phận bằng nhựa và hỗ trợ lắp ráp Trong ngành CNPT này, chủ yếu là cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, rất nhiều trong số đó là công ty liên doanh vớinước ngoài, cung cấp các linh phụ kiện vỏ bọc và cơ khắ chắnh xác cho cácngành công nghiệp chắnh như điện tử dân dụng, máy tắnh, thiết bị ngoại vi,

Trang 27

thiết bị lưu trữ thông tin, dụng cụ liên lạc và thiết bị tự động văn phòng Đạidiện cho các hãng sản xuất có: HIL, Mah Sing, Eully, VS, Lee Huat, Keihin,Sanda, Tylon và Precico Ngành CNPT sản xuất nhựa khuôn đúc hứa hẹntiềm năng tăng trưởng đáng kể bởi nhu cầu ngày càng tăng từ các sản phẩm

cơ khí chính xác chất lượng cao Phía nước ngoài tham gia vào các doanhnghiệp phụ trợ theo con đường liên doanh hoặc hợp tác về mặt kỹ thuật ngàycàng được thúc đẩy [38,11]

Kim loại dập khuôn và cơ khí chính xác:

- Công nghiệp kim loại dập khuôn là một ngành rất lâu đời ở Malaysia,đáp ứng nhu cầu về các linh kiện, bộ phận của các ngành công nghiệp nhưđiện tử, ô tô và ngành chế tạo máy

Với hơn 350 công ty hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực kim loại đúckhuôn, chủ yếu là phục vụ cho ngành điện tử (khoảng 80%) với các công ty:

CS, Wong, Kein Hing, NJ, Kris [23,12]

- Đối với ngành bộ phận cơ khí chính xác, có trên 50 công ty chuyêncung cấp các dịch vụ về cơ khí chính xác cho các thiết bị như những chi tiết

cố định, khuôn, trục, chân cắm, hộp ổ với các đại gia trong ngành nhưUPECA, Eng Teknologi, Kenseisha và Syntum Bên cạnh đó, có khoảng hơn

100 doanh nghiệp nhỏ cung cấp rất nhiều các dịch vụ cho máy móc như sửachữa và bảo trì [38,12]

CN chế tạo khuôn dập, khuôn đúc: Trong ngành này có khoảng 250

nhà sản xuất, chiếm khoảng 40% trong số những ngành CNPT cho ngànhđiện tử Các công ty nước ngoài đến từ Nhật, Đức, Đài Loan và Singapore

đã đóng một vài trò chính trong việc đưa công nghệ tiên tiến vào khu vựcnày Giờ đây ngành chế tạo khuôn có thể đáp ứng những nhu cầu phức tạpnhất về khuôn cho các sản phẩm điện tử cao cấp Các công ty hàng đầu hiện

Trang 28

có mặt tại Malaysia như Dainichi, D-R, Keihin, Fico Asia, Meiki,A.F.O.S.S, Topla, Janway, Likon, Dufu Các công ty chế tạo khuôn củaMalaysia có Polytool, Eng Teknologi và LKT cũng đã bắt đầu sản xuất phục

vụ nhu cầu khuôn cho các công ty đa quốc gia về cấu kiện bán dẫn, pháttriển trở thành những công ty có năng lực hàng đầu trong việc đáp ứngnhững nhu cầu đa dạng của các nhà sản xuất thiết bị và bộ phận điện tử[38,13]

Bên cạnh đó, Trung tâm Phát triển kỹ năng Penang (PSDC) là ví dụđiển hình về hợp tác công – tư trong phát triển nguồn nhân lực phục vụCNPT ở Malaysia Đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI, Chính phủMalaysia đã thành lập PSDC vào năm 1989 Tỉnh Penang trở thành trungtâm công nghiệp điện, điện tử từ những năm 1970 khi tiếp nhận luồng FDIlớn, nhưng đến nửa cuối những năm 1980 các doanh nghiệp FDI ở đó phảiđối mặt với vấn đề thiếu hụt lao động có kỹ năng và lâm vào khó khăn khilương tăng vọt Các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các nhà sản xuất Hoa Kỳ

