1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn luật vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên

77 854 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tiêu chuẩn pháp lý, một hợp đồng được coi là quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch hoặc nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa

Trang 1

3

CHƯƠNG 1: HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ

VI PHẠM HỢP ĐỒNG 1.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

1.1.1 Tìm hiểu về mua bán và mua bán hàng hóa:

Theo luật thương mại Việt Nam, mua bán hàng hóa được định nghĩa: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền

sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận” (1) Định nghĩa cho thấy mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, đó là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, lợi nhuận được phát sinh sau mỗi lần mua bán

Như chúng ta đã biết, mua bán thể hiện sự trao đổi hàng hóa của người bán chuyển cho người mua để nhận được từ người mua tiền hay vật phẩm có giá trị như đã thỏa thuận Mua bán mang về lợi ích cho cả người mua lẫn người bán Đối với người mua, lợi ích của họ là có được hàng hóa mình muốn Còn đối với người bán, họ có được khoản tiền hay vật có giá trị từ việc mua bán đó Như vậy, mua bán là phương thức chủ yếu để dịch chuyển tài sản và quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác, tạo ra sự lưu thông hàng hóa và tiền tệ trong đời sống kinh tế xã hội

Trong mua bán thì hàng hóa là đối tượng được mang ra trao đổi, là sản phẩm dùng

để bán nói chung Và theo học thuyết kinh tế chính trị Mac-Lenin thì hàng hóa cũng được hiểu tương tự, đó là sản phẩm lao động của con người, tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người được thông qua trao đổi mua bán Hiện nay, khái niệm hàng hóa được ghi nhận trong luật pháp các quốc gia trên thế giới Mặc dù có những khác biệt nhất định về việc định nghĩa song, hàng hóa vẫn được hiểu là tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai(2) Hàng hóa còn được chia thành các loại khác nhau như bất động sản, tài sản hữu hình, tài sản vô hình và các quyền về tài sản

Vậy, hàng hóa chính là đối tượng được mang ra trao đổi trong hoạt động mua bán Mục đích của việc mua bán nhằm phục vụ cho nhu cầu cần hàng hóa của người mua, người mua mua nhằm để sử dụng Nhưng có trường hợp mua bán lại không phục vụ cho nhu cầu của người mua Người mua chỉ mua hàng hóa để tiếp tục bán lại cho người khác nhằm thu khoản chênh lệch từ việc mua bán này, mục đích là kinh doanh, là lợi nhuận Nếu dựa vào chủ thể, mục đích của chủ thể thực hiện hành vi mua bán thì hai loại mua bán trên có tính chất khác nhau vậy thì luật điều chỉnh về chúng cũng phải khác nhau để

(1)

Điều 3 khoản 8 Luật thương mại

(2) Điều 3 khoản 2 Luật Thương mại

Trang 2

GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng 4 SVTH: Nguyễn Hồng Phát

phù hợp với tính chất của từng loại Theo như luật thương mại Việt Nam qui định thì luật

này điều chỉnh mua bán theo loại thứ hai và gọi chúng là “mua bán hàng hĩa” Từ đây, thuật ngữ “mua bán hàng hĩa” xuất hiện với tính chất thương mại, mua bán hàng hĩa

nhằm mục đích kinh doanh, mục đích lợi nhuận Mua bán ý thứ nhất được xem là mua bán tài sản cĩ tính chất dân sự nhưng mua bán ở ý thứ hai là mua bán tài sản cĩ tính chất thuơng mại Mua bán tài sản cĩ tính chất dân sự được điều chỉnh ở luật dân sự của các nước nhưng mua bán trong thương mại được điều chỉnh bởi luật thương mại và được gọi

là “mua bán hàng hĩa” Cĩ nghĩa là khi đề cập đến “mua bán hàng hĩa” thì chỉ liên quan

đến mua bán tài sản trong thương mại, mua bán tài sản trong dân sự tuy vẫn là mua bán

những hàng hĩa nhưng khơng được gọi bằng thuật ngữ “mua bán hàng hĩa”

Như đã xác định, mua bán tạo ra sự lưu thơng hàng hĩa và tiền tệ trong đời sống kinh tế xã hội Mua bán hàng hĩa cĩ vai trị quan trọng khi nĩ thúc đẩy phát triển nền kinh tế từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm Bên bán, bên mua trong mua bán hàng hĩa vì mục tiêu lợi nhuận cĩ thể mang hàng hĩa đến tận những vùng sâu, vùng xa khơng gần những nơi sản xuất để bán Khơng cĩ mua bán hàng hĩa thì hoạt động sản xuất sẽ trì trệ, sản phẩm được sản xuất ra bị tồn đọng, khĩ tiêu thụ Với những lẽ trên mua bán hàng hĩa diễn ra trên lãnh thổ mỗi nước, khơng cĩ quốc gia nào khơng diễn ra hoạt động mua bán hàng hĩa và chúng đĩng vai trị đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội Xã hội ngày càng phát triển về kinh tế thì nhu cầu trao đổi hàng hĩa của con người càng mạnh, khơng chỉ bĩ hẹp phạm vi mua bán trong một nước nữa mà cịn muốn trao đổi hàng hĩa với nước khác, đặt tiền đề cho việc mua bán hàng hĩa quốc tế và ngày nay, MBHHQT giữ một vị trí quan trọng trong xu thế tồn cầu hĩa của thế giới, MBHHQT khơng thể thiếu đối với những quốc gia muốn phát triển nền kinh tế đất nước

1.1.2 Mua bán hàng hĩa quốc tế và hợp đồng mua bán hàng hĩa quốc tế: 1.1.2.1 Mua bán hàng hóa quốc tế (MBHHQT):

MBHHQT được hiểu thơng thường là việc mua bán hàng hĩa cĩ liên quan đến một quốc gia khác Liên quan đến quốc gia khác cĩ thể là mua hoặc bán hàng hĩa với người thuộc một quốc gia khác hay việc xuất hàng hĩa vào một nước khác hoặc mua hàng hĩa

từ quốc gia khác sau đĩ nhập vào nước mình… Vấn đề mua bán ngày càng đa dạng và phức tạp khi hàng hĩa được lưu thơng khơng chỉ trong nước mà cịn được vận chuyển sang nước khác Hàng hĩa được xuất đi hoặc nhập vào một quốc gia phải tuân thủ các qui định của quốc gia đĩ và cĩ thể những qui định này khơng giống với các qui định trong nước Mỗi quốc gia với những đặc điểm kinh tế xã hội riêng sẽ cĩ những qui định riêng, xảy ra những vấn đề phức tạp xung quanh việc mua bán là khơng thể tránh khỏi

Trang 3

5

Đồng thời, mua bán hàng hóa và MBHHQT là nội dung trọng tâm của hoạt động thương mại vì vai trò của chúng trong nền kinh tế đất nước Do đó, những nguyên tắc trong MBHHQT chắc chắn được xây dựng trong luật pháp các nước Bên cạnh đó, trong MBHHQT các bên đều lấy lợi nhuận làm tiêu chí nên việc ảnh hưởng đến lợi ích này là vấn đề nhạy cảm, thường xảy ra và dễ đi đến tranh chấp Nên các qui định trong luật pháp các nước giúp cho quốc gia quản lý được hoạt động MBHHQT đồng thời đảm bảo được những quyền lợi và nghĩa vụ của các bên Một trong những qui định này là việc điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - qui định quan trọng nhất trong MBHHQT

1.1.2.2 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: (HĐMBHHQT)

Hợp đồng là hình thức pháp lý đảm bảo quyền và nghĩa vụ các bên Do đó quan hệ MBHHQT được xác lập và thực hiện thông qua hợp đồng Cơ sở pháp lý liên quan đến hợp đồng là các qui định trong luật xung quanh nội dung về hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Theo Bộ Luật Dân Sự VN qui định thì hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của họ(3) Luật thương mại Việt Nam không có định nghĩa về HĐMBHHQT, do vậy, ta dựa vào định nghĩa chung về hợp đồng được qui định trong luật chung là luật dân sự Việt Nam để làm căn cứ pháp lý cho HĐMBHHQT Trước đây, HĐMBHHQT còn gọi là hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu để phân biệt với hợp đồng mua bán trong nước MBHHQT được phát triển từ mua bán hàng hóa trong nước, HĐMBHHQT được phát triển từ hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước nên trước hết vẫn mang đầy đủ những tính chất của một hợp đồng và một hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước

Như vậy, HĐMBHHQT vẫn là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của họ Có nghĩa HĐMBHHQT là sự thỏa thuận giữa bên bán và bên mua về nghĩa vụ của bên bán là chuyển vào quyền sở hữu của người mua một tài sản nhất định gọi là hàng hóa, còn người mua có quyền nhận hàng và nghĩa vụ phải trả một số tiền theo thỏa thuận Vậy thì, người bán, người mua được gọi là chủ thể của hợp đồng Nội dung của hợp đồng liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người bán và người mua xung quanh việc người bán chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua và nhận thanh toán

HĐMBHHQT được hình thành khi chủ thể của hợp đồng tiến hành giao kết Hợp đồng sẽ được lập chứa đựng những nội dung như trên Ở đây có một chú ý, hợp đồng phải được lập dưới dạng văn bản, đây là hình thức bắt buộc theo luật Việt Nam đối với

(3) Điều 388 Bộ luật dân sự Việt Nam

Trang 4

GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng 6 SVTH: Nguyễn Hồng Phát

HĐMBHHQT Mặc dù, HĐMBHH trong nước vẫn có giá trị khi: “ Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể” (4) Nhưng “ Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên sơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” (5) Hiểu rằng,

HĐMBHHQT chỉ có giá trị pháp lý khi được lập thành văn bản, điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu…( các hình thức có giá trị tương đương văn bản được quy định trong luật thương mại Việt Nam) (6)không chấp nhận hợp đồng miệng hoặc bằng hành vi cụ thể mặc dù mua bán hàng hóa trong nước vẫn có giá trị và các qui ước quốc tế vẫn công nhận

Cụ thể là tại qui định của công ước CISG thì HĐMBHHQT không nhất thiết phải được lập dưới hình thức văn bản, hợp đồng có thể chứng minh bằng mọi cách, kể cả lời khai của nhân chứng(7) Xét về hình thức hợp đồng, công ước cho phép các nước sử dụng cả 3 loại: hình thức văn bản, hình thức miệng và hình thức mặc nhiên Tuy nhiên, Việt Nam chọn sự khác biệt này có nhiều ưu điểm hơn cả, so với các hình thức còn lại thì hợp đồng bằng văn bản an toàn hơn, toàn diện hơn, rõ ràng và dễ kiểm tra hơn…

Vậy thì, một HĐMBHHQT tồn tại dưới dạng văn bản theo luật Việt Nam, những

gì các bên thỏa thuận sẽ được ghi lại trong hợp đồng Nội dung cơ bản của thỏa thuận là những vấn đề liên quan đến việc mua bán hàng hóa như thỏa thuận về tên hàng hóa mua bán, số lượng và chất lượng hàng hóa, các điều kiện giao hàng…, giá cả mua bán và hình thức thanh toán tiền hàng là những thỏa thuận không thể thiếu trong hợp đồng

Những nội dung cơ bản trên luôn tồn tại trong hợp đồng và được thể hiện dưới dạng các điều khoản Tổng hợp các điều khoản phản ánh nội dung cơ bản của hợp đồng

và những điều khoản khác liên quan đến việc mua bán sẽ tạo nên một HĐMBHHQT Từ đây có thể suy ra HĐMBHHQT là một văn bản pháp lý chứa đựng các điều khoản thỏa thuận giữa các chủ thể tham gia mua bán, kết cấu chung của một văn bản hợp đồng có thể bao gồm:

* Phần mở đầu:

- Tên hợp đồng mua bán hàng hóa, ngày tháng ký hợp đồng

- Tên, địa chỉ, các số máy điện thoại, Fax, Telex, E mail của bên bán và bên mua

- Những thông tin về người đại diện ký kết

- Những căn cứ xác lập hợp đồng

* Phần nội dung: Thường gồm 3 cụm điều khoản:

(4) Điều 24 luật thương mại Việt Nam

(5) Điều 27 khoản 2 luật thương mại Việt Nam

(6)

Đìều 3 khoản 15 luật thương mại Việt Nam

(7) Đìêu 11 công ước CISG

Trang 5

7

- Những điều khoản chủ yếu: là những điều khoản căn bản, nhất thiết phải có trong hợp đồng, các điều khoản này đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại của hợp đồng như tên hàng, số lượng, chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán…

- Những điều khoản thường lệ (hay còn gọi là điều khoản đương nhiên): là những điều khoản mà nội dung của chúng đã được quy định trong các văn bản pháp luật Những điều khoản này có thể đưa vào hợp đồng mà cũng có thể không cần đưa vào hợp đồng Ví

dụ như: bên mua là phía Việt Nam có thể tuyên bố là ngoài những điều khoản về chất lượng hàng hóa đã thỏa thuận thì bên bán phải đảm bảo hàng hóa Các bên có thể không cần thỏa thuận hiệu lực của hợp đồng vì qui định chung là hợp đồng có hiệu lực khi bên cui61 cùng trong hợp đồng đặt bút ký (áp dụng cho hợp đồng giao kết trực tiếp)

- Những điều khoản tùy nghi: là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết tự

ý lực chọn với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên Thông qua những điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựa chọn một trong những cách thức nhất định

để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận lợi mà vẫn đảm bảo được quyền yêu cầu của các bên Ví dụ: các bên thỏa thuận khi vi phạm hợp đồng xảy ra có thể tạm ngừng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng tùy theo tuyên bố của bên bị vi phạm

* Phần ký kết hợp đồng: đây là phần cuối cùng của hợp đồng, các bên ký kết hợp

đồng thể hiện sự chấp thuận của mình đối với những điều khoản đã thỏa thuận trên

Đến đây, HĐMBHHQT được hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh Như đã tìm hiểu thì MBHHQT được phát triển từ mua bán hàng hóa trong nước, HĐMBHHQT được phát triển từ hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, các nội dung trong kết cấu hợp đồng trên vẫn có thể tồn tại trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước Vậy thì để xác định là một HĐMBHHQT phải xét đến tính quốc tế của hợp đồng Khi xác định về tính chất của hợp đồng thì khác với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, HĐMBHHQT có tính quốc tế hay như BLDS VN đề cập là có yếu tố nước ngoài(8) Yếu tố nước ngoài được thể hiện khi có sự hiện diện của một trong ba dấu hiệu:

- Có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài

- Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài

- Tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

Không có qui định về HĐMBHHQT nên luật Việt Nam cũng không đề cập đến như thế nào là tính quốc tế của hợp đồng Do đó, tiếp tục dựa vào qui định BLDS để xét

(8) Đìêu 758 Bộ luật Dân sự Việt Nam

Trang 6

GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng 8 SVTH: Nguyễn Hồng Phát

thì HĐMBHHQT là hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, yếu tố nước ngoài được xét đến là quốc tịch, nơi cư trú, nơi đăng ký trụ sở thương mại của chủ thể hợp đồng, nơi có tài sản hay các quan hệ xung quanh hợp đồng có liên quan đến sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài

Với việc qui ước về yếu tố nước ngoài như thế, Việt Nam khá rõ ràng trong việc xác định tính chất quốc tế của hợp đồng Việc xác định này so với các qui định của pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia khác là tương tự nhau, nhưng qui định ở Việt Nam

là cụ thể, chặt chẽ nhất Ở công ước CISG, một công ước điều chỉnh về HĐMBHHQT chỉ

đề cập tính quốc tế là các bên ký hợp đồng có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác

nhau, “nếu một bên không có trụ sở thương mại thì sẽ lấy nơi cư trú thường xuyên của họ” (9) Theo công ước thì vấn đề quốc tịch của các bên không có ý nghĩa quan trọng trong

việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng, trong khi vấn đề quốc tịch lại liên quan trực tiếp đến quốc gia khác, chịu sự chi phối nhiều từ pháp luật nước ngoài Còn ở Pháp, việc xác định tính quốc tế của hợp đồng rất chung chung, người ta căn cứ vào hai tiêu chuẩn mà không chỉ ra những dấu hiệu cụ thể, chỉ là dựa trên tiêu chuẩn kinh tế và pháp

lý(10) Theo các tiêu chuẩn kinh tế, một hợp đồng quốc tế là hợp đồng tạo ra sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giiữa hai nước Nói các khác, hợp đồng đó thể hiện quyền lợi của thương mại quốc tế Theo tiêu chuẩn pháp lý, một hợp đồng được coi là quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch hoặc nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán…

Dù có những khác biệt nhất định về xác định tính quốc tế của hợp đồng nhưng công ước CISG, luật Pháp hay những qui định cụ thể của luật Việt Nam, tất cả đều xoay quanh việc có liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật điều chỉnh những vấn đề xung quanh hợp đồng Tổng hợp những đặc điểm khi xét tính quốc tế hay yếu tố nước ngoài của HĐMBHHQT giúp ta giải thích được những nội dung liên quan đến HĐMBHHQT

mà một hợp đồng trong nước không có, đó là những điểm:

- Hàng hóa là đối tượng của HĐMBHHQT là hàng có thể chuyển qua biên giới của một nước, tức là có thể được chuyển từ nuớc này sang nước khác; và

- Tiền tệ dùng để thanh toán giữa người mua và người bán thường là ngoại tệ đối với một trong hai bên; và

Trang 7

9

- Tranh chấp phát sinh giữa các bên xung quanh việc giao kết và thực hiện hợp đồng cĩ thể do tịa án của một nước hoặc do một tổ chức trọng tài cĩ thẩm quyền xét xử;

- Luật điều chỉnh hợp đồng (luật áp dụng cho hợp đồng) mang tính chất phức tạp,

đa dạng: nếu là hợp đồng trong nước thì nĩ chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước đĩ nhưng là một HĐMBHHQT thì nĩ cĩ thể áp dụng luật Việt Nam (khi cĩ thỏa thuận) nếu khơng thì phải áp dụng điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, luật nước ngồi hoặc thậm chí

cả án lệ (tiền lệ pháp)

Tính chất quốc tế và sự phức tạp trong MBHHQT nĩi trên giúp ta hiểu rằng, luật

áp dụng cho hợp đồng khơng phải luơn là luật Việt Nam Do đĩ, khi các chủ thể Việt Nam hay gọi thơng thường là các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào hoạt động MBHHQT, nhất là khi thương thảo hợp đồng cần nắm vững các điều kiện thương mại, chỉ một sự mơ hồ hoặc thiếu chính xác nào đĩ trong việc vận dụng điều kiện thương mại là cĩ thể gây tác hại cho các bên ký hợp đồng, dẫn đến những vụ tranh chấp, kiện tụng làm tăng thêm chi phí trong kinh doanh

Hợp đồng được ký kết và đã được xác định tính quốc tế, nếu một bên trong hợp đồng là chủ thể Việt Nam thì căn cứ Việt Nam là bên nhập hay bên xuất hàng hĩa ta các tên gọi cho hợp đồng và chính là hình thức mua bán Theo luật thương mại Việt Nam thì

“Mua bán hàng hĩa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu” (11)

Luật Việt Nam khơng định nghĩa về HĐMBHHQT nhưng lại liệt kê các hình thức

cụ thể trong MBHHQT và các hình thức này được thực hiện thơng qua HĐMBHHQT Tìm hiểu ý nghĩa của các hình thức trên cho ta thấy được nội dung hợp đồng thơng qua tên gọi của hợp đồng đồng thời phân định rõ quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong hợp đồng

Theo điều 28 luật thương mại Việt Nam thì hình thức xuất khẩu “là việc hàng hĩa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hai quan riêng theo qui định của pháp luật” Cịn hình thức nhập khẩu hàng hĩa là việc “hàng hĩa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngồi hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo qui định của pháp luật”

Qua hai hình thức trên cho thấy, trong xuất khẩu hàng hóa thì hợp đồng xuất khẩu được xác lập giữa các bên Hợp đồng xuất khẩu là hợp đồng bán hàng cho nước ngoài nhằm thực hiện việc chuyển giao hàng hóa ra nước

(11) Điều 27 Luật thương mại Việt Nam

Trang 8

GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng 10 SVTH: Nguyễn Hồng Phát

ngoài, đồng thời di chuyển quyền sở hữu hàng hóa đó sang người mua Hàng hóa được làm thủ tục xuất khẩu khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu vào một nước khác Cịn hợp đồng nhập khẩu hàng hóa được phát sinh là hợp đồng mua hàng của nước ngoài để đưa hàng đó vào Việt Nam nhằm phục vụ cho sản xuất, chế biến, tiêu dùng trong nước Hàng hóa được làm thủ tục xuất khẩu và nhập khẩu Đây là hai hình thức mua bán nổi bật nhất trong MBHHQT Việt Nam

Theo điều 29 luật thương mại Việt Nam loại hợp đồng tạm nhập, tái xuất là hợp đồng xuất khẩu chính những hàng hóa mà trước kia đã nhập từ nước ngoài, không qua tái chế biến hay sản xuất gì ở trong nước Việt Nam Tạm nhập, tái xuất là việc Việt Nam mua hàng của một nước để bán cho một nước khác, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam

Như vậy thì, tạm nhập, tái xuất được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt: hợp đồng mua hàng do Việt Nam ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng do Việt Nam ký với thương nhân nước nhập khẩu

Loại HĐMBHHQT tiếp theo là hợp đồng tạm xuất, tái nhập Đây thực chất là hợp đồng mua những hàng hóa do nước mình sản xuất mà trước kia đã xuất ra nước ngoài Việc tái nhập khẩu không có ý nghĩa lớn trong ngoại thương của các nước

Loại cuối cùng là chuyển khẩu, đĩ là hợp đồng “mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam ” (12))

Hình thức chuyển khẩu cũng được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt: hợp đồng mua hàng do Việt Nam ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng do Việt Nam ký với thương nhân nước nhập khẩu

Những hình thức trên của MBHHQT được qui định trong luật Việt Nam giúp ta giải quyết được những vấn đề cơ bản xung quanh HĐMBHHQT như tên của hợp đồng luơn gắn liền với từng loại hình thức, những điểm đặc trưng trong mỗi hình thức phân định quyền và nghĩa vụ cụ thể của chủ thể Việt Nam

Tĩm lại, giao dịch mua bán là hoạt động diễn ra thường xuyên trong đời sống xã

hội Mua bán từ việc xuất phát do nhu cầu trao đổi tài sản phục vụ cuộc sống đến hoạt động mua bán hàng hĩa mang mục đích kinh doanh Hoạt động mua bán cĩ sự trao đổi hàng hĩa giữa các quốc gia đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và xã hội của các nước trên thế giới Cơng cụ pháp lý được sử dụng trong việc trao đổi hàng hĩa này chính

(12) Điều 30 Luật thuơng mại Việt Nam

Trang 9

11

là HĐMBHHQT Có thể khẳng định rằng HĐMBHHQT giữ vai trò chủ đạo và là điều kiện tiên quyết để diễn ra MBHHQT HĐMBHHQT đóng vai trị quan trọng nhưng đồng thời tính rủi ro trong khi thực hiện hợp đồng cũng rất lớn, để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, các chủ thể cần xây dựng một hợp đồng hợp pháp với đầy đủ chi tiết Qua việc tìm hiểu những vấn đề liên quan thì kết cấu hoàn chỉnh của một HĐMBHHQT theo luật Việt Nam

sẽ có yếu tố nước ngoài có tên gọi tương ứng với các hình thức MBHHQT theo điều 27 luật thương mại Việt Nam Còn nội dung hợp đồng, trên cơ sơ nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận giữa các bên trong việc xác lập và thực hiện hợp đồng nên chủ thể hợp đồng thỏa thuận điều khoản càng chi tiết thì càng đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của mình nếu có xảy ra tranh chấp Luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế không qui định nội dung bắt buộc, do đó phụ thuộc vào sự thương lượng của các bên nhằm đưa ra các điều khoản, tuy nhiên Bộ luật dân sự Việt Nam có hướng dẫn một số nội dung cần thiết trong hợp đồng ở điều 402 Dựa vào hường dẫn này ta thấy, thông thường, một HĐMBHHQT có những nội dung dưới đây có thể được xem là đầy đủ và chi tiết:

* Phần mở đầu:

- Tên hợp đồng mua bán hàng hóa, ngày tháng ký hợp đồng

- Tên, địa chỉ, các số máy điện thoại, Fax, Telex, E mail của bên bán và bên mua

- Những thông tin về người đại diện ký kết

Bên bán có hàng hóa muốn bán và bên mua chấp nhận mua hàng của bên bán thì sẽ

đi đến việc thỏa thuận những điều khoản trong phần nội dung:

Trang 10

GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng 12 SVTH: Nguyễn Hồng Phát

đồng Như vậy, xét về mặt tính chất pháp lý, HĐMBHHQT là một hợp đồng song vụ, cĩ bồi hồn và là một hợp đồng ước hẹn, các bên giao kết với nhau sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên kia và cĩ được những quyền tương ứng Do đĩ, khi ký kết và thực hiện hợp đồng các bên phải nắm được những quyền và nghĩa vụ cụ thể của mình nhằm thực đúng những nghĩa vụ ấy tránh trường hợp vi phạm chính những điều mình đã cam kết, đồng thời sử dụng quyền để yêu cầu đối tác thực hiện nghĩa vụ khi cĩ dấu hiệu vi phạm từ phía họ

Quyền và nghĩa vụ các bên được phát sinh sau khi các bên ký hợp đồng Nội dung của hợp đồng là tồn bộ nghĩa vụ của họ xung quanh việc chuyển giao quyền sở hữu về hàng hĩa từ người bán sang người mua, xung quanh việc làm thế nào để người bán lấy được tiền và người mua nhận được hàng…, phần nội dung của hợp đồng chính là phần thể hiện rõ nhất Hợp đồng được ký kết sẽ xác định được bên bán và bên mua, mỗi bên sẽ

thực hiện những nghĩa vụ của mình như đã thỏa thuận ở phần nội dung

1.2 Quyền, nghĩa vụ của các bên trong HĐMBHHQT và căn cứ xác định vi phạm hợp đồng:

1.2.1: Quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các bên trong hợp đồng:

Hợp đồng được ký kết, quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập, từ đó các bên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình Ý nghĩa của việc thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của các bên tất cả đều nhằm mục đích hoàn tất việc mua bán Do vậy, luật Việt Nam cũng như các nước đều có chung những qui định về quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các bên trong hợp đồng

1.2.1.1 Đối với bên bán:

Luật thương mại Việt Nam qui định “bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định trong hợp đồng”.(13) Giao hàng là nghĩa vụ cơ bản của người bán, nghĩa vụ giao hàng của người bán thể hiện qua việc người bán phải giao đúng hàng, giao hàng đúng địa điểm, thời gian, đúng số lượng và chất lượng như đã giao kết trong hợp đồng

Kết hợp với việc giao hàng thì người bán phải giao các giấy tờ liên quan đến hàng hóa như giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, bảo hiểm hay các giấy tờ hải quan nhằm đảm bảo cho việc kiểm tra hàng hĩa và chuyển quyền sở hữu cho bên mua Tuy nhiên, người bán có thể giao trước hoặc sau khi giao hàng tùy theo thỏa thuận các bên

1.2.1.2 Đối với bên mua:

(13) Điều 34 Luật thương mại Việt Nam

Trang 11

13

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên bán cĩ nghĩa vụ giao hàng thì “bên mua

cĩ nghĩa vụ nhận hàng” (14) và thanh tốn tiền hàng Nghĩa vụ nhận hàng của người bán được thể hiện qua việc sẵn sàng tiếp nhận hàng và tiếp nhận hàng Sở dĩ cĩ hành vi sẵn sàng tiếp nhận hàng là vì động thái này thể hiện sự đảm bảo rằng bên mua đã cĩ chuẩn bị cho việc tiếp nhận hàng đây là cơ sở tin rằng bên mua chắc chắn sẽ tiếp nhận hàng của

bên bán theo đúng thời hạn giao nhận hàng qui định trong hợp đồng

Cịn đối với việc thanh toán tiền hàng thì đây là nghĩa vụ bắt buộc của người mua trong mua bán hàng hóa Do đó, người mua phải thanh toán tiền hàng theo đúng thời gian và địa điểm đã ghi trong hợp đồng

Như vậy, quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các bên mua bán khi thực hiện hợp đồng

là ngang bằng nhau, nghĩa vụ của bên bán là quyền lợi của bên mua và ngược lại Và các điều khoản trong phần nội dung của hợp đồng là cơ sở phân chia quyền và nghĩa vụ chủ yếu các bên

Các bên sẽ phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình sau khi giao kết hợp đồng với nhau Tuy nhiên, HĐMBHHQT dù được ký kết hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu, bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng hay bao gồm tất cả những vấn đề, những tình huống có thể phát sinh trong thực tế HĐMBHHQT như đã nói có khả năng rủi ro rất cao và chủ thể các bên đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu Vì vậy, xảy ra những tình huống thực hiện không đúng theo hợp đồng do điều kiện khách quan hoặc do ý chí chủ quan của các bên là khó tránh khỏi HĐMBHHQT là một hợp đồng song vụ, có bồi hoàn và là hợp đồng ước hẹn nên quyền của người này chính là nghĩa vụ của người kia Khi họ thực hiện các nghĩa vụ của mình theo như đã thỏa thuận trong hợp đồng cũng là họ đang góp phần vào việc có được quyền lợi của mình Ngược lại, khi họ khơng thực hiện đúng nghĩa vụ của mình sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia Nếu xảy ra việc thực hiện không theo đúng như hợp đồng thỏa thuận ban đầu của các bên đều có thể dẫn đến việc vi phạm hợp đồng

1.2.2 Căn cứ xác định vi phạm hợp đồng:

Vi phạm hợp đồng theo luật Việt Nam “là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên”(15) Vi phạm là việc không tuân theo hoặc làm trái lại một điều đã được qui ước trước(16), suy ra, việc không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận của các bên được hiểu là các bên có hành vi trái với thỏa thuận trong hợp đồng

(14) Điều 56 Luật thương mại Việt Nam

(15)

Điều 13 khoản 12 Luật thương mại Việt Nam

(16) Từ điển Tiếng Việt

Trang 12

GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng 14 SVTH: Nguyễn Hồng Phát

Từ việc tìm hiểu khái niệm VPHĐ cho thấy vi phạm HĐMBHHQT xảy ra khi một trong các bên có hành vi VPHĐ Hành vi VPHĐ sẽ là việc một bên có hành vi trái với thỏa thuận trong hợp đồng Có nghĩa là có hành vi trái với nội dung của hợp đồng Như đã đề cập, nội dung của hợp đồng là các điều khoản chủ yếu của hợp đồng làm cơ sở để phân định quyền và nghĩa vụ các bên, luơn tồn tại trong phần nội dung của hợp đồng Do vậy, căn cứ xác định hành vi VPHĐ dựa vào các điều khoản này Nếu thực hiện nghĩa vụ trái với các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng thì chính là hành vi VPHĐ

Vậy thì, hành vi VPHĐ xảy ra sau khi hợp đồng được ký kết Khi hợp đồng đã được hai bên thống nhất ký kết thì cơng việc hết sức quan trọng là tổ chức thực hiện các hợp đồng đó Khi thực hiện hợp đồng, bên bán và bên mua làm nhiệm vụ chủ yếu của mình theo nghĩa vụ qui định trong hợp đồng:

- Bên bán làm các việc để giao hàng và chứng từ cho người mua

- Bên mua nhận hàng và trả tiền cho người bán theo hợp đồng

Tuy nhiên, khi thực hiện hợp đồng các bên lại không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình dẫn đến hành vi VPHĐ Trong trường hợp này bên khơng thực hiện đúng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của họ

1.3 Trách nhiệm các bên khi có VPHĐ:

Vì HĐMBHHQT là một hợp đồng song vụ, quyền của người này (trái chủ) là nghĩa vụ của bên kia (thụ trái) nên việc VPHĐ của một bên ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia Do đó, bên gây ra vi phạm phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại đối với quyền lợi của trái chủ, điều này mang tính chất chế tài rõ nét

Vấn đề chịu trách nhiệm khi VPHĐ dẫn đến bên vi phạm phải chịu những chế tài do pháp luật hoặc các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế ấn định hoặc do các bên thỏa thuận trên cơ sở không trái với tinh thần chung được ấn định Về bản chất, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng là dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý phát sinh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa

Từ đây nhận thấy rằng, trách nhiệm do VPHĐMBHHQT có những đặc điểm cơ bản là:

- Được áp dụng trên cơ sở hành vi VPHĐMBHHQT có hiệu lực pháp luật

- Nội dung gắn liền với việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trách nhiệm về tài sản

- Do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng hoặc do bên bị vi phạm áp dụng trên cơ sở pháp luật

Vấn đề chịu trách nhiệm chỉ xảy ra khi có VPHĐ xảy ra Vốn tính chất là một loại trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm do vi phạm HĐMBHHQT được áp dụng khi có những căn cứ do pháp luật qui định, chúng trở thành một loại chế tài và được áp dụng khi có các yếu tố sau:(17)

- Có hành vi vi phạm hợp đồng

- Có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra

(17) Giáo trình Luật thương mại - Trường Đại Học Cần Thơ – Th.s Dương Kim Thế Nguyên

Trang 13

15

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế xảy ra

- Có lỗi của bên vi phạm

Các yếu tố vừa nêu sẽ liên quan trực tiếp đến việc xác định trách nhiệm của các bên nhất là bên vi phạm hợp đồng Bên gây ra vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm nếu như hành vi vi phạm của mình làm xuất hiện các yếu tố trên Việc xem xét cụ thể từng yếu tố

sẽ làm sáng tỏ vai trị của chúng trong việc xác định trách nhiệm đối với bên vi phạm

1.3.1 Yếu tố về hành vi VPHĐ:

Như đã phân tích ở phần VPHĐ thì hành vi VPHĐ là căn cứ pháp lý quyết định để áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do VPHĐ vì chỉ khi

cĩ hành vi VPHĐ xảy ra mới xét đến trách nhiệm các bên Hành vi vi phạm HĐMBHHQT là xử sự của các chủ thể hợp đồng không phù hợp với nghĩa vụ theo hợp đồng Biểu hiện cụ thể của VPHĐ là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng

Đặc biệt, trong quan hệ hợp đồng mua bán, các bên không chỉ phải thực hiện những nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng (ghi vào hợp đồng) mà còn có thể phải thực hiện những nghĩa vụ thỏa thuận theo qui định của pháp luật (trong từ ngữ luật học thường gọi là nội dung thường lệ của hợp đồng mua bán) Vì vậy, khi xem xét hành vi có vi phạm hợp đồng hay không, cần phải căn cứ vào hợp đồng và các quy định về hợp đồng mua bán để việc xác định trách nhiệm được rõ ràng, chính xác hơn

1.3.2 Yếu tố có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra:

HĐMBHHQT mang mục đích kinh tế, vấn đề lợi nhuận được đặt lên hàng đầu Có thể nói, quyền lợi của các bên chính là các quyền lợi gắn liền với các lợi ích kinh tế, gắn liền với lợi nhuận Khi xảy ra VPHĐ và bên gây ra vi phạm phải chịu trách nhiệm thì việc chịu trách nhiệm thường mang tính vật chất và việc xác định mức độ thiệt hại của bên bị vi phạm cũng thường dựa vào yếu tố có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra

Thiệt hại vật chất thực tế do VPHĐ gây ra còn là căn cứ bắt buộc phải có khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại khi VPHĐ Đối với các hình thức chế tài khác, thiệt hại thực tế có thể được coi là tình tiết để xác định mức độ nặng, nhẹ của chế tài được áp dụng

Thiệt hại thực tế được chia làm 2 loại là: thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp

- Thiệt hại trực tiếp là những thiệt hại đã xảy ra trên thực tế, có thể tính toán một cách dễ dàng và chính xác Biểu hiện cụ thể của thiệt hại trực tiếp là tài sản bị mất mát, hư hỏng chi phí để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra…

- Thiệt hại gián tiếp là thiệt hại dựa trên suy đoán khoa học (trên cơ sở những chứng cứ, tài liệu) mới có thể xác định được Biểu hiện cụ thể của thiệt hại gián tiếp là thu nhập bị mất, bị giảm sút, khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu.(18)

(18) Điều 305 luật Thương mại Việt Nam, khoản 2 điều 307 Bộ luật Dân sự Việt Nam

Trang 14

GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng 16 SVTH: Nguyễn Hồng Phát

Về nguyên tắc, theo qui định của luật Việt Nam thì, bên bị vi phạm chỉ được bồi thường (và bên vi phạm có nghĩa vụ bồi thường) những khoản thiệt hại trong phạm vi do pháp luật quy định Những khoản thiệt hại này bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút

Đối với hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, luật thương mại Việt Nam và công ước CISG còn có điểm chung:

- Quy định về khoản thiệt hại do vi phạm phải chịu bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm chịu do bên vi phạm gây ra và cả khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm xảy ra.(19)

- Nếu bên vi phạm chậm thanh toán tiền thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.(20)

1.3.3 Yếu tố có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi VPHĐ và thiệt hại thực tế:

Yếu tố này xác định nhằm xác định bên có hành vi VPHĐ chỉ phải bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm hợp đồng

Trên thực tế, một hành vi VPHĐ có thể gây ra nhiều khoản thiệt hại và một khoản thiệt hại cũng có thể sinh ra nhiều hành vi VPHĐ Trong khi đó, các chủ thể hợp đồng, đặc biệt là các chủ thể kinh doanh, có thể cùng một lúc tham gia nhiều quan hệ hợp đồng khác nhau Vì vậy, việc xác định chính xác mối quan hệ nhân quả giữa hành vi VPHĐ và thiệt hại thực tế không phải bao giờ cũng dễ dàng: sẽ rất dễ nhầm lẫn nếu chỉ dựa vào suy đoán chủ quan Điều này đòi hỏi bên bị vi phạm khi đòi hỏi bồi thường thiệt hại (cũng như các cơ quan tài phán khi quyết định áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại đối với bên vi phạm) phải dựa trên những chứng cứ rõ ràng, xác thực và hợp pháp

1.3.4 Yếu tố có lỗi của bên vi phạm:

Lỗi của bên VPHĐ là căn cứ bắt buộc phải có để áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do VPHĐ Trong khoa học pháp lý, lỗi được hiểu là trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của một người đối với hành vi của họ và hậu quả của hành vi đó Vấn đề trạng thái tâm lý và nhận thức chỉ được đặt ra đối với các chủ thể là cá nhân hoặc tổ chức Vì vậy, khi xác định lỗi của chủ thể là tổ chức VPHĐ để áp dụng trách nhiệm hợp đồng phải căn cứ dựa vào lỗi của người đại diện cho tổ chức đã giao kết và thực hiện hợp đồng Trách nhiệm hợp đồng được áp dụng theo nguyên tắc lỗi suy đoán, theo đó mọi hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng đều bị suy đoán là có lỗi

