1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động đến các nền kinh tế mới nổi

115 555 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính Cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ hiện nay bắt nguồn từ chính sáchcho vay tín dụng dưới chuẩn Subprime1 hay còn gọi là tín dụng thế chấp rủi ro

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh khu vực hoá, toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, các nềnkinh tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các nhân tố bên ngoài Càng gia nhập sâurộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới thì các nền kinh tế càng chịu ảnhhưởng lớn bởi các yếu tố đó

Nền kinh tế thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với các cuộcphát triển thăng hoa cũng như các cuộc suy thoái, đại suy thoái Một trongnhững nguyên nhân chính dẫn đến những cuộc suy thoái, đại suy thoái đó làcác cuộc khủng hoảng tài chính nội tại của một nền kinh tế hoặc do chịu ảnhhưởng dây chuyền từ các nền kinh tế khác trong khu vực hay trên thế giới

Trong thời gian gần đây, kinh tế thế giới đang hứng chịu một cuộckhủng hoảng tài chính lớn đang lan rộng ra toàn cầu Người ta chưa biết cuộckhủng hoảng này sẽ gây ra những hậu quả lớn tới mức nào và khi nào sẽ dừnglại Thậm chí Tổng giám đốc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) trong một bài phátbiểu thời điểm đầu tháng 10-2008 đã bày tỏ lo ngại sẽ diễn ra đại suy thoáikinh tế toàn cầu Và cuộc khủng hoảng đã nhanh chóng lan sang các nướcTây Âu, Nhật Bản và trở thành khủng hoảng tài chính toàn cầu Tác động củacuộc khủng hoảng trong ngắn hạn và dài hạn là hết sức to lớn

Nền kinh tế thế giới nói chung và các nền kinh tế mới nổi nói riêngđang đứng trước những khó khăn to lớn do chịu tác động của cuộc khủnghoảng tài chính diễn ra trên phạm vi toàn thế giới Để giúp nền kinh tế đứngvững và có thể bước ra khỏi khủng hoảng tài chính và rơi vào suy thoái, mỗiquốc gia cần phải có một chiến lược và những bước đi đúng đắn Muốn vậy,chúng ta cần nắm vững được bản chất vấn đề này, tìm hiểu nguyên nhân,những dấu hiệu cảnh báo, diễn biến và các giải pháp ngăn chặn khủng hoảng,ngăn chặn suy thoái Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, em xin lựa chọn đề tài

Trang 2

“Khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động đến các nền kinh tế mới nổi” làm chủ đề nghiên cứu nhằm tìm ra các nguyên nhân, thực trạng và đề

xuất các giải pháp điều chỉnh đối với nền kinh tế phù hợp với tình hình hiệnnay

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm ra nguyên nhân, diễn biến, và tác động của cuộc khủng hoảng tàichính hiện nay

- Rút ra bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm đối phó và ngăn chặn cuộc khủnghoảng tài chính đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế mới nổinói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Nghiên cứu thực trạng nền kinh tế của các nước khu vực Đông Á mớinổi Cụ thể là 10 quốc gia trong Hiệp hội các nước Đông nam á (ASEAN);Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa; Hồng Kông,Trung Quốc; Cộng Hoà HànQuốc; Đài Bắc, Trung Quốc và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu tới các nền kinh tế này

- Nghiên cứu kinh nghiệm khắc phục cuộc khủng hoảng tài chính năm

2008 và các biện pháp điều chỉnh kinh tế - tài chính của các nước trên thế giớihiện nay

- Nghiên cứu đề xuất giải pháp điều chỉnh chính sách kinh tế - tài chínhđối với nền kinh tế Đông Á mới nổi

Trang 3

4 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp tiếp cận thu thập thông tin, tác giả sử dụng cách tiếpcận phân tích và tổng hợp, hệ thống và cấu trúc nhằm tập hợp những nguồnthông tin đa dạng và phong phú

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biệnchứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp tư duy logic, phương phápkhảo nghiệm tổng kết thực tiễn để nghiên cứu đánh giá và đề xuất giải pháp

5 Kết cấu của khoá luận

Phù hợp với mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên,ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khoá luận được kết cấu thành 3chương như sau:

CHƯƠNG 1 Một số vấn đề lí luận về khủng hoảng tài chính và nềnkinh tế mới nổi

CHƯƠNG 2 Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế thếgiới và các nền kinh tế Đông Á mới nổi

CHƯƠNG 3 Một số giải pháp khắc phục khủng hoảng tài chính đốivới các nền kinh tế Đông Á mới nổi

Do những hạn chế về thời gian, trình độ và điều kiện tiếp cận cácnguồn tài liệu tham khảo của người viết nên khoá luận chắc chắn không thểtránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những lời chỉ bảo,những ý kiến đóng góp và phê bình của các thầy, cô giáo để khoá luận đượchoàn chỉnh hơn

Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn Ts Trịnh Thị Thu Hương đãhướng dẫn và có những ý kiến đóng góp quý báu để em hoàn thiện khoá luậnnày

Trang 4

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ NỀN KINH TẾ MỚI NỔI

I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

1 Khái niệm khủng hoảng tài chính

1.1 Lý luận của Mác về khủng hoảng kinh tế chu kỳ

Khủng hoảng kinh tế là khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng kinh

tế mất ổn định kéo dài mà không điều chỉnh được của quá trình tái sản xuấttrong nền kinh tế gây ra những chấn động và hậu quả kinh tế xã hội trong quy

mô rộng hoặc hẹp Khủng hoảng kinh tế diễn ra trong mọi lĩnh vực của nềnsản xuất xã hội trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất

Khủng hoảng kinh tế chu kỳ gồm có 4 giai đoạn:

- Khủng hoảng: đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ kinh tế Khủnghoảng đã phá huỷ nghiêm trọng lực lượng sản xuất, người lao động thấtnghiệp đông đảo, đời sống hết sức khó khăn

- Tiêu điều: Là giai đoạn tiếp sau của khủng hoảng Đặc điểm giai đoạnnày, sản xuất không tiếp tục giảm sút nữa nhưng cũng không tăng lên, nền sảnxuất ở trạng thái trì trệ

- Phục hồi: là giai đoạn tiếp nối với giai đoạn tiêu điều Nền kinh tế từtiêu điều chuyển sang phục hồi và bắt đầu phát triển Sản xuất được mở rộngđạt mức trước khủng hoảng Số người làm việc tăng lên, giá cả hàng hoá cũngtăng lên, lợi nhuận thu được cũng tăng, nền kinh tế bước sang giai đoạn mới,giai đoạn hưng thịnh

-Hưng thịnh: là giai đoạn phát triển cao nhất của chu kỳ kinh tế Ở giaiđoạn này cung cầu về hàng hoá tăng lên, sản xuất mở rộng và phát triển vượtmức cao nhất của chu kỳ trước.Và giai đoạn này lại tạo điều kiện cho mộtcuộc khủng hoảng mới bắt đầu và chín muồi

Trang 5

1.2 Lý thuyết chung về khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố củanền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình

Khủng hoảng tài chính được định nghĩa là tình huống khi tài sản nợ củamột bộ phận lớn các tổ chức tài chính cao hơn giá trị thị trường của tài sản códẫn tới việc rút tiền một cách hoảng loạn làm cho một số tổ chức tài chính sụp

đổ và chính phủ phải đứng ra can thiệp Như vậy, thuật ngữ khủng hoảng đềcập tới tình huống nợ quá hạn gia tăng, thua lỗ nặng (do biến động của tỷ giáhay lãi suất hoặc do các nghĩa vụ nợ ngoại bảng…) và giá trị tài sản có giảmgây ra các vấn đề về mất khả năng chi trả trong hệ thống tài chính và dẫn đếnviệc thanh lý, sát nhập hay cơ cấu lại các khu vực kinh tế Khủng hoảngthường xảy ra khi nền kinh tế bị chấn động Khủng hoảng gây ra suy thoáikinh tế và làm tình trạng cán cân thanh toán trở nên trầm trọng hơn

Một số dấu hiệu của khủng hoảng tài chính là:

- Các ngân hàng thương mại không hoàn trả được các khoản tiền gửicủa người gửi tiền

- Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũngkhông thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng

- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định

2 Đặc điểm và biểu hiện của khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng tài chính là hiện tượng rất phức tạp Nó bao hàm cả baloại hình khủng hoảng: (i) Khủng hoảng ngân hàng, (ii) Khủng hoảng tiền tệ,

và (iii) Khủng hoảng nợ nước ngoài

Để hiểu rõ hơn về khủng hoảng tài chính, chúng ta tiếp tục xem xétnhững đặc điểm và biểu hiện của nó:

-Thứ nhất: khủng hoảng tài chính nổ ra, làm cho đồng tiền của quốc giamất giá hàng chục phần trăm, thậm chí hàng trăm phần trăm, các khoản nợ

Trang 6

xấu tăng lên nhanh chóng có thể chiếm tới hàng chục phần trăm tổng mức chovay.

-Thứ hai: song song với việc mất giá đồng tiền là sự sụt giảm của thịtrường chứng khoán, chỉ số chứng khoán liên tục giảm, nhất là khi có dấuhiệu bất ổn về tình trạng hoạt động của các công ty bất dộng sản và các tổchức tài chính

-Thứ ba: khủng hoảng tài chính nổ ra đẩy nền kinh tế quốc gia vào thời

kỳ suy thoái, tốc độ tăng trưởng GDP giảm sút nặng nề

Ngoài ra khủng hoảng tài chính còn có thể làm xấu đi các thông số kinh

tế cơ bản như sau: thâm hụt cao hơn về cán cân thương mại, cán cân tài khoảnvãng lai, ngân sách chính phủ, lạm phát gia tăng, tình trạng thất nghiệp trởnên trầm trọng…

3 Các hình thức của khủng hoảng tài chính

Không phải tất cả các cuộc khủng hoảng tài chính đều giống nhau cho

dù đa phần các biểu hiện bề ngoài là có vẻ như nhau Căn cứ vào các đặcđiểm chính của các cuộc khủng hoảng, người ta đề cập tới năm hình thức chủyếu của khủng hoảng tài chính mà trên thực tế có thể thấy trong bất cứ giaiđoạn nào:

3.1 Khủng hoảng phát sinh do chính sách kinh tế

Theo mô hình chính thức của Krugman (1953), nhà kinh tế học ngườiHoa Kỳ, giáo sư của Đại học Princeton, một cuộc khủng hoảng về cán cânthanh toán (mất giá tiền tệ, giảm mạnh tỷ giá hối đoái cố định) xuất hiện khi

sự mở rộng tín dụng trong nước của ngân hàng trung ương không phù hợp với

tỷ giá hối đoái cố định Mà sự mở rộng này thường là kết quả của quá trìnhchuyển hoá các khoản thâm hụt ngân sách của chính phủ thành tiền Dự trữngoại hối giảm dần cho tới khi ngân hàng trung ương có thể bị rút tiền ồ ạt vàbất ngờ Điều này cuối cùng dẫn tới những khoản dự trữ còn lại bị cạn kiệt vànền kinh tế bị đẩy vào tình trạng tỷ giá thả nổi

Trang 7

3.2 Hoảng loạn tài chính

Theo mô hình của Dybvig Diamond (1983) về sự đổ xô đi rút tiền ởngân hàng, sự hoảng loạn về tài chính trong trường hợp cả những cân bằngphức trong các thị trường tài chính Sự hoảng loạn là kết quả của trạng tháicân bằng bất lợi trong đó những chủ nợ ngắn hạn đột nhiên rút lại các khoảncho vay từ một người vay có khả năng thanh toán Nhìn chung, cơn hoảngloạn có thể xảy ra khi xuất hiện ba điều kiện:

