Là một giáo viên dạy văn, đã hết sức coi trọng việc sửa lỗi chính tả cho học sinh và bước đầu thấy được kết quả khả quan, ý thức được điều đó tôi đã mạnh dạn áp dụng việc vừa dạy kiến th
Trang 1KINH NGHIỆM SỬA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH
TRONG GIẢNG DẠY NGỮ VĂN 8
I PHẦN MỞ ĐẦU I.1 Lý do chọn đề tài:
I.1.1 Cơ sở lý luận :
Học sinh học chữ và rèn luyện viết chính tả ngay từ khi học lớp 1 Trong suốt thời gian học Tiểu học, công việc này diễn ra đều đặn và thường xuyên trong chơng trình Đến lớp 8 thì việc rèn luyện chính tả dừng lại để học các môn văn hoá Trong chương trình Văn – Tiếng Việt bậc trung học
cơ sở không đề cập đến việc rèn chính tả cho học sinh nữa Điều đó cũng phù hợp với đặc điểm chương trình giáo dục Bởi việc viết chính tả chỉ tồn tại ở Tiểu học, lên bậc trung học cơ sở học sinh đã thành thạo chính tả từng con chữ Song, việc dừng hẵn không đề cập đến chính tả ở bậc học sau đã làm cho một số đông học sinh tuỳ tiện khi viết chữ
Năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra việc luyện chính tả vào Trung học cơ sở do bộ môn Ngữ Văn đảm nhiệm Điều này là một việc làm hết sức cần thiết và phù hợp với thực tế học sinh của chúng ta hiện nay
Việc viết sai chính tả còn tồn tại ở số đông học sinh, kể cả bậc trung học phổ thông Qua thực tế giảng dạy và chấm sửa chữa bài cho học sinh, tôi nhận thấy rằng tình trạng viết sai chính tả rất nhiều Các em học yếu, kém viết sai chính tả là một lẽ, ngay cả các em học sinh khá, thậm chí cả học sinh giỏi cũng viết sai chính tả Khi hỏi các em tại sao thì bản thân các em đó không lý giải được hoặc có chăng thì cho là quen tay Bởi vì bản thân các
em không hiểu được là sai hay đúng Việc viết sai chính tả của học sinh hiện
Trang 2nay chúng ta có thể bắt gặp bất cứ ở văn bản nào, bất cứ ở môn học gì dù đó
là môn xã hội hay môn tự nhiên Đây là một thực trạng chung của nhiều
trường trung học cơ sở I.1.2 Cơ sở thực tiễn :
Chữ viết là hệ thống ký hiệu đồ hoạ đã được sử dụng để cố định hoá ngôn ngữ âm thanh Chức năng của chữ viết là đại diện cho lời nói So với lời nói thì chữ viết xuất hiện sau Vì vậy, chữ viết phải phụ thuộc vào lời nói Khi chữ viết và lời nói không có sự phù hợp nữa thì phải cải tiến chữ viết
Chữ quốc ngữ (Tiếng Việt) là hệ thống chữ viết ghi âm Trong đó chính tả là sự chuẩn hoá hình thức của ngôn ngữ tiếng Việt Đó là một hệ thống các quy tắc về cách viết các âm vị, âm tiết, từ, cách dùng các dấu câu, lối viết hoa Từ đó, chính tả có vai trò rất lớn trong việc thể hiện thông tin của chữ viết Viết đúng chính tả sẽ làm cho việc truyền tin một cách chính xác đến người nhận, người nghe Ngược lại, trong một số trờng hợp sai chính tả sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu trái ngược thông tin định chuyển tải, có khi dẫn đến sự hiểu lầm tai hại
Trong nhà trường, vai trò của chính tả rất quan trọng Một văn bản viết đúng chính tả thể hiện một nhận thức đúng đắn về tiếng Việt Viết đúng chính tả cũng là một phần góp cho sự trong sáng của tiếng Việt
Cụ thể ở trường PTDT Bán trú THCS Nà Nhạn , nơi tôi đang công tác, 100% học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, việc đi học đã là
