Những tính cách hết lòng vì nghĩa ấy không chỉ tìm thấy ở xã hội Trung Quốc, mà trong quá trình giao lưu trao đổi văn hóa với nhau có ảnh hưởng đến tính cách con ngườiViệt Nam, mà cụ thể
Trang 1như trước kia nữa Chính từ những vấn đề trên mà tôi quyết định chọn đề tài “Nghĩa trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu” làm đề tài nghiên cứu Đây không
phải là một đề tài mới nhưng cái hay vẫn còn ẩn chứa bên trong và một phần nữa là giúp
tôi có cơ hội tìm hiểu kỹ hơn về tác phẩm Lục Vân Tiên.
Trước hết gì đây là đề tài mang tính thời sự luôn được sự quan tâm chú ý của nhiềungười, chính vì thế mà khi thực hiện đề tài có được một tính thiết thực và nhận được sựủng hộ từ nhiều phía giúp thêm phần động lực cho quá trình tôi thực hiện công việc này.Ngoài ra vì đây là đề tài sát với vấn đề ngoài thực tế cuộc sống, vì cho dù thời đại có tiến
bộ đến mấy đi chăng nữa thì nhu cầu giao tiếp là không thể thiếu được Đồng thời quaviệc thực hiện đề tài giúp tôi nhìn nhận lại chính mình về những giá trị văn hóa truyềnthống của dân tộc, hơn nữa qua đây giúp tôi có thêm những kiến thức nhiều hơn về tácphẩm Cuối cùng là tôi nhận thấy được đề tài có ý nghĩa cho việc phục vụ cho cuộc sốngtinh thần của con người trong thời hiện đại, quá khứ sẽ tác động lại bản thân mỗi chúng ta
và có được những nét đối xử với nhau phù hợp với đạo lí mà truyền thống ngàn xưa cóđược Vì qua việc đánh giá nhân cách mỗi cá nhân là cơ sở để hình thành và quyết địnhmột xã hội
Từ việc thực hiện công việc trên, tôi mong rằng khi thực hiện xong đề tài sẽ gópmột phần nhỏ công sức của mìmh vào tiếng nói chung của xã hội; tiếng nói của quá khứ
Trang 2sẽ sống trở lại những con người hiện tại để có được những mối quan hệ giao tiếp ngàycàng tốt đẹp hơn, góp phần vào việc phát triển xã hội ngày càng sống chan hòa hơn trongtình thương mến.
cho mình xem đâu là tiểu nhân đâu là quân tử Đức Khổng nói rằng: “Quân tử tinh tường
việc nghĩa; tiểu nhân tinh tường việc lợi” [1;78] Chính từ việc quan sát nhiều từ thực tế
cuộc sống giúp cho Đức Khổng Tử có được những cách đánh giá tinh tế, sâu sắc có giá trịmuôn đời Bên cạnh Tử Khổng nói về tính cách của người quân tử, Ngài còn có nhữngthuyết luận cụ thể hơn về người quân tử, quân tử thấy việc chính nghĩa là làm không suynghĩ đắn đo, hết lòng vì người khác không suy tính thiệt hơn cho bản thân
Trong quyển Nho giáo và đạo đức của Vũ Khiêu biên soạn Đức Khổng có nói rằng
“nhân là để yêu người khác, nghĩa là để chính mình, cho nên lấy nhân mà nói là nói người, lấy nghĩa mà nói là nói ta Phép tắc của nhân là yêu người, phép tắc của nghĩa là
chính mình Nhân tạo người, nghĩa tạo ta”.[9;47]
Chính từ việc quan niệm của Đức Khổng cho nên hình thành ở Ngài một tính cách
cương trực, ngay thẳn hết lòng vì việc nghĩa, một phần tính cách ấy sau này cũng dần dần
được hình thành ở những thế hệ sau như Mạnh Tử cũng có được tấm lòng của bậc quân
tử Cũng ở quyển Nho gíao và đạo đức Vũ Khiêu biên soạn, Mạnh Tử nói rằng: “sống thì
ta vẫn ham, nghĩa thì ta vẫn mộ Nếu chẳng được luôn hai việc ấy một lúc, ta đành bỏ mạng sống mà giữ lấy nghĩa” [9;48] Trong cuộc đời mạng sống là vốn rất quí nhưng bên
cạnh đó cá nhân ấy phải được xã hội chấp nhận yêu mến, mọi người có được niềm tin vàomình ấy mới là cuộc sống có ý nghĩa, và cũng chính từ việc ấy con người coi trọng nhâncách đặt uy tín lên hàng đầu, nên hành động lúc nào cũng suy nghĩ vì người khác, để cómột nhân cách hết lòng vì chính nghĩa phải qua thời gian rèn luyện, phải qua thời gian thử
Trang 3thách trước khó khăn, gian khổ vượt qua hết những khó khăn trở ngại đó là điều rất khó,