+ Các khoản nợ vượt quá tài sản ngắn hạn

+ Không một chủ nợ nào trong thị trường tư nhân đủ lớn để cung cấptất cả các khoản tín dụng cần thiết trả cho các khoản nợ ngắn hạn hiện còntồn

+ Không có người cho vay cuối cùng nào

Trong trường hợp này, cũng là hết sức hợp lý khi mỗi một chủ nợ rúttín dụng của mình nếu các chủ nợ khác cùng rút vốn từ người vay, cho dùtrước đây mỗi chủ nợ thường sẵn sàng cho vay nếu những chủ nợ khác cũnglàm như vậy Cơn hoảng loạn này có thể gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế(ví dụ như sự tạm ngừng sớm các dự án đầu tư, thanh lý công ty vay nợ, sựrút tiền hàng loạt của các chủ nợ…)

3.3 Bong bong vỡ

Theo Blanchard và Watson (1982) cùng nhiều học giả khác, "bongbóng" về tài chính ngẫu nhiên diễn ra khi những kẻ đầu cơ mua một tích sảntài chính cao hơn giá trị thật của nó với hy vọng thu được lợi nhuận sau đó.Trong từng giai đoạn, “bong bóng” này (được xác định là mức chênh lệchgiữa giá bán và giá gốc của tích sản) có thể phồng to hoặc có thể vỡ hoàntoàn Sự tan vỡ này, khi xảy ra không hề được mong đợi song không phải làkhông thể biết trước được vì các đối tác của thị trường nhận biết được “bongbóng” và phạm vi ảnh hưởng của sự vỡ “bong bóng” này

Trang 8

“Bong bóng” vỡ ở mức độ rộng và nghiêm trọng gây ra các tác độnghết sức sâu sắc tới nền kinh tế: làm phá sản hàng loạt các doanh nghiệp trựctiếp tham gia đầu cơ, làm thiệt hại nặng nề cho các doanh nghiệp liên quan tớithị trường “bong bóng”, cho các nhà đầu tư, tài trợ, đặc biệt là hệ thống ngânhang gây rối loạn thị trường tài chính và nền kinh tế.

3.4 Khủng hoảng rủi ro tinh thần

Theo Akerlof và Romer (1996), khủng hoảng rủi ro tinh thần xảy ra docác ngân hàng có thể vay tiền mặt trên cơ sở những đảm bảo nguồn cho cáckhoản nợ của ngân hàng Nếu các ngân hàng bị thiếu vốn hoặc thiếu sự điềutiết thì họ sẽ dùng những vốn tiền mặt này vào các hoạt động kinh doanh đầyrủi ro hoặc thậm chí mang tính chất tội phạm Hai học giả trên đây cho rằng,vấn đề kinh doanh phi pháp, trong đó các ngân hàng dùng hậu thuẫn của nhànước dành cho để “ăn cắp tiền gửi” trên thực tế xảy ra phổ biến hơn mứcngười ta tưởng và nó đã đóng “một vai trò lớn” trong khủng hoảng về tiếtkiệm và vay nợ của Mỹ

3.5 Tình trạng hỗn loạn hay khủng hoảng “gánh nặng nợ”

Theo Sachs (1995), hiện tượng hỗn loạn trên xảy ra khi một bên vay nợphá sản hoặc không có tiền mặt gây ra một làn sóng đòi nợ của các chủ nợ vàbên vay nợ bị buộc phải thanh lý, cho dù bên vay nợ này vẫn là một doanhnghiệp đang hoạt động và vẫn còn có giá trị Tình trạng hỗn loạn xảy ra, đặcbiệt khi các thị trường hoạt động không đem lại lợi ích theo sự sắp xếp giữacác chủ nợ thông qua luật phá sản Vấn đề này còn được gọi là "gánh nặngnợ" Thực chất những vấn đề sắp xếp giữa các chủ nợ đã ngăn cản các hoạtđộng cung cấp vốn có hiệu quả tới bên vay nợ đang gặp khó khăn về tài chính

và làm trì hoãn hoặc cản trở việc thanh toán các khoản nợ khó đòi Đối mặtvới vấn đề “gánh nặng nợ” này không chỉ là hệ thống các doanh nghiệp hoạtđộng trong nền kinh tế mà còn bao gồm cả các chính phủ

Trang 9

II NGUYÊN NHÂN, DIỄN BIẾN CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

1 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính

Cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ hiện nay bắt nguồn từ chính sáchcho vay tín dụng dưới chuẩn (Subprime)1 hay còn gọi là tín dụng thế chấp rủi

ro cao đối với thị trường bất động sản và việc thực thi chính sách tiền tệ nớilỏng, "đồng USD rẻ" duy trì trong thời gian dài của chính quyền Mỹ, trongkhi thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ của chính phủ, đã dẫn đến sự hình thành

"siêu bong bóng" tài chính và bất động sản Sự phát triển của nhiều dịch vụ vàsản phẩm tài chính mới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, biến đổi cáckhoản cho vay thành công cụ đầu tư, khiến thị trường tín dụng phục vụ chothị trường bất động sản trở thành sân chơi cho nhiều nhà đầu tư trong vàngoài nước Trong điều kiện không có sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước,quá trình này đã tích tụ, dẫn đến châm ngòi nổ cho sự đổ vỡ đối với thị trườngtín dụng nhà đất, sau đó lan dây chuyền sang hệ thống tài chính ngân hàng

Mỹ Chính việc phá sản của các tập đoàn như Fannie Mae và Freddie Mac và

1Cho vay dưới tiêu chuẩn (subprime lending): là hình thức cho vay rất phổ biến, đặc biệt

tại Mỹ Thuật ngữ “dưới tiêu chuẩn - subprime” ở đây liên quan đến vị thế tín dụng của người cho vay Tín dụng dưới chuẩn (subprime) là loại tín dụng thế chấp rủi ro cao đã được các ngân hàng lạm dụng quá mức để các hộ gia đình mua bất động sản với năng lực trả nợ của họ không cao; giá trị món vay lại tùy thuộc vào thời giá của ngôi nhà định mua.

“Những người đi vay dưới tiêu chuẩn thường có quá khứ tín dụng (tiền sử tín dụng) không tốt, như thường có các khoản thanh toán quá hạn, và có thể có những vấn đề nghiêm trọng như phải ra toà, phá sản Họ cũng có thể có khả năng thanh toán thấp xét trên những tỷ số như điểm tín dụng thấp hơn 620, chiếm gần 25% dân số Mỹ Do uy tín của người vay thấp

và tình hình tài chính không mấy sáng sủa nên nhìn chung các khoản vay dưới tiêu chuẩn

có lãi suất cao hơn lãi suất thị trường và điều này lại càng làm tăng thêm khó khăn tài chính cho người vay, đặc biệt khi lãi suất thị trường gia tăng.

Cho vay thế chấp nhà đất dưới tiêu chuẩn (subprime housing mortgage): là một trong

những loại hình thuộc lĩnh vực vay dưới tiêu chuẩn và đặc biệt phát triển mạnh từ đầu thế

kỉ 21, trở thành một ngành công nghiệp ở Mỹ” Nói như vậy có nghĩa là hình thức thế chấp nhà đất trở thành một loại hình kinh doanh đầy lợi nhuận không chỉ với ngân hàng cho vay mà còn với cả cả dân đầu cơ địa ốc Một điều đặc biệt là hầu hết các ngân hàng,

tổ chức tín dụng ở Mỹ cho vay dưới hình thức này đều chấp nhận đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay Như vậy, trước hết ta có thể thấy nguy cơ rủi ro là rất cao do đối tượng của nó là nhà đất - vốn thường xuyên rơi vào chu kỳ đóng băng.

Trang 10

các ngân hàng lớn như Lehman Brothers (ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ)

và gần đây là City Bank Group đã cho thấy rõ điều đó Hiện nay gần 1.200ngân hàng Mỹ nộp đơn xin trợ cấp từ Chương trình hỗ trợ của chính phủ đểtránh lâm vào khủng hoảng

Từ khi cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ nổ ra, các nhà phân tích đãđưa ra nhiều nguyên nhân để giải thích, trong đó một số nguyên nhân đượcnhắc đến nhiều nhất là:

- Sự thay thế Đạo luật bức tường lửa Glass-Steagall bởi Đạo luậtGlamm-Leach-Bliley, cho phép các ngân hàng thương mại được tham gia vàocác lĩnh vực kinh doanh mạo hiểm như nghiệp vụ chứng khoán hóa và báncác khoản vay bất động sản khiến nhiều ngân hàng đẩy mạnh cho vay bấtđộng sản dưới chuẩn, nhằm thu về những khoản lợi lớn Tuy nhiên, các ngânhàng vẫn nắm giữ một lượng khá lớn các khoản chứng khoán phái sinh này,một phần do không bán được, một phần do mua của ngân hàng khác nhằm đadạng hóa danh mục đầu tư Các ngân hàng cho vay bất động sản thua lỗ khithị trường bất động sản bị vỡ bong bóng và nhiều khoản cho vay không thuhồi được, cộng với các khoản chứng khoán bất động sản bị giảm giá khôngphanh

- Chính sách nới lỏng tiền tệ và chính sách "nhà cho người có thu nhậpthấp" của Chính phủ Mỹ với lãi suất thấp để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng.Tín dụng bất động sản đã có sự tăng trưởng mạnh, trong đó có một phần lớn

là tín dụng dưới chuẩn

- Thị trường bất động sản bị giảm giá, gây ra các khoản nợ xấu khổng

lồ trong hệ thống ngân hàng, trong đó phần lớn là bất động sản dưới chuẩn.Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này

là sự suy sụp của thị trường bất động sản Ở Mỹ, gần như hầu hết người dânkhi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lãi lẫn vốn trong một thời giandài sau đó Do đó, có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình

Trang 11

trạng của thị trường bất động sản Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người

ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãi suất cao thì thị trườnggiậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp

Có ba yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bấtđộng sản:

Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ,Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc cácngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loạilãi suất cho vay tiền mua nhà do các ngân hàng thương mại ấn định bao giờcũng cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản của Fed, nhưng mức độ cao haythấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào lãi suất cơ bản) Vào giữa năm

2000, thì lãi suất cơ bản của Fed là trên 6% nhưng sau đó lãi suất này liên tụcđược cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%

Thứ hai, về phương diện sở hữu nhà cửa, chính sách chung của chínhphủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhómdân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà Việc này phần lớn đượcthực hiện thông qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae vàFreddie Mac

Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cáchmua lại các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thànhcác loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (Mortgage-Backed Securities - MBS), rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt

là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch

Thứ ba, như đã trình bày ở trên, bởi vì có sự biến đổi các khoản chovay thành các công cụ đầu tư cho nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thịtrường bất động sản không còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàngthương mại hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa Nó

Trang 12

đã trở nên một sân chơi mới cho các nhà đầu tư, có khả năng huy động dòngvốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn ngoại quốc.

