Đây là cơ sở y tế công lập tuyến đầu có nhiệm vụcung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm và phòng chốngdịch bệnh, đỡ đẻ thông thường, cung ứng thuốc thiết yếu, vận đ
Trang 2Chăm sóc sức khỏe tại trạm y tế xã là công tác tuyến đầu tiếp xúc với ngườibệnh cho thấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng được tăng cao.Người nghèo, vùng sâu, vùng xa, khó khăn, ít được tiếp xúc với dịch vụ y tế Do đóngười dân cần được chăm sóc sức khỏe theo hướng tốt hơn là làm cho dịch vụ phảiđược phổ biến, gần, sát người dân, tới tận ngõ xóm, gia đình, tận mỗi cá nhân Yhọc gia đình là một chuyên ngành hướng tới mục tiêu này
Trong khuôn khổ Đề tài cấp bộ “Đánh giá thực trạng và nhu cầu chăm sócsức khỏe tại gia đình, đề xuất giải pháp phát triển mạng lưới Y học gia đình”, là họcviên chuyên khoa 1 – Chuyên ngành Y học gia đình, tôi sử dụng số liệu viết luậnvăn tốt nghiệp
Tôi xin cám ơn TS Phạm Huy Tuấn Kiệt là thầy hướng dẫn của tôi, cảm ơnPGS TS Phạm Nhật An là chủ nhiệm đề tài, các thầy cô tham gia Đề tài và cácthầy cô thuộc bộ môn Y học gia đình đã tận tình giúp đỡ cho tôi trong quá trình họctập và hoàn thành luận văn này
Trang 3BHYT : Bảo hiểm y tế
SPSS : Statistical Package for Social Sciences
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 41.1 Kinh tế - xã hội và y tế ở Yên Bái4
1.2 Khái niệm và nguyên tắc Y học gia đình5
1.3 Ý nghĩa và tầm quan trọng của Y học gia đình 8
1.4 Phát triển của Y học gia đình ở quốc tế 9
1.5 Phát triển của Y học gia đình ở Việt Nam 10
1.6 Chăm sóc Y học gia đình tại nhà 12
1.7 Kỹ năng cần thiết cho chăm sóc Y học gia đình tại nhà15
1.7.1 Khắc phục rào cản thăm khám tại nhà 15
1.7.2 Khởi đầu việc thăm khám tại nhà 16
1.7.3 Những kỹ năng cụ thể để thăm khám tại nhà 17
2.7.4 Quan tâm đến người chăm sóc 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 182.1 Đối tượng nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 18
2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu và phương pháp thu thập số liệu 18
2.2.3 Xử lý và phân tích số liệu 23
2.2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 23
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 243.1 Phân bổ hộ gia đình theo xã điều tra và giới tính người trả lời phỏng vấn 24
3.2 Tuổi trung bình của đối tượng được phỏng vấn ở hộ gia đình 25
3.3 Trình độ học vấn của đối tượng được phỏng vấn ở hộ gia đình 25
3.4 Nghề nghiệp của đối tượng được phỏng vấn ở hộ gia đình 26
3.5 Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng ở hộ gia đình được điều tra 27
3.6 Kiến thức về chính sách y tế 27
Trang 53.9 Môi trường trong và ngoài nhà 32
3.10 Nguồn nước ăn hiện nay của gia đình 33
3.11 Vệ sinh, nuôi dưỡng trẻ 34
3.12 Thực trạng sức khỏe và nhu cầu KCB 35
4.2 Thực hành về chăm sóc sức khỏe của người dân 42
4.3 Chăm sóc sức khỏe tại nhà: 44
KẾT LUẬN 45KHUYẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Hình thành từ khi hòa bình lập lại, trải qua thời kỳ chiến tranh và đến thờibao cấp, hệ thống Trạm y tế xã (TYT) Việt Nam luôn được Quốc tế đánh giá cao vàtrong hội nghị Alma Ata năm 1978 còn được khuyến cáo là một mô hình chăm sócsức khỏe ban đầu thành công đi trước nhiều thập kỷ Tuy nhiên, từ năm 1986, khiViệt Nam bắt đầu cải cách kinh tế, hệ thống trạm y tế xã chịu tác động mạnh mẽ bởiquá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Do thiếu cơ chế khuyến khích về chuyên môn và tài chính, rấtnhiều trạm y tế xã/ phường xuống cấp Người bệnh không tin tưởng vào chất lượngdịch vụ y tế tuyến ban đầu, tìm đến các cơ sở y tế tuyến trên và gây quá tải ở đây.Điều này không những là một vấn đề lớn của ngành y tế mà còn là một bức xúcchung của toàn xã hội Kiện toàn mạng lưới cơ sở, do vậy, được đưa vào Luật Bảo
vệ sức khỏe Nhân dân và luôn được đặc biệt quan tâm trong các văn kiện, chiếnlược, chính sách của Đảng và Nhà nước
Chức năng, nhiệm vụ của các trạm y tế xã được qui định trong Quyết định58/TTg, Quyết định 131/TTg Đây là cơ sở y tế công lập tuyến đầu có nhiệm vụcung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm và phòng chốngdịch bệnh, đỡ đẻ thông thường, cung ứng thuốc thiết yếu, vận động nhân dân thựchiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình và tăng cường sức khỏe Các dịch vụ kỹthuật liên quan đến KCB được phép thực hiện tại TYT theo quy định về phân tuyến
kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành (Quyết định số 23/2005/QĐ-BYT ngày 30-8-2005)
Quán triệt nghị quyết 46/NQ-TW ngày 23-02-2005 của Bộ Chính trị về côngtác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Bộ Y tế định hướngđẩy mạnh công tác khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã để nâng cao tính công bằng,hiệu quả và phát triển trong chăm sóc sức khỏe nhân dân trong lộ trình tiến tớiBHYT toàn dân Định hướng phát triển các trạm y tế xã cần dựa trên các bằngchứng được phân tích kỹ, có chú ý đến nguyên tắc cung cầu và điều tiết của thị
Trang 7trường KCB có hiệu quả tại các trạm y tế xã thông qua BHYT giúp giảm tải cáctuyến trên, tiết kiệm chi phí cho người bệnh nói riêng và toàn hệ thống nói chung
Khi nhiều vấn đề còn cần tìm phương hướng đề giải quyết thì công tác chămsóc sức khỏe tại hộ gia đình trong mô hình y học gia đình cần được mô tả rõ hơnnhư được sơ đồ hóa phần nào ở hình sau:
Hình 1.1: Sơ đồ lý thuyết nghiên cứu
Các câu hỏi được đặt ra là:
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại hộ gia đình ở 2 huyện Văn Chấn và Trấn Yêncủa tỉnh Yên bái?
Cán bộ chính quyền, ban ngành, đoàn thể
tuyến xã, huyện
-Thực trạng CSSK Hộ gia đình
- Nhu cầu CSSK Hộ Gia đình
- Giải pháp phát triển mạng lưới YHGĐ
Người dân, hộ
gia đình
- Tài liệu thống kê
- Công trình nghiên cứu khoa học liên quan
- Cán Bộ Đào tạo về YHGĐ tuyến tỉnh và TW
- Cán bộ họach định chính sách, quản lý liên quan tới CSSK hộ gia đình/YHGĐ tuyến tỉnh và TW
Cán bộ y tế:
- Tuyến cơ sở
- Y tế tư nhân
Trang 8 Đề xuất phát triển y học gia đình trong đó chú trọng phát triển chăm sóc tại hộgia đình ở 2 huyện Văn Chấn và Trấn Yên của tỉnh Yên Bái?