có như vậy mới hình thành nên một nhân cách tốt được.Thực tế cuộc sống là vậy những
gì mà mình trải qua khó khăn vất vả luôn là điều ta trân trọng và giữ gìn nhất
Những tính cách hết lòng vì nghĩa ấy không chỉ tìm thấy ở xã hội Trung Quốc, mà
trong quá trình giao lưu trao đổi văn hóa với nhau có ảnh hưởng đến tính cách con ngườiViệt Nam, mà cụ thể là các nhà văn, nhà thơ trong giai đoạn văn học trung đại bị ảnhhưởng rất nhiều từ tư tưởng ấy có những tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,Nguyễn Đình Chiểu… Vì thời gian và điều kiện không cho phép tôi chỉ giới thiệu một tácgiả gần gũi với con người Nam Bộ là Nguyễn Đình chiểu mà ở những phần nội dung sautôi sẽ giới thiệu kỹ hơn về tư tưởng nhân nghĩa của cụ Đồ Chiểu
Trong quyển Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (tập 1), Nhà xuất bản Hà Nội năm 1997
có những nhận định về tính cách của Nguyễn Đình chiểu thể hiện qua tác phẩm Lục Vân
Tiên: “Tác phẩm Lục Vân Tiên đáp ứng được tinh thần dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài,
ghét gian ác của người nông dân miền Nam mà cũng là của mọi người Việt Nam chúng
ta” [18;35].
“Những con người tốt bụng trong Lục Vân Tiên kế tục những truyền thống cao quí về tư tưởng nhân nghĩa, đó là con người trong sạch, bình thường, làm việc nghĩa như một nhu
cầu không hề nghĩ đến lợi danh, ơn huệ” [18;35].
Cũng từ quyển sách này tác phẩm Lục Vân Tiên có một giá trị mạnh mẽ đối với
chính cuộc sống của mỗi chúng ta, tác động đến việc hình thành và phát triển nhân cách
tốt đẹp góp phần làm cho cuộc sống ngày thêm hoàn thiện hơn: “Lục Vân Tiên có tác
dụng giáo dục mạnh mẽ Ở một mức độ khía cạnh nhất định, con ngừơi lục tỉnh nhất là tầng lớp thanh niên, lấy Vân Tiên làm nhân vật lí tưởng, ước mơ làm một vân Tiên trong cuộc đời, coi mối tình Vân Tiên – Nguyệt Nga là tuyệt đẹp, coi tình bạn giữa Vân Tiên, Hớn Minh và Tử Trực là cao quí” [18;36].
Chẳng những tác phẩm chỉ dừng lại ở việc nêu cao tính giáo dục mà còn đượcnâng lên ở tầm cao hơn đó là đạo lí của dân tộc được Nguyễn Đình Chiểu giử gắm qua tácphẩm, những phẩm chất tốt xấu, chính nghĩa phi nghĩa đã được nhà thơ nói qua rất rõ
Quyển Nguyễn Đình Chiểu, tác giả trong nhà trường, có bài viết của Đặng Thai Mai “Tuy vậy cái đạo lí Nguyễn Đình Chiểu nêu lên trong Lục Vân Tiên vẫn có tính chất
Trang 4chính nghĩa tính nhân đạo sâu sắc và do đó phù hợp với đạo lí, truyền thống đạo đức của nhân dân thừa nhận Lục Vân Tiên phản ánh cuộc giao tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa chính nghĩa với phi nghĩa và khẳng định dứt khoát rằng: Cái thiện cái chính nghĩa
dù có trải qua bao muôn vàn khó khăn, thì rồi cuối cùng nhất định thắng lợi, và cái ác, cái phi nghĩa cuối cùng tất yếu sẽ thất bại và bị trừng phạt.”[23;8]
Chính từ ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu lúc nào cũng thể hiện rõ tư tưởng của mộtngười trung quân ái quốc hình thành nên tính cách của ông là một người cương trực cótinh thần lạc quan yêu đời, luôn vượt qua mọi hoàn cảnh vươn lên trong cuộc sống vàngày càng tỏ sáng tấm lòng của ông với nhân dân đất nước
Công trình nghiên cứu của Vũ Khiêu – Nguyễn Đức Sự “Nguyễn Đình Chiểu ngôi
sao sáng của tri thức Việt Nam” đã nghiên cứu về những tri thức của truyền thống Việt
Nam, sự ảnh hưởng của Nho giáo, việc vận dụng Nho giáo trong thơ văn Nguyễn ĐìnhChiểu và thái độ của Nguyễn Đình Chiểu trước nạn ngoại xâm, khái quát tư tưởng
Nguyễn Đình Chiểu và trong thơ văn của ông tác giả viết: “…Trong thơ văn Nguyễn Đình
Chiểu luôn tỏa sáng tinh thần lạc quan, lòng yêu quí nhân dân, niềm tin sâu sắc ở thắng lợi chính nghĩa, ở tài năng đạo đức con người” [11;35].