một cố gắng vô cùng to lớn của bản thân các em Còn việc học thì thật sự là gian nan, vất vả, đặc biệt việc các em mắc lỗi chính tả là nỗi băn khoăn, trăn trở của nhiều thầy cô giáo
Trang 3Là một giáo viên dạy văn, đã hết sức coi trọng việc sửa lỗi chính tả cho học sinh và bước đầu thấy được kết quả khả quan, ý thức được điều đó tôi đã mạnh dạn áp dụng việc vừa dạy kiến thức văn học vừa kết hợp việc rèn chữ cho học sinh qua từng bài dạy, tiết dạy, thông qua việc chấm, chữa bài cho các em học sinh Tất cả những gì tôi đã thể hiện là để chuẩn chính tả cho các em học sinh trong trường trung học cơ sở
I.2 Mục đích nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, đề tài sẽ chỉ rõ những loại chính tả cơ bản mà học sinh thường mắc phải Đồng thời chỉ ra những nguyên nhân mắc lỗi và những biện pháp khắc phục
I.3 Thời gian - địa điểm:
I.3.1 Thời gian: Năm học 2011 - 2012
I.3.2.Địa điểm: Trường PTDT Bán trú THCS Nà Nhạn
I.3.3 Phạm vi đề tài: Chương trình học tập của học sinh THCS (cụ thể là môn Ngữ Văn 8)
I.3.3.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu:
Lỗi chính tả phụ âm đầu, lỗi viết hoa,
I.3.3.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:
Khối 8 - Trường PTDT Bán trú THCS Nà Nhạn
I.3.3.3 Giới hạn về khách thể khảo sát: Học sinh khối 8
*Kết luận: Kinh nghiệm này là một nghiên cứu giúp ích cho quá trình
dạy và học của giáo viên và học sinh Việc xác định rõ lý do đưa ra sẽ giúp nhận định đúng mục đich khi nghiên cứu Khi hiểu đúng và sâu sắc, đồng thời xác định rõ các đối tượng cùng khách thể tham gia vấn đề nghiên cứu
Trang 4và thực hiện Từ đó giáo viên có thể đề xuất các phương pháp, cách thức sửa chữa lỗi của học sinh cho phù hợp
II PHẦN NỘI DUNG
II.1.Chương 1: Tổng quan :
Kinh nghiệm sửa lỗi chính tả cho học sinh trong giảng dạy ngữ văn 7 II.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1 Đặc điểm đầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối của nó Đặc điểm này đòi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả Chữ viết có thể cho hợp lý, nhưng khi đã được thừa nhận thì người cầm bút không được tự ý viết khác đi Ai cũng biết rằng viết “ghế”,
“ghen” không hợp lý và tiết kiệm bằng “gế”, “gen” nhưng chỉ có cách viết thứ nhất mới được coi là đúng chính tả
Vì vậy, khi nói đến chuẩn chính tả là nói đến tính chất pháp lệnh Trong chính tả không có sự phân biệt hợp lý hay không hợp lý, hay - dở mà chỉ có phân biệt đúng - sai , Đối với chính tả, yêu cầu cao nhất là cách viết thống nhất, thống nhất trong mọi văn bản mọi địa phương
2 Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối, cho nên
nó ít bị thay đổi như các chuẩn mực khác của ngôn ngữ Nói cách khác, chuẩn chính tả có tính chất ổn định, tính chất cố hữu khá rõ
II.1.2 Cơ sở lí luận : Một số quy định về chuẩn chính tả: (Theo UB khoa
học xã hội và Bộ Giáo dục)
1 Thống nhất viết nguyên âm:
(Âm chính) / i / bằng chữ cái i Ví dụ: Lí luận, kĩ thuật, thẩm mĩ …v.v
Trang 5- Khi cần phân biệt “uy” với “ui” nh “tuý” với “túi” thì vần “uy” vẫn viết như cũ Hoặc uy trong quy luật, quy tắc
+ i hoặc y đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết vẫn viết theo thói quen cũ
Ví dụ: ý kiến, ỉ ụi …v.v