Dựa trên các câu hỏi nghiên cứu, nghiên cứu khảo sát đặt ra mục tiêu chung
mô tả hiện trạng CSSK tại HGĐ và qua đó đề xuất phát triển mô hình CSSK Y họcgia đình ở tỉnh Yên Bái
Mục tiêu cụ thể là:
1- Mô tả thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe (CSSK) tại hộ gia đình ở
2 huyện Văn Chấn và Trấn Yên của tỉnh Yên Bái năm 2008.
2- Đề xuất giải pháp phát triển mạng lưới y học gia đình (YHGĐ) phục vụ cho CSSK tại hộ gia đình ở 2 huyện Văn Chấn và Trấn Yên của tỉnh Yên Bái.
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Kinh tế - xã hội và y tế ở Yên Bái
Yên Bái nằm ở vùng Tây Bắc tiếp giáp với Đông Bắc Phía đông bắc giáp haitỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía đông nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía tây nam giáptỉnh Sơn La, phía tây bắc giáp hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai
Yên Bái có diện tích tự nhiên 6.882,9 km², chia làm 09 đơn vị hành chínhnằm trải dọc đôi bờ sông Hồng Yên Bái là tỉnh miền núi phía Bắc hiện nay, toàntỉnh có 731.810 người, 30 dân tộc anh em cùng sinh sống.Các dân tộc ở Yên Báisống xen kẽ, quần tụ ở khắp các địa phương trên địa bàn của tỉnh với những bản sắcvăn hoá phong sắc Thiếu nhân lực, thiếu bác sĩ ở tất cả các tuyến y tế là tình trạngphổ biến ở Yên Bái trong nhiều năm nay
Bệnh viện Đa khoa Nghĩa Lộ là bệnh viện hạng 2 ở tỉnh Yên Bái, với 200giường bệnh và 180 cán bộ y tế, có nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân 3 huyệnphía Tây Yên Bái là Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ vớihơn 30.000 dân Nhiều năm qua, bệnh viện luôn ở trong tình trạng thiếu cán bộ, đặcbiệt là cán bộ, bác sĩ sau đại học và ở các chuyên khoa sâu, chuyên khoa lẻ Vì thế,bác sĩ nơi đây phải làm liên tục, không được nghỉ; thậm chí, làm ngoài giờ cũng đãquá quy định rất nhiều
Thời gian gần đây, những trở ngại đó đã phần nào được giải quyết nhờ Đề án
1816 - luân phiên cán bộ y tế từ tuyến trên xuống tuyến dưới Bốn bác sĩ của Bệnhviện Bạch Mai được tăng cường về Bệnh viện đa khoa Nghĩa Lộ theo 2 đợt, mỗi đợt1,5 tháng Hai bác sĩ trong đợt tăng cường đầu tiên đã hoàn thành nhiệm vụ trở về
Hà Nội, hai bác sĩ của đợt 2 hiện đang làm việc
Theo một số ý kiến của các bác sĩ được tăng cường cho rằng ngay tại Bệnhviện Đa khoa tỉnh là TTYT lớn nhất tỉnh còn thiếu bác sĩ và trang thiết bị, thì tạituyến huyện và xã sẽ thiếu cán bộ cả về số lượng và chất lượng , thiếu cơ sở vậtchất là khó tránh khỏi Điều này cản trở việc CSSK tại HGĐ càng khó khăn hơn
Trang 101.2 Khái niệm và nguyên tắc Y học gia đình
Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) là chăm sóc thiết yếu cho mỗi cánhân, mỗi thành viên trong xã hội Thực hiện tốt CSSKBĐ ngay tại gia đình và
cộng đồng có ý nghĩa to lớn về nhân văn, kinh tế, văn hóa và xã hội [27] CSSKBĐ
còn là nội dung cơ bản của Y học gia đình
Y học gia đình (YHGĐ) được coi là một dịch vụ cung cấp kỹ thuật chăm sócsức khỏe đầy đủ, toàn diện, liên tục và bền vững cho cá nhân và gia đình, khôngphân biệt tuổi, giới, hay bệnh tật, trong sự lồng ghép giữa sinh học, y học lâm sàng
và các khoa học hành vi [21] Y học gia đình làm giảm tối đa tỉ lệ mắc, chết cácbệnh, tai nạn, thương tích, tăng cường sức khỏe cho cá nhân và gia đình
YHGĐ không đơn thuần là bệnh viện hay phòng khám ngồi chờ người dântới để phục vụ YHGĐ chủ động mang dịch vụ CSSK tới tận gia đình, từng cá nhânvới chất lượng cao và giá thành hợp lý Thầy thuốc YHGĐ là thầy thuốc của mọinhà, có thể được coi như một đối tác rất tin cậy và đồng cảm sâu sắc, cung cấp cả
bệnh) mà còn đòi hỏi về chăm sóc ngoài y tế nữa (tâm lý, mối quan hệ) Như vậy
người thầy thuốc gia đình xem xét tổng thể các các cá nhân trong khuôn khổ cácnhu cầu tổng thể của họ (của người bệnh) Người thầy thuốc gia đình xem xét tất cảcác yếu tố này khi lập kế hoạch chẩn đoán hoặc điều trị [28] Y học gia đình khôngxuất phát đơn thuần từ việc chẩn đoán bệnh và chữa bệnh mà xuất phát từ việc chẩnđoán trường hợp bệnh và xử trí trường hợp bệnh Người bác sĩ gia đình tập trunghơn vào con người bệnh, không chỉ đơn thuần phát hiện ra bệnh chính và chữa bệnhchính của bệnh nhân, khi bệnh nhân khỏi là hết trách nhiệm mà còn tìm hiểu vấn đềcủa bệnh nhân và cùng với bệnh nhân xử trí vấn đề của họ Người bệnh được xem
Trang 11xét không chỉ dưới góc độ sinh học mà còn cả về mặt tâm lý và xã hội Nhu cầutổng thể của cá nhân được đặt vào kế hoạch chẩn đoán và điều trị
Chăm sóc liên tục: Bình thường thì mỗi đợt ốm là một bệnh và khi chăm sócchỉ tập trung vào bệnh đó, phương pháp chăm sóc truyền thống là như vậy - song đókhông phải là hoạt động của YHGĐ vì không chăm sóc liên tục và lâu dài Chămsóc liên tục là nguyên tắc quan trọng nhất của YHGĐ Các thầy thuốc YHGĐ đượcgiao nhiệm vụ chăm sóc bệnh nhân toàn diện cùng gia đình họ một cách liên tục,lâu dài Thời gian chăm sóc dài là công cụ hữu hiệu của YHGĐ Đó là điểm khác cơbản giữa YHGĐ và chăm sóc truyền thống, vốn thấy của hệ thống y tế hiện nay
[26]. Liên tục ở đây là liên tục về thời gian và về qui trình từ phát hiện bệnh, chẩnđoán, điều trị đến phục hồi chức năng Người bác sĩ gia đình có thể biết người mìnhchăm sóc sức khỏe từ lúc sinh đến lúc chết Người bác sĩ gia đình phát hiện bệnh,chuyển người bệnh lên tuyến trên cho chẩn đoán và điều trị một phần ở bệnh viện
và sau khi ra viện lại trở lại điều trị với anh ta một cách liên tục
Chăm sóc phối hợp: “Người thầy thuốc gia đình giống như một nhạc trưởng