Bài viết của Nguyễn Phong Nam “Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học”
đã nghiên cứu thơ văn Nguyễn Đình Chiểu về phương diện đề tài, chủ đề, ngôn ngữ trongcác truyện thơ Nôm, một trong những cống hiến của Nguyễn Đình Chiểu cho nền văn họcdân tộc Tác giả bài viết có đề cập đến giọng điệu của Nguyễn Đình Chiểu đầy đủ tư
tưởng đạo lí răn dạy, có tính chất giáo huấn rất cao: “Tác phẩm của ông không phải là tiêu nhàn mà là răn đời, để hướng đạo cho mọi người Cái mục đích này đã ảnh hưởng
trực tiếp đến việc tổ chức lời văn trong tác phẩm của ông Truyện Nôm của Nguyễn Đình Chiểu là những bài giảng giải trình bày, bàn luận về đạo lí, đạo đức cho một đối tượng giả định, một công chúng đang hướng về, đang quan tâm đến vấn đề thiết cốt với tất cả mọi người Bởi thế ngay từ câu mở đầu tác phẩm giọng điệu giáo huấn đã được cất lên
công khai”[17;112 – 113] Như vây công trình phần nào đề cập đến tính cách thái độ của
Nguyễn Đình Chiểu với cái đạo lí, nhân nghĩa mà trong chính bản thân ông luôn tỏa sáng.Tác phẩm của Đồ Chiểu có tính chất giáo huấn rất cao chẳng những thể hiện ở tính cách
Trang 5tộc Qua đây ta có thể nói tuy Nguyễn Đình Chiểu không nhìn thấy cuộc đời bằng nhãnquan trực tiếp của mình, mà ông cảm nhận đời bằng cả trái tim và tấm lòng chính nghĩa.
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của tôi trong khi thực hiện đề tài này là: muốn tìm
hiểu chữ nghĩa thể hiện như thế nào trong tác phẩm Lục Vân Tiên và đồng thời giúp chính
bản thân tôi nắm lại tác phẩm rõ hơn, để phục vụ cho nhu cầu học tập ở hiện tại, cũng nhưgóp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công việc nghiên cứu sau này
4 Phạm vi nghiên cứu
Do tính chất đặc thù của đề tài nên tôi chỉ nghiên cứu trên phạm vi sách vở, chính
vì thế tôi chọn quyển Nguyễn Đình Chiểu, “Cổ văn việt nam, Đồ Chiểu, Lục Vân Tiên
sách giáo khoa Tân Việt” sửa theo đúng bản của cụ Trương Vĩnh Ký phát hành năm 1889
có phần chú thích để làm tài liệu để nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện đề tài Theo
số liệu thống kê cho đến hiện nay truyện Lục Vân Tiên có rất nhiều văn bản khác nhau,
nhưng có một số bản dịch ở miền Bắc, nội dung có phần xa lạ với cách tiếp cận của tôi,nên tôi quyết định chọn văn bản trên Vì theo tôi đây là văn bản tôi có thể cảm nhận được
dễ dàng và gần gũi với tôi hơn nên tôi quyết định chọn văn bản này làm tư liệu nghiêncứu trực tiếp Và bên cạnh đó tôi còn tham khảo thêm một số sách vở, các bài nghiên cứuphê bình khác để công việc được tiến hành thuận lợi hơn, tôi tìm thêm nguồn tư liệu trênmạng những bài viết có liên quan đến đề tài để tham khảo thêm và bổ sung kiến thức cho
đề tài Đó chính là phạm vi nghiên cứu của tôi khi thực hiện công việc này
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu trong quá trình nghiên cứu đề tài này là sử dụng những ngữliệu học và ngôn ngữ học Bên cạnh đó tôi tìm những nguồn tài liệu sách báo có liên quanđến đề tài, trên cơ sở đó tổng hợp, phân tích vấn đề đồng thời có sự so sánh đối chiếu đểlàm sáng tỏ vấn đề, sau đó rút ra kết luận khái quát nhất phù hợp với nội dung đề tài
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ TÁC PHẨM
LỤC VÂN TIÊN
1.1 Khái niệm chữ nghĩa
1.1.1 Theo quan niệm các nhà Nho
- Theo quan niệm Thiều Chửu, nghĩa義: sự phải chăng, lẽ phải chăng, nên Địnhliệu sự vật hợp với lẽ phải gọi là nghĩa, nghĩa làm việc không có ý riêng vì mình là vìnghĩa
- Theo quan niệm của Khổng Tử, nghĩa là điều nên làm thì làm, điều không nên
làm thì đừng làm:
“皆 有 所 不 為, 達 諸 其 所 為, 義 也.”
Nhân giai hữu sở bất vi, đạt chư kỳ sở vi, nghĩa dã.(Người ta ai cũng biết có điều
không nên làm, đem điều ấy mà thực hành ở điều mình làm, thế là nghĩa.)
Nhưng thế nào là điều nên làm và điều không nên làm thì ông không giảng kỹ
Ông chỉ bảo lòng tu ố ( xấu hổ, ghét) là đầu mối của nghĩa, tức như ta thấy điều gì mà ta
ghét, ta xấu hổ thì điều đó là phi nghĩa Mà như vậy chỉ có lương tâm và lương tri là phân
biệt được nghĩa với phi nghĩa và sự tu dưỡng cần nhất là khuếch sung lương tâm và lương
tri [7; tr.455]
Trong các mối quan hệ giao tiếp nghĩa là cách cư xử cho thích hợp, “nghĩa mà tôn
trọng bậc hiền là lớn, lòng thương cha mẹ bà con đậm hay nhạt tùy nơi kẻ gần người xa;
sự tôn trọng bậc hiền nhiều hay ít tùy nơi kẻ cao người thấp do đó mà sinh ra lễ vậy”.[17; tr.53]
Những mối quan hệ trong Tam Cương và Ngũ Luân Theo Nho giáo đó là điều hợpvới đạo trời và lòng người, thể hiện tình cảm sâu sắc của con người đối với vua, với cha,
với chồng qua những đức tính trung, hiếu, tiết, nghĩa nghĩa có quan hệ mật thiết với
nhân Nếu nhân hiện hết tình cảm của con người thì nghĩa là trách nhiệm để thực hiện hết
tình cảm đó cho nên tình vua tôi, cha con, vợ chồng chưa đủ mà còn có nghĩa vụ nữa:
Trang 7Nghĩa vua tôi, nghĩa cha con, nghĩa vợ chồng chính vì thế Nho giáo nhấn mạnh vai trò
của nghĩa
“見 義 不為, 無 勇 也.”
kiến nghĩa bất vi vô dũng dã (Luận ngữ) (thấy nghĩa mà không làm, không
phải là dũng cảm)
Từ những quan niệm trên ta thấy được vai trò và trách nhiệm của một cá nhân
muốn thực hiện được điều nghĩa, việc làm phải hợp với đạo trời và đạo người; không nghĩ
đến lợi ích cá nhân khi thực hiện công việc đó Khổng Tử đưa ra khi thực hiện một điều
nghĩa điều trước tiên là không ngại khó ngại khổ phải đặt lợi ích của cộng đồng lên trên
quyền lợi cá nhân Nếu như một cá nhân sống trong tập thể cộng đồng việc mình là phục
vụ cho lợi ích cộng đồng thì cũng một phần nào có chính bản thân mình trong tập thể to
lớn ấy Đặt trong mối quan hệ tương giao nghĩa chỉ phục vụ cho lợi ích cộng đồng nhưng
đồng thời qua đó cũng tác động trở lại chính cuộc sống cá nhân trong cộng đồng đó
“Nhân là để yêu người khác, nghĩa là để chính mình, cho nên lấy nhân mà nói là nói người, lấy nghĩa mà nói là nói ta Phép tắc của nhân là yêu người; phép tắc của nghĩa
là chính mình Nhân tạo người, nghĩa tạo ta”.[17; tr.47]
Quan niệm của Khổng Tử đưa ra để chứng minh cho lí lẽ sống, nhân là đối đãi với
nhau bằng tình thương ái, giúp đỡ người khác bằng động cơ từ tình thương yêu của nhữngcon người đồng loại nhằm đem lại cuộc sống cho người khác sung túc hơn Khi thực hiện
việc nghĩa tấm lòng phải đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ phải làm không thể làm ngơ coi
đó là niềm vui của chính bản thân mình, không cầu mong ở người khác sự đền ơn trở lại
đó mới chính là việc làm chính nghĩa Còn nghĩa trong gia đình phải theo nề nếp phải
kính trọng cha mẹ, thương yêu anh em, trong quan hệ vợ chồng phải bền chặt cái tình có
thể mất nhưng cái nghĩa là sâu đậm không dễ gì có thể quên được.