2 Khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức chính tả mà chỉ xác định được một chuẩn mực duy nhất thì chấp nhận cả hai hình thức ấy:
Ví dụ : eo sèo / eo xèo ; sứ mạng / sứ mệnh v.v
3 Về cách viết hoa tên riêng tiếng Việt:
a Tên người và tên nơi chốn :
Viết hoa tất cả các chữ cái đầu của từ mà không dùng gạch nối :
Ví dụ: Trần Quốc Toản; Bình trị Thiên …v.v
b Tên tổ chức, cơ quan :
Viết hoa chữ cái đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên :
Ví dụ : Đảng cộng sản Việt Nam; Trường Đại học Bách khoa v.v
4 Về cách viết tên riêng không phải tiếng Việt:
a Nếu chữ nguyên ngữ dùng chữ cái Latin thì giữ nguyên chữ viết như nguyên ngữ
Ví dụ : Paris
b Nếu chữ nguyên ngữ dùng một hệ thống chữ cái khác thì áp dụng lối chuyển từ chính thức sang chữ Latin
Ví dụ : Lomonoxov, Moskow
Trang 6c Nếu chữ viết nguyên ngữ không phải là chữ ghi âm bằng chữ cái (ghi từng âm hoặc dùng cách phiên âm chính thức bằng chữ cái Latin)
Ví dụ : Tokyo
d Những tên riêng đã có hình thức quen thuộc thì nói chung không cần thay đổi
Ví dụ : Pháp; Anh; Hi lạp; Lỗ Tấn …v.v
e Chỉ viết hoa âm tiết đầu
Ví dụ : Puskin
5 Về việc dùng dấu nối:
a Dùng dấu nối trong các liên doanh như: Khoa học - kĩ thuật; Quảng Nam
- Đà Nẵng …v.v
b Dùng dấu nối khi chỉ giới hạn về không gian, thời gian, số lượng:
Ví dụ : Chuyến tàu Hà Nội - Huế; Thời kỳ 1945 - 1954; Sản lượng 5 - 7 tấn
…v.v
c Khi phân biệt ngày, tháng, năm:
Ví dụ : 02 - 9 - 1945; 30 - 4 - 1975 …v.v
* Kết Luận: Việc xác định đúng những quy tắc khi viết - nói, giúp
học sinh cũng như giáo viên có phát âm chuẩn, tránh được những “hạt sạn” khi sử dụng tiếng Việt của chúng ta Điều quan trọng là phải sử dụng đúng những quy tắc chính tả, thậm chí cần nhớ một cách máy móc, đối với những lỗi khó nhớ
II.2 Chương 2: Một số lỗi chính tả thường gặp ở học sinh và biện pháp sửa chữa:
Trang 7II.2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Giáo viên trong quá trình giảng dạy tại các lớp, giáo viên sẽ thống
kê, tổng hợp các lỗi mà học sinh hay mắc phải, sau đó ghi chép lại và đưa ra các biện pháp khắc phục cho học sinh
II.2.2.Các nội dung cụ thể trong đề tài:
1 Lỗi chính tả do sai nguyên tắc chính tả hiện hành:
a Lỗi do đánh sai vị trí dấu thanh điệu:
Ví dụ : “hoá” thì viết là “hóa”; “quý” thì viết là “qúy”
b Lỗi do không nắm được quy tắc phân bố các ký hiệu cùng biểu thị một âm:
Ví dụ : nghành (ngh không đi trước a); kách (k không đi trước a trừ kali)
c Lỗi do không nắm được quy tắc viết hoa
Ví dụ : Trần bình trọng ; Nam định …v.v
Để khắc phục lỗi này, chỉ cần cho học sinh ghi nhớ và tuân thủ những
đặc điểm và nguyên tắc kết hợp, quy tắc viết hoa của chữ viết.
2 Lỗi chính tả do viết sai với phát âm chuẩn :
Đặc điểm phát âm đặc trưng cho từng vùng khác với phát âm chuẩn là nguyên nhân dẫn đến những cách viết sai chính tả Có thể quy những lỗi loại này thành ba dạng chủ yếu :
a Lỗi viết sai phụ âm đầu:
- Lỗi do không phân biệt được tr và ch: Do cách phát âm của học sinh không phân biệt được tr - ch Có thể giúp các em nhớ một số quy tắc nhỏ để phân biệt tr – ch
Trang 8+ Tr không kết hợp với những vần bắt đầu bằng: oa , oă , oe , uê (choáng, choai …v.v.)
+ Từ láy phụ âm đầu phần lớn là ch (Những từ láy phụ âm đầu là tr rất ít: trơ trọi, trống trãi …v.v.)