1.3.5 Thực chất của việc chịu trách nhiệm khi vi phạm:

(19)

Điều 77 công ước CISG, điều 305 Luật thuơng mại

(20) Điều 306 Luật thương mại

Trang 15

17

Một HĐMBHHQT được xác lập, quyền và nghĩa vụ các bên phát sinh theo hợp đồng đó Các bên trong hợp đồng tiến hành thực hiện các quyền và nghĩa vụ ấy cho nhau Khi một bên có hành vi vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia thì phải chịu trách nhiệm Vấn đề chịu trách nhiệm dựa vào sự thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng hoặc dựa vào các qui định của pháp luật điều chỉnh hợp đồng Việc chịu trách nhiệm là một chế tài, mang tính trừng phạt, được chế định trong các văn bản pháp luật hoặc do các bên tự thỏa thuận dựa trên những chế định ấy Nhưng suy cho cùng, việc chịu trách nhiệm là nhằm mục đích bù đắp tổn thất cho bên bị vi phạm hoặc bị buộc thực hiện đúng nghĩa vụ của mình

Vấn đề chịu trách nhiệm khi VPHĐ thực chất là các hình thức trách nhiệm phải chịu Cụ thể là (21)ø:

1.4.1: Các điều ước quốc tế về thương mại:

Một hợp đồng được ký kết sau đó các bên tiến hành thực hiện hợp đồng, trong quá trình thực hiện xảy ra vi phạm dẫn đến việc chịu trách nhiệm của các bên khi vi phạm xảy ra Việc chịu trách nhiệm của các bên sẽ dựa vào sự thỏa thuận trong hợp đồng để ưu tiên giải quyết Những vấn đề không được quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng, các bên ký kết có thể dựa vào các điều ước quốc tế về thương mại Do đó, điều ước quốc tế về thương mại là nguồn luật đầu tiên của HĐMBHHQT

Có hai loại điều ước quốc tế về thương mại liên quan đến việc điều chỉnh HĐMBHHQT(22):

- Loại thứ nhất đề ra những nguyên tắc pháp lý chung làm cơ sở cho hoạt động ngoại thương nói chung và mua bán xuất nhập khẩu, mua bán quốc tế nói riêng Những điều ước quốc tế này (có thể là song phương hoặc đa phương, khhu vực hoặc toàn câu không điều chỉnh các vấn đề về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể của các bên trong HĐMBHHQT mà chỉ nêu những nguyên tắc pháp lý có tính chất chỉ đạo

(21)

Điều 292 Luật thương mị Việt Nam

(22) Giáo trình Luật thương mại quốc tế - Trường Đại học Kinh tế quốc dân 2005

Trang 16

GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng 18 SVTH: Nguyễn Hồng Phát

Ví dụ như Hiệp định Thương mại song phương như Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ hoặc các Hiệp định Thương mại đa phương như Hiệp định GATT năm 1994, Hiệp định GATS/WTO (Việt Nam là thành viên chính thức vào năm 2007) trong đó các quốc gia ký kết đưa ra những nguyên tắc: Tối huệ quốc về thương mại (Most – Favoured – Nation), nguyên tắc có đi có lại về thương mại, nguyên tắc đối xử quốc gia…Loại điều ước này chỉ điều chỉnh gián tiếp các HĐMBHHQT

- Loại điều ước quốc tế về thương mại thứ hai là những điều ước quốc tế trực tiếp điều chỉnh những vấn đề liên quan đến quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của bên bán và bên mua trong việc ký kết và thực hiện HĐMBHHQT Loại này đóng vai trò quan trọng, giúp các bên có thể giải quyết những vấn đề về trách nhiệm phát sinh từ việc vi phạm hợp đồng

Ví dụ về các loại này có thể dẫn ra công ước Viên (CISG) năm 1980 về HĐMBHHQT, công ước La-Haye 1964 về HĐMBHHQT (cả hai công ước này Việt Nam đều chưa gia nhập ), văn bản Nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế 1994 viết tắt theo tên tiếng Anh là PICC (Principles of International Commercial Contracts) của Viện thống nhất Tư pháp quốc tế… trong đó có quy định quyền và nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng…

Những quy phạm pháp luật của điều ước quốc tế là những quy phạm luật thực chất đã được các quốc gia thống nhất Do vậy, dựa vào điều ước quốc tế, các chủ thể của hợp đồng dù ở các nước khác nhau, có thể sẽ có một sự hiểu thống nhất trong việc giải quyết mâu thuẫn phát sinh, tiết kiệm thời gian Song hiện nay, đối với Việt Nam chúng ta, vì nước ta chưa ký nhiều điều ước quốc tế nên điều ước quốc tế về thương mại với ý nghĩa là nguồn lực điều chỉnh HĐMBHHQT chưa phát huy thật sự phát huy vai trò của nó

1.4.2 Luật quốc gia:

Pháp luật quốc gia với tư cách là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hĩa của quốc gia đĩ Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hĩa quốc tế trong các trường hợp sau:

- Khi các bên ký kết hợp đồng thỏa thuận trong điều khoản luật áp dụng cho hợp đồng là luật quốc gia của một nước cụ thể

- Khi xuất phát từ nguyên tắc xung đột ph1p luật Ví dụ: các bên khơng thỏa thuận luật áp dụng thì luật áp dụng cho hợp đồng sẽ là luật của quốc gia ở nơi hợp đồng được thực hiện hay luật cĩ quan hệ mật thiết với hợp đồng…

Theo pháp luật Việt Nam thì các qui định về hợp đồng được quy định tại Bộ luật dân sự 2005 (BLDS), Luật thương mại 2005 (LTM), Bộ luật hàng hải 2005,…

Trang 17

19

1.4.3 Tập quán quốc tế về thương mại:

Tập quá quốc tế là những qui tắc xử sự phổ biến được hình thành lâu đời trong thực tiễn hoạt đồng thương mại quốc tế Như vậy, tập quán thương mại cĩ các dấu hiệu sau:

- Là những quy tắc xử sự được hình thành từ lâu đời;

- Cĩ tính phổ biến, tức là được áp dụng rộng rãi trong những hồn cảnh tương tự Theo nguyên tắc, bản thân của tập quán thương mại quốc tế khơng cĩ hiệu lực pháp lý như một quy phạm pháp luật, nĩ chỉ cĩ hiệu lực trong những trường hợp cụ thể do luật định

Trong thực tiễn, tập quán thương mại quốc tế cĩ hiệu lực pháp lý trong những trường hợp sau:

- Thứ nhất, quốc gia của các chủ thể của hợp đồng cơng nhận bằng văn bản hiệu lực của tập quán thương mại quốc tế như là của quy phạm pháp luật

- Thứ hai, đĩ là ý chí của các bên, tức là các bên thỏa thuận áp dụng tập quán và đưa chúng vào hợp đồng Điều này cĩ nghĩa là căn cứ của việc sử dụng tập quán thương mại là ý chí của các bên Trường hợp này phổ biến trong HĐMBHHQT, tập quán được các bên sử dụng là các ấn bản Incoterms (International Commercial Terms – tạm dịch là

“Các điều kiện thương mại quốc tế”), do Phịng thương mại quốc tế (International

Chamber of Commerce – ICC) soạn thảo và ban hành

Ngồi ra, tập quán thương mại quốc tế được áp dụng trong những tur7ờng hợp mặc

dù các bên khơng cĩ thỏa thuận về việc áp dụng nĩ trong hợp đồng, tuy nhiên tập quá được tịa án hay trọng tài cơng nhận với tư cách là nguồn điều chỉnh quan hệ giữa các bên theo hợp đồng xuất phát từ hịan cảnh cụ thể của vụ việc

Tập quán quốc tế về thương mại được chia thành hai loại(23):

- Tập quán thương mại quốc tế chung: là các tập quán thương mại được nhiều nước công nhận và được áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu vực Ví dụ như: các Điều kiện Thương mại Quốc tế do Phòng Thương mại Quốc tế tập hợp và soạn thảo ( gọi tắt là Incoterms 1953 -1980 – 1990 – 2000) trong đó quy định các điều kiện thương mại khác nhau (như điều kiện FOB, CIF…) được rất nhiều nước trên thế giới thừa nhận và áp dụng

- Tập quán thương mại khu vực (địa phương): là các tập quán thương mại quốc tế được áp dụng ở từng nước, từng khu vực hoặc từng cảng ví dụ, Hoa Kì cũng có điều kiện giao hàng FOB, nhưng theo điều kiện FOB Hoa Kì,

(23) Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế - TS Hồng Ngọc Triết – NXB Chính Trị quốc gia Hà Nội, 2002

Trang 18

ký lên phiếu(24):

- Những điều kiện chung của giao dịch có thể được coi là một phần của hợp đồng bằng cách việc dẫn đến những điều kiện chung này trong văn bản hợp đồng

- Trong “những chỉ dẫn ký kết hợp đồng” có các phương án khác nhau của văn bản

hợp đồng, những phương án nói trên chỉ có tính chất hướng dẫn ký kết hợp đồng

Thông thường, hợp đồng mẫu được soạn thảo bởi những chủ thể có uy tín trong hoạt động thương mại quốc tế, hay bởi những hiệp hội chuyên nghiệp của các chủ thể của thương mại quốc tế Hiện nay, nhiều hợp đồng mẫu và điều kiện chung của giao dịch được Ủy ban kinh tế Châu Âu trực thuộc Liên hiệp quốc soạn thảo Ví dụ, hợp đồng mẫu mua bán ngũ cốc 1957, 1958, 1961; điều kiện chung của việc xuất khẩu hàng hóa đầu tư

1955, 1957; điều kiện chung của việc xuất và nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng có thời gian

Trang 19

21

Hiện nay có xu thế chung là có sự hài hòa giữa hai hệ thống pháp luật Ở các nước thụôc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa đã bắt đầu tham khảo án lệ khi giải quyết tranh chấp hợp đồng”

Trang 20

CHƯƠNG 2: CÁC HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐỒNG VÀ VIỆC CHỊU TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CÁC BÊN:

2.1 Các hành vi vi phạm hợp đồng:

Như đã tìm hiểu những nội dung về vi phạm hợp đồng, hành vi vi phạm hợp đồng đều liên quan đến việc không thực hiện hợp đồng của các bên trong HĐMBHHQT Bên vi phạm là bên không hoàn thành một hay nhiều nghĩa vụ của mình trong hợp đồng, kể cả việc thực hiện không đúng quy cách, thực hiện chậm hoặc hoàn toàn không thực hiện hợp đồng dẫn đến hậu quả là vi phạm hợp đồng xảy ra

Đây cũng là cách hiểu thống nhất trong thương mại quốc tế, vì cách lý giải

giải của PICC thì việc “không thực hiện hợp đồng” liên quan đến hai đặc tính:

- Trước tiên, việc “không thực hiện hợp đồng” được định nghĩa gồm tất cả các hình thức có thực hiện nhưng không đúng như giao kết cũng như hoàn toàn không thực hiện và nếu một HĐMBHHQT, một phần theo đúng hợp đồng và một phần không theo đúng hợp đồng hoặc hoàn thành trễ thì đều bị coi là VPHĐ (không thực hiện hợp đồng)

- Đặc tính thức hai là khái niệm “không thực hiện hợp đồng” bao gồm cả việc không thực hiện được miễn trừ trách nhiệm hay không được miễn trừ trách nhiệm Nếu là do lỗi của bên vi phạm nhưng việc không thực hiện được miễn trách dẫn đến bên kia không có quyền đòi bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu bên này phải thực hiện một nghĩa vụ cụ thể nào Tuy vậy, khi bên này được miễn trách về việc không thực hiện thì bên kia vẫn có quyền chấm dứt hợp đồng

Trong HĐMBHHQT, việc thực hiện không đúng theo hợp đồng là mấu chốt xác định có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra Việc xác định mấu chốt này không kém phần phức tạp, do đó xác định như thế nào là không thực hiện đúng theo hợp đồng luôn được qui định trong các văn bản luật về thương mại của mỗi nước đồng thời qui định nhiều trong các điều ước về MBHHQT Qui định phổ biến về nội dung này giúp

ta nhận thấy được đặc điểm tương đồng ở các văn bản về nội dung của hành vi vi phạm Điểm chung lớn nhất là khi xét hành vi VPHĐ đều liên quan nội dung của hợp đồng, đến các điều khoản của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên khi thực hiện hợp đồng Và việc vi phạm chính là không thực hiện đúng với những gì đã thoả thuận trong các điều khoản, không thực hiện đúng những nghĩa vụ mình đã cam kết Biểu hiện ở việc thực hiện không đúng những điều khoản của hợp đồng là thực hiện không đúng

(25)

Principles of Tnternational commercial Contracts – Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của

UNIDROIT

Trang 21

những nghĩa vụ đối với đối tượng của hợp đồng, điều kiện giao hàng hay phương thức thanh toán

2.1.1 Vi phạm đối với đối tượng của hợp đồng:

Nhóm đối tượng của hợp đồng liên quan đến các điều khoản tên hàng, số lượng, chất lượng… của hàng hoá mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng

Trong mua bán hàng hóa quốc tế, mỗi một loại sản phẩm đều có tên gọi riêng,

có chất lượng xác định với một số lượng nhất định Mua bán hàng hóa quốc tế khác với việc mua bán nhỏ lẻ bình thường trong nước Hàng hóa trong mua bán quốc tế thường với số lượng lớn và phải thông qua một quá trình vận chuyển Do vậy, sai sót ở điều khoản này rất dễ xảy ra Sai sót dẫn đến vi phạm ở nhóm điều khoản về đối tượng

là việc giao hàng không đúng tên gọi, không đúng số lượng hay không đúng chất lượng hàng hóa đã thỏa thuận

Giao hàng không đúng tên gọi được xác định là vi phạm hợp đồng, khi đó hàng được giao không đúng với tên hàng đã được thỏa thuận trong hợp đồng Tên hàng được thỏa thuận có thể gồm nhiều vấn đề như thỏa thuận tên thông thường, tên thương mại, tên khoa học (thường áp dụng cho các loại hóa chất, giống cây…), tùy từng trường hợp các bên có thể đưa ra tên hàng kèm theo các đặc điểm về mẫu mã, đẳng cấp, loại, thương hiệu,…Thậm chí, khi bên mua muốn loại hàng hóa được sản xuất ở một địa phương, một nhà sản xuất cụ thể nào đó nên nêu rõ cả chúng vào đây Bên bán giao hàng không đúng với một trong những thỏa thuận trên đều bị xem là vi phạm hợp

đồng

Chất lượng là điều khoản nói lên mặt “chất” của hàng hóa mua bán, qui định tính năng, qui cách, kích thước, tác dụng, công suất, hiệu suất của hàng hoá đó Xác định cụ thể phẩm chất của sản phẩm là cơ sở để xác định giá cả Do vậy, xác định điều kiện phẩm chất tốt, dẫn đến xác định giá cả tốt, đúng và mua được hàng hóa đúng yêu

việc thực hiện hợp đồng, bên vi phạm buộc phải chịu những trách nhiệm nặng nề Xác định vi phạm đối với chất lượng hàng hóa liên quan đến rất nhiều khía cạnh Tùy từng trường hợp các bên thỏa thuận, vi phạm chất lượng hàng hóa có thể xảy ra khi giao hàng không đúng mẫu, không đúng tiêu chuẩn nhãn hiệu hay hàm lượng trong sản phẩm không đạt tiêu chuẩn về an toàn…

Khi xét về vi phạm trong chất lượng chẳng những liên quan đến nhiều khía cạnh, nhiều nội dung mà còn rất khắt khe Cụ thể là khi việc giao hàng hoá có những

ký hiệu, hình vẽ,… đúng với nhãn hiệu đã thoả thuận nhưng ngày sản xuất, hạn sử dụng khác với thỏa thuận vẫn bị xem là vi phạm cho dù hàng được giao vẫn còn hạn

Trang 22

sử dụng Lý do ở đây là những sản phẩm được bán ở những thời điểm khác nhau có thể có chất lượng khác nhau nên giá cả cũng khác nhau

Ví dụ: Giao kết hợp đồng khi bên mua đặt hàng là đồ hộp có ngày sản xuất là

10.10.2009, giao hàng là 01.2010, hạn sử dụng 3 năm kể từ ngày sản xuất (10.10.2012) Tuy nhiên, đồ hộp được giao có ngày sản xuất là 05.05.2009 có thể bị xem là vi phạm hợp đồng nếu như bên mua không chấp nhận lô hàng này vì hạn sử dụng bị rút ngắn thời gian (05.05.2011) ảnh hưởng đến việc tiêu thụ ra thị trường của bên mua…

Việc giao hàng tương tự, hàng cùng loại nhưng khác công ty sản xuất nếu không được bên mua chấp nhận vẫn bị xem là VPHĐ trong việc giao hàng không đúng nhãn hiệu

Tuy nhiên, bên xuất khẩu thường thỏa thuận với qui định mềm dẻo trong điều khoản chất lượng để không quá khắt khe trong điều kiện về chất lượng, vì đôi khi có những sai sót không thể nào tránh khỏi, ví dụ như:

- Chất lượng của hàng giao tương đương hoặc gần như hàng mẫu: Qui định này

có thể giúp cho bên xuất khẩu tránh được trách nhiệm khi hàng giao có chất lượng khác với hàng mẫu một chút

- Sai số chất lượng cho phép: Tùy từng loại hàng hóa các bên có thể thỏa thuận mức sai số Tất cả các hàng hóa thuộc phạm vi sai số chất lượng, bên nhập khẩu không

Một khi các bên đã thỏa thuận những tiêu chuẩn chất lượng tương đối và cho phép xảy ra những sai sót nhỏ thì bên bán sẽ tránh được những vi phạm mà thực tế không phải họ muốn, như vậy sẽ công bằng hơn cho các bên

Còn đối với việc xem xét giao hàng không đúng số lượng thì đây là hành vi vi phạm dễ nhận thấy nhất Bất kỳ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nào cũng đều xác định rõ số lượng hàng hóa được mua bán Số lượng nhằm nói lên mặt “lượng” của hàng hoá được giao dịch Vấn đề vi phạm sẽ xảy ra khi giao hàng không đúng số lượng đã thoả thuận Số lượng xác định cụ thể, rõ ràng theo đơn vị đo lường quốc tế Đơn vị tính số lượng có thể là mét, lít, tấn , tuỳ theo loại hàng hoá Rất dễ nhận thấy

vi phạm trong trường hợp điều khoản hợp đồng thoả thuận dứt khoát về số lượng như

1000 mét vải hay 1000 xe gắn máy

Ở vấn đề số lượng hàng hóa cũng có một điểm lưu ý tương tự nội dung chất lượng hàng hóa Đó là đối với một số hàng hóa có độ tiêu hao nhất định trong quá trình vận chuyển thì các bên thường thỏa thuận về độ co giãn của số lượng Độ co giãn

Trang 23

ở mức hợp lý và thường sử dụng tỷ lệ % Qui định này có lợi cho bên bán nhưng cũng không quá thiệt thòi cho bên mua, nếu tỷ lệ co giãn ở mức hợp lý Tỉ lệ % này do các bên thoả thuận, trong một số trường hợp chịu sự khi phối của nguyên tắc thương mại quốc tế về hao hụt (ví dụ như mua bán xăng dầu) Thoả thuận này cũng được dùng khi mua hàng hoá có khối lượng lớn như phân bón, ngũ cốc không thể đếm nguyên chiếc hay nguyên cái được Việc xác định vi phạm không phải chỉ là việc tính toán xem đã đúng bao nhiêu tấn, lít mà trong trường hợp này có qui ước về sự hao hụt hay cho phép chênh lệch mà không phải chịu vi phạm

Ví dụ như gạo được phép chênh lệch 5% số lượng (áp dụng qui ước dung sai đối với ngũ cốc) Thoả thuận giao 1 tấn gạo được phép chênh lệch 5% thì giao 950kg hay 1050kg không xem là vi phạm

Tiêu chuẩn về qui cách đóng gói cũng được đánh giá để xem xét có vi phạm xảy ra không Hàng hóa thường được đóng gói trong bao bì gồm hai loại bao bì là bao

bì vận chuyển và bao bì lưu thông (bao bì tiêu thụ) Bao bì không chỉ được sử dụng để bảo vệ hàng hóa trong quá trình vận chuyển, mà trong nhiều trường hợp (đặc biệt đối với bao bì lưu thông) còn là sự bắt buộc của pháp luật Qui cách đóng gói có rất nhiều qui định và chúng phù hợp với từng mặt hàng mua bán cụ thể Vi phạm ở nội dung này chỉ là việc xác định cách đóng gói của sản phẩm không đúng với qui định của pháp luật hoặc không đúng với cách thức mà các bên đã thỏa thuận

2.1.2 Vi phạm trong điều kiện giao hàng: Xác định vi phạm dựa vào điều

khoản giao hàng mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng là việc xác định vi phạm trong các điều khoản về: thời hạn, địa điểm giao hàng, phương thức giao hàng và

thông báo giao hàng

Thời hạn giao hàng là thời hạn mà người bán phải đem hàng đến giao và hoàn thành nghĩa vụ trong giao hàng Không giao hàng trong thời gian đã thoả thuận thì bị xem là VPHĐ Tùy theo thỏa thuận cụ thể của các bên ta có một số cách thỏa thuận phổ biến Đó là khi thời hạn giao hàng được xác định cụ thể:

- Hoặc vào một ngày cố định,

- Hoặc một ngày được coi là ngày cuối cùng của thời hạn giao hàng: không chậm quá ngày tháng năm

- Hoặc bằng một khoảng thời gian tính bằng quý

- Hoặc bằng một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo sự lựa chọn của người mua Ví dụ: tháng 1 ký hợp đồng, thời gian giao hàng qui định từ tháng 2 đến tháng 7 tuỳ người mua chọn

Trang 24

Nếu như các bên thỏa thuận một trong các trường hợp trên thì vi phạm thời hạn giao hàng xảy ra khi bên bán không giao hàng đúng hạn, giao hàng trễ, hoặc không giao hàng hay chính là hành vi VPHĐ đối với điều khoản về điều kiện giao hàng

Vi phạm ở điều khoản này buộc các bên phải chú ý khi thỏa thuận về thời gian giao hàng Vì khi không cụ thể thì dễ phát sinh vi phạm Có trường hợp người bán giao hàng không đúng thời gian thỏa thuận nhưng là giao sớm thì người mua vẫn được

CISG) Có thể không xem là vi phạm hợp đồng trong trường hợp này nhưng việc giao hàng sớm của bên bán mà bên mua từ chối tiếp nhận thì hao tốn về thời gian và tiền bác là những bất lợi bên bán phải gánh chịu

Khi xác định những hành vi vi phạm trong điều kiện giao hàng thì điều khoản

về địa điểm giao hàng buộc “bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm đã thỏa

thuận”(27) Qui định của luật xác định rõ nhiệm vụ của bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng, do đó nếu bên bán không giao hàng đúng địa điểm đã thỏa thuận thì bị xem

là vi phạm hợp đồng Địa điểm giao hàng sẽ được các bên bàn bạc trong hợp đồng, có thể là thỏa thuận cụ thể hoặc dựa trên qui định của luật một quốc gia hay qui ước của tập quán quốc tế

không quan trọng ở mục đích xem bên kia có giao hàng sai địa điểm hay không vì không bên bán nào khi đã thoả thuận rõ ràng trong hợp đồng về địa điểm giao hàng lại chở hàng đến một địa điểm khác để giao, vừa không được lợi ích gì vừa dễ bị buộc giao hàng không đúng thời gian, không đúng địa điểm Mà việc xác định địa điểm giao hàng có ý nghĩa quan trọng ở việc xác định thời điểm chuyển rủi ro của hàng hoá từ người bán sang người mua nhằm phân chia trách nhiệm của các bên trong trường hợp hàng hoá bị mất mát, hư hỏng…

Bên cạnh đó, việc xác định địa điểm giao hàng ảnh hưởng quan trọng đến bên nhận hàng khi nghĩa vụ của bên mua phải có hành vi sẵn sàng tiếp nhận hàng tại địa điểm giao hàng này Có nghĩa là bên nhận hàng phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết

để nhằm sẵn sàng tiếp nhận hàng khi hàng đến Nguyên nhân này ít xảy ra nhưng có trường hợp bên giao hàng tuyên bố huỷ hợp đồng do bên nhận hàng VPHĐ về điều khoản giao nhận hàng Tuyên bố huỷ hợp đồng này dựa vào việc bên giao hàng thấy rằng bên nhận không có động thái gì là việc chuẩn bị nhận hàng khi hàng của mình được mang đến địa điểm giao hàng, cụ thể như chưa chuẩn bị phương tiện vận tải để

Trang 25

bốc dỡ hàng, chưa chuẩn bị kho bãi cho việc nhập hàng Trong trường hợp này bên giao hàng có thể tuyên bố bên nhận hàng vi phạm hợp đồng ngay cả khi bên giao hàng chưa đưa hàng đến hay tuyên bố sau khi bên giao hàng đến mà không thấy bên nhận hàng đến nhận Nội dung này là hoàn toàn phù hợp vì bên bán có những cơ sở cho rằng quyền lợi của mình bị ảnh hưởng do bên nhận chưa sẵn sàng tiếp nhận hàng Tuy nhiên, qui định này chỉ được điều chỉnh ở công ước, luật Việt Nam chưa đề cập đến

“Nếu trước ngày quy định cho việc thi hành hợp đồng, mà thấy hiển nhiên rằng một

bên sẽ gây ra một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng, bên kia có thể tuyên bố hợp đồng bị hủy”(28)