1.1.2 Tầm quan trọng của nghĩa trong việc đánh giá con người theo
quan niệm Nho gia
1.1.2.1 Theo quan niệm Nho giáo Trung Quốc về nghĩa
Trang 8Trước tiên phải nói đến những chuẩn mực đạo đức mà Khổng Tử nêu ra đối vớingười quân tử “người quân tử phải lấy lòng thành thực trung hậu mà đối với người, song
phải biết sự thực, sự giả, đừng để cho ai lừa đảo được mình” Khổng Tử nói:“bất nghịnh
trá, bất ức, bất tín, ức diệt tiên giả, thị hiền hồ” [7; tr.365] Để trở thành một người quân
tử Khổng Tử quan niệm phải có đủ tài đức, tài để phục vụ cho dân cho nước, cho nhữngcông việc chính nghĩa, đức phục vụ cho việc thiện đáng làm thì người quân tử dù có chếtvẫn phải làm, những việc ấy điều xuất phát từ tấm lòng thành thực, chân chính không hổthẹn với lương tâm người quân tử Trong các tiêu chuẩn mà người quân tử phải đạt tới làphải tu thân rèn luyện trước bản thân mình có được những phẩm chất ấy thì mới nghĩađến chuyện giúp đời, làm điều thiện thực hiện chính nghĩa Tư cách của một quân tử phảithật chững chạc có như thế mới nói được người khác, để làm được những điều có ích cho
xã tắc giang sơn, người quân tử phải là người có ý chí, tinh thần nghị lực cao, không ngạikhó ngại khổ mà giúp đời đạt đạo
Trong những chuẩn mực đạo đức mà Đức Khổng đánh giá đối với một người anh
hùng không chấp nhặt những điều nhỏ, không mong đem lợi cho mình “Quân tử cầu chư
kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân” quân tử cầu ở mỉnh, tiểu nhân cầu ở người (Luận Ngữ: Vệ
Linh Công) Cầu ở mình mà chỉ cầu cái thực cho mình, cầu ở người là chỉ cầu cái hư danhđối với người Cầu ở mình thì cái đức ngày càng tiến lên, cầu ở người thì cái lòng hammuốn ngày càng buông xổng ra.[7; tr.117]
Ở đây chỉ có thể thấy rằng phải dựa vào năng lực của chính bản thân mình, khôngdựa giẫm hay ỷ lại vào người khác; đối với mọi người xung quanh quân tử phải giữ vữnglập trường không dao động dù bất cứ chuyện gì khi ấy tính cách của mới thật kiên quyết
và giúp ích cho đời Đối với một tính cách được rèn luyện chững chạt thì việc phân biệtchính nghĩa phi nghĩa là điều dễ dàng, lúc ấy người quân tử thực hiện việc chính nghĩa
giữ vững chính nghĩa, không cố chấp điều tín nhỏ nhặt “quân tử nhi bất lượng”[7; tr.121]
Trong những hoàn cảnh khi cái lợi được nhìn thấy ở trước mắt thì người quân tửphải xem đó như vật phù du, không tham lam mà có hại cho danh dự, đối với bậc quân tửdanh dự mới là điều quan trọng tiền bạc chỉ là những vật trang sức bên ngoài nó có thểgiúp mình mà cũng có thể hại mình, cho nên điều mà người quân tử nên giữ là thái độ
Trang 9Bên cạnh đó người quân tử còn phải có tinh thần lạc quan không bi quan trước cuộcsống, vì con đường để đến với danh dự phải gặp rất nhiều khó khăn thử thách “giữ vững
tư cách khi gặp hoạn nạn” Trong khó khăn phải tìm cách vượt qua, một khi ý chí quyếttâm thì không việc gì có thể làm khó được ta và đối với người quân tử phải giữ được nămđức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín Khi ấy thì quân tử mới thực sự được mọi người kính trọng
về tài đức