- Lỗi do không phân biệt s và x:
+ Hiện tượng này cũng là do đặc điểm phát âm không phân biệt, ở lỗi này cần cho học sinh hiểu và nhớ một số quy tắc phân biệt giữa s và x như sau: + S không kết hợp với các vần: oa , oă , oe , uê (xuề xoà , xoay xở , xoen xoét …v.v.)
(Từ láy phụ âm đầu có cả s và x) Từ láy bộ phận vẫn thường là x: loăn xoăn, loà xoà
+ Về nghĩa: Tên thức ăn thường viết là x: xôi, xúc xích, lạp
x-ường v.v
+ Những từ chỉ hơi ra: xì, xỉu, xọp, xẹp v.v
+ Những từ chỉ sụp xuống viết với s: sục , sụp , sẩy v.v
+ Những từ chỉ quan hệ ngữ pháp phần lớn là đi với s: sự , sẽ , sắp , sao v.v
+ Lỗi do không phân biệt r , gi với d: Giúp học sinh nhớ một số quy tắc để phân biệt r , gi với d như sau:
+ R và gi không kết hợp với những vần : oa , oă , uâ , oe , uê , uy + Xét về nguồn gốc, không có từ Hán Việt đi với r Trong Hán -Viẹt , d đi với thanh ngã và nặng , gi đi với thanh hỏi và sắc
Trang 9+ Trong từ láy bộ phận vần : r láy với b và c, còn gi và d không láy: bứt rứt, bủn rủn v.v r và d láy với i, còn gi không láy: liu diu, lim dim … v.v
Nếu một số từ có hai hình thức viết, một trong hai hình thức đó viết với tr thì từ đó cũng viết với gi: giăng - trăng; giầu - trầu; giai - trai ….v.v
b Lỗi viết sai phần vần (Viết sai âm cuối hoặc âm chính)
Ví dụ: yêu / iêu ; ơu / iêu v.v
c Lỗi viết sai thanh điệu:
Lỗi viết sai thanh điệu do sự phát âm không phân biệt giữa thanh hỏi
và thanh ngã Để khắc phục lỗi này có thể giúp học sinh nhớ hai quy tắc: Các chữ khởi đầu bằng nguyên âm chỉ mang dấu hỏi, không mang dấu ngã: ả, ỷ lại, ảnh …v.v (Trừ 5 từ ngoại lệ: ẵm, ễ mình, ễnh bụng, ễnh -ơng, ỡn ngực)
Các chữ Hán Việt bắt đầu bằng các phụ âm: m, n, nh, l, v, d, ng chỉ mang dấu ngã không mang dấu hỏi: mã lực, lãnh tụ, vĩ nhân …v.v (chỉ có một trờng hợp ngoại lệ: cây ngải )
Phần lớn từ láy điệp vần mang thanh hỏi
II.3.Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – kết quả nghiên cứu :
II.3.1 Phương pháp nghiên cứu:
1 Thường xuyên kiểm tra vở ghi và vở bài tập của học sinh Mục đích là kịp thời uốn nắn, chỉ lỗi chính tả cho học sinh, giúp các em nhận ra sự viết sai của mình, từ đó tự sửa chữa ngay, tránh lặp lại
Khuyến khích việc viết đúng, viết đẹp của học sinh
Trang 102 Khi chấm bài kiểm tra, ngoài việc nhận xét nội dung bài làm, phải luôn chỳ trọng đến việc phát hiện ra lỗi chính tả và sửa cho các em, đồng thời ghi rõ yêu cầu học sinh phải sửa chữa ngay những lỗi trên
Ví dụ : (Bài viết gồm 5 lỗi) Hướng dẫn các em trình bày cách sửa lỗi như sau:
a Lỗi thanh điệu: mí mán = mĩ mãn
b Lỗi phần vần: hòn tòn = hoàn toàn; mát rựi = mát rượi
c Lỗi phụ âm đầu : sạch xẽ = sạch sẽ; cảm dác = cảm giác ; Tiền đẻ = Tiền lẻ
Từ cách phát hiện lỗi chính tả và sắp xếp cho nó vào các lỗi thông th-ờng nào đến việc sửa cho đúng chính tả mà học sinh sẽ nhớ để tránh viết sai
3 Cần và rất nên có điểm thưởng, điểm phạt ở các bài kiểm tra về vấn