Nếu như hàng được giao đúng thời hạn và địa điểm không xảy ra vi phạm thì việc giao nhận hàng thường sẽ được diễn ra tại địa điểm giao hàng và các bên tiến hành giao nhận, kiểm định hàng, thanh toán và kết thúc hợp đồng Việc các bên qui định cụ thể về chất lượng và số lượng hàng hóa là cần thiết và bắt buộc để bảo đảm quyền lợi cho các bên Tuy nhiên, làm thể nào để xác định hàng hóa phù hợp với chất lượng và số lượng được mô tả trong hợp đồng, các bên cần phải có cơ chế kiểm định hàng hóa Về cơ bản, điều khoản kiểm nghiệm hàng hóa được vận dụng để các bên giao nhận sơ bộ, bên mua bước đầu xem xét hàng hoá, xác định sự phù hợp về số lượng, chất lượng hàng so với hợp đồng, kiểm tra xem bên bán có giao hàng đúng với hợp đồng không Thường được tiến hành ở ngay địa điểm sản xuất hàng hóa hoặc nơi gửi hàng Trong giao nhận sơ bộ, nếu có điều gì thì người mua yêu cầu khắc phục

ngay Nếu hàng hóa đã được đã được kiểm định xong các bên đi đến giao nhận cuối

cùng, bên mua xác nhận việc người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng

Ở giai đoạn giao nhận này bên mua có nghĩa vụ phải tiến hành kiểm định hàng

và nếu bên mua không thực hiện quyền của mình thì việc xác định đây là hành vi vi phạm cũng ít được xem xét tuy nhiên quyền lợi của bên mua có thể bị ảnh hưởng vì nếu hàng hóa được giao không đúng như thỏa thuận thì bên mua không có cơ sở gán trách nhiệm cho bên mua được

Với phương thức giao hàng thì việc xác định vi phạm dựa vào yếu tố này không

có vai trò quan trọng Hàng hoá được giao nhận thì các bên sẽ tiến hành kiểm tra và đối chiếu lại với nhau, không có lý do gì mà phương thức giao hàng lại là nguyên nhân

vi phạm hợp đồng mà nó chỉ là hình thức diễn ra việc kiểm tra hàng hoá để xem có vi phạm xảy ra đối với hàng hoá hay không mà thôi Ví dụ như kiểm tra để xem có việc

vi phạm hợp đồng do giao hàng không đúng chất lượng hay không Do vậy, kiểm định đóng vai trò quan trọng trong phương thức giao hàng để xác định yếu tố vi phạm

(28)

Trang 26

có thể xảy ra Có thể hiểu là trong giao nhận sơ bộ hoặc giao nhận cuối cùng sẽ diễn ra việc kiểm tra về số lượng hàng hóa, xác định số lượng thực tế hàng hóa được giao bằng các phương pháp cân, đo, đong, đếm Tiếp theo có thể tiến hành kiểm tra trên toàn bộ hàng hóa hoặc chỉ kiểm tra điển hình (kiểm tra xác suất) về chất lượng: tính năng, công dụng, hiệu suất, kích thước, hình dáng

Tuỳ điều kiện giao hàng đã qui định rõ về thời gian và địa điểm giao hàng nhưng trong trường hợp người ta vẫn qui định rõ thêm về lần thông báo giao hàng và những nội dung cần được thông báo, nội dung thông báo do mục đích của chúng quyết định Thông thường trước khi giao hàng, người bán thông báo hàng đã sẵn sàng để giao hoặc ngày đem hàng đến để giao Người mua thông báo cho người bán những điều cần thiết để gửi hàng hoặc về chi tiết của tàu đến nhận hàng Sau khi giao hàng người bán phải thông báo tình hình hàng đã giao, kết quả giao hàng

Ở điều khoản này thì nội dung mang ý thoả thuận về tiến trình giao nhận hàng hơn là việc qui định điều khoản này để xác định có vi phạm hợp đồng hay không Nhưng cũng có khi đây là đặc điểm để xác định trách nhiệm các bên khi vi phạm xảy

ra Vì bên vi phạm có thể viện dẫn lý do bên kia thông báo không chính xác dẫn đến hành vi vi phạm của mình và yêu cầu miễn trách Điều khoản này còn có ý nghĩa xác định việc sẵn sàng giao hàng của bên giao hàng khi thông báo rằng họ sẽ giao hàng vào đúng thời gian thông báo, bên giao hàng nêu lý do chậm tiếp nhận hàng của bên nhận sau khi đã thông báo giao hàng sẽ có cơ sở hơn, bên bán đã thông báo giao hàng

mà bên mua vẫn không có dấu hiệu của việc sẵn sàng tiếp nhận thì lỗi thuộc về bên mua

- Vi phạm trước và vi phạm trong các hợp đồng giao hàng từng phần:

Trong việc xác định hành vi VPHĐ khi không thực hiện đúng hợp đồng còn có thể dựa trên việc giao nhận hàng từng phần Đối với hàng hoá có khối lượng lớn, hai bên có thể thoả thuận giao nhận từng phần nếu việc giao nhận một lần là khó thực hiện Vi phạm xảy ra trong trường hợp này là việc giao hàng từng phần không đúng theo hợp đồng Xác định vi phạm thường xét riêng từng lần giao

Lần giao nào không đúng như thoả thuận thì lần đó là vi phạm “nếu hợp đồng

quy định giao hàng từng phần và nếu sự kiện một bên không thực hiện một nghĩa vụ có liên quan đến một lô hàng cấu thành một sự vi phạm chủ yếu đến hợp đồng về lô hàng

đó thì bên kia có thể tuyên bố hủy hợp đồng về phần lô hàng đó” (công ước CISG)

Những đợt hàng trước đó không vi phạm có thể được chấp nhận hoặc không được chấp nhận do tính chất liên kết của các lô hàng Người mua tuyên bố hủy hợp đồng đối với bất kỳ lô hàng nào có thể cùng một lúc, tuyên bố hợp đồng bị hủy đối với

Trang 27

các lô hàng đã giao hoặc đối với các lô hàng sẽ được giao trong tương lai nếu, do tính liên kết, các lô hàng này không thể sử dụng được cho những mục đích do hai bên đã

dự tính vào lúc ký kết hợp đồng

Ví dụ: Đối tượng của hợp đồng là giày dép thì lô hàng sau vi phạm sẽ kéo theo

việc không chấp nhận cả lô hàng trước nếu lô hàng trước giao toàn là giầy dép chiếc bên phải đúng quy cách và lô sau là những chiếc bên trái sai quy cách

- “Sự kiện một bên không thực hiện một nghĩa vụ có liên quan đến bất cứ lô

hàng nào cho phép bên kia có lý do xác đáng để cho rằng sẽ có một sự vi phạm chủ yếu đến hợp đồng với các lô hàng sẽ được giao trong tương lai thì họ có thể tuyên bố hủy hợp đồng đối với các lô hàng tương lai đó với điều kiện phải làm việc đó trong một thời hạn hợp lý”(29)

Ví dụ: hợp đồng mua bán cá da trơn được chia 2 đợt giao mỗi đợt là 5 tấn

nhưng đợt cá đầu đã có dấu hiệu của việc không an toàn về phẩm chất do hàm lượng chất kích thích tăng trưởng trong cá vượt mức cho phép Bên mua có thể tuyên bố không chấp nhận lô hàng 5 tấn sau mặc dù chưa được giao vì thông tin nhận được là 5 tấn cá sau cũng được nuôi ở cùng một khu vực

Tuy nhiên, nếu các lô hàng là độc lập nhau và bên mua thấy không ảnh hưởng

gì khi chấp nhận lô hàng không vi phạm thì lô hàng được giao trước vẫn được chấp nhận hoặc lô hàng sẽ giao trong tương lai vẫn được tiến hành giao bình thường

Ví dụ: Giao nhận trong hợp đồng là mặt hàng gạo được chia làm 3 đợt mỗi đợt

5 tấn Đợt đầu gạo được giao theo đúng hợp đồng, nhưng đợt gạo thứ 2 có dấu hiệu bị mốc do quá trình vận chuyển thời tiết mưa và độ ẩm không khí cao mà bên giao không

áp dụng đúng quy định bảo quản trên đường vận chuyển Trong trường hợp này trách nhiệm thuộc về bên giao khi hàng hóa hư hỏng, bên nhận từ chối lô hàng này vì nó không đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn đồng ý bên bán giao tiếp gạo đợt 3 theo đúng thỏa thuận về thời hạn giao hàng đợt 3

Đối với hành vi vi phạm hợp đồng khi không thực hiện đúng theo hợp đồng trong quá trình thực hiện nghĩa vụ giao nhận hàng thì còn có hành vi vi phạm hợp

đồng khi hoàn toàn không thực hiện hợp đồng Hành vi vi phạm trong trường hợp này

dễ xác định hơn rất nhiều so với hành vi không thực hiện đúng theo hợp đồng Sau khi hợp đồng được ký kết các bên tiến hành thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng này Việc không thực hiện hợp đồng chính là việc không thực hiện nghĩa vụ của mình

(29)

Điều 73 công ước CISG

Trang 28

sau khi ký hợp đồng Đối với bên bán đó chính là việc không tiến hành giao hàng, đối

với bên mua là việc không nhận hàng

Bên bán không tiến hành giao hàng và bị bên mua tuyên bố là vi phạm hợp đồng khi đến thời hạn giao hàng mà bên bán chưa giao hàng Hoặc chưa đến thời hạn giao hàng nhưng bên mua có cơ sở rằng bên bán không thể nào giao hàng khi đến hạn giao vì bên bán chưa có hàng trong tay hoặc chưa thu gom đủ số hàng giao và không

thể nào thu gom đủ số hàng giao khi đến hạn giao… “Nếu trước ngày quy định cho

việc thi hành hợp đồng, mà thấy hiển nhiên rằng một bên sẽ gây ra một vi phạm chủ

yếu đến hợp đồng, bên kia có thể tuyên bố hợp đồng bị hủy” “Một bên có thể ngừng

việc thực hiện nghĩa vụ của mình nếu có dấu hiệu cho thấy rằng sau khi hợp đồng được ký kết, bên kia sẽ không thực hiện một phần chủ yếu những nghĩa vụ của họ bởi lẽ:

a Một sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hay trong khi thực hiện hợp đồng

b Cung cách sử dụng của bên kia trong việc chuẩn bị thực hiện hay trong khi thực hiện hợp đồng.” (30)

Bên mua không nhận hàng sẽ bị xem là vi phạm hợp đồng Nghĩa vụ nhận hàng của bên mua được thể hiện ở hai hành vi đó là: sẵn sàng tiếp nhận hàng và tiếp nhận hàng Để thực hiện việc sẵn sàng tiếp nhận hàng, người mua phải tiến hành chuẩn bị mọi cơ sở vật chất như phương tiện bốc dỡ, kho bãi… nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc nhận hàng Khi người bán mang hàng tới địa điểm quy định và đặt dưới

sự định đoạt của người mua thì người mua phải thực hiện nghĩa vụ của mình là tiếp nhận hàng Nếu người mua không thực hiện hai hành vi trên thì xem như hành vi hoàn toàn không thực hiện hợp đồng

Trong nội dung xác định vi phạm trước và vi phạm trong các hợp đồng giao hàng từng phần thì luật Việt nam không có qui định để điều chỉnh nhưng công ứơc lại điều chỉnh rất cụ thể Do vậy, vận dụng công ước, nếu HĐMBHHQT bị xem xét vi phạm ở nội dung này thì luật Việt Nam không thể điều chỉnh được, những hạn chế trong luật Việt Nam cần được bổ sung điều này trên cơ sở công ước sẽ phù hợp hơn cho cả việc quản lý mua bán trong nước và quốc tế

2.1.3 Hành vi vi phạm hợp đồng trong phương thức thanh toán:

Qua việc tìm hiểu về hành vi vi phạm trong các điều khoản về đối tượng của hợp đồng, về phương thức, điều kiện giao hàng thì mục đích chính là ràng buộc nghĩa

vụ trách nhiệm đối với bên bán Bên bán phải giao hàng đúng theo hợp đồng, hàng hóa

(30)

Điều 72 công ứơc CISG

Trang 29

phải đúng chất lượng, tiêu chuẩn đã thỏa thuận Nhưng đến phương thức thanh toán thì ngược lại, đây là điều khoản ràng buộc trách nhiệm đối với bên mua Bên mua sau khi nhận hàng thì phải trả tiền cho bên bán

Trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thì lợi nhuận được đặt lên hàng đầu Giới thương gia mua bán hàng hóa nhằm tạo ra lợi nhuận, nhằm mục đích sinh lời qua các hợp đồng mua bán Giai đoạn nhận thanh toán là giai đoạn quan trọng đối với họ, đây là lúc họ xác định lợi nhuận của mình sau một hợp đồng Vì vậy, điều khoản về phương thức thanh toán không bao giờ vắng mặt trong hợp đồng Chính vì tầm quan trọng nhất của hợp đồng mua bán nằm ở điểm này nên vấn đề vi phạm cũng xảy ra phổ biến ở giai đoạn này như vì lợi nhuận bên mua chậm thanh toán tiền hàng, trả tiền hàng không đủ nhằm kéo dài thời gian thanh toán để đồng tiền của mình được sinh lời nhiều hơn cho mình… Do đó, điều khoản trong hợp đồng về phương thức thanh toán thường quy định về đồng tiền thanh toán, thời hạn trả tiền, hình thức trả tiền

- Đồng tiền thanh toán: Việc thanh toán tiền hàng được tiến hành bằng đồng

tiền của nước xuất khẩu, của nước nhập khẩu hoặc một nước thứ ba Đôi khi trong hợp đồng còn cho quyền người nhập khẩu được thanh toán bằng ngoại tệ khác nhau, tùy theo sự lựa chọn của các bên Đồng tiền dùng trong thanh toán hàng hóa được gọi là đồng tiền thanh toán Đồng tiền thanh toán có thể trùng hợp hoặc không trùng hợp với đồng tiền ghi giá Nếu không trùng hợp thì phải qui định tỷ giá chuyển đổi Xác định hành vi vi phạm đối với trường hợp này xảy ra khi bên thanh toán trả bằng đồng tiền không đúng như thỏa thuận, giải thích cho việc bên thanh toán đã chấp nhận thanh toán tại sao lại không thanh toán đúng đồng tiền đã thỏa thuận, đó là khi đồng tiền thanh toán có giá trị thấp hơn hay dễ bị mất giá, bên thanh toán dùng đồng tiền này gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bên nhận thanh toán Nếu vi phạm xảy ra, thông thường bên nhận sẽ yêu cầu bên kia thay đổi đồng tiền thanh toán, nếu không được đáp ứng sẽ buộc bên kia vi phạm hợp đồng trong phương thức thanh toán

- Thời hạn trả tiền: Thời hạn thanh toán thường được thỏa thuận ở dạng trả

ngay hoặc trả trước Bên mua kéo dài thời gian thanh toán vượt quá thời gian hợp lý cho phép người mua xem xét chứng từ giao hàng sẽ bị xem là vi phạm nếu đã thỏa thuận với bên bán về hình thức “trả ngay” – một hình thức có tính chất quy ước trong buôn bán quốc tế

Còn trong hình thức “trả trước”, bên mua cung cấp tín dụng cho bên bán dưới hình thức ứng tiền hoặc ứng trước hiện vật (máy móc, nguyên vật liệu…), trả trước cũng còn có nghĩa là người mua đặt cọc hoặc cam kết thực hiện hợp đồng Bên bán không được vi phạm hợp đồng, không chịu giao hàng sau khi đã nhận “trả trước” của

Trang 30

bên mua hoặc bên mua không được phép kéo dài thời hạn trả phần tiền còn lại sau khi

Điều khoản về thời hạn thanh toán các bên thường thỏa thuận theo chiều hướng

có lợi cho mình nhất đồng thời phù hợp với điều kiện thanh toán của bên kia nên có thể họ áp dụng kết hợp cả hai hình thức trả ngay và trả trước trong một hợp đồng nhằm hạn chế tối đa hành vi vi phạm có thể có

Hình thức thanh toán: Có nhiều hình thức thanh toán khác nhau, mỗi phương

thức có những ưu, nhược điểm khác nhau Các bên thường thỏa thuận để chọn được phương thức thanh toán thích hợp Vi phạm ở nội dung này thường không nghiêm trọng vì thường các bên hoàn toàn không thanh toán, nếu đã thanh toán và chọn một trong các phương thanh toán thì sẽ tuân thủ theo qui định nghiêm ngặt của ngân hàng

về hình thức trả tiền, không ảnh hưởng nhiều về vi phạm hợp đồng Nếu thanh toán sai hình thức đã thỏa thuận thì bên nhận thanh toán sẽ chỉ yêu cầu chuyển sang hình thức như đã thỏa thuận, ít khi nào lại tuyên bố vi phạm hay hủy bỏ hợp đồng Còn nếu trong một hình thức thanh toán cụ thể mà xảy ra sự cố thì việc xác định lỗi sẽ dựa vào nguyên tắc thực hiện của ngân hàng về hình thức thanh toán đó Nguyên tắc thanh toán của ngân hàng là độc lập và rất chặt chẽ sẽ liên quan nhiều đến vấn đề các phương thức thanh toán quốc tế

Nhìn chung, khi ký kết hợp đồng các bên cam kết sẽ thực hiện hợp đồng Bên bán cam kết giao hàng đúng số lượng và chất lượng đã thỏa thuận, bên mua cam kết thực hiện thanh toán khi nhận hàng Nhưng trong quá trình thực hiện phát sinh nhiều vấn đề làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ các bên Có những lý do chủ quan hoặc những điều kiện khách quan bên ngoài dẫn đến hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra Vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên bị vi phạm, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trong việc gây ra thiệt hại cho bên kia Quá trình xác định có vi phạm xảy ra, trách

nhiệm bù đắp thiệt hại là quan trọng và phức tạp

Trên lý thuyết đã xác định được như thế nào là vi phạm để mỗi bên có thể hạn chế được những hành vi gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia, tránh bị quy kết là

vi phạm Hành vi vi phạm như đã xét liên quan trực tiếp đến nội dung của hợp đồng, đến những điều khoản của hợp đồng về đối tượng của hợp đồng, những thỏa thuận về quy tắc giao hàng và cách thức thanh toán Khi xét có hành vi vi phạm ảnh hưởng quan trọng đến quyền lợi và trách nhiệm mỗi bên thì bên vi phạm phải có trách nhiệm

bù đắp những tổn thất đã gây ra cho bên thiệt hại

(31)

Nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế (PICC)

Trang 31

2.2 Trách nhiệm các bên khi vi phạm hợp đồng xảy ra:

Khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra thì việc thực hiện hợp đồng không còn được tiến hành theo như dự tính ban đầu của mỗi bên được nữa Việc không thực hiện hợp đồng của bên bán sẽ gây những thiệt hại đối với bên mua và ngược lại Chính vì vậy, bên bị thiệt hại yêu cầu bên kia phải thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết đồng thời phải bù đắp những tổn thất mà bên bị thiệt hại phải chịu Đây không những

là yêu cầu chính đáng của bên bị vi phạm mà còn là chế tài được qui định trong luật pháp mỗi quốc gia cũng như thông lệ quốc tế và các điều ước về thương mại quốc tế

Trong luật Việt Nam, chế tài trong phạm hợp đồng được qui định khá rõ ràng

2.2.1 Trách nhiệm các bên khi áp dụng chế tài “buộc thực hiện đúng hợp đồng”:

Buộc bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên

vi phạm thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng đã thỏa thuận với nhau hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí

không đầy đủ hoặc chậm thực hiện (đến thời gian thực hiện mà chưa có thể thực hiện được do chuẩn bị chưa xong) Trong chế tài này bên thiệt hại được áp dụng kèm theo

cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại

2.2.1.1 Buộc thực hiện khi thực hiện không đúng, không đầy đủ:

Tùy từng trường hợp cụ thể, quyền yêu cầu thực hiện là yêu cầu sửa chữa sai sót, yêu cầu đổi vật, khắc phục những khuyết tật của vật khi có sai lệch Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng, không thanh toán tiền hàng thì phải giao đủ hàng hoặc

(32)

Điều 292 Luật thương mại Việt Nam

(33)

Trang 32

phải thanh toán tiền hàng Trường hợp bên vi phạm giao hàng kém chất lượng thì phải

Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm

Bên có nghĩa vụ phải thay thế hàng hóa đã có sai sót bằng hàng hóa khác hoặc sửa chữa hàng hóa có khuyết tật Ngoài ra, quyền yêu cầu sửa chữa hoặc thay thế cũng

có thể được áp dụng đối với nghĩa vụ thanh toán trong những trường hợp thanh toán không đủ hay thanh toán bằng đồng tiền khác với đơn vị qui định trong hợp đồng hoặc thanh toán vào tài khoản khác với tài khoản các bên đã thỏa thuận

Ngoài ra còn có biện pháp khác áp dụng trong trường hợp thực hiện nghĩa vụ có sai sót là truất quyền sở hữu của bên thứ ba đối với hàng hóa hoặc nhờ sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hóa và bên

vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch, các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật, thiếu sót của hàng hóa và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp

có buộc phải thực hiện nghĩa vụ hay không? Nếu thị trường biến đổi theo hướng bất lợi cho bên có nghĩa vụ, bên có quyền phải gánh chịu rủi ro do việc đưa ra quyết định chậm trễ của mình? Theo qui ước của PICC thì sẽ loại trừ quyền buộc thực hiện, nếu bên có quyền không yêu cầu thực hiện trong một thời hạn hợp lý, sau khi họ đã hiểu rõ

Giới hạn của quyền yêu cầu sửa chữa thiếu sót là quyền yêu cầu sửa chữa các thiếu sót phải nằm trong phạm vi quyền yêu cầu thực hiện nói chung Sẽ là vượt ngoài giới hạn sửa chữa nếu như yêu cầu sửa chữa là không hợp lý Một số trường hợp như:

Trang 33

+ Bên có nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ đó trên thực tế hay theo quy định của pháp luật;

+ Việc thực hiện hoặc bắt buộc thực hiện gây nhiều chi phí bất hợp lý Nếu các khuyết tật hoặc thiếu sót là nhỏ, không đáng kể thì bên có nghĩa vụ được miễn trừ Việc yêu cầu sửa chữa những thiếu sót nhỏ này sẽ bị coi là yêu cầu bất hợp lý

Ví dụ: Một chiếc xe mới được bán do có một lỗi nhỏ về lớp nước sơn đã làm

giảm giá trị chiếc xe 0,01% giá bán Việc sơn lại sẽ tốn 0.5% giá bán Khi này, người mua không được yêu cầu sửa chữa lại khuyết tật nhưng có quyền yêu cầu giảm giá bán của chiếc xe

2.2.1.2 Buộc thực hiện khi chậm trễ:

Khác với việc thực hiện không đầy đủ, thực hiện chậm có thể không bao giờ được cứu vãn, vì một khi thời hạn thực hiện đã trôi qua, cơ hội để thực hiện sẽ không xảy ra một lần nữa Mặc dù vậy, trong nhiều trường hợp bên có quyền có thể chấp nhận việc thực hiện chậm trễ còn hơn là không thực hiện Thứ hai là, vào thời điểm thực hiện mà bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng hạn, thì việc thực hiện sẽ được tiến hành chậm cho đến bao giờ thường không được quy định rõ ràng Trong các hợp đồng thương mại, nếu các bên hoàn tất các nghĩa vụ của mình với một tốc độ hợp lý, mặc dù là chậm trễ, vẫn có thể được chấp nhận, nhưng nếu trì hoãn trong thời gian dài

sẽ không được chấp nhận Bên có quyền có thể cho bên có nghĩa vụ một cơ hội thứ hai song không làm phương hại đến các biện pháp xử lý khác của họ (ví dụ như bồi thường thiệt hại)

Đây chỉ mang tính chất thiện chí của bên bị vi phạm, do đó luật Việt Nam cùng như các qui định trong thường mại quốc tế không bắt buộc họ phải nhận hàng khi hàng

bị giao trễ và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bên nhận hàng

2.2.1.3 Gia hạn thực hiện nghĩa vụ:

Dựa theo qui định tại luật thương mại Việt Nam thì trong yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng bên yêu cầu kèm theo thời gian gia hạn Bên vi phạm phải thực

Trong suốt thời gian gia hạn, bên bị thiệt hại có thể dừng thực hiện các nghĩa vụ song phương và có thể đòi bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm nhưng không được áp dụng các chế tài khác Nếu bên này nhận được trả lời từ chối thực hiện trong thời gian

đó hoặc đã quá hạn mà bên kia không thực hiện thì mới được áp dụng các chế tài khác

Nếu sự chậm trễ không nghiêm trọng và bên bị thiệt hại đã cho phép gia hạn thêm thời gian thực hiện, bên này có thể chấm dứt hợp đồng khi hết thời gian gia hạn

(36)

Trang 34

Cĩ thể được gia hạn thêm một cách hợp lý nếu thời gian thực hiện quá ngắn Bên bị thiệt hại cĩ thể thơng báo cho bên kia biết rằng nếu bên kia khơng thực hiện hành vi khắc phục trong thời gian gia hạn, hợp đồng sẽ tự động bị hủy bỏ

Tuy nhiên, khơng được áp dụng khi nghĩa vụ chưa thực hiện chỉ đĩng vai trị nhỏ trong những nghĩa vụ mà bên chưa thực hiện phải thực hiện Thường thì khi một bên thực hiện chậm trễ và bên kia cĩ thiện ý cho thêm thời gian để thực hiện Trên thực tế, trường hợp này là phổ biến

2.2.2 Phạt vi phạm:

Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng cĩ thoả thuận Nhưng nếu bên vi phạm được miễn trừ trách nhiệm thì khơng phải trả tiền phạt vi phạm này Áp dụng chế tài phạt vi phạm được thực hiện thơng qua mức phạt vi phạm Mức phạt vi phạm đối với

vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng Nhưng theo luật Việt Nam thì mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng khơng quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm

Trong điều khoản phạt vi phạm cĩ đơi khi các bên thỏa thuận cả một khoản tiền

cụ thểlàm căn cứ để bồi thường Nội dung điều khoản này khơng được luật Việt Nam qui định tuy nhiên nĩ được áp dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế Điều khoản này

cĩ những điểm tương tự điều khoản phạt vi phạm tuy nhiên cũng cĩ những đặc trưng riên và tương đối phức tạp