đã đề xuất với chính phủ xây dựng một trung tâm phát triển nguồn nhân lực

Cả chính quyền địa phương và Trung ương đều ủng hộ đề xuất này bằngviệc thành lập PSDC Điểm đáng lưu ý của PSDC là hệ thống quản lý củatrung tâm Các thành viên chính của ban điều hành đều là đại diện của cácdoanh nghiệp FDI và trong nước, và các cơ quan Chính phủ chỉ đóng vai trò

hỗ trợ cho ban điều hành Nhờ vậy, trung tâm có thể điều chỉnh giáo trìnhcho phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp, và tận dụng nguồn nhân lực củacác doanh nghiệp làm giảng viên Họ là những người có khả năng chuyểngiao công nghệ mới nhất và kiến thức thực tế cho các học viên

Trang 29

1.4.2 Kinh nghiệm của Đài Loan

Đài Loan là một nước công nghiệp mới, tiếp thu công nghệ từ nướcngoài và đạt được cạnh tranh quốc tế trong CNĐT nhờ vào quy định về nộiđịa hoá Đài Loan giới thiệu quy định về hàm lượng nội địa (Local ContentRegulations – LCR) vào những năm 1960 đối với hầu hết các sản phẩmtrong ngành ô tô, điện và điện tử Quy định LCR được dỡ bỏ dần dần từ năm

1975 đến 1986 khi mà các cam kết về tự do hoá thương mại được thực hiệnđầy đủ LCR đã thực sự hữu hiệu trong việc thúc ép các nhà sản xuất nướcngoài đang chiếm độc quyền trong thị trường nội địa, phải chuyển giao côngnghệ sản xuất linh phụ kiện cho các đối tác liên doanh trong nước hoặc chocác nhà cung cấp linh phụ kiện trong nước [27,41]

Một biện pháp nữa để thúc đẩy sự phát triển của CNPT Đài Loan là vềthúc đẩy liên kết công nghiệp Biện pháp này đã tỏ ra rất có hiệu quả ĐàiLoan phát triển liên kết giữa các nhà thầu phụ mà chủ yếu là các SMEs vớicác doanh nghiệp lớn Thực tế, chính phủ Đài Loan không can thiệp sâu vàocác công ty lớn và nhà thầu phụ, nhưng đóng vai trò chất xúc tác thông qua

hỗ trợ tài chính Hệ thống hạt nhân – vệ tinh được triển khai năm 1984, gồm

3 mối liên kết: (i) nhà cung cấp linh phụ kiện và nhà lắp ráp, (ii) người sửdụng hạ nguồn và nhà cung cấp nguyên liệu chính, và (iii) nhà thầu phụ vàthương gia [27, 44] Chính phủ trợ giúp các liên kết này thông qua hỗ trợ kỹthuật, tư vấn quản lý và hỗ trợ tài chính Các doanh nghiệp hạt nhân có tráchnhiệm phối hợp, giám sát và cải tiến hoạt động các doanh nghiệp vệ tinh củamình Các doanh nghiệp hạt nhân tham gia hệ thống này vì được trợ cấp tàichính, còn các doanh nghiệp vệ tinh tham gia vì muốn nâng cao hiệu quả sảnxuất Hệ thống này góp phần chia sẻ thông tin và tạo ra cơ chế để hính phủthực thi các chính sách của mình

Trang 30

Như vậy, thuật ngữ CNPT đã phát triển ít nhất qua hai thập kỷ nhưng

về bản chất, thuật ngữ này không quá khác biệt so với các thuật ngữ liênquan được sử dụng cách đây đã lâu, như thầu phụ, công nghiệp linh phụkiện, công nghiệp phụ thuộc Cả công nghiệp hỗ trợ và các khái niệm liênquan đều được dùng để nhấn mạnh tầm quan trọng của các ngành côngnghiệp sản xuất đầu vào cho các sản phẩm cuối cùng Đây là một thuật ngữđịnh hướng chính sách, vì thế các nhà hoạch định chính sách của mỗi nướccần phải tự đưa ra một định nghĩa riêng cho phù hợp với các điều kiện kinh

tế, xã hội của đất nước mình và phù hợp với các mục tiêu cần hướng tới củachiến lược công nghiêp