đề trình bày và chuẩn chính tả Đây cũng là một trong những việc làm để khuyến khích học sinh viết đúng chính tả
4 Ở các giờ thực hành tập nói (Phân môn tập làm văn ) tôi đã rất chú
ý rèn và sửa chữa cách phát âm cho đúng giữa s và x, tr và ch, d và r , đặc biệt các em dân tộc vùng núi tôi rèn cho các em phát âm theo đúng qui định vốn từ Tiếng việt : đ và l ví dụ : lặc sắc = đặc sắc và phân biệt giữa thanh hỏi với thanh ngã
5 Ra thêm các dạng bài tập rèn chính tả để học sinh có thể tự làm ở nhà Đây là biện pháp rất có hiệu quả mà lại không mất thời gian trên lớp Biện pháp này vừa giúp học sinh viết đúng chính tả, vừa rèn luyện cho các
em thói quen trình bày sạch, đẹp Biện pháp này đòi hỏi ngời giáo viên cần tận dụng thời gian các tiết trả bài, phụ đạo ,các buổi sinh hoạt lớp để giao bài tập chính tả cho học sinh
Trang 11Giáo viên đưa ra các dạng bài tập thường gặp là :
Dạng A : Dạng bài tập điền phụ âm đầu
Điền ch hay tr ?
a “ úng tôi đều úng tuyển” (Chúng tôi đều trúng tuyển)
b “ Ngời ồng đang lo ồng cây” (Người chồng đang lo trồng cây)
Điền s hay x ?
a “ ương uống đầy cả mặt ông” (Sương xuống đầy cả mặt sông)
b “Hôm nay có úp , có ôi , có bún áo nóng ốt mời các cậu học inh ơi tạm “ (Hôm nay có súp, xôi sáo xốt sinh xơi)
Điền R , D hay Gi ?
Chúng tôi iót ượu mời ông ám đốc
Dạng B : Dạng bài tập thanh điệu
Điền thanh hỏi, thanh ngã cho phù hợp:
Tôi không có tiền le, le ra tôi phai mang theo ( lẻ .lẽ phải ) Hoặc tìm lỗi và chữa lỗi: Bài giãi có thễ đúng có thễ sai.
Dạng C : Dạng bài tập vần
Sửa lỗi cho câu: “Anh ấy là tay nát riệu, đầu óc đôi khi hòn tòn không bình
thường’
( nát rượu, hoàn toàn)
Trang 126 Kết hợp với các giáo viên bộ môn để cùng giúp học sinh viết cho đúng hoặc tạo điều kiện để các em tự giúp nhau viết cho đúng chính tả
II.3.2.Kết quả nghiên cứu thực tiễn
II.3.2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu :
- Trường PTDT Bán Trú THCS Nà Nhạn , nằm trên địa bàn xã vùng ngoài đặc biệt khó khăn của huyện Điện Biên, 100% học sinh của trường là con em dân tộc thiểu số (dân tộc Thái , H Mông chiếm đa phần) Học sinh đi học cách xa trường, vào những ngày mưa qua suối, đường lầy lội rất khó khăn, có nơi học sinh phải vượt hơn 7 km đến 12km mới tới được trường để học
- Gia đình phụ huynh học sinh đa phần là thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo Nhận thức của đại đa số người dân chưa cao,chưa nhận thức rõ động cơ để học tập.
II.3.2.2 Thực trạng :
- Do nhận thức còn nhiều hạn chế nên việc học tập của học sinh có kết quả không cao so với các trường trong vùng lòng chảo Cụ thể số lượng học sinh mắc sai lỗi còn rất nhiều, do sự pha trộn giữa ngôn ngữ bản địa với chữ Quốc Ngữ
II.3.2.3 Đánh giá thực trạng :
- Từ nhận thức trên nhằm tìm ra một số biện pháp khắc phục những lỗi chính tả từ đó giúp học sinh có ý thức chủ động khi viết, nói Đó là phương tiện để chắp cánh cho các em bay vào thế giới vững vàng hơn, đặc biệt giúp các em vùng sâu, vùng xa tự tin trong khi viết
II.3.2.4 Đề xuất biện pháp: