1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

28 822 5
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 4,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế- xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách

Trang 1

kinh tế quốc dân Nói cách khác chúng ta phải tiến hành CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức

B LÍ LUẬN

I Một số khái niệm

1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế- xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên

sự phát triển cao của công nghiệp và sự tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao hơn

Nó bao gồm 2 nội dung:

- Trang bị kĩ thuật - công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp và các

ngành khác của nền kinh tế quốc dân

- Tạo lập cơ cầu kinh tế mới mà nòng cốt là cơ cầu công nghiệp, nông

nghiệp và dịch vụ hiện đại

2 Kinh tế tri thức.

Trang 2

a Khai niém

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm năm

1995: “Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra

của cải nâng cao chất lượng cuộc sống”

b Vai trò của nền kinh tế tri thức

- Kinh tế tri thức mang lại những cơ hội và thách thức lớn trong sự phát triển chưa từng thấy của nhân loại

Kinh tế tri thức có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển xã hội ngày nay Phát triển kinh tế tri thức là cơ hội để rút ngắn khoảng cách lạc hậu Từ những tri thức, công nghệ kỹ thuật mới, các tư liệu lao động mới, hệ thống máy móc thông minh, tự động hóa sẽ được tạo ra Quá trình đó sẽ giúp phát hiện và sáng tạo ra nhiều đối tượng lao động mới, những nguyên liệu

mới, năng lượng mới, có thể trước đây chưa từng xuất hiện, tạo ra nhiều

giá trị sử dụng mới, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu xã hội ngày càng tốt hơn, giảm bớt việc khai thác các nguồn tài nguyên hiện hữu

- KTTT là động lực thúc đây tiến trình xã hội hóa quan hệ sản xuất và

lực lượng sản xuất, làm cho phân công lao động xã hội phát triển cả về chiều

rộng lẫn chiều sâu

KTTT được hình thành, phát triển trên cơ sở các ngành sản xuất sử

dụng công nghệ cao Từ đó mà tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển

của toàn bộ nền kinh tế

Nó thúc đấy công nghiệp phát triển nhanh thông qua các cuộc cách

mạng, cách mạng xanh, cách mạng sinh học

- Nó thúc đẩy công nghiệp, không ngừng gia tăng hàm lượng khoa

học — kỹ thuật, công nghệ trong sản phẩm công nghiệp qua đó mà gia tăng giá trị sử dụng, giá trị trao đổi của sản phẩm công nghiệp.

Trang 3

Nó thúc đây trí nghiệp ở các ngành dịch vụ, thông tin, thương mại, tiền tệ với nhiều hình thức phong phú Nó thúc đẩy việc nâng cao đời sống xã hội, hướng đến một nền văn minh cao hơn

- Trong nên KTTT, các yêu vật chât cũng như hàm lượng vật chât

trong các sản phẩm ngày càng giảm, hàm lượng tri thức, lao động chất xám, lao động trí óc tăng lên, chiếm tỷ trọng ngày càng cao lớn trong giá trị sản phẩm

Trong nền KTTT, các sản phẩm trí tuệ dựa vào nguồn lực hàng đầu là

tri thức Đây là nguồn vốn cơ bản của quá trình sản xuất và tái sản xuất của

xã hội, thay vì chỉ là đất đai, tài nguyên và vốn tiền tệ như trước đây Thông tin, kiến thức lao động có trình độ cao được sử dụng nhiều, ít sử dụng

tài nguyên thiên nhiên Những trung tâm công nghệ cao được hình thành

Đặc biệt tri thức khoa học và công nghệ cùng với lao động kỹ thuật cao là thành phần quan trọng của lực lượng sản xuất, là lợi thế phát triền kinh tế

Nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa Sự sáng tạo đổi mới trở

- Cơ cấu kinh tế kỹ thuật thay đổi một cách sâu sắc, theo hướng tri

thức hóa, làm thay đôi phương thức tổ chức và quản lý không chỉ trong các

ngành đó mà còn tác động đến các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế

Do những thay đổi trong cơ cấu kinh tế - kỹ thuật sẽ làm thay đổi về chất trong cơ cấu sản phẩm, làm thay đổi cơ cấu giá trị sản phẩm; điều này tất

yếu dẫn đến sự thay déi trong cơ cấu lao động xã hội

- Qui trình công nghệ trong sản xuất luôn luôn được thay đổi, làm cho

năng xuất lao động ngày càng tăng, cường độ lao động ngày càng giảm, chủng loại sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng sản phẩm

ngày càng cao, giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cuộc sống

Trang 4

sự cạnh tranh được tạo điều kiện đầy đủ, sự tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, tạo ra lợi thế cho quốc gia, tác động lớn đến đời sống xã hội

- Siêu xa lộ thông tin trong hệ thống mạng toàn cầu được hình thành,

có ảnh hưởng to lớn đến lĩnh vực khoa học, kinh tế và văn hóa, quan hệ quốc

tẾ, đặc biệt giúp mở rộng thị trường cho các nước bởi vì nó đảm bảo sự tham gia đông đảo của tất cả các quốc gia trên thế giới Siêu xa lộ thông tin

sẽ tạo ra một xã hội tri thức, xã hội thông tin mà không có biên giới

- Trong điều kiện của kinh tế tri thức, các thành tựu khoa học — công

nghệ, nhất là công nghệ thông tin được phổ biến và ứng dụng hết sức nhanh

chóng, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Các ngành kinh tế được tri thức hóa đều phải dựa vào công nghệ mới để đổi mới và phát triển Chỉ khi nào các ngành công nghệ cao, ứng dụng các tiến bộ khoa học — kỹ thuật hiện đại, có giá trị mới do tri thức đem lại chiếm trên 2/3 tổng giá trị thì kinh tế tri thức mới được tỏ rõ Tiêu chí của kinh tế tri thức: hơn 70% GDP phải được tạo ra từ các ngành sản xuất dịch vụ áp dụng công nghệ cao;

hơn 70% giá trị gia tăng là do trí tuệ mang lại; hơn 70% công nhân tri thức trong cơ cấu lao động; hơn 70% cơ cấu vốn là vốn con người

Nền kinh tế và xã hội luôn luôn đổi mới, cái mới ngày càng nhiều Đó là đặc trưng của sự phát triển, của sự tiến hóa xã hội và sự phát triển từ cái mới

II Công nghiệp hoá, hiện đại hoá thời kì đối mới

1 Quá trình đối mới tư duy về công nghiệp hoá

a Đại hội VI:

Trang 5

- Khong thuc hién nghiém chinh nghi quyét của Đại hội V: Vẫn chưa thực sự coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng không phục

vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ

b Quá trình đỗi mới tư duy về CNH từ Đại hội VI đến Đại hội X: Đại hội VI đưa ra 3 chương trình mục tiêu: Lương thực — thực phẩm, hàng tiêu dung và hàng xuất khẩu

Đại hội VII: gắn CNH với HĐH

Đại hội VIII: nhìn lại đất nước sau 10 năm đổi mới: Nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, nhiệm vụ chuẩn bị tiền đề cho CNH đã cơ

bản hoàn thành cho phép chuyên sang thời kỳ mới, đây mạnh CNH, HĐH

2 Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của

Trang 6

lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tỉnh thần cao, quốc phòng- an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Đại hội X của Đảng xác định mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức dé sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém

phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

3 Quan điểm công nghiệp hoá, hiện đai hoá

- Một là, công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá và công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức

Từ thế kỷ XVII, XVII, các nước Tây Âu đã tiến hành công nghiệp

hóa Khi đó công nghiệp hóa được biểu hiện là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Nhưng trong thời đại ngày nay Ở

đại hội Đảng X đã nhận định: “khoa học và công nghệ sẽ có bước tiễn nhảy

vọt kinh té tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực

lượng sản xuất” Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã tác động sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Bên cạnh đó xu thế hội nhập

và tác động của quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với đất nước Trong bối cảnh đó, nước ta cần phải và có thể tiễn hành công nghiệp hóa theo kiểu rút ngắn thời gian khi biết lựa chọn con

đường phát triển kết hợp công nghiệp hóa với hiện đại hóa

Nước ta thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa khi trên thế giới kinh

tế tri thức đã phát triển Chúng ta không cần thiết phải trải qua tất cả các

bước phát triển rồi mới phát triển kinh tế tri thức Đó là lợi thế của các nước

đi sau Vì vây, đại hội X chỉ rõ: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 7

Kinh tế tri thức (theo OECD): kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó

sự sản sinh ra, phô cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với

sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống Trong

nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác động to lớn tới sự phát triển

là những ngành dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới của khoa học, công nghệ Ví dụ như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghiệp, dịch vụ được ứng dụng khoa học công nghệ cao

- Hai là, công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế

Thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa được tiền hành trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều thành phần Do

đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa không phải chỉ là công việc của nhà nước

mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó thành

phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Ở thời kỳ trước đổi mới phương

thức phân bổ nguồn lực để CNH được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung, còn ở thời kỳ đổi mới được thực hiện chủ yếu bằng cơ chế thị trường CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế thị trường không những khai

thác có hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế mà còn sử dụng chúng có

hiệu quả đề đầy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước Bởi vì khi đầu tư vào lĩnh vực nào, ở đâu, quy mô thế nào, công nghệ gì đều đòi hỏi phải tính toán cân nhắc kỹ càng, hạn chế đầu tư tràn lan, sai mục đích, kém hiệu quả và lãng phí thất thoát

CNH, HĐH nền kinh tế nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnh toàn

cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến, khai thác thị trường thế

Trang 8

giới dé tiêu thụ các sản phẩm của nước ta Sớm đưa nước ta ra khỏi tinh trạng khó phát triển

- Ba là, lấy phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho

sự phát triển nhanh, bền vững

Trước hết các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, chúng chỉ có tác dụng khi có

sự tác động của con người Bởi lẽ con người là nguồn lực duy nhất biết tư

duy, có trí tuệ và ý chí biết lợi dụng, các nguồn lực khác gắn kết chúng lại

với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cũng tác động vào quá trình công

nghiệp hoá, hiện đại hoá các nguồn lực khác là những khách thể, chịu sự cải

tạo, khai thác của con người và nói đúng thì chúng đều phục vụ nhu cầu, lợi ích của con người nên con người biết cách tác động và chỉ phối Vì thế trong các yếu tô cấu thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quan trọng nhất

Thứ hai: Các nguồn lực khác là có hạn, có thể bị cạn kiệt khi khai

thác Trong khi đó nguồn lực con người mà cốt lõi là trí tuệ lại là nguồn lực

vô tận Tính vô tận, trí tuệ con người biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tái sinh mà còn tự sản sinh về mặt sinh học mà còn đổi mới không ngừng phát triển về chất trong con người xã hội, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và

khai thác hợp lý Đó là cơ sở làm cho năng lực và nhận thức hoạt động thực

tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận

Trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Mục đích của quá trình CNH là nâng cao năng suất lao động, ứng dụng khoa học công nghệ Để thực hiện được phụ thuộc vào chất lượng của

nguôn nhân lực.

Trang 9

Con người là một trong hai yếu tố cần thiết của qua trinh CNH Néu không có con người thì quá trình CNH không diễn ra

- Bốn là, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Khoa học công nghệ có vai trò quyết định đến tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, năng cao lợi thế cạnh tranhvaf tốc độ phát triển kinh tế nói chung Nước ta tiến lên chủ nghĩatừ một nền kinh tế kém phát

triển và tiềm lực khoa học, công nghệ còn ở trình độ thấp Muốn đây nhanh quá trình CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức thì phát triển khoa học công nghệ là tất yếu và bức xúc phải đây mạnh việc chọn lọc nhập công nghệ, mua sáng chế, kết hợp và phát triển công nghệ nội sinh nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới

- Năm là, phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học

Xây dựng CNXH ở Việt Nam thực chất là nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh Xã hội công bằng dân chủ văn minh Để thực hiện mục tiêu đó, trước hất kinh tế phải phát triển nhanh hiệu quả và bền vững

Chỉ có vậy mới có khả năng xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tỉnh thần của nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng

Sự phát triển nhanh hiệu quả và bền vững có mối quan hệ chặt chẽ với

bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học Môi trường tự nhiên và sự đa dạng sinh học là môi trường sống và hoạt động kinh tế của con người Bảo vệ môi trường tự nhiên chính là bảo vệ điều kiện sống của

con người và cũng là nội dung của sự phát triên bên vững.

Trang 10

HI Nội dung và định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn

với phát triển kinh tế tri thức

1 Vì sao phải kết hợp công nghiệp hoá, hiện đại hoá với phát

triển kinh tế tri thức

Lao động sản xuất bao giờ cũng phải dựa vào tri thức, chỉ khác nhau

ởmức độ nhiều hay ít Kinh tế nông nghiệp, khởi đầu cách đây khoảng

mười ngàn năm, phải dựa nhiều vào hiểu biết về canh tác, chăn nuôi, thời tiết tức là những tri thức cơ bản về nông nghiệp Nhưng lúc đó đất đai, lao động thủ công lại quan trọng hơn, nên tri thức chỉ đóng vai trò thứ yếu

Đến khoảng giữa thế kỷ XVIII, kinh tế công nghiệp cơ giới xuất hiện

và phát triển mạnh, dựa vào các tri thức cơ học cổ điển đề chế tạo ra máy

móc cơ khí phục vụ sản xuất Nhưng để hình thành được thị trường hàng hóa của kinh tế công nghiệp cô điển thì tài nguyên và vốn (tư bản) lại quan trọng

hơn nên trí thức cơ học cô điền cũng chỉ có vai trò thứ yếu

Đến khoảng giữa thế kỷ XX, kinh tế công nghiệp cô điển hết tiềm

năng phát triển và bắt đầu suy thoái, vì tài nguyên trở nên cạn kiệt, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, chiến tranh hủy diệt đe dọa thường xuyên Trong

bối cảnh đó cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại xuất hiện và phát triển bùng nổ, dựa trên những khối tri thức không lồ, rất mới và vô cùng phong phú về thế giới vật chất vĩ mô và vi mô, với thuyết tương đối và thuyết lượng tử Lực lượng sản xuất mới được hình thành dựa trên nguồn lực

chủ yếu là tri thức, tạo nên hệ thống công nghệ cao với máy móc thông minh

mà điển hình là máy tính điện tử (máy điện toán) mô phỏng não người

Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới này đã dẫn tới một hình thái kinh tế mới Đó là một nền kinh tế trong đó việc sáng tạo tri thức,

sự lan truyền và quảng bá nhanh tri thức đưa vào ứng dụng là động lực

chủ yêu của tăng trưởng kinh tê, tạo ra của cải, tạo ra việc làm cho tât cả các

Trang 11

ngành kinh tế Nhà kinh tế học P.F.Durker gọi đó là nền kinh tế tri thức

và tên gọi này hiện nay đã trở thành phổ biến với việc sử dụng chính thức

của Ngân hàng thế giới Trong nền kinh tế mới, kinh tế tri thức sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thức Tài nguyên và vốn dù quan trọng vẫn

chỉ giữ vai trò thứ yếu

Như vậy, trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại con người là động vật duy nhất có năng lực sáng tạo tri thức, do đó biết lao động sản xuất

và tiến dần tới nền kinh tế dựa vào tri thức là chính Bởi vậy, kinh tế tri thức

là một lịch sử tất yếu

Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, khoảng từ giữa thế kỷ XX,

dựa trên những tri thức sáng tạo, đi sâu vào thế giới vĩ mô và thế giới vi mô,

dẫn tới sự phát minh ra các máy móc, thuộc loại hoàn toàn mới, gọi là máy

móc thông minh Điền hình là máy điện toán, mô phỏng được những chức năng chủ yếu của não người: biết nhớ, biết tính toán kể cả các bài toán rất

phức tạp, biết thực hiện các lệnh, biết tư vấn cho người dùng trong một SỐ viéc , dong vai trò chính trong các hệ tự động hóa toàn phần của sản xuất

và trong các mạng thông tin toàn cầu Máy móc thông minh kết hợp với tri thức sáng tạo trở thành nguồn lực của các công nghệ cao như: công nghệ thông tin hoặc công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học,

công nghệ vật liệu tiên tiến - nano trong đó công nghệ thông tin và truyền

thông giữ vai trò dẫn đầu Hệ thống công nghệ cao là cốt lõi của lực lượng

sản xuất mới Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới đã thúc đây hình thành nền kinh tế tri thức trong nửa sau của thế kỷ XX

Như vậy, trong quá trình hình thành và phát triển cho thấy sự hình thành và xuất hiện nền kinh tế tri thức là một tất yếu lịch sử mang tính khách

quan Cũng như kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp, kinh tế tri thức

Trang 12

ra đời không phụ thuộc vào ý chí của một nhóm người nào, mà hoàn toàn tuân theo quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử của xã hội loài người

2 Nội dung

- Phát triển mạnh các ngành, sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao

dựa nhiều vào tri thức, kết hợp sử dụng các nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại

- Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, từng dự án kinh

Một là, về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn:

- Chuyên dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và

thị trường

- Tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ: giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp

Hai là, quy hoạch phát triển nông thôn

- Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn, thực hiện

chương trình xây dựng nông thôn mới.

Trang 13

- Hình thành các khu đân cư đô thị với kết cấu ha tang kinh tế - xã hội đồng bộ như thủy lợi, giao thông, điện, đường, trường, trạm

- Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nền sống văn hóa nâng cao trình độ dân trí

Ba là, về giải quyết lao động, việc làm ở nông thôn

- Chú trọng day nghề, giải quyết việc làm cho nông dân

- Đầu tư mạnh hơn cho các chương trình xóa đói, giảm nghèo, nhất là

ở vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo

b Phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ

Đối với công nghiệp và xây đựng:

+ Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp

chế tác, công nghiệp phần mén va công nghiệp bồ trợ có lợi thế cạnh tranh,

tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động

+ Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dung

+ Khan truong thu hut vốn đầu tư nước ngoài vào một số dự án quan trọng như về khai thác đầu khí, lọc dầu và hóa đầu

Đối với dịch vụ: Tạo bước phát triển vượt bậc của ngành dịch vụ, nhất

là ngành dịch vụ có chất lượng cao, tiềm năng lơn và sức cạnh tranh, đưa tốc

độ tăng trưởng của ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP

+ Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng một SỐ ngành: vận tải, thương mại, dịch vụ, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông + Đổi mới căn bản cơ chế quản lý và phương thức cung ứng dịch vụ công cộng

Trang 14

c Phat trién kinh té vung

+ Có cơ chế, chính sách phù hợp đề các vùng trong cả nước cùng phát

triển, đồng thời tạo sự liên kết giữa các vùng và nội vùng

+ Xây dựng ba vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Trung và

miền Nam thành những trung tâm công nghiệp lớn có công nghệ cao đề các

vùng này có đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển của đất nước

d Phát triển kinh tế biến

+ Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm Sớm đưa đất nước ta thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc

+ Hoàn chỉnh quy hoạch và phát triển có hiệu quả hệ thống cảng biển, vận tải biển, khai thác và chế biến dầu khí, hải sản, địch vụ biên Đây mạnh ngành công nghiệp đóng tàu biển và công nghiệp khai thác, chế biến hải sản

e Chuyển dịch cơ cấu lao động,cơ cấu công nghệ

Phát triển nguồn nhân lực,bảo đảm đến năm 2010 có nguồn nhân lực với

cơ cầu đồng bộ và chất lượng cao; tỉ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp

còn khỏng 50% lực lượng lao động xã hội

+ Phát triển khoa học và công nghệ phù hợp xu thế phát triển nhảy vọt

của cách mạng khoa học và công nghệ.Lựa chọn và đi ngay vào công nghệ hiên đại ơ một số lĩnh vực then chốt

+ Kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục

và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực thúc

đầy nhanh công nghiệp hóa,hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức

+ Đổi mới cơ bản quản lý khoa học và công nghệ, đặc biệt là cơ chế tài

chính phù hợp với đặc thù sáng tạo và khả năng rủi ro của hoạt động khao

hủy Tiếp tục phủ xanh đất trống đôi núi trọc

+ Từng bước hiện đại hóa công tác nghiên cứu, dư báo khí tượng-thủy văn; chủ động phòng chống thiên tai tìm kiếm, cứu nạn.

Ngày đăng: 21/12/2014, 17:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  các  chỉ  số  công  nghệ  thông  tin  và  truyền  thong  (ICT) - Tiểu luận Đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
ng các chỉ số công nghệ thông tin và truyền thong (ICT) (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w