Điểm đặc biệt ở đây là bởi vì việc hình thành, mua bán, và bảo hiểmMBS là vô cùng phức tạp cho nên nó diễn ra gần như là ngoài tầm kiểm soátthông thường của chính phủ Bởi vì thiếu sự kiểm soát cần thiết cho nên lòngtham và tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các nhà đầu tư Bên cạnh đó, bởi

vì có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty khác biến chúngthành MBS, các ngân hàng thương mại đã trở nên mạo hiểm hơn trong việccho vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay

Với ba lý do trên, thị trường bất động sản trở nên rất nhộn nhịp, có rấtnhiều người thu nhập thấp hoặc không có tín dụng tốt nhưng vẫn đổ xô đimua nhà Để có thể được vay, nhóm người này thường phải trả lãi suất caohơn và thường được cho mượn dưới hình thức lãi suất điều chỉnh theo thờigian (ví dụ, nếu thỏa thuận là được vay với lãi suất 6% và điều chỉnh sau 3năm thì đúng ba năm sau lãi suất mới sẽ được ấn định theo thời điểm đó).Tóm lại, nhóm người này thuộc vào thành phần được cho vay với loại lãi suấtdưới chuẩn (subprime rate)

Bất kể khả năng trả được nợ của nhóm vay dưới chuẩn, khoản tiền chovay dành cho nhóm này đã tăng vùn vụt Theo các ước tính thì nó tăng từ 160

tỉ USD ở năm 2001 lên 540 tỉ vào năm 2004 và trên 1.300 tỉ vào năm 2007.Fannie Mae đã mạnh tay hơn trong việc mua lại các khoản cho vay đầy mạohiểm do phải đối đầu với cạnh tranh nhiều hơn từ các công ty khác, chẳng hạnnhư Lehman Brothers

Bên cạnh đó, nhu cầu mua lại MBS của các nhà đầu tư vẫn cao bởi vìcho tới trước năm 2006 thì thị trường bất động sản vẫn chưa có dấu hiệu nổbong bóng Hơn nữa, họ cũng phần nào được trấn an khi vẫn có thể muathong thả các hợp đồng hợp đồng hoán đổi tín dụng CDS từ các công ty bảohiểm và đầu tư khác Các bảo hiểm (CDS - Credit Default Swap) nhằm bảo

Trang 13

đảm cho các nhà đầu tư MBS trong trường hợp những người vay tiền muanhà không trả được nợ và làm cho MBS mất giá thì sẽ được bồi thường.Nhiều các công ty bảo hiểm và thẩm định rủi ro, chẳng hạn như AIG, đã sẵnsàng nhảy vào để bán bảo hiểm cho các nhà đầu tư MBS, bất chấp khả năngbảo đảm của mình

Vì dễ vay cho nên nhu cầu mua nhà lên rất cao, kéo theo việc lên giábất động sản liên tục Giá nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ trong vòng bốnnăm từ 2001 (năm bắt đầu cắt mạnh lãi suất) đến 2005 Việc này cũng dẫnđến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá nhà sẽ tiếp tục lên Hệ quả là người ta sẵnsàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị thực và khả năng trả nợ sau này vì họnghĩ nếu cần sẽ bán lại để trả nợ ngân hàng mà vẫn có lời Do đó, một bongbóng đã thành hình trong thị trường bất động sản

Tuy nhiên, có lẽ đòn bẩy tài chính (cho vay đòn bẩy)2 mới là nguyênnhân chính của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ lần này Đòn bẩy tài chính làquá trình công ty sử dụng vốn vay để tài trợ cho tăng trưởng tài sản, được tínhbằng tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu Và đây chẳng qua cũng chỉ là mộtkhâu, mắt xích yếu nhất của hệ thống tư bản mà thôi, sự ‘bục” ra đó mới chỉ

là biểu hiện ban đầu, sự lan tỏa của nó mới là thực chất của cuộc khủng hoảngchu kỳ

Đòn bẩy tài chính quá cao là nguyên nhân chính cho sự ra đi của BearStearns, Freddie Mac và Fannie Mae, Lehman Brothers và Merrill Lynch Sựsụp đổ của các định chế tài chính này là ngòi nổ của cuộc khủng hoảng, dẫnđến sự khủng hoảng niềm tin của thị trường, dẫn đến sự hạ thấp tín nhiệm và

2 Đòn bẩy tài chính là quá trình công ty sử dụng vốn vay để tài trợ cho tăng trưởng tài

sản, được tính bằng tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu Leverage: “cho vay đầu cơ” hay “cho vay đòn bẩy” Trong lĩnh vực tài chính, nhà đầu tư lợi dụng vốn thông qua việc vay tiền hoặc sử dụng các dạng vay mượn khác (công cụ phái sinh) để tăng vốn đầu tư khả dụng Nhà đầu tư hi vọng số vốn vay này, khi được tái đầu tư vào các công cụ tài chính, sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn chi phí vay vốn phải trả.

Trang 14

sự ra đi của AIG; dẫn đến làn sóng rút tiền cả trên phố và trên mạng gây rakhủng hoảng thanh khoản cho các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngânhàng liên quan đến cho vay bất động sản như Wamu và Wachovia

2 Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ lần này thực chất là biểuhiện rõ nét nhất của một quá trình “khủng hoảng” rất lâu trước đó Điểm lạinhững mốc sự kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra nhưthế nào:

Năm 2002 - 2004: Giá cả ở các bang Arizona, California, Florida,Hawaii, và Nevada tăng trên 25% một năm Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu

Năm 2005: “Bong bóng” thị trường nhà đất ở Mỹ vỡ tung vào tháng08/2005 Thị trường bất động sản tạm gián đoạn ở một vài bang của Mỹ vàocuối mùa Hè năm 2005 khi tỷ lệ lãi suất tăng từ 1% lên đến 5.35% do cónhiều nhà kinh doanh bất động sản đã đánh giá thấp thị trường

Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm Giá nhà giảm,hoạt động kinh doanh bất động sản trầm lắng dẫn đến một lượng nhà dư thừađáng kể Chỉ số Xây dựng Nhà ở Mỹ giữa tháng 8 giảm hơn 40% so với mộtnăm trước đó

Tháng 6/2007: Hai quỹ phòng hộ (hedge fund - một loại quỹ có tính đạichúng thấp và không bị quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu

tư lớn thứ 5 của Mỹ - quỵ ngã sau khi đánh cược vào các chứng khoán đượcđảm bảo bằng các khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ

Tháng 7 - Tháng 9/2007: Ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàngđầu tiên tại châu Âu chịu ảnh hưởng bởi những khoản đầu tư xấu trên thịtrường cho vay dưới chuẩn ở Mỹ Trong khi đó, Ngân hàng SachsenLB củaĐức phải nhận sự cứu trợ từ chính phủ

Trang 15

Ngày 14/9/2007: Lần đầu tiên trong hơn 1 thế kỷ, khách hàng ùn ùnkéo đến bủa vây để đòi rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh - Ngân hàng chovay thế chấp Northern Rock - ngân hàng lớn thứ 5 tại Anh

Ngày 15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ

- công bố lợi nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và tríchlập dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD Giám đốc điều hành Citigroup CharlesPrince từ chức vào ngày 4/11

Ngày 17/12/2007: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang Châu Úc vớinạn nhân là Tập đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu của các phố buônbán lớn ở Mỹ tại Úc sau khi tập đoàn này đưa ra cảnh báo lợi nhuận giảm Cổphiếu Centro Properties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ở Sydney

Năm 2008 với những mốc đáng nhớ sau:

Ngày 11/1/2008: Bank of America - Ngân hàng lớn nhất nước Mỹ vềtiền gửi và vốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại CountrywideFinancial sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản docác khoản cho vay khó đòi quá lớn

30/1/2008: Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dựphòng 4 tỷ USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD donhững thất thoát quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố

17/2/2008: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock

28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách cácnạn nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sảnmất giá là 1,36 tỷ euro

16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JPMorgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu

29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố mộtkhoản thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho

Trang 16

các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấpbất động sản

11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàngIndyMac Bancorp Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất

từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trongvòng 11 ngày

31/7/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo

là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD DeutscheBank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tíndụng toàn cầu

7/9/2008: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyềnkiểm soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Macnhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ

11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác đểbán lại chính mình Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%

14/9/2008: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29USD/CP sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers

15/9/2008: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này

mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001.Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch

bị Bank of America Corp thâu tóm; American International Group (AIG) - tậpđoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoảnthua lỗ liên quan tới nợ cầm cố

16/9/2008: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉUSD vào các thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng vàngăn chặn sự đóng băng của hệ thống tài chính toàn cầu Cổ phiếu AIG giảmgần một nửa Fed công bố kế hoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ

Trang 17

80% cổ phần Ngân hàng Barclays của Anh mua lại một phần tài sản tại Bắc

Mỹ của Lehman với trị giá 1,75 tỷ USD

17/9/2008: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảmmạnh; Tập đoàn Lloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứngkhoán Mỹ kiềm chế tình trạng bán khống

19/9/2008: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹcông bố kế hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khókhăn, giúp làm thanh sạch hệ thống tài chính

20-21/9/2008: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD.Hai ngân hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tậpđoàn ngân hàng đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tạiPhố Wall

22/9/2008: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD đểthâu tóm hoạt động của Lehman tại Châu Á Sau đó, Nomura cũng mua lạiLehman tại châu Âu và Trung Đông Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua20% cổ phần Morgan Stanley

23/9/2008: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần GoldmanSachs; Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG vàLehman vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ

25/9/2008: Washington Mutual Inc (WaMu), một trong những ngânhàng lớn nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường chovay thế chấp Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyềnkiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất

Mỹ cho JPMorgan Chase & Co với giá 1,9 tỷ USD Với 307 tỷ USD tổng tàisản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ

Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốchội đã đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷUSD

Trang 18

29/9/2008: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thịtrường tài chính Mỹ Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số côngnghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnhnhất từ trước tới nay.

1/10/2008: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷUSD (tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạoluật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngânsách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảohiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD

2.1 Tình hình khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới trong thời gian qua

Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đã có mầm mống khởinguồn từ trước ngày 6/8/2007 khi công ty thế chấp nhà Mỹ (American HomeMortgage) làm đơn xin phá sản Tiếp theo sự khởi nguồn này là nhiều ngânhàng và công ty lâm vào khó khăn và bộc lộ rõ nét là sự sụp đổ và khó khăncủa các ngân hàng và công ty tài chính lớn và nổi tiếng ở Mỹ (Wachovia,Washington Mutual Inc, Bear Stern, Fannie Mae, Fredie Mac, LehmanBrothers, Merrill Lynch, Tập đoàn bảo hiểm Quốc tế Mỹ (AIG), GoldmanSachs, Morgan Stanley…)

Bên cạnh sự sụp đổ của các tên tuổi lớn, hàng loạt các tổ chức tài chínhkhác cũng đã đổ theo với các khoản nợ có liên quan tới các vụ sụp đổ nói trên

và sự giảm mạnh về giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Ngày 3/10, với

263 phiếu thuận và 171 phiếu trống, hạ viện Mỹ đã thông qua kế hoạch 700 tỷUSD nhằm giải cứu ngành tài chính nước này thoát khỏi khủng hoảng

Mặc dù đã có rất nhiều biện pháp của chính phủ Mỹ đã đưa ra nhưngđến đầu tháng 11 năm 2008, các cơ quan của Mỹ đã buộc phải đóng cửa thêmmột ngân hàng nữa là Feedom Bank đưa tổng số ngân hàng bị giải thể là 17ngân hàng Sau đó, nhiều người dân Mỹ thi nhau xin phá sản, cụ thể là tháng

Trang 19

10/2008, cá nhân nộp đơn xin phá sản tăng 8% so với tháng trước (108.905lượt người)

Các thị trường chứng khoán trên thế giới đồng loạt sụt giảm mạnhtrước diễn biến thị trường tài chính Mỹ Đặc biệt, ngày 17/9/2008, bất chấp

nỗ lực giải cứu AIG, thị trường chứng khoán Mỹ đã có mức sụt giảm kỷ lục

do đợt bán tháo cổ phiếu được coi là tồi tệ nhất kể từ sau sự kiện 11/9/2001

Do mức độ trầm trọng lan rộng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ,

EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nền kinh tế trên thế giới đã và đang phảiđối mặt với những tác động tiêu cực và đã có nền kinh tế lâm vào khủnghoảng mặc dù các nước này đã phối hợp sử dụng một nguồn lực tài chính lớnchưa từng có (tới hàng nghìn tỷ USD) và gần như tất cả các biện pháp có thể

để hỗ trợ thanh khoản và cứu hệ thống tài chính khỏi sụp đổ Đối với Châu Á,khủng hoảng kinh tế đã tràn vào và Inđônêxia là nước hứng chịu đầu tiên.Tiếp theo là các nền kinh tế ở Châu Á khác cũng đang từng bước bị ảnhhưởng ở mặt này hay ở mặt khác với mức độ nặng nhẹ khác nhau, thể hiện ởhàng loạt thị trường chứng khoán ở Châu Á bị rơi tự do, nhiều công ty tàichính ngân hàng khó khăn, thua lỗ và có nguy cơ phá sản Nền kinh tế NhậtBản đang lâm vào khủng hoảng trong những ngày gần đây: giá chứng khoángiảm mạnh, nhiều ngân hàng, công ty đã và đang trên bờ vực thẳm

Như vậy cuộc khủng hoảng này đã được coi là khủng hoảng kinh tế thếgiới Đánh giá ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế Mỹ tới thời điểm hiện nay làrất khó, nhưng có thể thấy đây là một con số khổng lồ Mới đó mà nhiều quốcgia đã phải bơm ra hàng trăm tỷ USD để cứu vãn tình hình và ổn định kinh tế

Đó là chưa kể đến những thiệt hại tiếp theo từ kinh tế suy giảm, không tăngtrưởng, rối loạn và thất nghiệp đang chờ ở phía trước Cho tới thời điểm hiệntại tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng này đã làm thay đổi hoàn toànnền công nghiệp và tài chính Mỹ và hệ thống tài chính toàn cầu

Trang 20

2.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bị lún sâu vào tháng 9 năm 2008khi một số định chế tài chính bị nổ tung, dẫn đến khủng hoảng niềm tin vàochính hệ thống tài chính

Khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay bắt nguồn từ khủng hoảngcho vay thế chấp dưới chuẩn của Mỹ Sự suy thoái chất lượng tín dụng củacác khoản vay thế chấp dưới chuẩn đã lan nhanh sang nhiều hạng mục tài sản

Có của các nhà đầu tư trên toàn cầu Khả năng thanh khoản bị bay hơi, các thịtrường tiền tệ, tín dụng bị tác động mạnh Khi các thị trường bị đóng băng,các ngân hàng trung ương trên thế giới cùng hành động khẩn cấp và bơm tiềnmặt vào lưu thông Tiếp đến là các gói cứu trợ diện rộng của chính phủ cácnước Cuộc khủng hoảng hiện nay cũng cho thấy sự mất cân đối kinh tế vĩ mô

và tài chính trong cái vỏ ngoài tăng trưởng nhanh của nửa đầu thập kỉ này.Khi bong bóng bất động sản của Mỹ bị nổ tung, sự xuống giá nhanh chóngcủa những tài sản liên quan tới cho vay thế chấp của Mỹ dẫn tới những tácđộng xấu tới bảng cân đối định chế tài chính làm giảm nền tảng vốn của họ.Những tổn thất to lớn đối với những tài sản không có tính thanh khoản và bịlàm suy yếu đầu tiên đã gây tổn thất đối với những quĩ phòng hộ bị ảnhhưởng mạnh Bên cạnh đó, sự sụp đổ của hai quỹ Bear Stearns vào tháng 6năm 2007 đã đánh dấu sự mở màn của hàng loạt những sự sụp đổ theo sau.Cuộc khủng hoảng đã tạo nên một thảm hoạ đối với khuynh hướng trongtháng 9/2008 Khi Lehman Brothers bị phá sản, Merrill Lynch đã bị mua bởingân hàng Mỹ, và American Internation Group (AIG) đã nhận được gói cứutrợ từ Cục dự trữ liên bang Mỹ (US Fed), tất cả các sự kiện đều diễn ra trongvòng có vài ngày Một số lượng các định chế tài chính bị thất bại và do vậynhững sự cứu trợ tài chính đã đưa đến những thay đổi đáng kể trong bối cảnhtài chính toàn cầu, đòi hỏi phải có những sự can thiệp về chính sách chưa từng

có tiền lệ nhằm đối phó với khủng hoảng gia tăng

Trang 21

Dưới đây khóa luận xin tóm tắt diễn biến cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu:

- Sự xuống cấp trong chất lượng tín dụng của việc vay thế chấp đã lanrộng nhanh chóng đối với các hạng mục tài sản được nắm giữ bởi hàng loạtcác nhóm nhà đầu tư trên toàn cầu Các hệ thống ngân hàng chính trên toànthế giới do vậy đã gánh chịu những tổn thất liên quan tới các khoản cho vaydưới chuẩn tới 965 tỉ $ từ tháng 7/2007

- Khả năng thanh khoản bị bay hơi, các thị trường tiền tệ tín dụng bị tácđộng mạnh:

Tình hình của các định chế tài chính rất căng thẳng Giá các tài sản liênquan đến cho vay thế chấp rớt mạnh Giá cả sụt giảm cùng với các áp lực vềlãi suất, lợi nhuận và tăng vốn đã làm cho các định chế tài chính này buộcphải bán tháo tài sản khiến cho những tài sản này lại càng bị rớt giá Vòngxoáy cũng gần như làm lung lay toàn bộ hệ thống tài chính Các thị trường tíndụng đóng băng, đã gần như đặt dấu chấm hết cho việc khôi phục giá Tínhthanh khoản đã bị bốc hơi Đặc biệt, cùng với sự phá sản của LehmanBrothers và việc đóng cửa hàng loạt quỹ thị trường tiền tệ chính, những rủi rongầm định gia tăng dẫn đến việc cạn kiệt tính thanh khoản đối với các thịtrường liên ngân hàng Các ngân hàng dừng việc cho vay lẫn nhau

- Khi các thị trường bị đóng băng, các ngân hàng trung ương trên thếgiới cùng hành động khẩn cấp và bơm tiền mặt vào lưu thông Tiếp đến là cácgói cứu trợ diện rộng của chính phủ các nước

Các ngân hàng trung ương chính trên thế giới đã bơm tiền vào các thịtrường tài chính với hàng loạt những điều kiện thuận lợi, nhằm phá vỡ tảngbăng của thị trường tín dụng Các chính phủ đã nhất trí mua lại những tài sảnđang bị khó khăn, trực tiếp bơm vốn vào các ngân hàng đang gặp khó khăn,mua hối phiếu thương mại, hay nắm giữ tạm thời vốn cổ phiếu…

Trang 22

- Cuộc khủng hoảng hiện nay cũng cho thấy sự mất cân đối kinh tế vĩ

mô và tài chính trong cái vỏ ngoài tăng trưởng nhanh của nửa đầu thập kỉ này:

Sự mất cân đối kinh tế vĩ mô bao gồm việc hình thành thâm hụt tàikhoản vãng lai lớn ở Mỹ và tương ứng với sự thặng dư ở những nước còn lạitrên thế giới, đáng lưu ý là Châu Á và Trung Đông Sự vượt quá giới hạn vềtài chính trong giai đoạn này liên quan đến sự phát triển của việc gia tăng ồ ạtnhững lực đẩy đòn bẩy và việc nắm giữ các rủi ro; những bong bóng trong tàisản và thị trường vốn; sự xuống dốc trong tín dụng dưới chuẩn; và sự chèn épmạnh mẽ của những rủi ro lan rộng đối với hàng loạt các công cụ tàichính.Với khủng hoảng đang bộc lộ, sự mất cân bằng đã bắt đầu trải ra khi tỉ

lệ tiết kiệm cá nhân ở Mỹ tăng đáng kể, những rủi ro là tái định giá, và lựcđẩy của đòn bẩy là giảm trở lại Phản ứng của chính phủ Mỹ đối với khủnghoảng tài chính cũng là hàm ý ám chỉ cho những mất cân bằng toàn cầu đáng

kể này, điều này có thể chuyển sang một tiến trình có thể nhìn thấy rõ nhiềukhó khăn và xáo động

- Sự điều chỉnh theo hệ thống tài chính Mỹ đã lây lan sang các nước domức độ phụ thuộc tài chính lẫn nhau cao, kể cả do việc chuyển giao rủi rothông qua các sản phẩm chứng khoán hỗn hợp và tăng mạnh rủi ro:

Cầu ở Mỹ và nhiều nước trên thế giới sụt giảm Sự bất ổn tín dụng vẫntiếp tục mở rộng do các nhà đầu tư vẫn đánh giá rủi ro ở mức cao Tăngtrưởng kinh tế đang bị suy yếu, xuất khẩu giảm mạnh, hàng hoá đã bị trượtgiá mạnh mẽ từ mức đỉnh cao trong đầu năm nay

3 Sự khác nhau giữa khủng hoảng tài chính hiện nay với cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997

Khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 – 1998 là cuộc khủnghoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7/1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng tới các thịtrường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả tài sản khác ở một vàinước Châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là “những con hổ Đông

Trang 23

Á” Cuộc khủng hoảng lúc đó còn được gọi là khủng hoảng tiền tệ Đông Á.Một số nước như Indonesia, Hàn quốc và Thái Lan là những nước bị ảnhhưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này Hồng Kông, Malaysia, Lào,Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình Còn Đại lụcTrung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng nhiều.Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi cuộc khủng hoảng, song nềnkinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài hạn của chính bản thânmình.

Cuộc khủng hoảng tài chính của những năm 1990 là khủng hoảng cơcấu mang tính chất khu vực còn cuộc khủng hoảng hiện nay mang tính toàncầu Cuộc khủng hoảng tài chính lần này mức độ trầm trọng hơn trong bốicảnh toàn cầu hóa, không chỉ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng mà đã lansang các ngành sản xuất, dịch vụ và tác động ở quy mô toàn cầu, thời gian cókhả năng kéo dài hơn, do vậy việc khắc phục hậu quả sẽ khó khăn hơn

III ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN KINH TẾ MỚI NỔI

1 Khái niệm nền kinh tế mới nổi

Các nền kinh tế mới nổi là những nền kinh tế đang trong giai đoạn quá

độ từ nền kinh tế đang phát triển thành nền kinh tế phát triển

Nền kinh tế đang phát triển là các quốc gia có mức sống còn khiêm tốn,

có nền tảng công nghiệp kém phát triển và có chỉ số phát triển con người(Human Development Index - HDI) không cao Ở các nước này, thu nhập đầungười ít ỏi, nghèo nàn phổ biến và cơ cấu tư bản thấp "Nước đang phát triển"gần nghĩa với Thế giới thứ ba thường dùng trong Chiến tranh Lạnh

Nước đang phát triển, nói chung, là các quốc gia có mức sống thấp,chưa đạt được mức độ công nghiệp hóa tương xứng với quy mô dân số Cómột sự tương quan chặt chẽ giữa mức thu nhập bình quân đầu người thấp với

sự gia tăng dân số nhanh chóng, kể cả giữa các quốc gia và giữa các nhómdân cư trong một quốc gia

Trang 24

Việc áp dụng thuật ngữ nước đang phát triển cho toàn thể các nướcchưa đạt trình độ nước phát triển trong nhiều trường hợp là không thích hợp,không ít quốc gia nghèo không hề có những cải thiện tình hình kinh tế thậmchí là suy giảm.