Phát triển CNPT nói chung đem lại nhiều lợi ích cho mỗi quốc gianhư: thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo thêm công ăn việc làm, phát triểncông nghiệp theo chiều sâu, giảm nhập khẩu, tăng giá trị xuất khẩu các linh,phụ kiện Phát triển CNPTĐTTH nói riêng còn giúp CNĐT gia tăng tỷ lệnội địa hoá, tăng sức cạnh tranh và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Chính vì vậy, xây dựng được những ngành CNPT vững mạnh là nhiệm

vụ trọng tâm của các nước đang phát triển cũng như các quốc gia Đông Á.Trên thế giới đã có rất nhiều quốc gia xây dựng thành công CNPT như NhậtBản, Hàn Quốc, Trung Quốc hay Malaysia, Thái Lan, Đài Loan trongCNPTĐTTH bởi các chính sách như thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào khuvực CNPT, thúc đẩy liên kết công nghiệp hay tham gia vào các mạng lướisản xuất toàn cầu Học hỏi những kinh nghiệm từ các bạn bè trên thế giớinhư mô hình Trung tâm phát triển kỹ năng Penang PSDC (Malaysia) haythành lập ban phát triển liên kết công nghiệp BUILD và chương trình pháttriển nhà cung cấp quốc gia NSDP (Thái Lan), chắc chắn Việt Nam sẽ xâydựng thành công CNPT với sự phối hợp giữa chính phủ và các doanh nghiệp

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ ĐIỆN TỬ - TIN HỌC CỦA VIỆT NAM

TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬVIỆT NAM

2.1.1 Sự phát triển của công nghiệp điện tử thế giới

Qua hơn một thế kỷ phát triển, ngành công nghiệp điện tử (CNĐT) đã

có những bước tiến vượt bậc, làm thay đổi bộ mặt của đời sống con người.Trong thời gian tới, chắc chắn ngành công nghệ cao này vẫn tiếp tục cónhững tăng trưởng vượt bậc, với những sản phẩm được cải tiến khôngngừng, tính năng vượt trội, tạo ra những giá trị gia tăng cho cuộc sống

BIỂU ĐỒ 2.1: PHẦN TRĂM GIÁ TRỊ SẢN XUẤT

Nguồn: Sebastien Rospide, (10/2007), The European electronic industries: outlook and

perspectives 2006-2011, Munich.

Trang 32

Theo biểu đồ 2.1, điện tử - viễn thông là ngành có giá trị sản xuất lớnnhất, chiếm 71,1% về giá trị tương đối Về giá trị tuyệt đối, thiết bị gia dụng

có giá trị 75 tỷ Euro, viễn thông 308 tỷ Euro, xử lý dữ liệu 286 tỷ Euro vàthiết bị nghe nhìn 183 là tỷ Euro

2.1.1.2 Cơ cấu sản xuất

Ngày nay, các nước công nghiệp điện tử phát triển như Nhật Bản, ĐàiLoan, Hàn Quốc đang có sự điều chỉnh về cơ cấu sản xuất Họ tập trung vàosản xuất các sản phẩm công nghệ cao như máy tính, thiết bị viễn thông, nghenhìn kỹ thuật số, dụng cụ bán dẫn, thiết bị y tế, đo lường và tự động hoá

BIỂU ĐỒ 2.2: BIỂU ĐỒ TĂNG TRƯỞNG MỘT SỐ NGÀNH GIAI ĐOẠN

2006 - 2011

Nguồn: Sebastien Rospide, (10/2007), The European electronic industries: outlook and

perspectives 2006-2011, Munich, tr.13.

Theo biểu đồ 2.2, khu vực công nghiệp có mức tăng trưởng nhanh nhất

là dược phẩm, với tốc độ 8%, sau đó là hàng không (7%) và hai ngành ở vịtrí sát nút với 6% là ô tô và xử lý dữ liệu Trong số những ngành thuộc côngnghiệp điện tử, xử lý dữ liệu có tốc độ tăng trưởng cao nhất (6%) so với

Trang 33

ngành điện (5%) và điện tử dân dụng (4%) Qua đó cho thấy xu thế chuyểndần sang sản xuất các mặt hàng cao cấp, hàm lượng kỹ thuật cao của điện tửthế giới.

Cụ thể thị trường thiết bị xử lý số liệu dự báo sẽ tăng trưởng khoảng8,5%, thiết bị viễn thông 11%, thiết bị điện tử chuyên dùng 8%, trong khisản phẩm điện tử tiêu dùng chỉ tăng 5% Thiết bị điện tử y tế cũng đangđược chú ý ở thị trường nhiều nước Cùng với sự tiến bộ của y học, thiết bịđiện tử y tế ngày càng có vị trí tương xứng trên thị trường điện tử thế giới[53]

2.1.1.3 Thị trường sản xuất

Các thị trường sản xuất thiết bị điện tử chủ yếu trên thế giới bao gồm:châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Mỹ: Hoa Kỳ, Canada, Mexico và Trung Quốc(bao gồm cả Hồng Kông), Nhật, Singapore, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan,

Ấn Độ, Australia, New Zealand, Nga, Brazil

Hiện nay, vùng Đông Á đang trở thành cứ điểm sản xuất lớn nhất thếgiới với nhiều loại hàng đồ điện, điện tử gia dụng, được mệnh danh là vòngcung điện tử Đông Á Các nước trong khu vực này, năm 2003 sản xuất 82%sản lượng thế giới về máy điều hoà không khí, 55% về máy giặt, 52% về tủlạnh, 56% về máy hút bụi; năm 2004 sản xuất 105 triệu chiếc tivi màu (70%sản lượng thế giới), 93 triệu chiếc máy thu và phát hình (90%) [26] Khoảng

25 năm trở về trước, tại vùng Đông Á, các mặt hàng này hầu hết chỉ sản xuấttại Nhật nhưng sau đó cứ điểm sản xuất chuyển nhanh sang Hàn Quốc, ĐàiLoan, rồi sang các nước ASEAN, chủ yếu là Malaysia và Thái Lan, rồi đếnTrung Quốc Hiện nay, Nhật Bản chỉ sản xuất các loại cao cấp, còn lại thìnhập khẩu từ các cứ điểm sản xuất của doanh nghiệp Nhật hoạt động tạiASEAN và Trung Quốc

Trang 34

BIỂU ĐỒ 2.3: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT ĐIỆN TỬ CỦA MỘT SỐ KHU VỰC

là 253 và 241 tỷ Euro

2.1.2 Sự phát triển của công nghiệp điện tử Việt Nam

Để có thể thấy rõ tình hình phát triển của CNĐT Việt Nam, tác giả xintập trung phân tích theo 4 khía cạnh chính sau:

- Giá trị sản xuất

- Dung lượng thị trường

- Quy mô và trình độ công nghệ

- Khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài

2.1.2.1 Giá trị sản xuất

Nếu như đầu thập niên 70 – 80 của thế kỷ 20, giá trị sản xuất của ngànhCNĐT Việt Nam vẫn còn nhỏ lẻ và chưa có đóng góp đáng kể cho nền kinh

Trang 35

tế quốc dân thì từ năm 1990 trở lại đây, ngành điện tử đã có những bước tiếnđáng kể

Theo số liệu của Hiệp hội Điện tử Việt Nam, thì tốc độ tăng trưởng giaiđoạn 1995 – 2006 của ngành này là 23%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăngtrưởng bình quân của giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp (15%) [44] Cụthể:

BẢNG 2.1: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ SO VỚI

TOÀN NGÀNH CÔNG NGHIỆP

261092, 4

305080, 4

355624, 1

416562, 8

487492 1

Trang 36

BIỂU ĐỒ 2.4: SỐ LƯỢNG TIVI LẮP RẮP

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Nhìn biểu đồ, có thể thấy rằng số tivi mà Việt Nam lắp ráp giảm dầntrong giai đoạn 2004 – 2007 Chỉ có năm 2008 là tăng cao với 2633,3 nghìnchiếc, cũng là năm có sản lượng cao nhất giai đoạn 2004 – 2008

BIỂU ĐỒ 2.5: SỐ LƯỢNG MỘT SỐ SẢN PHẨM ĐIỆN TỬ

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Nhìn biểu đồ, trong ba sản phẩm điện tử chính của Việt Nam là máygiặt, tủ lạnh, điều hoà nhiệt độ thì sản phẩm tủ lạnh, tủ đá chiếm tỷ trọng caonhất, tiếp đến là máy giặt và điều hoà nhiệt độ Số lượng máy giặt gia tăngtrong khi đó điều hoà nhiệt độ giảm trong 2 năm 2007 – 2008 Hơn nữa,

Trang 37

của ngành CNĐT Việt Nam mà chỉ có tivi bởi vì Việt Nam hầu như chưasản xuất được các sản phẩm cao cấp, giá trị cao Ngay cả tivi, người tiêudùng muốn mua loại màn hình lớn, màn hình plasma, trinitron đều phảitrông chờ vào nguồn nhập khẩu Đến nay sự xuất hiện thêm của những sảnphẩm điện tử cao cấp này đã đánh dấu sự phát triển của ngành điện tử ViệtNam.

Chiếm thị phần lớn hiện nay là các thương hiệu nổi tiếng của nướcngoài như Sony, JVC, Panasonic, Canon (Nhật); tới Samsung, LG (HànQuốc) và gần đây là TCL (Trung Quốc) Kết quả điều tra hàng Việt Namchất lượng cao năm 2004 cho thấy, top 5 về thị phần hàng điện tử luôn thuộc

về các công ty có vốn nước ngoài; trừ các mặt hàng loa, đầu karaoke vi tính,đầu đĩa hình là thuộc về các công ty trong nước như Tiến Đạt, ViettronicsTân Bình

Có thể thấy rằng các doanh nghiệp vốn trong nước đang thua ngay tạisân nhà Nếu không có sự quan tâm thích đáng cũng như nỗ lực của cácdoanh nghiệp này thì tình trạng trên sẽ vẫn còn tiếp diễn

2.1.2.2 Dung lượng thị trường

Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới, CNĐT đã trở thành mộttrong các ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế định hướng xuấtkhẩu ngoài ra còn đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước, góp phần thúc đẩyquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Theo định hướng chiếnlược phát triển các sản phẩm của ngành công nghiệp thì mặt hàng điện tử vàlinh kiện máy tính được xếp vào nhóm trọng tâm ưu tiên phát triển trong giaiđoạn 2006 - 2010

Trang 38

a Thị trường nội địa

Ngành CNĐT Việt Nam đã có những tăng trưởng đáng kể Từ nhữnglắp ráp đơn giản, chúng ta đã phát triển từng bước và bước đầu sản xuất phụtùng linh kiện xuất khẩu cũng như nghiên cứu thiết kế được một số sảnphẩm được bạn hàng quốc tế tin dùng Về cơ bản, các sản phẩm điện tử vàcông nghệ đã thỏa mãn được nhu cầu của thị trường nội địa và phát triểnxuất khẩu, doanh số thị trường nội địa đạt 1,6 tỷ USD năm 2005 và đạt 2 tỷnăm 2006, 2,2 năm 2007 và 3,5 tỷ năm 2008 [44]

Thị trường tiêu thụ hàng công nghệ điện tử Việt Nam vẫn còn hứa hẹnnhiều tiềm năng phát triển Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong nước phảikhông ngừng đổi mới dây chuyền, cải tiến sản phẩm, nâng cao giá trị giatăng cho sản phẩm để thị phần đầy tiềm năng này không rơi vào tay nướcngoài

b Thị trường xuất khẩu

Giá trị xuất khẩu linh kiện, máy tính của Việt Nam không ngừng tăngqua các năm và đã đạt được những thành tựu đáng kể, trở thành một trongnhững mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, với giá trị vượt trên 1 tỷ USD

BIỂU ĐỒ 2.6: GIÁ TRỊ XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG ĐIỆN TỬ

Trang 39

Nhìn biểu đồ ta có thể thấy giá trị xuất khẩu hàng điện tử, máy tính củaViệt Nam tăng qua các năm từ 2004 – 2008 Với hàm lượng xuất khẩu nhưvậy, thiết bị điện tử và linh kiện điện tử đã vươn lên hàng thứ 6 trong sốnhững sản phẩm xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam Tuy nhiên giá trị hàngnhập khẩu bao giờ cũng cao hơn xuất khẩu và sự chênh lệch ngày càng đượcnới rộng

Hiện nay ta đã xuất khẩu mặt hàng điện tử sang 35 quốc gia [44], chủyếu sang các nước ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ, Trung Quốc vàEU

BIỂU ĐỒ 2.7: MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHÍNH HÀNG ĐIỆN

TỬ VIỆT NAM NĂM 2008

Nguồn: Trung tâm thông tin thương mại – Bộ Công Thương

Biểu đồ 2.7 cho thấy thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam năm

2008 về linh kiện điện tử, máy tính là EU (tiêu biểu là các quốc gia như HàLan, Phần Lan, Thuỵ Sĩ ), tiếp đến là Thái Lan

Trang 40

2.1.2.3 Trình độ công nghệ và nguồn nhân lực

Trước những tín hiệu đáng mừng về tốc độ tăng trưởng, tổng sản lượngCNĐT cũng như trị giá xuất khẩu, chúng ta phần nào có thể lạc quan vềtương lai của ngành công nghiệp này Nhưng thực tế đáng buồn là vẫn còntồn tại nhiều bất cập trong sự phát triển của ngành điện tử Việt Nam, trướchết phải kể đến hàm lượng giá trị gia tăng trong các sản phẩm điện tử cònthấp, chủ yếu vẫn là nhập khẩu linh kiện về lắp ráp trong nước

Trong các giai đoạn phát triển CNĐT, Việt Nam hiện nay mới chỉ ởcuối giai đoạn 1 (lắp ráp sản phẩm từ phụ kiện nhập khẩu), đầu giai đoạn 2(đầu tư sản xuất linh kiện phụ tùng, phát triển công nghiệp phụ trợ) [26].Trong khi đó, không phải so sánh đâu xa, chỉ với các nước ASEAN 5 (gồmSingapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillipines), đã thấy trình độ khoahọc kỹ thuật của điện tử Việt Nam hãy còn thua xa Các nước này đã pháttriển ở giai đoạn 3 (nghiên cứu thiết kế sản phẩm, đầu tư công nghệ cao đẩymạnh xuất khẩu) [26]

Mặc dù có thâm niên về khâu lắp ráp thì công nghệ lắp ráp của ViệtNam vẫn chủ yếu là công nghệ phổ thông bằng tay (công nghệ bán tự động,công nghệ xuyên lỗ ) Chỉ có một số ít các doanh nghiệp đưa vào sử dụngcác máy cắm tự động và áp dụng công nghệ dán bề mặt SMT (surfacemounting technology), trong khi những công nghệ này đã trở nên quen thuộcvới một số nước trong khu vực Việc lắp ráp các sản phẩm điện tử, điện lạnh,phần lớn cũng do doanh nghiệp FDI đảm nhận như Sony, Panasonic,Toshiba, Samsung, JVC, cùng một số doanh nghiệp Việt Nam như VTB(Viettronics Tân Bình) Belco (Viettronics Biên Hòa), Tiến Đạt Còn cácdoanh nghiệp tư nhân chủ yếu đảm nhận dịch vụ bảo hành, sửa chữa

Ngày đăng: 21/12/2014, 19:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Nguyễn Thị Thanh Bình, (2008), Luận văn thạc sỹ kinh tế: Một số giải pháp tài chính hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Thanh Bình, (2008), Luận văn thạc sỹ kinh tế: "Một sốgiải pháp tài chính hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệpnhỏ và vừa
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Năm: 2008
11.Diễn đàn phát triển Việt Nam, Xây dựng năng lực công nghệ nội sinh: Vai trò của Chính phủ trong xây dựng công nghiệp phụ trợ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn đàn phát triển Việt Nam
13.Diễn đàn phát triển Việt Nam, (2007), Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn đàn phát triển Việt Nam, (2007)
Tác giả: Diễn đàn phát triển Việt Nam
Năm: 2007
14.Đỗ Mạnh Hồng, (31/05/2005), Tìm chỗ đứng cho công nghiệp Việt Nam trong mạng lưới phân công lao động quốc tế: Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp để hội nhập và phát triển, tr.22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Mạnh Hồng, (31/05/2005)
16.Hoàng Thị Hoan, (2004), Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Thị Hoan, (2004)", Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngànhcông nghiệp điện tử Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốctế
Tác giả: Hoàng Thị Hoan
Năm: 2004
17.Kyoshiro Ichikawa, (2004), Xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kyoshiro Ichikawa, (2004)
Tác giả: Kyoshiro Ichikawa
Năm: 2004
18.Hisami Mitarai, (08/2005), Các vấn đề trong ngành công nghiệp điện và điện tử của các nước ASEAN và bài học rút ra cho Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hisami Mitarai, (08/2005)
19.Junichi Mori, (08/2006), Thiết kế và quản lý cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Junichi Mori, (08/2006)
20.Junichi Mori, Nguyễn Thị Xuân Thuý, (2007), Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp phục vụ quá trình công nghiệp hoá định hướng FDI ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Junichi Mori, Nguyễn Thị Xuân Thuý, (2007)
Tác giả: Junichi Mori, Nguyễn Thị Xuân Thuý
Năm: 2007
22.Kenichi Ohono, (12/11/2004), Đổi mới chính sách công nghiệp, tr.11 23.Kenichi Ohno, (09/2008), Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: Từ quyhoạch đến Kế hoạch hành động thông qua quan hệ đối tác monozukuri Việt Nam – Nhật Bản, Diễn đàn phát triển Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kenichi Ohono, (12/11/2004), "Đổi mới chính sách công nghiệp", tr.11"23."Kenichi Ohno, (09/2008)", Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: Từ quy"hoạch đến Kế hoạch hành động thông qua quan hệ đối tácmonozukuri Việt Nam – Nhật Bản
24.Trần Văn Thọ, (09/05/2002), “Công nghiệp hoá Việt Nam trong bối cảnh mới của khu vực”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Thọ, (09/05/2002), “Công nghiệp hoá Việt Nam trong bốicảnh mới của khu vực
25. Trần Văn Thọ, (2003), “Mũi đột phá chiến lược cho công nghiệp hoá trong giai đoạn tới”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Thọ, (2003), “Mũi đột phá chiến lược cho công nghiệp hoátrong giai đoạn tới
Tác giả: Trần Văn Thọ
Năm: 2003
26.Trần Văn Thọ, (2005), Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Thọ, (2005), "Biến động kinh tế Đông Á và con đường côngnghiệp hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Thọ
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2005
27.Nguyễn Thị Xuân Thuý, (2006), Công nghiệp hỗ trợ: Tổng quan về khái niệm và sự phát triển, Diễn đàn phát triển Việt Nam (Vietnam Development Forum – VDF) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Xuân Thuý, (2006), "Công nghiệp hỗ trợ: Tổng quan vềkhái niệm và sự phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Thuý
Năm: 2006
28.Trần Hữu Thắng, (2006), “Malaysia phát triển ngành công nghiệp điện tử như thế nào”, Tri thức và phát triển số 30/2006, tr.23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Hữu Thắng, (2006), “Malaysia phát triển ngành công nghiệpđiện tử như thế nào
Tác giả: Trần Hữu Thắng
Năm: 2006
29.Viện nghiên cứu Nomura, (2002), Báo cáo về việc thành lập trung tâm trợ giúp kỹ thuật cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam, tr.4.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện nghiên cứu Nomura, (2002)", Báo cáo về việc thành lập trungtâm trợ giúp kỹ thuật cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của ViệtNam
Tác giả: Viện nghiên cứu Nomura
Năm: 2002
30.Gabriel Coron, (05/10/2007), Major Trends in Electronics production in the world, WEF Tel Aviv Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gabriel Coron, (05/10/2007)," Major Trends in Electronics productionin the world
31.DECISION, (2007), The World Electronic Industries 2006 – 2011:Executive Sumary Sách, tạp chí
Tiêu đề: DECISION, (2007), "The World Electronic Industries 2006 – 2011
Tác giả: DECISION
Năm: 2007
32.DECISION, (2009), The World Electronic Industries Report 2008 – 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: DECISION, (2009)
Tác giả: DECISION
Năm: 2009
33.Pham Truong Hoang, (21/05/2008), SMEs in Thailand and Indonesia: Development, Policies and Experiences, Vietnam Development Forum Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pham Truong Hoang, (21/05/2008)", SMEs in Thailand andIndonesia: Development, Policies and Experiences

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ 1.1: CÁC PHẠM VI CỦA CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ - phát triển ngành công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở việt nam
SƠ ĐỒ 1.1 CÁC PHẠM VI CỦA CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ (Trang 11)
SƠ ĐỒ 1.2: MÔ HÌNH   TAM GIÁC CỦA CNPT - phát triển ngành công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở việt nam
SƠ ĐỒ 1.2 MÔ HÌNH TAM GIÁC CỦA CNPT (Trang 13)
SƠ ĐỒ 1.3: GIẢM CHI PHÍ ĐƠN VỊ TRONG CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ - phát triển ngành công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở việt nam
SƠ ĐỒ 1.3 GIẢM CHI PHÍ ĐƠN VỊ TRONG CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ (Trang 23)
BẢNG 2.1: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ SO VỚI TOÀN NGÀNH CÔNG NGHIỆP - phát triển ngành công nghiệp phụ trợ điện tử - tin học trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở việt nam
BẢNG 2.1 GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ SO VỚI TOÀN NGÀNH CÔNG NGHIỆP (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w