trong việc chăm sóc cho từng bệnh nhân Người thầy thuốc gia đình còn xác định những người cung ứng và các nguồn chăm súc sức khỏe khác cần thiết để hỗ trợ cho việc chăm sóc chung cho bệnh nhân Những nguồn này bao gồm các chuyên gia bên ngoài cũng như những cán bộ chuyên môn y tế khác bên trong phụng khoản của thầy thuốc gia đình Hướng dẫn bệnh nhân tiếp cận với hệ thống chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của thầy thuốc gia đình” [26] Cũng theo tác giả này, người
thầy thuốc gia đình phải am hiểu sâu sắc gia đình người bệnh về mọi khía cạnh Tổchức cho gia đình người bệnh phối hợp tốt trong chăm sóc và điều trị người bệnh.Người thầy thuốc gia đình còn phải vẽ được sơ đồ gia đình và bản đồ gien củangười bệnh Vì vậy, các nghiên cứu về YHGĐ giống như các nghiên cứu chăm sócsức khỏe thông thường song cần nghiên cứu thêm về các yếu tố gia đình như kinh
tế, văn hóa, mối quan hệ huyết thống, lịch sử bệnh tật
Quan tâm tới phòng bệnh: Phòng bệnh chủ động và tích cực như vệ sinh môitrường, vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm, xử lý chất thải, tiêm chủng, phòng
Trang 12chống các tác nhân, nguy cơ gây bệnh và các tai nạn, thương tích nâng cao sứckhỏe.Bác sĩ gia đình không những chỉ chữa bệnh mà còn phải giúp bệnh nhân củamình phòng chống các nguy cơ bệnh tật Phòng bệnh bao gồm yếu tố nguy cơ mắcbệnh, làm chậm lại các hậu quả của bệnh tật, khuyến khích lối sống lành mạnh, dựđoán các vấn đề sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe nội tâm của bệnh nhân và gia đình.Phòng bệnh không chỉ giới hạn vào việc bảo mọi người không hút thuốc lá, phải tậpthể dục và ăn uống đúng cách mà còn là việc nhận ra các yếu tố nguy cơ đối vớiviệc mắc bệnh và sử dụng các phương tiện sàng lọc để phát hiện bệnh ngay từ cácgiai đoạn đầu.
Hướng cộng đồng: “Nghệ nghiệp, văn hóa và môi trường là những khía
cạnh của cộng đồng tác động đến việc chăm sóc bệnh nhân Sự hiểu biết về những bệnh nào hoặc những vấn đề sức khỏe nào có tỷ lệ mắc cao nhất trong cộng đồng
sẽ ảnh hưởng đến những chẩn đoán của các bác sĩ gia đình và giúp họ đưa ra những quyết định về việc giáo dục cộng đồng và cung ứng dịch vụ Ngoài vai trò là cụng cụ chẩn đoán, cộng đồng còn là tác nhân trị liệu Trong cộng đồng có nhiều nguồn mà bác sĩ gia đình có thể sử dụng để cung ứng chăm sóc tối ưu cho bệnh nhân” [26] Nghề nghiệp, văn hóa và môi trường là những khía cạnh của cộng đồng
tác động đến sức khỏe và chăm sóc sức khỏe bệnh nhân Những hiểu biết về nguyênnhân gây bệnh và cơ chế ảnh hưởng đến cộng đồng sẽ giúp thầy thuốc gia đìnhtrong công tác giáo dục cộng đồng và cung cấp dịch vụ y tế
Hướng gia đình: “Các bác sĩ gia đình coi bệnh nhân như những thành viên
chưa có hệ thống gia đình và thừa nhận ảnh hưởng của bệnh tật đến gia đình cũng như ảnh hưởng của gia đình đến bệnh tật Chúng ta được đào tạo để làm việc với các gia đình và họ cần thích ứng với những giai đoạn chuyển tiếp có thể dự đoán trước của cuộc sống và với các bệnh tật bất ngờ Các bác sĩ gia đình hiểu sự khác nhau giữa gia đình hoạt động bình thường và không bình thường và sử dụng sự hiểu biết này trong cả hai việc chẩn đoán và điều trị bệnh nhân Chúng ta đang nói
về một hệ thống hỗ trợ bệnh nhân khi định nghĩa các gia đình Bệnh nhân không cần là một bộ phận của một gia đình truyền thống mà thường là còn có sự hỗ trợ
Trang 13nào đó, dù hôn nhân có tồn tại hay không Một gia đình được định nghĩa rộng rãi như là những cá nhân mà bệnh nhân trông mong ở họ sự hỗ trợ với nhận thức rằng
sự hỗ trợ này có cả quá khứ và tương lai” [26], Các nguyên tắc chăm sóc bệnh nhân trong chăm sóc sức khỏe gia đình Người bác sĩ gia đình coi bệnh nhân là một
thành viên của gia đình họ, thừa nhận ảnh hưởng của bệnh tật đến gia đình và ngượclại Họ nắm bắt được những yếu tố của gia đình để phục vụ cho phát hiện bệnh,chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng Một gia đình được định nghĩa rộng rãi lànơi mà người bệnh có thể trông mong hỗ trợ ở quá khứ, hiện tại và tương lai
1.3 Ý nghĩa và tầm quan trọng của Y học gia đình
YHGĐ mang dịch vụ CSSK tới từng cá nhân và từng gia đình cho nên mang
ý nghĩa rất lớn về y học cũng như xã hội
Về y học, YHGĐ cung cấp dịch vụ CSSK gần dân nhất nên rất sát với nhucầu về CSSK của từng người dân và gia đình Trước hết YHGĐ cung cấp các dịch
vụ về truyền thông - giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) như cung cấp các kiến thức vềchính sách y tế của nhà nước/ địa phương, kiến thức về vệ sinh cá nhân và cộng đồng,kiến thức về dự phòng các bệnh hay gặp tại cộng đồng, kiến thức về phòng chống cácbệnh, dịch, tai nạn thương tích YHGĐ còn cung cấp cho người dân kiến thức vềphát hịện sớm các bệnh, tật, xử lý sớm về ban đầu các bệnh, tật hay các cấp cứu tạinhà và cộng đồng Chính vì vậy mọi người dân và gia đình luôn đạt được tình trạngsức khỏe tốt nhất có thể có, giảm được nhiều số lượng cũng như tỉ lệ mắc, chết củabệnh, tật hay tai nạn, thương tích ngay tại gia đình và cộng đồng YHGĐ giúp ngườidân tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình [19]
Người cung cấp dịch vụ YHGĐ (như bác sĩ, hộ sinh, điều dưỡng ) phát hiệnsớm các nguy cơ có hại cho sức khỏe của người dân tại gia đình và cộng đồng (nhưnước chưa hợp vệ sinh, thực phẩm có hại cho sức khỏe, thói quen, hành vi không tốtcho sức khỏe ) rồi bàn bạc với từng gia đình và cộng đồng giải quyết, loại trừ các yếu
tố nguy cơ Người cung cấp dịch vụ YHGĐ còn trực tiếp thực hiện khám phát hiệnsớm bệnh, tật cũng như trực tiếp điều trị sớm các bệnh, tật, các cấp cứu tại gia đình và
Trang 14cộng đồng (trong khả năng cho phép) Do vậy giảm được nhiều số lượng cũng như tỉ lệcác bệnh tật và cấp cứu không phải nhập viện hay chuyển tuyến trên [18].
Bác sĩ chuyên khoa YHGĐ tham gia hay trực tiếp quản lý sức khỏe cho mọi
cá nhân, hộ gia đình và toàn cộng đồng, do vậy cần có kiến thức và kĩ năng lồngghép, xã hội hóa hoạt động YHGĐ Trước hết biết cùng người dân xác định vấn đềsức khỏe ưu tiên của cộng đồng, tìm giải pháp và nguồn lực hợp lý giải quyết cácvấn đề ưu tiên đó và thực hiện quản lý được sức khỏe của mọi người dân trongphạm vi phụ trách [17]
Về mặt xã hội, Y học gia đình giúp tiết kiệm được nhiều công sức và tiền củacủa cá nhân và gia đình và xã hội vì được dự phòng tại ngay hộ gia đình nên nhiềubệnh tật không phát sinh Việc phát hiện sớm và điều trị sớm là giảm gánh nặng chiphí so với bệnh ở giai đoạn muộn Ngoài ra, hình thức chăm sóc giúp mang lại hạnhphúc và nguồn vui lớn cho cá nhân, gia đình và cộng đồng vì có sức khỏe tốt hơn vàgiảm chi phí lớn Bên cạnh đó, chuyên ngành mang ý nghĩa nhân văn lớn, đảm bảocho phát triển kinh tế và xã hội bền vững [11]
1.4 Phát triển của Y học gia đình ở quốc tế
Y học gia đình phát triển từ rất sớm Chuyên ngành có bề dày về lý luận và kinhnghiệm thực tiễn quý giá, đặc biệt ở các nước đang phát triển Tổ chức hiệp hội nghềnghiệp có Hội Y học gia đình thế giới, Hội khu vực và Hội của từng quốc gia
Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về nhu cầu YHGĐ của người dân.Tại Hoa kỳ, cứ 1000 người thì có 800 người được báo cáo là có triệu chứng củabệnh, tuy nhiên chỉ có 217 người là đi thăm khám ở các cơ sở y tế (chiếm 27,1%),
21 người đi khám ở phòng khám ngoại trú thuộc các bệnh viện (2,6%) Dịch vụ y
học gia đình chỉ phục vụ có 14 người (1,75%) [25] Số liệu này cho thấy tại Hoa kỳ,
một đất nước công nghiệp phát triển mạnh nhưng nhu cầu khám chữa bệnh (KCB)của người dân rất lớn YHGĐ đã phát triển từ lâu nhưng mới đáp ứng được phầnnhỏ nhu cầu này Tỉ lệ 72,9% có biểu hiện triệu chứng lâm sàng chưa đi khám ở bất
kì nơi nào là một nhu cầu rất lớn mà YHGĐ chưa tiếp cận được Theo một tác giảkhác - Ken White nghiên cứu tại Anh và Hoa Kỳ, cho thấy trong tổng số 250 người
Trang 15bệnh đến thầy thuốc thì có 94% số này được chăm sóc ngay tại nơi làm việc của họbởi thầy thuốc chăm sóc sức khỏe ban đầu tức thầy thuốc gia đình Số ít còn lại mớiphải vào bệnh viện hay các phòng khám của trung tâm y tế Rõ ràng nhu cầu vềchăm sóc sức khỏe của người dân là rất lớn, vấn đề là cần xác định được nhu cầu đó
và tổ chức các dịch vụ YHGĐ đáp ứng với nhu cầu này
Cũng tại Hoa kỳ, trong một khám sàng lọc đã phát hiện ra 14,1% người lớn
đã có ít nhất một giai đoạn uống rượu (một giai đoạn được xác định là uống trên 5lần liên tục) trong 30 ngày gần đây, 7,5% được chẩn đoán bị các biến chứng củauống rượu trong thời gian qua và đã được điều trị Một can thiệp bằng biện phápcủa CSSKBĐ chỉ phục vụ được 40% số có biểu hiện rối loạn về rượu (nhóm chứng
chỉ có 20%) [19] Cho thấy còn một tỉ lệ lớn (60% ở nhóm can thiệp và 80% ở
nhóm chứng) là chưa được chăm sóc y tế Đây là nhu cầu rất lớn, phải chăng có sựthiếu hụt về dịch vụ YHGĐ Một nghiên cứu khác cũng tại Hoa kỳ cho thấy có tới6- 9 triệu trẻ em và vị thành niên có các biểu hiện của rối loạn tâm thần, đó là mộtnhu cầu không nhỏ, tuy nhiên đa số các trẻ em này không nhận được chăm sóc y tế
[24] Trong một nghiên cứu khác cho thấy có tới 20% trẻ em và vị thành niên tại
Mỹ có biểu hiện rối loạn hành vi và rối loạn tâm lý 2/3 số trẻ này không nhận đượcchăm sóc y tế YHGĐ có nhiệm vụ mang dịch vụ cho những trẻ em này [23]
1.5 Phát triển của Y học gia đình ở Việt Nam
Danh từ Y học gia đình mới du nhập vào nước ta khoảng 10 năm trở lạiđây Danh từ thì còn mới nhưng về thực hành thì không mới Trên thực tế, từngàn năm nay nhân dân ta vẫn có một mạng lưới y tế phục vụ CSSK một cách tựphát và hoàn toàn do nhu cầu CSSK của người dân quyết định sự tồn tại và pháttriển của nó Các ông lang, bà mế, bà đỡ, các phòng chẩn trị y học cổ truyền,thầy thuốc tư đã tạo ra mạng lưới chăm sóc sức khỏe sát với người dân và cộngđồng nhất và hoàn toàn tự phát
Hiện nay nhu cầu của người dân về CSSK đã thay đổi nhiều do tác động củanhiều yếu tố:
Trang 16Công nghiệp và du lịch phát triển, nhiều ngành nghề mới ra đời nên mô hìnhbệnh tật thay đổi.
Sự giao lưu trong nước và quốc tế lớn, nhiều bệnh được du nhập vào nước ta(SARS, cúm H5N1, H1N1 )
Nhiều loại hóa chất ra đời gây nhiều bệnh mới và thúc đẩy tăng mạnh cácbệnh không nhiễm trùng như ung thư, suy tủy, rối loạn miễn dịch
Vì vậy việc nghiên cứu nhu cầu CSSK cho người dân là việc làm có tính chấtcấp thiết, đặc biệt nhu cầu CSSK mức cá nhân và gia đình (tức mức tối thiểu, banđầu) thì còn thiếu nhiều các công trình nghiên cứu ở nước ta Việc nghiên cứu lạinhu cầu CSSK của người dân nước ta là rất cần thiết, nhất là nhu cầu mức cá nhân,gia đình và cộng đồng theo quan niệm của YHGĐ
Một số công trình nghiên cứu khoa học khác cho thấy từ khi Nhà nước cóchủ trương phát triển y tế tư nhân, chăm sóc sức khỏe tại nhà đã góp phần to lớngiải quyết nhiều vấn đề sức khỏe cho nhân dân Người dân có điều kiện tiếp cậndịch vụ y tế nhiều hơn kể cả phòng bệnh - giáo dục sức khỏe và phát hiện bệnh sớmcũng như điều trị sớm, có hiệu quả đồng thời giảm chi phí cho người dân Số liệuminh chứng cụ thể là một người dân trung bình có 1,8 lần/năm sử dụng dịch vụ y tế
tư nhân, với y tế tuyến xã là 1,2 và y tế công tại bệnh viện chỉ có 0,8 Tuy nhiên,màng lưới và nhân lực y tế hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏecủa người dân, nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng có nhiều người nghèo hay đồngbào dân tộc thiểu số Rất nhiều lý do khiến người dân chưa tiếp cận được với dịch
vụ y tế cơ bản như:
Quá nghèo, không có tiền chi phí cho ăn, ở, đi lại và người nhà đi theo phục
vụ (hay xảy ra trên vùng núi, dân nghèo)
Đường đi tới cơ sở y tế quá xa xôi, khó đi, thiếu phương tiện giao thông(hay xảy ra ở vùng núi cao)
Tập quán lạc hậu, chỉ cúng bái khi bị ốm đau (hay xảy ra ở vùng nông thônhẻo lánh, vùng núi, dân tộc ít người)
Trang 17Nguyên nhân về phía y tế: Mạng lưới y tế nhà nước tại cơ sở chưa rộng khắp,chưa phát triển mạng lưới y tế tư nhân ở nông thôn và miền núi, y tế thôn bản quámỏng và quá yếu kém Theo số liệu của Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Y tế, tới đầu năm
2006, cả nước ta đã có khoảng hơn 70% số trạm y tế xã có bác sĩ về công tác Đây
là một dấu hiệu tốt lành cho dịch vụ YHGĐ phát triển Tuy nhiên nhiều cuộc khảosát cho thấy tại tuyến xã, người có chuyên môn cao nhất về KCB là BS Nhưngngười BS này thường làm trưởng trạm (theo chủ trương của hầu hết các địaphương), do vậy rất nặng công tác quản lý và sự vụ hành chính (70% - 80% thờigian dành cho đi họp, tập huấn, làm sổ sách, tiếp khách) và thời gian làm chuyênmôn thực sự còn khoảng 20- 30% Đó cũng là lý do quan trọng làm cho y tế xãkhông đáp ứng được với nhu cầu KCB của nhân dân Những lỗ hổng lớn về việcđáp ứng của y tế cơ sở cho thấy cần thiết phải phát triển YHGĐ Vì chỉ nhờ các dịch
vụ YHGĐ, người dân mới có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ CSSK vớigiá thành chấp nhận được Đặc biệt khi YHGĐ thực hiện tốt 6 nguyên tắc của nó,người dân mới được CSSK đầy đủ, liên tục, toàn diện và đảm bảo chất lượng
Y học gia đình mới thực hiện ở Việt Nam trong khoảng 5-6 năm mang tínhchất thực hành là chính, thiếu nhiều cơ sở lý luận và thiếu cả các cơ sở khoa họcdựa trên nhu cầu thực tế của người dân
- Chưa có các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về YHGĐ tại Việt Nam:
Về nhu cầu, nội dung, phương pháp
- Công tác đào tạo chưa dựa trên nhu cầu thực tiễn do chưa có công trình nghiêncứu hỗ trợ
1.6 Chăm sóc Y học gia đình tại nhà
Chăm sóc tại nhà ngày nay đã trở thành đồng nghĩa với các dịch vụ của các
cơ quan chăm sóc sức khỏe tại nhà và không phải là các dịch vụ thầy thuốc chămsóc người bệnh ở tại nhà Chăm sóc sức khỏe tại nhà là phần tăng trưởng nhanhnhất của lĩnh vực sức khỏe trong những năm gần đây Các dịch vụ tại nhà chuyênnghiệp này bao gồm chăm sóc điều dưỡng, trị liệu vật lý, chữa bệnh nghề nghiệp, trịliệu ngôn ngữ và hoạt động xã hội Những dịch vụ khác là trợ giúp sức khỏe tại nhà,
Trang 18thợ giúp việc vặt, những bữa ăn trên xe lăn, vận tải, và các loại nhân viên tìnhnguyện cộng đồng (thí dụ những người làm việc sửa chữa tại nhà) Sự lớn mạnh ghêgớm mới đây của chăm sóc tại nhà đã chiếm chỗ phổ biến mà không có sự tham giacủa thầy thuốc, ngoài yêu cầu gửi khám ban đầu Khi bệnh nhân cần gặp thầy thuốc,thông thường họ được chuyển bằng xe cứu thương tới một trung tâm y học để đượcgặp một bác sĩ chuyên khoa Thầy thuốc này ít khi có thời giờ, trình độ hoặc quantâm điều trị thỏa đáng một cách toàn diện cho bệnh nhân
Thực tế, những cuộc thăm tại nhà của thầy thuốc đã bị giảm sút, trong khi đócác khía cạnh khác của chăm sóc tại nhà thì lại tăng lên rất nhiều Chẳng có gì phảingạc nhiên Các thầy thuốc gia đình và những nhân viên thực hành đa khoa thường
có tần suất thăm tại nhà cao nhất, ngay cả trong trường hợp chỉ là những cuộc viếngthăm không thường xuyên như qui định Các bác sĩ mới tốt nghiệp thường ít đếnthăm tại nhà hơn là các bác sĩ lớn tuổi Mở phòng mạch chi phí cao, đi thăm bệnhnhân tại nhà thì hiệu xuất thấp, được trả giá thấp và những ý nghĩ là chất lượng bịtổn hại thường được kể là những trở ngại cho các thầy thuốc thăm tại nhà
Tuy vậy, những người bệnh biết giá trị của chăm sóc tại nhà bao gồm cảthăm khám bệnh tại nhà của các thầy thuốc Những người già cả muốn được chămsóc tại nhà riêng của họ hơn là phải đến các cơ sở, chưa tính đến những khó khăn vôvàn để đi đến được nơi đó Hơn nữa, những người bệnh trẻ hơn thường coi mỗicuộc thăm viếng tại nhà như là một sự kiện tạo sự ràng buộc của họ với một thầythuốc, những thầy thuốc đã đến thăm khám chữa bệnh tại nhà thường hiểu biếtngười bệnh sâu hơn Trong tương lai, khi số người già tăng lên, việc chăm sóc tạinhà của thầy thuốc có thể sẽ lại phát triển Gần đây Medicare trả thù lao chăm sóc y
tế cho các dịch vụ thầy thuốc tại nhà tăng lên có lẽ sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triểntheo chiều hướng này
Có ba loại thăm khám bệnh của thầy thuốc cho bệnh nhân ở tại nhà: thămkhám để đánh giá, thăm khám để tiếp tục chăm sóc và thăm khám bệnh cấp tính
Các cuộc thăm khám để đánh giá nói chung diễn ra một lần và có thể thường bao
gồm một số nhân viên của đội chăm sóc sức khỏe Các bệnh nhân già đặc biệt thích
Trang 19hợp với những cuộc thăm khám đánh giá ở tại nhà Thăm khám để tiếp tục chăm
sóc có nghĩa là một thầy thuốc đến nhà đều đặn để chăm sóc bệnh nhân Nói chung,
loại hợp đồng chăm sóc tại nhà này được thực hiện cho những người bệnh phải nằm
tại giường, thường là ở giai đoạn cuối của một bệnh mãn tính Thăm khám bệnh cấp
tính thường xảy ra nhiều hơn vì loại thăm khám này thuận tiện hơn đối với người
thầy thuốc đến thăm ở gia đình Một ví dụ điển hình là 1 bệnh nhân bị sốt ở gầnthầy thuốc và người đó lại không có phương tiện giao thông
Những người bị tàn tật vĩnh viễn, đặc biệt là những người phải nằm tại giường: Hầu hết các thầy thuốc gia đình chăm sóc cho những người họ đến thăm
ở nhà là do rất khó đưa những người này vào bệnh viện Các bệnh nhân bị độtquỵ nặng, sơ cứng rải rác tiến triển, các bệnh thoái hóa như loạn dưỡng cơ đềucần phải chăm sóc lâu dài tại giường Những người săn sóc trong gia đìnhthường không tiếc gì để giữ người thân của họ ở nhà sẽ rất cảm kích khi mộtthầy thuốc đến thăm nhà mình
Những bệnh nhân mới cao tuổi bị mắc nhiều bệnh tật: Các cuộc thăm
khám ở tại nhà cho người già góp thêm một tầm cỡ quyết định đối với việc đánh giábệnh Nhìn vào tủ thuốc và bàn để cạnh giường thường là cách tốt nhất để biết đượcngười bệnh đang uống thuốc gì Nói chuyện với những người săn sóc bệnh nhân vàcác thân nhân trong gia đình có thể phát hiện những vấn đề và những điều hữu íchbất ngờ Cuối cùng, một cuộc thăm hỏi tại nhà là cách duy nhất tìm ra những nguy
cơ có thể làm cho dễ ngã
Những bệnh nhân bị sa sút trí tuệ: Nhiều bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer
và bệnh nhân sa sút trí tuệ từ chối đến bác sĩ khám bệnh hoặc trở nên kích động ởmôi trường bệnh viện không quen thuộc Những cuộc thăm khám tại nhà ít ồn àohơn cho phép bạn quan sát người bệnh ở môi trường sống của họ, cho bạn một cơmay tuyệt vời để gặp gỡ với gia đình
Nghi ngờ có lạm dụng: Lạm dụng trẻ em và người già đều không phải là
hiếm Hiện nay ở hầu hết các bang đều có luật khuyến khích hoặc bắt buộc phải báocáo những trường hợp nghi ngờ lạm dụng hoặc bị bỏ rơi Thầy thuốc cần am hiểu
Trang 20khả năng có lạm dụng hoặc bỏ rơi và biết những thủ tục yêu cầu cơ quan chức năngtham gia điều tra Thường có một nhân viên công tác xã hội cùng đến thăm để cùngđánh giá sự lạm dụng
Trên đây là một số tình huống mà việc đến thăm khám tại nhà thường cókết quả nhất Để cho việc chăm sóc tại nhà là một phần hành nghề của mình,bạn cần phải phát triển những kỹ năng để thực hiện những cuộc thăm khám tạinhà có hiệu quả
1.7 Kỹ năng cần thiết cho chăm sóc Y học gia đình tại nhà
1.7.1 Khắc phục rào cản thăm khám tại nhà
Các sinh viên y khoa thường được phân công phụ trách một bệnh nhân ở giađình để thăm khám tại nhà trong năm học đầu tiên Các cuộc thăm khám này cókhuynh hướng xã hội và dễ thực hiện Tuy nhiên, do việc đào tạo sinh viên ngàycàng tiến triển nên sinh viên và thầy thuốc thường trú thường ngại các cú điện thoạimời đến nhà Điều này có thể hiểu được Việc có sẵn nhân viên điều dưỡng, khoađiện quang, phòng xét nghiệm và các khoa phòng hỗ trợ làm cho môi trường bệnhviện trở thành an toàn hơn đối với những người được đào tạo thành thầy thuốc ở tạibệnh viện việc kiểm soát được dễ dàng hơn, khác với khi đến thăm khám tại nhà,bệnh nhân được ở ngay trên mảnh đất riêng của họ
Các sinh viên và người bác sĩ thường trú băn khoăn về việc cần đem thiết bị
gì đến nhà bệnh nhân khi có điện thoại gọi Có bảng danh sách những thứ cần cócủa túi đi khám bệnh tại nhà đã được xuất bản nhưng số lượng trang bị thực sự cầnthiết đem theo lại tuỳ thuộc vào loại thăm khám tại nhà Đến thăm để đánh giá nóichung chẳng cần gì nhiều hơn là đôi mắt, đôi tai của thầy thuốc và có lẽ 1 cái ốngnghe bệnh Đến thăm để điều trị đòi hỏi phải có thuốc men, đơn thuốc để kê đơn,hoặc một trang thiết bị gì đó (ví dụ, một bộ ống thông cho bệnh nhân có ống thôngFoley cần thay thế)
Cách tốt nhất để khắc phục nỗi e ngại đi thăm khám bệnh nhân tại nhà là cứlàm rồi quen Bạn bắt đầu cảm thấy dễ chịu sau khi bạn thực hiện được 24 lần tớithăm khám tại nhà cho những bệnh nhân khác nhau Như vậy, tự bạn được cổ vũtìm kiếm và tranh thủ các mặt ưu việt của những cơ hội đến thăm khám tại nhà
Trang 21Những cơ hội đó ngày càng tăng lên vì bạn được gặp gỡ bệnh nhân Đồng thời,những khía cạnh tế nhị của thăm khám tại nhà cần nhiều năm mới hoàn thiện được,
do đó bạn được khuyến khích tìm kiếm cơ hội để có những cuộc thăm khám kết hợpvới một thầy thuốc cộng đồng giàu kinh nghiệm, một người cùng khoa hoặc mộtngười cung ứng chăm sóc sức khỏe tại nhà
1.7.2 Khởi đầu việc thăm khám tại nhà
Bệnh nhân rất ít khi từ chối một thầy thuốc đến thăm khám mình ngay ở nhà.Khi biết trước khi nào người thầy thuốc có kế hoạch đến thăm, họ thường rất cảm kích.Nếu bạn đến chậm bạn phải gọi điện thoại và cho bệnh nhân biết giờ nào bạn sẽ đến.Lịch thăm khám tại nhà chính xác sẽ cho phép các thành viên trong gia đình sắp xếpcông việc riêng để có mặt khi bạn ở nhà họ
Bất kỳ một cuộc thăm khám nào cũng đều bắt đầu bằng những lời chào hỏi
và thường thường là những câu chuyện về xã hội ở gia đình việc này có thể phảimất vài phút Gia chủ có thể mời bạn thăm ngôi nhà của họ hoặc mời bạn ăn uốngcái gì đó Những hoạt động xã hội này giúp bệnh nhân và gia đình cảm thấy thoảimái hơn trong việc tiếp xúc với thầy thuốc Phần lâm sàng của cuộc thăm hỏi nhiềukhi lại kết hợp với các động tác xã giao Ví dụ, khi bạn đến thăm khám sức khỏecho một cháu bé 2 tuần tuổi, bạn có thể ngắm nghía và chơi với bé trong khi bạn bắtđầu công việc khám xét chuyên môn của bạn Cũng như vậy, một lần dạo thăm ngôinhà có thể tạo cơ hội để bạn sơ bộ biết được những thứ có trong tủ thuốc đặt ởbuồng tắm
Thực hiện một cuộc thăm khám tại nhà hơi mất thời giờ hơn thăm khám ởbệnh viện Tuy nhiên, nhờ sự gần gũi với người bệnh và với gia đình làm nhữngcuộc thăm khám của bạn có hiệu quả hơn Đồng thời, nếu bạn định hình trước được
ý tưởng rõ ràng cho mục tiêu cuộc thăm khám của bạn, bạn có thể làm cho cuộc đithăm khám tại nhà của mình có chủ định và bạn sẽ biết khi nào thì bạn kết thúc
1.7.3 Những kỹ năng cụ thể để thăm khám tại nhà
Để bổ xung công dụng của một cuộc thăm khám tại nhà, người thầy thuốccần phải có kiến thức và những kỹ năng cụ thể thích hợp với việc chăm sóc cho mộtngười tại nhà Những kiến thức và kỹ năng này bao gồm:
Trang 22Đánh giá các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày (ADLs - Activities ofdaily living) và các hoạt động có dụng cụ trong sống hàng ngày (IADLs -Instrumental activities of daily living).
- Đánh giá môi trường tự nhiên
- Đánh giá về mặt xã hội
- Hiểu biết về các dịch vụ chăm sóc tại nhà đã có sẵn ở cộng đồng
- Năng lực xây dựng một kế hoạch điều trị toàn diện
- Một số hiểu biết về lợi ích của Medicare và những dịch vụ gì được Medicarecung ứng tại nhà
2.7.4 Quan tâm đến người chăm sóc
Đối với những bệnh nhân phải nằm ở nhà do bệnh mạn tính người chăm sócthường là lý do chính để bệnh nhân không phải đến nhà điều dưỡng Bất kỳ một kếhoạch chăm sóc người bệnh nào được vạch ra để giữ bệnh nhân ở nhà cũng phải chú
ý đến những nhu cầu của người phục vụ chăm sóc Lắng nghe một cách thông cảm
là quan trọng nhưng đôi khi cũng cần giúp đỡ nhiều hơn Các dịch vụ khiến chocuộc sống dễ chịu đựng hơn đối với những người chăm sóc vất vả gồm có dịch vụchăm sóc ban ngày, dịch vụ chăm sóc giải trí khuây khoả, dịch vụ giúp đỡ y tế tạinhà, các trung tâm người cao tuổi, các chương trình "bữa ăn trên xe lăn", nhữngngười tư vấn, những nhóm hỗ trợ Các dịch vụ này thường được ghi trong danh bạđiện thoại hoặc có thể hỏi địa chỉ nhờ tiếp xúc với cơ sở người cao tuổi tại địaphương hoặc cơ sở dịch vụ xã hội
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Đối tượng:
Cán bộ y tế các cấp và người dân ở cộng đồng của tỉnh Yên Bái
- Người dân: Nghiên cứu thực trạng và nhu cầu về YHGĐ: Kiến thức phòngbệnh, phát hiện và điều trị ban đầu, nâng cao sức khỏe của cá nhân và gia đình;Nhu cầu về thực hành phòng bệnh, phát hiện và điều trị ban đầu, nâng cao sứckhỏe của cá nhân và gia đình; Mô hình bệnh tật ; Tình hình kinh tế - xã hội; Một
số giải pháp phát triển YHGĐ
- Cán bộ y tế, bác sĩ CKI YHGĐ: Mô tả thực trạng về YHGĐ, khả năng đápứng của y tế cơ sở với nhu cầu CSSK của dân tại HGĐ cũng như các giải phápnhằm phát triển mạng lưới YHGĐ
Địa điểm: 2 huyện là Trấn Yên và Văn Chấn, 4 xã là Nga Quan, Việt Thành,Đông Khê và Phù Nham
Thời gian nghiên cứu: Tháng 10/2008
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang Sử dụng công cụ định lượng và định tính
2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu và phương pháp thu thập số liệu
a) Người dân/HGĐ: Đối tượng thứ nhất là người dân và HGĐ của người dân
đó Mỗi HGĐ chỉ phỏng vấn 01 người để thu thập các thông tin về bản thân người
đó và về HGĐ của họ, đồng thời dùng bảng kiểm quan sát một số thực trạng vềHGĐ Tiêu chuẩn chọn: Phỏng vấn người chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe chotoàn HGĐ (thường là mẹ/bố, có thể là ông/bà tuy gia đình), không bị các bệnh gâythiểu năng trí tuệ, có đủ tư cách dân sự và đủ sức khỏe phục vụ cho nghiên cứu; cómặt tại thời điểm điều tra
- Cỡ mẫu dùng cho nghiên cứu ngang để ước lượng tỉ lệ trong quần thể:
Trang 24
2
) 2 / 1 (
)(
1 2
p
p p Z
Điền các giá trị vào công thức chọn mẫu, tính được n = 240 người dân
Để loại bỏ các phiếu không hợp lệ hay bị sai, lấy thêm 10% (tức 25) đối tượng nàycho điều tra Vậy tổng số dân được điều tra là 240 + 25 = 265 (lấy tròn 270)
Dự kiến thông tin cần thu thập khi phỏng vấn người dân:
- Thông tin cá nhân: Họ, tên, tuổi, giới, nghề nghịêp, học vấn
- Thông tin về sức khỏe, bệnh tật cá nhân
- Kiến thức, thực hành về phòng bệnh, phát hiện, xử lý một số bệnh thông thường
- Kiến thức về chính sách y tế phổ cập
- Nhu cầu về CSSK ban đầu tại HGĐ
- Thực trạng về dịch vụ CSSK tại HGĐ theo quan điểm của YHGĐ
- Giải pháp phát triển CSSK tại HGĐ (nếu có thể)
Thông tin cần thu thập khi dùng bảng kiểm để đánh giá thực hành về CSSKcủa người dân tại HGĐ:
- Vệ sinh HGĐ, môi trường
- Vệ sinh cơ thể/ cá nhân
- Sức khỏe, bệnh (thông qua y bạ và các giấy tờ liên quan)
Trang 25b) Y tế thôn, bản, đường phố: Tất cả nhân viên Y tế thôn, bản, đường phố(trừ người đi vắng tại thời điểm điều tra) của các xã, phường, thị trấn được chọn tạimẫu cấp III Uớc tính mỗi xã/phường/thị trấn có khoảng 8 nhân viên y tế thôn bản,nên tổng số khoảng 16 nhân viên y tế thôn bản được điều tra Phương pháp điều tra:Thảo luận nhóm (TLN) thông qua hướng dẫn TLN hoặc phỏng vấn sâu Dự kiến thôngtin cần thu thập: Thực trạng về dịch vụ CSSK tại HGĐ theo quan điểm của YHGĐ;Nhu cầu CSSK tại HGĐ: Phòng bệnh, khám phát hiện, điều trị, sơ cứu, tư vấn - truyềnthong - giáo dục sức khỏe; Một số yếu tố tác động tới CSSK- HGĐ; Các giải pháp pháttriển CSSK- HGĐ
c) Trưởng thôn, trưởng bản, tổ trưởng tổ dân phố: Người có trách nhiệm liênquan như chỉ đạo, tham gia vào các hoạt động y học gia đình, CSSK tại HGĐ, thôn,xóm Số lượng: Mỗi xã ước tính: 8 người tạo thành nhóm Tổng số: 8 x 2 xã = 16.Phương pháp điều tra: Thảo luận nhóm Dự kiến thông tin cần thu thập: Thực trạng vềdịch vụ CSSK tại HGĐ theo quan điểm của YHGĐ; Nhu cầu CSSK tại HGĐ: Phòngbệnh, khám phát hiện, điều trị, sơ cứu, tư vấn - truyền thong - giáo dục sức khỏe; Một
số yếu tố tác động tới CSSK- HGĐ; Các giải pháp phát triển CSSK- HGĐ
d) Cán bộ TYTX: Thảo luận nhóm tất cả nhân viên của trạm theo mẫu/nộidung hướng dẫn, ghi biên bản hay ghi âm Tổng số 2 TYTX, phường, thị trấn đượcnghiên cứu với khoảng 10 cán bộ y tế tại TYT xã tham gia thảo luận nhóm Dự kiếnthông tin cần thu thập: Thực trạng về dịch vụ CSSK tại HGĐ theo quan điểm củaYHGĐ; Sự đáp ứng về CSSK- HGĐ hiện nay của hệ thống y tế xã/phường; Nhucầu CSSK tại HGĐ: Phòng bệnh, khám phát hiện, điều trị, sơ cứu, tư vấn- truyềnthông- giáo dục sức khỏe; Một số yếu tố tác động tới CSSK- HGĐ; Các giải phápphát triển CSSK- HGĐ
đ) Cán bộ UBND xã, các đoàn thể: Người có trách nhiệm liên quan như chỉđạo, tham gia vào các hoạt động y học gia đình, CSSK tại HGĐ, thôn,xóm Sốlượng: Mỗi xã ước tính: 5 người tạo thành nhóm Tổng số: 5 x 2 xã = 10 Phươngpháp điều tra: Thảo luận nhóm Dự kiến thông tin cần thu thập: Thực trạng về dịch
Trang 26vụ CSSK tại HGĐ theo quan điểm của YHGĐ; Sự đáp ứng về CSSK- HGĐ hiệnnay của hệ thống y tế xã/phường; Nhu cầu CSSK tại HGĐ: Phòng bệnh, khám pháthiện, điều trị, sơ cứu, tư vấn - truyền thong - giáo dục sức khỏe; Một số yếu tố tácđộng tới CSSK- HGĐ; Các giải pháp phát triển CSSK- HGĐ
e) Cán bộ quản lý, hoạch định chính sách y tế, các nhà nghiên cứu và theodõi về CSSK HGĐ của địa phương (huyện, tỉnh) Tiêu chuẩn chọn: Cán bộ lãnhđạo/ quản lý hay nhân viên y tế tuyến huyện, nơi được chọn điều tra ở mẫu bậc II.(Phòng y tế/ Trung tâm y tế dự phòng/ Bệnh viện) ; Mỗi huyện chọn chủ đích 10cán bộ trực tiếp chỉ đạo, quản lý về hoạt động y học gia đình, CSSK tại HGĐ, thôn,xóm để thảo luận nhóm Tổng số: 10 x 2 = 20
f) Cán bộ UBND huyện, các đoàn thể: Tiêu chuẩn chuẩn chọn: Người có tráchnhiệm liên quan như chỉ đạo, tham gia vào các hoạt động y học gia đình, CSSK tạiHGĐ, thôn, xóm Số lượng: Mỗi huyện ước tính: 3 người tạo thành nhóm Tổng số: 3
x 2 huyện = 6 Phương pháp điều tra: Thảo luận nhóm
g) Cán bộ lãnh đạo/ quản lý hay nhân viên y tế tuyến tỉnh, các nhà nghiêncứu về YHGĐ/ CSSKBĐ nơi được chọn điều tra ở mẫu bậc I Mỗi tỉnh chọn 10người Tổng số: 10 x 1 = 10 Thảo luận nhóm
h) Cán bộ làm công tác đào tạo bác sĩ tuyến xã, điều dưỡng và nữ hộ sinhcộng đồng tại các trường trung học y/ trung tâm đào tạo T/TP: 5 người/nhóm Điềutra thông qua thảo luận nhóm Tổng số 5 x 1 = 5 Thảo luận nhóm Dự kiến thông tincần thu thập từ các đối tượng trên: Thực trạng về dịch vụ CSSK tại HGĐ theo quanđiểm của YHGĐ; Nhu cầu CSSK tại HGĐ: Phòng bệnh, khám phát hiện, điều trị, sơcứu, tư vấn - truyền thong - giáo dục sức khỏe; Một số yếu tố tác động tới CSSK-HGĐ; Sự đáp ứng về CSSK- HGĐ hiện nay của hệ thống y tế xã/phường,quận/huyện; Phương hướng phát triển YHGĐ; Các giải pháp phát triển CSSK- HGĐ
i) Cán bộ tuyến Trung ương: Cán bộ lãnh đạo, quản lý hay nhân viên chịutrách nhiệm quản lý, đào tạo về YHGD và CSSKBĐ, các nhà khoa học nghiên cứu
về CSSKBĐ và YHGĐ Chọn chủ đích tại Bộ Y tế, cơ quan trực thuộc Bộ, các
Trang 27viện, trường đại học Y Tại hai địa điểm là Hà Nội - TP Hồ Chí Minh Số lượng :Ước tính có khỏang 10 đối tượng tạo thành 2 nhóm thảo luận Phương pháp điềutra: Thảo luận nhóm thông qua bộ câu hỏi soạn sẵn Dự kiến thông tin cần thu thập:Thực trạng về dịch vụ CSSK tại HGĐ theo quan điểm của YHGĐ; Nhu cầu CSSKtại HGĐ: Phòng bệnh, khám phát hiện, điều trị, sơ cứu, tư vấn - truyền thong - giáodục sức khỏe; Sự đáp ứng về CSSK- HGĐ hiện nay của hệ thống y tế xã/phường,quận/huyện; Một số yếu tố tác động tới CSSK- HGĐ; Phương hướng phát triểnYHGĐ; Các giải pháp phát triển CSSK- HGĐ
k) Y tế tư nhân: Tất cả y tế tư nhân có mặt tại thời điểm điều tra của 2xã/phường/ thị trấn theo 10 Thu thập thông tin qua thảo luận nhóm, ghi biên bảnhay ghi âm Dự kiến thông tin cần thu thập: Thực trạng về dịch vụ CSSK tại HGĐtheo quan điểm của YHGĐ; Nhu cầu CSSK tại HGĐ: Phòng bệnh, khám phát hiện,điều trị, sơ cứu, tư vấn - truyền thong - giáo dục sức khỏe; Sự đáp ứng về CSSK-HGĐ hiện nay của hệ thống y tế xã/phường, quận/huyện; Các giải pháp phát triểnCSSK- HGĐ
l) Bác sĩ CKI YHGĐ: Toàn bộ các BS chuyên khoa I YHGĐ đang công táctại các địa phương, ước tính 10 được điều tra thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn sâu
Dự kiến thông tin cần thu thập: Thực trạng về dịch vụ CSSK tại HGĐ theo quan điểmcủa YHGĐ; Nhu cầu CSSK tại HGĐ: Phòng bệnh, khám phát hiện, điều trị, sơ cứu, tưvấn - truyền thong - giáo dục sức khỏe; Sự đáp ứng về CSSK- HGĐ hiện nay của hệthống y tế xã/phường, quận/huyện và của bác sĩ chuyên khoa YHGĐ; Một số yếu tố tácđộng tới CSSK- YHGDD; Phương hướng phát triển YHGĐ; Các giải pháp phát triểnCSSK- HGĐ
m) Sổ sách, văn bản, các công trình nghiên cứu tại các tuyến: Sổ sách, báocáo tại tuyến xã, huyện, tỉnh, trung ương về hoạt động CSSKBĐ và YHGĐ; Cácvăn bản về chính sách, quản lý, phát triển, đào tạo hiện có tại các tuyến y tế và tạichính quyền các cấp về CSSKBĐ và YHGĐ; Các công trình nghiên cứu về nhu cầuCSSK cộng đồng, đáp ứng dịch vụ y tế cộng đồng và YHGĐ liên quan.Dùng các