Thuật ngữ "Nước đang phát triển" nhiều khi được thay thế bởi "Nướckém phát triển", "Nước chậm phát triển", “Thế giới thứ ba”, “Nam bán cầu”,thậm chí là "Nước kém phát triển nhất”

Nền kinh tế phát triển là các quốc gia có tỷ lệ tổng sản phẩm quốc nội

từ các hoạt động công nghiệp cao hơn một ngưỡng nhất định.Ví dụ về cácnước được coi là nước công nghiệp, hay còn gọi là có nền công nghiệp pháttriển, là Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ý, Nhật, Canada

Ở những nước công nghiệp hiện nay, mức thu nhập bình quân đầungười thường cao so với những nước nông nghiệp Điều này khiến nhiềunước nông nghiệp trên thế giới muốn thực hiện công nghiệp hóa, tức là pháttriển công nghiệp có tỉ trọng cao hơn so với các ngành khác Các nước côngnghiệp cũng thường có Chỉ số phát triển con người (HDI) thuộc vào loại cao,

và các quốc gia này còn hay được nhắc tới là các nước phát triển, nước tiêntiến, hay các nước thuộc Thế giới thứ nhất

Sự phát triển của một đất nước được đo đạc bằng các chỉ số thống kênhư tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người (GDP/người), tuổi thọ trungbình, tỷ lệ người biết chữ, v.v Liên hợp quốc xây dựng Chỉ số phát triển conngười, một chỉ số tổng hợp của các thống kê trên để xác định mức độ pháttriển con người ở mỗi quốc gia

Mức độ phát triển của một xã hội bao hàm cơ sở hạ tầng hiện đại (cả vềmặt vật chất và thể chế) và sự thoát khỏi những lĩnh vực sản xuất tạo ra giá trịgia tăng thấp như nông nghiệp và khai thác tài nguyên tự nhiên Ở các quốcgia phát triển, hệ thống kinh tế dựa trên sự tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững

ở những lĩnh vực dịch vụ, giáo dục, nghiên cứu phát triển, thông tin, v.v Các

Trang 25

quốc gia có sự tiến bộ vượt trội các nước đang phát triển nhưng chưa với tớitrình độ các nước phát triển được đưa vào nhóm nước công nghiệp hóa mới.

2 Tiêu chí đánh giá nền kinh tế mới nổi

Căn cứ để xếp loại gồm: tổng sản phẩm quốc dân (GNP) tính theo đầungười, tốc độ tăng trưởng hàng năm, tỉ trọng các ngành công nghiệp chế biến

và chế tạo trong tổng sản phẩm quốc dân, khối lượng và tỉ trọng hàng côngnghiệp xuất khẩu, tổng số vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Tuy nhiên, cho đến nay, những tiêu chuẩn để phân loại chỉ là ước lệ,chưa có quy định cụ thể của Liên hợp quốc

Không có tiêu chí rõ ràng và phổ biến nào để xác định một nền kinh tế

có phải là nền kinh tế mới nổi lên hay không Quĩ Tiền tệ quốc tế (IMF)thường xếp chung các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế đang phát triểnvào cùng một nhóm trong các tài liệu về kinh tế thế giới của mình mà khôngchia thành hai nhóm riêng The Economist có tiêu chí xác định riêng dựa vàothông tin về đầu tư Morgan Stanley Capital International cũng có cách xácđịnh riêng, và những nước sau được tổ chức này coi là thuộc nền kinh tế khuvực Đông Á mới nổi cụ thể là: Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa; Hồng Kông,Trung Quốc; Cộng Hoà Hàn Quốc; Đài Bắc, Trung Quốc trong hiệp hội cácnước Đông nam á (ASEAN) bao gồm các nước Indonesia, Philippines,Singapore, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam

3 Đặc điểm của nền kinh tế mới nổi

Đây là những nước có dân số lớn, diện tích rộng Về mặt kinh tế, đây làcác nền kinh tế mơ nổi lên có tiềm lực kinh tế, đang cải cách mạnh mẽ và đều

có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao

Đây là các quốc gia chưa đạt được trình độ tiến bộ kinh tế xã hội nhưcác nước thuộc thế giới thứ nhất nhưng có sự phát triển vượt trội so với cácnước đang phát triển thuộc thế giới thứ ba Một đặc điểm của các nước này là

có tốc độ tăng trưởng cao (thường là hướng về xuất khẩu), quá trình công

Trang 26

nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng Ở nhiều nền kinh tế mới nổi, đảo lộn xã hội

có thể xảy ra đặc biệt là ở khu vực nông thôn; dân cư nông nghiệp di cư ra cácthành thị kiếm việc làm, nơi sự phát triển của các lĩnh vực chế tạo côngnghiệp cần rất nhiều lao động

Các nước này thường mang đặc điểm chung là:

 Quyền dân sự và tự do xã hội được cải thiện;

 Kinh tế chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, đặc biệt là lĩnhvực chế tạo công nghiệp;

 Nền kinh tế thị trường ngày càng mở, cho phép tự do thương mại vớicác nước trên toàn thế giới;

 Các tập đoàn quốc gia lớn bành trướng hoạt động ra toàn cầu;

 Hấp thu luồng đầu tư tư bản dồi dào từ nước ngoài;

 Lãnh đạo chính trị mang lại ảnh hưởng lớn đến sự thúc đẩy kinh tế Các nước này thường nhận được hỗ trợ của các tổ chức quốc tế nhưWTO, v.v Tuy vậy, bởi những lợi ích thu được từ quá trình toàn cầu hóa,nhiều người theo chủ nghĩa bảo hộ (và có thể cả những người ủng hộ thươngmại bình đẳng) phản đối hàng hóa nhập khẩu từ các này, đặc biệt là từ TrungQuốc

Đó là xét về quy mô kinh tế, còn xét về thu nhập (GDP trên đầu người)thì theo dự báo, đến năm 2050, các cá nhân ở đây vẫn nghèo hơn các cá nhâncủa G6

Các nước Đông Á mới nổi thường thu được lợi ích trong thương mạiquốc tế nhờ chi phí lao động cạnh tranh đưa đến giá sản phẩm thấp Kết quả

là chi phí sản xuất hàng hóa và dịch vụ ở các nước này rẻ hơn rất nhiều ở cácnước phát triển

Mặc dù tiềm năng kinh tế của các nền kinh tế mới nổi này là không thểphủ nhận Cho tới gần đây các nhà kinh tế vẫn không hết lời khen ngợi về sựphát triển năng động của các nền kinh tế mới nổi như Hồng Kông, Trung

Trang 27

Quốc, Hàn Quốc, Singapore,….và coi những nước này là những “Đầu tàu”kinh tế mới.

Thành công về kinh tế của các nền kinh tế mới nổi trong thời gian quaphần lớn nhờ vào sự hội nhập đối với nền kinh tế thế giới thể hiện qua môhình kinh tế dựa trên xuất khẩu mà các nước này áp dụng Tuy nhiên, tinhhinh kinh tế không mấy sáng sủa trong vài tháng qua cho thấy các nền kinh tếnày cũng không nằm ngoài cuộc khủng hoảng

4.Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với hệ thống tài chính

Bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính ở Mỹ từ cuối năm 2007, cuộckhủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay được đánh giá làtrầm trọng nhất kể từ cuộc Ðại khủng hoảng kinh tế năm 1929 - 1933, mangtính thể chế và cơ cấu sâu sắc, suy thoái kinh tế có chiều hướng chuyển thànhkhủng hoảng kinh tế Cuộc khủng hoảng đã và đang sẽ tác động mạnh mẽ,lâu dài đến tình hình kinh tế, chính trị thế giới

Cuộc khủng hoảng tài chính đang đẩy hàng loạt các định chế tài chínhtrên toàn cầu, đặc biệt là Hoa kì và Châu Âu rơi vào một trong các thảm hoạ

là bị đóng cửa, bị sáp nhập hoặc bị quốc hữu hoá

Khủng hoảng tài chính toàn cầu có tác động dài hạn đến nền kinh tế thếgiới Nó đang và sẽ làm thay đổi gốc rễ hệ thống tài chính toàn cầu Điều nàythể hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau:

Thứ nhất, hệ thống tài chính thế giới sẽ chịu sự chi phối ngặt nghèo hơncủa môi trường quy định được thắt chặt Ở tầm vi mô, phần được coi là tự donhất của tài chính hiện đại, đó là khoảng 50 nghìn tỷ USD các sản phẩm pháisinh, sẽ được đưa vào vòng điều chỉnh và giám sát của các thể chế tài chính.Đồng thời, hệ thống quản lí và giám sát sẽ được thắt chặt để đảm bảo cho sự

an toàn và hồi phục của thị trường Việc thắt chặt môi trường quản lí nhiều

Trang 28

hay ít sẽ hầu như không phụ thuộc vào các yếu tố lý thuyết, mà phụ thuộc vàomức độ nghiêm trọng của tình hình kinh tế.

Thứ hai, cân bằng giữa sự tự do của kinh tế thị trường và sự can thiệpcủa chính phủ sẽ thay đổi theo hướng nhà nước sẽ can thiệp mạnh tay hơn.Tại rất nhiều quốc gia, cú sốc trước sự gia tăng vùn vụt của các hàng hoá cơbản đã bị các chính trị gia đổ lỗi cho các nhân tố đầu cơ tài chính Khi giálương thực cuối năm 2007 và đầu năm 2008 gây ra sự náo loạn về kinh tế và

cả chính trị tại hơn 30 quốc gia trên thế giới, phản ứng của chính phủ cácnước đang phát triển đã thi hành hàng loạt các biện pháp mạnh tay như tăngtrợ cấp, cố định giá cả, hạn chế xuất khẩu các hàng hoá thiết yếu Bảo vệ anninh lương thực nội địa, đặc biệt là của Trung Quốc và Ấn Độ, đã là mộttrong những lí do chính của sự thất bại của vòng đàm phán Doha vừa qua

Thứ ba, trong tương lai, thu nhập cố định từ các hoạt động ngân hàngkhác chắc chắn sẽ giảm mạnh, quá trình chứng khoán hoá sẽ trở lại một cáchthầm lặng hơn Hoạt động cho vay đòn bẩy sẽ xuống dốc, cùng với đó là sựsuy giảm lợi nhuận từ hoạt động này, đặc biệt là với các ngân hàng đầu tư.Theo Morgan Starleys và Oliver Wyman, hoạt động cho vay đòn bẩy chỉ cònchiếm khoản phân nửa so với của giai đoạn 2003-2007 Vấn đề hóc búa củadeleveraging là việc nó tự tạo ra một chu kỳ đáng ngại Chu kỳ này bắt đầu từviệc các tiêu chuẩn tín dụng thắt chặt khiến các nhà đầu tư không vay đượctiền phải bán tài sản để thanh toán các khoản nợ Việc nhiều nhà đầu tư cùngbán tài sản dẫn đến giá cả các tài sản này tụt dốc Các nhà đầu tư bán tài sản ồ

ạt và giá tụt dốc khiến cho các chủ thể cho vay khác giảm lòng tin vào khảnăng trả nợ của khách hàng Điều này có thể lại dẫn đến cơn hoảng sợ lantruyền trên thị trường và các chủ đầu tư bán tháo tài sản với bất cứ giá nào vì

lo sợ giá cả hàng hoá sẽ còn xuống dốc không phanh

Thứ tư, vai trò lãnh đạo hệ thống tài chính toàn cầu đã và đang thayđổi Ngành công nghiệp ngân hàng đã phát triển rực rỡ trong 25 năm qua