2.2.2.1 Hiệu lực của điều khoản bồi thường được các bên ấn định trước một khoản tiền cụ thể:

Điều khoản này được áp dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế, theo đĩ các bên cĩ thể thỏa thuận trứơc về khoản tiền phải trả khi khơng muốn hay khơng thể thực hiện hợp đồng, thỏa thuận này được định nghĩa bằng nhiều danh từ (bồi thường thiệt hại - được ấn định theo luật Anglo Saxon) hoặc tiền phạt vi phạm (các điều khoản về

nhau Vấn đề này từ việc chấp nhận chúng như ở các nước theo hệ thống luật dân sự, theo đó tòa án có thể hay không có thể xem xét lại về những điều khoản này cho đến việc bác bỏ các điều khoản này trong hệ thống luật chung Anglo Saxon, nếu chúng được lập với mục đích là những điều khoản về phạt vi phạm

(37)

Điều 7.4.13 Nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế PICC

Trang 35

Để tìm tiếng nói chung trong những hợp đồng thương mại quốc tế

Khoản 1 của điều 7.4.13 “Khoản tiền bồi thường được ấn định trước cho việc vi

phạm hợp đồng” trong Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế theo nguyên tắc

công nhận hiệu lực của bất kỳ điều khoản nào, theo đó nếu một bên không thực hiện sẽ phải thanh toán một khoản tiền cho bên bị thiệt hại như là việc vi phạm hợp đồng, bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu đòi được chi trả số tiền đã được thỏa thuận, bất kể thiệt hại thực tế xảy ra như thế nào Bên vi phạm không được quyền viện dẫn rằng bên bị thiệt hại không chịu thiệt hại nào hoặc chịu một thiệt hại ít hơn so với khoản

tiền này: “Khi hợp đồng cĩ một điều khoản qui định bên khơng thực hiện nghĩa vụ

phải trả một khoản tiền bồi thường cố định cho bên bị thiệt hại do việc khơng thực hiện, bên bị thiệt hại cĩ quyền yêu cầu số tiền đĩ bất kể mức độ thiệt hại thực tế như thế nào” (38)

Xem ra, tiếng nĩi chung này hợp lý vì nếu các bên đã chấp nhận thỏa thuận trong hợp đồng thì khơng cĩ gì đáng bàn nữa Nhưng nếu điều khoản khơng thỏa thuận

cụ thể là vi phạm ở mức độ nào hay khi vi phạm gây hậu quả như thế nào thì mới áp dụng điều khoản này thì vơ tình trong một vi phạm nhỏ hoặc gây thiệt hại nhỏ mà bên

bị thiệt hại yêu cầu bồi thường thì thiệt thịi cho bên vi phạm

Như vậy, để đảm bảo cơng bằng và bảo vệ lợi ích cho bên vi phạm nhằm tránh cho bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại quá nhiều thì khoản 2 điều 7.4.13 qui định

“Khoản tiền bồi thường cố định trên đây cĩ thể được giảm nếu nĩ vượt xa mức độ thiệt

hại thực tế và những chi tiết khác gây ra do việc khơng thực hiện nghĩa vụ” (39) Đến

đây, mâu thuẫn giữa khoản 1 và 2 của nguyên tắc đã xảy ra Nhưng mâu thuẫn này xảy

ra cũng hợp lý: một khi đã chấp nhận thỏa thuận thì các bên đã chấp nhận là khi vi phạm thì phải bồi thường số tiền như thế, đồng thời nguyên tắc tơn trọng thỏa thuận của các bên thì tịa án cũng sẽ cĩ thể khơng phán xét thỏa thuận này làm gì (khoản 1); nhưng nếu bồi thường quá nhiều cho một vi phạm nhỏ thì sẽ khơng cơng bằng và cần được bảo vệ (khoản 2) Vậy thì làm sao dung hịa được 2 điều khoản này? Cĩ trường hợp nào thì khoản 2 được áp dụng nhưng là hợp lý?

Khoản 2 sẽ được áp dụng, sẽ khơng thấy là mâu thuẫn khi thông thường, việc không thực hiện phải nằm trong phạm vi bên không thực hiện chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Bởi lẽ khó mà chấp nhận việc một bên phải nộp tiền bồi thường cho những sự việc anh ta không phải chịu

Trang 36

trách nhiệm ví dụ như trường hợp bất khả kháng Tuy nhiên, các bên cũng có thể thỏa thuận trong hợp đồng một bên phải thanh toán một khoản tiền nhất định trong bất cứ trường hợp nào khi họ không thực hiện hợp đồng, kể cả khi bất khả kháng

Giải quyết số tiền thỏa thuận có thể được giảm, đĩ là để tránh khả năng lạm dụng điều này khoản 2 của điều 7.4.13 cho phép giảm bớt số

Khi cĩ sự bất bình đẳng thì bắt buộc phải áp dụng nhưng đồng thời số tiền được thỏa thuận chỉ có thể được giảm mà không được bỏ qua, thí dụ như tòa án hồn toàn không xét đến điều khoản về khoản tiền bồi thường được các bên xác định từ trước để tự mình ra quyết định về bồi thường thiệt hại

Cần lưu ý ở điểm này là khoản tiền thỏa thuận chỉ được giảm khi có sự “bất bình đẳng” có nghĩa là một người bình thường trong cùng hoàn cảnh như các bên cũng phải cảm thấy như vậy Hơn nữa, khoản tiền này cũng không được phép tăng nếu thiệt hại thực tế cao hơn trị giá tiền hai bên đã thỏa thuận, vì nếu bên thiệt hại thật sự mất chi phí quá nhiều sẽ áp dụng biện pháp khác vì nếu “ít thì giảm, nhiều thì tăng” vơ tình điều khoản ấn định trước khoản tiền bồi thường cho việc vi phạm hợp đồng khơng cịn giá trị gì nữa Do đĩ, xem xét thêm mối liên quan giữa khoản tiền được thỏa thuận và thiệt hại thực tế phát sinh là cần thiết, giải quyết triệt để cho quyền lợi của các bên

- Mối quan hệ giữa nguyên tắc “khoản tiền bồi thường được ấn định trước cho việc vi phạm hợp đồng” với chế tài “phạt vi phạm”:

Trong vấn đề “hiệu lực của điều khoản bồi thường” xảy ra một vấn đề bất cập

nữa đĩ là nếu như việc khoản tiền bồi thường được ấn định trước này thấp hơn nhiều

khoản 2 điều 7.4.13 Nguyên tắc hợp đồng quốc tế) khơng đề cập Vậy thì, sẽ khơng

cơng bằng khi hợp đồng thì do 2 bên tự nguyện ký kết, khoản tiền bồi thường do 2 bên thỏa thuận vậy mà khi thiệt hại thực tế thấp hơn bên vi phạm cĩ thể được giảm cịn khi thiệt hại thực tế cao hơn thì bên vi phạm khơng cần phải bồi thường hơn mức thỏa thuận Thực tế đây là nguyên tắc được đề cập đến trong bộ nguyên tắc, trong luật Việt Nam khơng đề cập đến nguyên tắc này mà chỉ cĩ điều khoản về phạt vi phạm và mức phạt vi phạm (điều 300 và 301) mang nội dung gần giống với điều khoản này

(40)

Một số ý kiến về phạt vi phạm – Tạp chí khoa học pháp lý số (26)/2005 – Dương Anh Sơn

Trang 37

Nếu nằm trong bộ nguyên tắc thì sẽ không bắt buộc áp dụng mà chỉ mang nội dung hướng dẫn mà thôi Nó sẽ được mang ra tham khảo nếu hợp đồng có thỏa thuận điều khoản này, nhưng bên bị thiệt hại khi có thiệt hại cao hơn khoản tiền được ấn định này không thể yêu cầu tăng số tiền nhưng có thể suy luận rằng bên bị thiệt hại dựa vào chế tài bồi thường thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm Do vậy, trong bộ nguyên tắc có lẽ phải bổ sung điều kiện này để tạo công bằng hơn

Giải pháp này là phù hợp với luật Việt Nam Trong luật Việt Nam tuy không có nguyên tắc qui định về sự công nhận một khoản tiền được ấn định sẽ bồi thường cho việc vi phạm, chỉ có chế tài phạt vi phạm và mức phạt vi phạm mang nội dung tương

tự Luật Việt Nam đã công nhận chế tài phạt vi phạm là một khoản tiền do hai bên thỏa thuận trước giải quyết cả hạn chế của chế tài này là qui định tiếp mức phạt vi phạm hai bên thỏa thuận không được vượt quá 8% luật định, đây thật là một điểm tiến bộ của luật Việt Nam so với cả qui định chung của quốc tế Nhưng mức phạt vi phạm ở điều

301 vẫn chưa giải quyết triệt để hạn chế của loại thỏa thuận này Việc giới hạn mức phạt vi phạm chỉ bảo vệ cho bên vi phạm không phải bồi thường quá nhiều so với thiệt hại thực tế nhưng vẫn chưa đảm bảo đền bù cho bên thiệt hại khi họ có thiệt hại nhiều hơn khoản tiền phạt vi phạm được trả Tiếp tục, luật Việt Nam cho ta một giải pháp nữa bằng việc cho phép áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại kèm theo khi đã áp dụng

các chế tài khác “một bên không bị mất quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tổn

thất do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp dụng các chế tài khác” (điều 316 Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi đã áp dụng các chế tài khác)

Điều luật Việt Nam đã giải quyết phần nào những hạn chế về sự thỏa thuận trước của các bên khi vi phạm hợp đồng Tuy vậy, nội dung phạt vi phạm vẫn còn hạn chế ở điều luật về mức phạt vi phạm Mức phạt vi phạm qui định tối đa là không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, vậy nếu luật Việt Nam được áp dụng cho hợp đồng thì nếu các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm đúng 8% theo luật định nhưng thiệt hại thực tế xảy ra chưa đến 8% hoặc thậm chí chưa có thiệt hại xảy ra thì bất bình đẳng trong quyền lợi các bên lại xảy ra

Phạt vi phạm được qui định trong luật thương mại Việt Nam “là việc bên bị vi

phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận…” Như vậy, phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng không phụ thuộc vào việc có hay không có thiệt hại Thực tế có nhiều trường hợp, số tiền phạt vi phạm được trả khi vi phạm gây ra thiệt hại nhỏ hơn hoặc thậm chí không có thiệt hại xảy ra Trong luật thương mại nó được coi là một trong những biện pháp chế tài do vi phạm hợp đồng Xuất phát từ các quy định nói trên của pháp luật ta có quan điểm, theo

Trang 38

đó việc trả tiền phạt vi phạm được coi là biện pháp trừng phạt do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng So với điều 7.4.13 là một điều khoản bồi thường thiệt hại nhưng lại không cho phép tăng mức bồi thường khi thiệt hại thực tế cao hơn số tiền bồi thường – mâu

thuẫn Mâu thuẫn trên cũng xảy ra trong “mức phạt vi phạm” của luật Việt Nam khi

điều luật qui định mức phạt vi phạm tối đa không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm Phải chăng trong trường có thỏa thuận điều khoản phạt vi phạm thì bên vi phạm chỉ cần trả tiền phạt tối đa 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm

là xong trách nhiệm Trong trường hợp này, không thể hiểu như vậy, vì sẽ là hợp lý nếu thiệt hại hơn 8% giá trị thì bên vi phạm ngoài việc bị phạt tối đa 8% còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm tiếp tục bù đắp cho bên thiệt hại

Ngoài điều khoản bồi thường được ấn định trước bằng một số tiền như trên thì điều khoản phạt vi phạm hợp đồng cần được phân biệt với một vài điều khoản dễ nhầm lẫn như điều khoản miễn trừ trách nhiệm, trường hợp miễn trừ trách nhiệm

2.2.2.2 Phân biệt trường hợp được miễn trừ trách nhiệm, điều khoản miễn trừ với điều khoản phạt vi phạm:

- Trường hợp miễn trừ trách nhiệm: là trường hợp luật định, được miễn trách

nhiệm đối với hành vi vi phạm và do đó không bị phạt vi phạm Bên vi phạm được miễn trách nhiệm nhưng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách khi:

+ Xảy ra các trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận

+ Xảy ra sự kiện bất khả kháng

+ Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia

+ Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng

- Điều khoản miễn trừ: Các điều khoản miễn trừ được hiểu theo nghĩa rộng là

những điều cho phép một bên thực hiện một công việc về cơ bản khác hoàn toàn với những gì mà bên kia mong đợi một cách hợp lý Trên thực tế các điều khoản này nhằm mục đích cho phép bên thực hiện nghĩa vụ đơn phương sửa đổi tính chất của việc thực hiện hợp đồng như đã thỏa thuận, đến mức làm sai lệch mục đích của hợp đồng Các điều khoản như thế khác với những điều khoản định nghĩa về việc thực hiện hợp đồng của các bên có liên quan Như vậy, các điều khoản miễn trừ trước tiên là các điều khoản giới hạn trực tiếp hoặc miễn trừ trách nhiệm của một bên, khi bên này không thực hiện hợp đồng Các điều khoản như thế có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau Có thể điều khoản qui định một khoản tiền cố định về phạt vi phạm, mức

độ bồi thường tối đa, tỉ lệ phần trăm của giá trị thiệt hại trong việc bồi thường…

Ngày đăng: 21/12/2014, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w