Trang 29

Trong hai thập kỷ vừa qua, sự phồn thịnh của kinh tế thế giới được dẫn dắtbởi người dẫn đường Mỹ dưới ánh sáng của thuyết kinh tế tư bản tự doAnglo- Saxon Chủ nghĩa tự do và sự dễ dàng trong việc chuyển dịch vốn và

hệ thống quy định của các quốc gia tiếp nhận vốn được nới lỏng đã càng kíchthích thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá và biến nó trở thành một biểu tượng thờiđại Rõ ràng quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, trong một số chừngmực nào đó, đã vượt ra ngoài sự kiểm soát của các chính phủ

Năm 2007, ngành tài chính ngân hàng của Mỹ đã chiếm đến 40% lợinhuận của đất nước, so với chỉ 10% vào thập kỷ 80 của thế kỉ trước Tuynhiên, khi cuộc khủng hoảng hiện nay ập đến Khủng hoảng đã khiến cácngân hàng thiệt hại nặng nề không chỉ về tài chính mà còn cả danh tiếng Hơnthế, một số ngân hàng đã phải gục ngã vì không chịu nổi cú sốc này

Khủng hoảng tài chính không chỉ làm suy yếu sức mạnh mà còn làmxói mòn hệ thống giá trị của hệ thống tài chính phương Tây

Không dừng lại tại đó, cuộc khủng hoảng tài chính đã kéo theo toàn bộcác lĩnh vực khác như sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, đầu tư,xuất nhập khẩu.v.v cũng rơi vào suy thoái, thậm chí nếu ít bị tác động thìcũng rơi vào trạng thái suy giảm kinh tế Trong đó hàng rào bảo hộ hàng hoá

và sử dụng hàng hoá trong nước đang được các nước dựng lên, làm cho lưuthông hàng hoá trên toàn cầu bị ngưng trệ, ách tắc… Điều đó càng đẩy cácnước vốn đã khó khăn do khủng hoảng gây ra, nay lại càng khó khăn hơntrong việc chu chuyển vốn, lao động và các nguồn lực khác Đặc biệt, hậu quảlớn nhất đang đè nặng không những lên vai mỗi quốc gia, mà còn gây tổn hạinặng nề cho từng gia đình, đó chính là tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăngtrên mọi lĩnh vực, mọi ngành, mọi nghề

Tuy nhiên, khó khăn của mỗi quốc gia gặp phải trong khủng hoảngnhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào độ mở cửa của nền kinh tế về hàng hoá, dịch

Trang 30

vụ với thế giới bên ngoài thông qua các hiệp ước kinh tế song phương hay đaphương.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn nhưhiện nay, khó có thể cho rằng các nền kinh tế không bị ảnh hưởng gì Do phụthuộc nhiều vào một nhóm nhỏ các thị trường lớn như Mỹ và Châu Âu, nhữngtác động trên là cái giá phải trả khi các thị trường lớn này đang giảm sút nhu cầu

Không chỉ dừng lại ở các nền kinh tế hàng đầu thế giới như Anh, NhậtBản, Trung Quốc Khủng hoảng tài chính toàn cầu khởi nguồn từ Mỹ ngày15/9 vừa qua đang tràn qua các thị trường mới nổi - nơi được dự đoán là ítchịu tác động nhất Các nền kinh tế mới nổi đã nhanh chóng xác lập được vịtrí trên bản đồ kinh tế thế giới với những thành tích rạng rỡ kéo dài hơn 20năm qua Mới chỉ cách đây ít tháng, các nền kinh tế đang nổi lên vẫn được coi

là những “ốc đảo” của sự ổn định giữa lúc thế giới phương Tây phải đươngđầu với khủng hoảng tài chính Một số người còn cho rằng, các nền kinh tếmới nổi lên sẽ là “cứu cánh” cho kinh tế thế giới khỏi nguy cơ suy thoái Lý

do của sự tin tưởng này là sau một loạt những biến cố kinh tế ở thập niên

1990, chính phủ ở các nền kinh tế đang nổi lên đã cải thiện mạnh mẽ bảng cânđối kế toán quốc gia của mình, trả hết nợ cho IMF và tích lũy được nhữngkhoản dự trữ ngoại hối lớn

Tuy nhiên trong hoàn cảnh kinh tế thế giới suy giảm, các nền kinh tếmới nổi đang phải đối đầu với những nguy cơ mới mà không dễ gì giải quyếtđược Ở giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, không ítngười cho rằng, các thị trường mới nổi lên sẽ không bị tác động bởi căn bệnhcủa thế giới phát triển Nhưng thực tế đã chứng minh điều ngược lại

Vào lúc này, không ít các đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi lênđang mất giá mạnh Các dòng vốn chảy vào các nền kinh tế này cũng đangcạn dần, buộc các ngân hàng trung ương phải rút dần dự trữ ngoại tệ để hỗ trợ

Trang 31

đồng nội tệ cũng như hỗ trợ các ngân hàng trong nước và các công ty xuấtkhẩu đang khát vốn

David Roche, Chủ tịch công ty tư vấn đầu tư Independent Strategy ởLondon nhận xét: “Chúng ta sắp sửa chứng kiến một cuộc khủng hoảng toàndiện ở các thị trường mới nổi lên” Hiện nay, thành công của các nền kinh tếmới nổi cũng kém bền vững như lĩnh vực cho vay dưới chuẩn ở Mỹ Bởi vì,phần lớn sự tăng trưởng của các nền kinh tế này đã phụ thuộc quá nhiều vàocác dòng vốn và tín dụng bên ngoài, và các dòng vốn này thì lại đang cạn dần.Ngoài những quốc gia có thặng dư thương mại lớn như Trung Quốc và cácnước xuất khẩu dầu lửa lớn, đang ngày càng có nhiều nước rơi vào trạng tháithâm hụt thương mại và thâm hụt cán cân vốn ở mức cao

Giới quan sát cho rằng, những khó khăn lớn hơn sẽ đến với các nềnkinh tế mới nổi vào năm tới, khi mà doanh nghiệp ở các nền kinh tế này phảiquay vòng số nợ lên tới 360 tỷ USD Đây thực sự là một thách thức quá lớnxét trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay Đồng thời, IMF cũng cảnh báo

về một nguy cơ nghiêm trọng: Các nền kinh tế mới nổi sẽ không thể vay tiền

từ bên ngoài vì các ngân hàng cũng như giới đầu tư ở các nước giàu rút tiềncủa họ "Nguy cơ là lớn nhất đối với các nền kinh tế mới nổi mà phụ thuộcvào dòng vốn xuyên biên giới để bù đắp cho thâm hụt tài khoản vãng lai".Thủ tướng Anh Gordon Brown, cho biết, từ năm 2007, sự đầu tư của thế giớiđối với các thể chế kinh tế mới nổi giảm 800 tỷ USD Theo nhận định của cácchuyên gia kinh tế, khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này đối với các thể chếkinh tế mới nổi đang để lại những tác động khá nặng nề

Nếu vòng tuần hoàn luẩn quẩn về khủng hoảng tín dụng trong hệ thốngtài chính còn tiếp diễn, mức đầu tư vào các thị trường mới nổi của các nướcphát triển ngày càng giảm mạnh, và những khó khăn của các nền kinh tế mớinổi sẽ còn kéo dài Nếu dự báo kinh tế thế giới sẽ suy thoái kéo dài là đúng,thì những tác động về an ninh, xã hội, và chính trị đối với các nền kinh tế mới

Trang 32

nổi là không thể tránh khỏi Đáng lo ngại nhất là Trung Quốc, và một số nướcĐông Á mới nổi, một số nghiên cứu cho thấy chừng nào tăng trưởng TrungQuốc còn dưới 6%, chừng đó bất ổn xã hội và nạn thất nghiệp sẽ có xu hướnggia tăng Do đó ưu tiên hàng đầu của chính phủ Trung Quốc hiện nay là duytrì việc làm.

Với tiềm năng tăng trưởng, sự năng động trong kinh doanh, tỷ lệ tiếtkiệm cao, dân số lao động chăm chỉ, và một loạt các biện pháp đối phó vớikhủng hoảng chủ động trong thời gian qua, chắc chắn các nền kinh tế mới nổi

sẽ vượt qua được cuộc khủng hoảng này Có điều, khả năng có vượt qua đượccuộc khủng hoảng một cách nhanh chóng hay không không chỉ phụ thuộc vào

nỗ lực và ý muốn chủ quan của các nước này mà còn phụ thuộc vào sự hồiphục của các thị truờng khác, đặc biệt là Mỹ và liên minh Châu Âu Dù nộilực mạnh nhưng số phận và sự thịnh vượng của các nền kinh tế mới nổi vẫnrất gắn chặt vào Mỹ và Châu âu

Trang 33

CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ

CÁC NỀN KINH TẾ ĐÔNG Á MỚI NỔI

I TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI

1 Môi trường kinh tế bên ngoài

Nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với sự trượt dốc to lớn, với cácnền kinh tế công nghiệp chính đang suy thoái và khủng hoảng tài chính toàncầu đang dập tắt các khoản tín dụng đối với các hãng và các hộ gia đình đãgây áp lực đối với thu nhập ngày càng giảm và giá cả hàng hoá đạt mức kỉ lục

từ đầu năm nay

Các nền kinh tế chính đã rơi vào suy thoái, theo IMF hiện nay GDP đầu

tư vào các dự án ở các nước tiên tiến giảm 0,3% trong năm 2009, sau tăngtrưởng được ước tính là 1,4% năm 2008 Đó sẽ là sự thu hẹp thường niên đầutiên ở các nước tiên tiến trong thời kì hậu chiến tranh thế giới II Nền kinh tếG3 (US, Châu Âu, và Nhật Bản) cũng thu hẹp trong những quý gần đây, vớicầu trong nước giảm nhanh chóng Và cuộc khủng hoảng tài chính đang tiếpdiễn đã tăng cường sự kìm hãm đối với các thị trường tín dụng và tiền tệ toàncầu đã ngăn cản tín dụng tới khu vực tư nhân Trong khi các biện pháp mà các

cơ quan chức năng đưa ra được tiến hành thì sẽ giúp giảm độ nghiêm trọng vàkhoảng thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng, tổn thất đối với các điều kiện tíndụng toàn cầu là rất lớn và việc hồi phục sẽ mất một khoảng thời gian đáng

Trang 34

cố của đồng đô la Mỹ Những dự doán về sự trượt đốc đáng kể của nền kinh

tế cũng củng cố thêm cho quan điểm nới lỏng cân bằng thị trường xuất phát

từ việc tăng sản xuất dầu mỏ ở các nước Ả Rập trong suốt tháng 7 - tháng 8năm 2008 và những dấu hiệu của nhu cầu về dầu mỏ bị sụt giảm đối với việcgiá tăng cao kỉ lục trong những năm qua Tuy nhiên, cân bằng thị truờng vẫnđược thắt chặt, đặc biệt trong quyết định mới đây của Tổ chức các nước xuấtkhẩu dầu mỏ (OPEC) nhằm cắt giảm sản xuất 1,5 triệu thùng mỗi ngày từngày 1 tháng 11, và chỉnh công suất thặng dư thấp tương đối giữa các nướcOPEC Trong tương lai giá dầu mỏ sẽ vẫn dao động khẽ, chỉ dịch chuyển trởlại khoảng 60$/thùng vào năm 2009, trong khi giá những mặt hàng phi dầu

mỏ đã rớt giá đáng kể từ giữa năm 2008 do nhu cầu giảm Nhu cầu nhậpkhẩu yếu đi đối với Trung Quốc, kết hợp với triển vọng nhu cầu thế giới giảmsút, sẽ tiếp tục tạo áp lực thụt lùi đối với giá cả nguyên liệu thô nông nghiệp

và kim loại cơ sở, ít nhất là trong ngắn hạn

Bất chấp những tác động vào tính thanh khoản của các cơ quan chứcnăng tiền tệ trên toàn cầu, các thị trường tiền tệ và các điều kiện tài chính nhìnchung vẫn rất căng thẳng, và sự hồi phục chỉ có thể sẽ diễn ra từng bước

Kể từ giữa tháng 12, các ngân hàng trung ương chính trên thế giới đã

áp dụng các biện pháp với quy mô và tầm quan trọng chưa từng có theo tiền

lệ, bao gồm những biện pháp ồ ạt đựơc phối hợp về tính thanh khoản đối vớicác tổ chức và các thị trường và những hiệp định mở rộng về sự trao đổi tỷgiá hối đoái - nhằm ngăn chặn khủng hoảng và xây dựng lại lòng tin của quầnchúng Nhưng sự biến động của thị trường vẫn rất cao và các thị trường gâyquỹ cho ngân hàng vẫn đang trong tình trạng căng thẳng nghiêm trọng Xét vềchất lượng và tính thanh khoản trong việc bán tháo của thị trường đã buộc sảnlượng trái phiếu của chính phủ Mỹ, Anh, và Châu Âu xuống mức thấp nhấttrong lịch sử Chi phí cho việc phòng tránh tình trạng vỡ nợ của các công ty,cái mà đã tác động mạnh vào việc xoay chuyển rủi ro của các nhà đầu tư toàn

Trang 35

cầu, có nhiều khả năng sẽ vẫn duy trì ở mức cao và còn tăng hơn nữa, cùngvới tỷ lệ vỡ nợ của các công ty dự tính sẽ còn tăng lên và các điều kiện kinh tếxấu dần đi Nếu căng thẳng tài chính toàn cầu nhân rộng, ảnh hưởng của việctín dụng trong nước thắt chặt hơn trên tổng thể các hoạt động kinh tế sẽ làthực sự nghiêm trọng đối với Đông Á mới nổi, nơi mà những công ty vẫn dựaphần lớn vào việc vay vốn các ngân hàng.

Ngày 15 tháng 11, các nhà lãnh đạo nhóm G203 đã cùng nhau nhất trítăng cường hợp tác nhằm khôi phục tăng trưởng kinh tế và thực thi nhanhchóng những cải cách đối với hệ thống tài chính thế giới

Các nhà lãnh đạo đã cam kết tiến hành mạnh mẽ hơn nữa những biệnpháp cần thiết để tái ổn định hệ thống tài chính và sử dụng những biện pháptài khoá nhằm kích thích nhu cầu trong nước hiệu quả và phù hợp hơn Họ đãđặt ra 5 nguyên tắc lớn đối với cải cách hệ thống tài chính:

(i) Tăng cường tính minh bạch và khả năng thanh khoản

(ii)Củng cố những quy định đúng đắn

(iii) Thúc đẩy hội nhập các thị trường tài chính

(iv) Củng cố hợp tác quốc tế

(v) Cải cách các tổ chức tài chính quốc tế

Một kế hoạch hành động chi tiết đã được vạch ra nhằm thực thi 5nguyên tắc và các bộ trưởng tài chính nhóm G20 hi vọng sẽ sẽ thực hiện côngviệc dưới sự lãnh đạo của nhóm G20 trong năm 2009 Một vài hành động ưutiên hàng đầu sẽ được hoàn tất trước thềm Hội nghị các nhà lãnh đạo nhomG20 tới vào tháng 4 năm 2009 Các nhà lãnh đạo cũng đã cam kết chống chủnghĩa bảo hộ

2 Tác động đến nền kinh tế thế giới

3 Các thành viên nhóm G20 bao gồm: Argentia, Australia, Brazil, Canada, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật Bản, Cộng hoà Hàn Quốc, Mexico, Nga, Ả Rập Thống nhất, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kì, Anh, và Mỹ.

Liên minh Châu Âu cũng là một thành viên, đại diện bởi Chủ tịch hội đồng luân phiên và Ngân hàng trung ương Châu Âu.

Trang 36

2.1 Tác động đến các nước Phương Tây

Triển vọng kinh tế Mỹ đang xấu dần do cuộc khủng hoảng tài chính tồi

tệ nhất trong thập kỉ đã đưa nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, với chitiêu tiêu dùng và đầu tư kinh doanh bị kìm hãm

Sau khi thu hẹp 0,5% trong quý III , nền kinh tế Mỹ được cho là sẽ cònthu hẹp hơn nữa trong năm 2009 Quỹ tiền tệ thế giới IMF dự đoán sẽ thu hẹp0,7% trong năm 2009 Chi tiêu tiêu dùng cá nhân rớt xuống 3,7% trong quýIII, khi người tiêu dùng hạn chế chi tiêu cùng với sự trì trệ của thị trường nhàđất tiếp diễn, thất nghiệp gia tăng, bất ổn tài chính nhân rộng Giá nhà đất tiếptục giảm cùng với hàng tồn kho cao, kèm theo là nhu cầu sụt giảm nhanhchóng tràn ra hoạt động kinh doanh Trong tháng 11, tổng số thất nghiệp là533.000 lao động, nâng tổng số thất nghiệp lên 1,9 triệu lao động trong nămqua, với 2/3 là trong 3 tháng vừa qua, một dấu hiệu của sự trượt dốc gia tăng

Tỷ lệ thất nghiệp tăng 6,7%

Cuộc khủng hoảng tín dụng đã gây nên một cú sốc tài chính nặng nềnhất kể từ cuộc đại suy thoái đến nay, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới thịtrường và các tổ chức tài chính vốn là hạt nhân của hệ thống tài chính Ướctính, thiệt hại đối với nền kinh tế toàn cầu có thể lên tới 1.000 tỉ USD Nhữngtên tuổi lớn như City Group, Merrill Lynch, UBS, Deustche Bank đều bịảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng lần này City Group lỗ 21,1 tỉ USD,còn Merrill Lynch cũng mất 22 tỉ USD

Do hệ thống tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với Mỹ, không lâu sau

đó EU cũng trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng, khi các thể chế tàichính đều phải gánh chịu những thiệt hại kỷ lục tại thị trường tài chính Mỹhoặc đối mặt với sự thiếu hụt nghiêm trọng trong vấn đề thanh khoản Điểnhình là, công ty cho vay thế chấp Bradford & Bingley của Anh, Tập đoànngân hàng Fortis (liên doanh giữa Bỉ và Hà Lan) và Ngân hàng Dexia (liêndoanh giữa Pháp và Bỉ) trở thành những nạn nhân đầu tiên tại châu Âu trong

Trang 37

cuộc khủng hoảng tài chính và khiến các chính phủ EU phải bơm hàng tỷEuro để "cứu" các thể chế tài chính này.

Tại Đức, hầu hết ngân hàng lớn đều đã thừa nhận những tổn thất củamình do đầu tư vào thị trường Mỹ Vừa qua, Chủ tịch Ngân hàng phát triểnĐức (KFW) Ma-thiu Mai-ơ đã từ chức sau khi ngân hàng này phải chi tới 6,8

tỉ Euro (10,7 tỉ USD) để cứu Ngân hàng IKB - nơi KFW giữ cổ phần chi phối.KFW đã công bố khoản lỗ 10,7 tỉ USD trong năm tài chính vừa qua Ngânhàng lớn nhất nước Đức Deustche Bank cũng thừa nhận mất 3,93 tỉ USDtrong quí IV

Triển vọng tăng trưởng kinh tế của toàn cầu cũng chịu tác động mạnh

từ cuộc khủng hoảng tín dụng của Mỹ Theo thống kê mới đây nhất của IMF,tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu đã giảm đáng kể trong quý IV năm 2007

và dự kiến còn tiếp tục giảm trong năm 2008 (giảm khoảng 4,1% so với 4,9%của năm 2007) Sự suy giảm của thị trường nhà ở, khu vực sản xuất và tỷ lệthất nghiệp tăng đã khiến mức tăng trưởng kinh tế Mỹ chỉ còn 1,9% trongnăm 2007 và thậm chí nửa đầu năm 2008 còn rơi xuống mức âm

Châu Âu cũng rơi vào suy thoái sau khi rất nhiều định chế tài chính bịtổn hại trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính, sản xuất công nghiệp sụtgiảm, và doanh số bán lẻ trượt dốc

Khu vực Châu Âu đã chính thức rơi vào suy thoái, sau sự thu hẹp trongsuốt quý II và III trong năm, bị tác động bởi hàng loạt các cú sốc tiêu cựctrong năm trước và tiếp theo sau đó, bao gồm bất ổn tài chính, giá dầu cao,giá nhà đát sụt giảm đáng kể trong một vài quốc gia Lạm phát cao đã gây ảnhhưởng tới thu nhập thực tế, tác động tới chi tiêu tiêu dùng và đầu tư kinhdoanh yếu dần cùng với việc tăng lên không chắc chắn Hệ thống tài chính đã

bị lung lay một cách hữu hình từ giữa tháng 11, khi khủng hoảng tài chínhnhân rộng, bởi vì rất nhiều ngân hàng Châu Âu đã có bản Cân đối bị thiệt hạinghiêm trọng Bỉ, pháp, Đức, Luxembourg, Hà Lan, Anh đã áp dụng nhiều

Trang 38

biện pháp để giải cứu hệ thống ngân hàng ở cấp quốc gia, trong khi đó ĐanMạch và Ireland đã công bố tài khoản tiền gửi có mang tính phổ biến và sựbảo hành các khoản nợ đối với hệ thống các ngân hàng của họ, nhưng nhữngảnh hưởng của suy thoái tài chính vẫn tiếp tục tác động đến nền kimh tế thực,

do các ngân hàng giảm cho vay và các điều khoản tín dụng bị thắt chặt Hoạtđộng kinh tế có nhiều khả năng yếu dần đối với người tiêu dùng và lòng tinvào kinh doanh cũng bị giảm đáng kể Doanh số bán lẻ tiếp tục giảm và sảnxuất công nghiệp bị đình trệ, đã kéo theo sự sụt giảm trong xuất khẩu Suythoái toàn cầu có nhiều khả năng sẽ làm giảm nhu cầu nhập khẩu hơn nữa,phần nào sẽ bù lại ảnh hưởng của việc mất giá trị của đồng euro gần đây vàgiảm giá dầu mỏ và việc nhập khẩu hàng hoá Áp lực lạm phát đang làm lắngxuống việc rớt giá dầu mỏ và nền kinh tế bị đình trệ, điều này sẽ dẫn tới việcnới lỏng tiền tệ Trong nỗ lực khôi phục lòng tin của các thị trường tài chính -khi mà Châu Âu đang phải dối mặt với suy thoái tồi tệ nhất kể từ đầu thập kỉ

90 - Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) ngày 4 tháng 12 đã cắt giảmngân sách xuống 75 điểm, tương đương với 2.50%, đây là lần cắt giảm lớnnhất từng có, làm cho tổng cắt giảm tỉ lệ tích luỹ tính từ ngày 8 tháng 10 là

175 điểm ( Ngân hàng trung ương Anh, Thuỵ Điển, và Đan mạch cũng cắtgiảm lãi suất) Và có nhiều khả năng sẽ được kích thích hơn nữa trong giaiđoạn sắp tới để đối phó với nhu cầu đang sụt giảm: Uỷ ban Châu Âu đã thôngqua kế hoạch chi 200 tỉ Euro, mặc dù việc thực thi phụ thuộc nhiều vào từng

cá nhân mỗi nước Châu Âu

Khu vực EU tăng trưởng chậm lại do các chỉ số về lòng tin sụt giảm vàtác động từ sự suy giảm của nền kinh tế Mỹ Dự kiến mức tăng trưởng củakhu vực này chỉ khoảng 1,4% trong năm 2008

2.2 Tác động đến nền kinh tế Châu Á

Trang 39

Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới và hoạt động của các công ty

đa quốc gia Mỹ lan rộng đến tất cả các châu lục nên cuộc khủng hoảng ở Mỹchắc chắn sẽ tác động đến kinh tế thế giới, kể cả Châu Á

Tuy nhiên tác động này có lẽ không quá trầm trọng như cảm nhận củanhiều người Hơn nữa, từ cái nhìn trung và dài hạn về kinh tế Mỹ tương đốilạc quan như đã nói thì nhiều nước Châu Á cũng chỉ bị ảnh hưởng trong thờigian 1-2 năm trước mắt Mặt khác, với lượng dự trữ ngoại tệ rất lớn, nhiềunước Châu Á sẽ có tiếng nói mạnh hơn trong quan hệ với Mỹ và trong cácdiễn đàn quốc tế bàn về ổn định kinh tế thế giới

Trước hết, Châu Á chịu ảnh hưởng lớn nhất có lẽ là thị trường chứngkhoán Chứng khoán ở Mỹ tụt dốc gây nên tâm lý bất an giữa những nhà đầu

tư tại Châu Á và thị trường chứng khoán của những nước này cũng suy sụptheo Tài sản của các cá nhân đầu tư chứng khoán bị giảm sút làm giảm khảnăng chi tiêu trong dân kéo theo sự đình đốn trong sản xuất Tuy nhiên hiệuquả này chỉ mạnh trong các nền kinh tế tiên tiến trong đó thị trường chứngkhoán đã phát triển đáng kể như Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan

Về thị trường xuất khẩu của các nước Châu Á, do Mỹ còn chiếm vị tríkhá cao nên xuất khẩu và sản xuất của những nước này sẽ bị đình trệ, tuy rằngnhững nền kinh tế lớn ở Châu Á như Nhật và Trung Quốc trong những nămgần đây đã giảm đáng kể độ tùy thuộc vào thị trường Mỹ Chẳng hạn vào năm

2002 thị trường Mỹ chiếm tới 27% xuất khẩu của Nhật nhưng đến năm 2007chỉ còn độ 20% Hiện nay Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất củaNhật, không phải Mỹ Đối với Trung Quốc từ năm 2007 thị trường xuất khẩulớn nhất cũng đã chuyển từ Mỹ sang EU Dĩ nhiên tuy đã giảm, vị trí của Mỹvẫn còn cao và thị trường ở nước thứ ba (như Châu Âu) bị ảnh hưởng củakhủng hoảng ở Mỹ thì xuất khẩu từ Châu Á cũng gián tiếp bị ảnh hưởng

Trong tình hình đó, nội nhu sẽ đóng vai trò quan trọng hơn Mỹ cũng sẽyêu cầu các nền kinh tế lớn ở Châu Á như Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc

Trang 40

chuyển hướng chính sách tăng nhu cầu trong nước Đồng tiền các nước này,nhất là đồng nhân dân tệ sẽ lên giá

Nhu cầu trong nước có lẽ không tăng đủ để bù vào chỗ giảm sút trongxuất khẩu nên tăng trưởng kinh tế tại Châu Á sẽ giảm tốc Tuy nhiên khôngthể có chuyện suy sụp như ở Mỹ

Tại Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, lợi nhuận của sáu ngânhàng lớn nhất đã sụt giảm hơn 40% trong năm tài chính vừa kết thúc vàotháng 3 do những thua lỗ tại thị trường tín dụng thứ cấp Mỹ

Nền kinh tế Nhật Bản, bị tổn thất bởi nhu cầu bên ngoài sụt giảm vàtiêu dùng nội địa vẫn chậm chạp, đã rơi vào suy thoái, với ước tính GDP sẽthu hẹp 0,2% trong năm 2009

Nền kinh tế Nhật bị thu hẹp 1,8% trong quý III năm 2008, sau khi sụtgiảm 3,7% vào quý trước Theo dự tính xuất khẩu sẽ còn giảm hơn nữa khisuy thoái toàn cầu vẫn tiếp diễn, trong khi lợi nhuận hợp tác sụt giảm và thunhập hộ gia đình thu nhập hộ gia đình đã làm thay đổi quan điểm của hộ giađình và doanh nghiệp theo chiều hướng xấu, điều này đã dẫn đến nhu cầutrong nước nhiều khả năng sẽ ngày càng suy yếu đi Sự gia cố của đồng yên

và sự rớt giá chứng khoán của Nhật gần đây đã tạo thành bóng đen che phủthực trạng kinh tế trong những năm tới Tuy nhiên, giá cả hàng hoá sụt giảmcũng đã hỗ trợ cho tiêu dùng, và tăng trưởng ở các nền kinh tế mới nổi có lẽ

sẽ trợ giúp cho xuất khẩu của Nhật Tuy nhiên, bất ổn tài chính toàn cầu có lẽ

sẽ làm thất vọng người tiêu dùng và các nhà đầu tư hơn nữa, đặc biệt nếu nềnkinh tế Mỹ ngày càng thu hẹp và các nền kinh tế mới nổi trải qua sự trượtdốc nặng nề Lạm phát hàng đầu tăng trên 2% trong những tháng gần đây dogiá thực phẩm và năng lượng cao, nhưng lại tụt xuống 1.7% vào tháng 10, và

dự đoán sẽ còn sụt giảm liên tục trong năm 2009 cùng với giá cả hàng hoágiảm và tác động của suy thoái Ngân hàng Nhật Bản đã cắt giảm ngân sách0,3% vào ngày 31 tháng 10 sau khi vẫn giữ tỉ lệ đều đặn vào tháng 2, điều này

Ngày đăng: 21/12/2014, 18:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Vũ Thị Thuỳ Chi (2005)-Vụ chính sách tiền tệ, “Khủng hoảng tài chính và tính dễ bị tổn thương của hệ thống tài chính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tàichính và tính dễ bị tổn thương của hệ thống tài chính
Tác giả: Vũ Thị Thuỳ Chi
Năm: 2005
2.Frederic S.Mishkin(1999), Sách “Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính”, NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ ngân hàng và thị trường tàichính”
Tác giả: Frederic S.Mishkin
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1999
3. PTS Nguyễn Hồng Sơn, “Hệ thống tài chính- tiền tệ toàn cầu và khủng hoảng ở các nước đang phát triển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tài chính- tiền tệ toàn cầu vàkhủng hoảng ở các nước đang phát triển
6. TS. Nguyễn Minh Phong và TS. Lê Tự Minh (2008), “ Bài học từ khủng hoảng tài chính Mỹ…”, Tạp chí Ngân hàng số 22 (11/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học từkhủng hoảng tài chính Mỹ…
Tác giả: TS. Nguyễn Minh Phong và TS. Lê Tự Minh
Năm: 2008
7. Phạm Kim Loan (2008), “Chứng khoán hoá và những bài học kinh nghiệm thực tiễn từ cuộc khủng hoảng thị trường bất động sản của Mỹ ”, Tạp chí ngân hàng số 21 (11/ 2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng khoán hoá và những bài học kinhnghiệm thực tiễn từ cuộc khủng hoảng thị trường bất động sản của Mỹ
Tác giả: Phạm Kim Loan
Năm: 2008
8. ThS. Nguyễn Trí Bảo (2008),”khủng hoảng cho vay dưới chuẩn tại Mỹ: Nhìn nhân nguyên nhân”, Tạp chí Ngân hàng số 11 (06/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: khủng hoảng cho vay dưới chuẩn tạiMỹ: Nhìn nhân nguyên nhân”
Tác giả: ThS. Nguyễn Trí Bảo
Năm: 2008
9. Bùi Duy Hưng (2008), “Bài học kinh nghiệm về đo lường rủi ro tín dụng từ khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ”, tạp chí Ngân hàng số 18 (09/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học kinh nghiệm về đo lường rủi ro tíndụng từ khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ
Tác giả: Bùi Duy Hưng
Năm: 2008
10. Lê Minh Hưng (2009), “Khủng hoảng tài chính toàn cầu: tác động và các giải pháp chính sách của các quốc gia mới nổi ở Đông Á”, Tạp chí Ngân hàng số 1+2 Xuân Kỷ Sửu 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính toàn cầu: tác độngvà các giải pháp chính sách của các quốc gia mới nổi ở Đông" Á
Tác giả: Lê Minh Hưng
Năm: 2009
11. Http://www.vietnamnet.vn/kinh te/2008 /09 , “Toàn cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cảnh cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu
12. Http://www.vietnamnet.vn/kinh te/2008 /09, “Nguy cơ của các nền kinh tế mới nổi” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy cơ của các nềnkinh tế mới nổi
13. Http://www.vneconomy.vn, “Khủng hoảng tài chính toàn cầu thách thức sự thống nhất của EU” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính toàn cầuthách thức sự thống nhất của EU
14. Http:// www.vietbao.com.vn, “Các nền kinh tế mới nổi tê liệt vì khủng hoảng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nền kinh tế mới nổi tê liệt vìkhủng hoảng
17. Http://www.asset.vn (29/10/2008), “Các nền kinh tế mới nổi trong“Bão” tài chính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nền kinh tế mới nổi trong"“Bão” tài chính
18. Http://www.my.opera.com(23/11/2008), “Khủng hoảng tài chính toàn cầu lan rộng có đặt thế giới trước những thay đổi lớn”.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tàichính toàn cầu lan rộng có đặt thế giới trước những thay đổi lớn
5. Dirk Willem Te Velde (08/09/2008), INENT/DIE/BMZ Conference in Berlin, “Effects of the globle financial crisis on Developing Countries and Emerging Markets” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of the globle financial crisis on Developing Countries andEmerging Markets
6. Michael U. Klein (Munich Finance Summit on November 6,2008),“The International Financial Crisis –What next for Emerging Markets?” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The International Financial Crisis –What next for Emerging Markets
7. Internatiional Workshop on 11-12 June 2009 at the Center for emerging Markets; IESE Business School, Barcelona, Spain, “Emerging Asia’s Adjustment to the Global financial Crisis” Sách, tạp chí
Tiêu đề: EmergingAsia’s Adjustment to the Global financial Crisis
8. Http://www.undp.org/poverty, “The financial crisis and its impact on developing countries” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The financial crisis and its impacton developing countries
9. Http://fortisinvestments.com (24/10/2008), “Impact of the Financial crisis on emerging markets” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of the Financialcrisis on emerging markets
4. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Asia Economic Moniter 2008, 5. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1b: Cán cân thanh toán-NIEs (% của GDP) - khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động đến các nền kinh tế mới nổi
Bảng 1b Cán cân thanh toán-NIEs (% của GDP) (Trang 51)
Bảng 1c: Cán cân thanh toán - Trung quốc (% của GDP) - khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động đến các nền kinh tế mới nổi
Bảng 1c Cán cân thanh toán - Trung quốc (% của GDP) (Trang 52)
Bảng 2: Dự trữ Ngoại Hối (Ngoại trừ vàng) - khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động đến các nền kinh tế mới nổi
Bảng 2 Dự trữ Ngoại Hối (Ngoại trừ vàng) (Trang 52)
Bảng 3: Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng  năm (%) - khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động đến các nền kinh tế mới nổi
Bảng 3 Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm (%) (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w