Chẳng những thế trong những nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày người quân tửcũng phải đi vào khuôn phép nề nếp, những việc mà mọi người thường coi là tầm thườngkhông để ý đến nhưng nó cũng một phần nào qui định tính cách của người quân tử
“Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn vu sự vi thận vu ngôn, tựu hữu đạo nhi
chính yên, khả vĩ hiếu học dã dĩ” [22; tr.456] năm điều ấy đã được Khổng Tử phân tích:
“Thực vô cầu bão”đối với người quân tử việc ăn uống không theo đuổi cao lương
mĩ vị, thực phẩm quí hiếm, chỉ cần ăn hết bữa là đủ Ăn để sống chứ không phải sống để
ăn Bậc quân tử phải đạt được những tiêu chuẩn mà chính bản thân mình đưa ra, phải thựchiện nó một cách nghiêm túc, phải sống hợp với đạo lí lẽ đời, đồng thời qua việc ăn uốnghàng ngày cũng phải đưa ra những qui định riêng cho mình “Ăn uống không được ăn quá
no, tiết kiệm thích đáng lương thực thực phẩm, mới có thể bảo vệ được sức khỏe, khôngđeo đuổi quá cao vào việc ăn uống, những con người như vậy thường không có chí khíkhông có tiền đồ”
“Cư vô cầu an”đây muốn nói con người ta không nên lúc nào cũng chỉ chú ý đến
những điều kiện ở, chỉ mong được thư thái an nhàn sẽ không có chí khí chiến đấu, cónghèo mới đẻ ra chí khí, an nhàn đẻ ra thư sinh yếu đuối Đây là tư tưởng nhất quán củaNho gia
“Mẫn vu sự” người quân tử làm việc phải mẫn cảm nhanh nhẹn Cuộc sống đời
người có hạn, thế sự vô cùng Phải tranh thủ thời gian mà làm việc cho đời, làm việc cóích cho dân cho nước
“Thận vu ngôn” trong xã hội mọi người điều phải tiếp xúc lẫn nhau, đi lại với
nhau Lời nói là công cụ trực tiếp thể hiện tư duy con người, là công cụ giao lưu tư tưởng,diễn đạt tình cảm Một lời nói hay làm ấm lòng người Lời nói có thể dẫn đến mọi ngườihợp tác đoàn kết cùng chung sức phấn đấu Nhưng cũng có thể làm tan đàn xẻ nghé, tan
Trang 10tác phân li, ai sống mặc ai không quan tâm đến Cũng có thể gây nên thù địch lẫn nhau,tương tàn tương sát Môt lời nói có thể xây dựng nên đất nước Do đó có thể biết giao lưungôn ngữ giữa mọi người với nhau cần có thái độ thận trọng trong lời nói Sa chân với lại
sa miệng với không lại
“Tựu hữu đạo chi chính” chính ở đây là hiệu chính, sữa đổi, sữa chữa sai lầm của
mình Chỉnh hướng đi đúng đạo, để dần dần đắc đạo trở thành người cao thượng, người
có đạo đức người quân tử
Chẳng những vậy người quân tử phải có hành vi ngôn ngữ ngay thẳng thật thàcũng là một trong những tiêu chuẩn mà người quân tử cần phải có Thận trọng trong lời
nói mau nắm trong việc làm, phải xét nét chính đáng điều nhân nghĩa.
Đồng thời qua công việc gia đình người quân tử cũng phải tuân theo hai việc mà
Tăng Tử đưa ra như sau: “Thận chung, truy viễn”.
Thận chung: thận là cẩn thận, chung là lâm chung chỉ việc tang lễ phải cẩn thận
chu đáo trong việc tổ chức tang lễ cho cha mẹ
Truy viễn: truy là truy tìm, viễn là xa xôi Truy tìm xa xôi có nghĩa là truy tìm cái
gốc, tìm cội nguồn, có ý chỉ việc cúng tế tổ tiên thành tâm thành ý Kỉ niệm người chết đểcho người sống thấy Quân tử là người lãnh đạo được hai việc này thì dân qui hậu hĩ, dân
sẽ noi gương người quân tử, từ đó tác phong phong tục của nhân dân nhất định sẽ đượcnâng cao theo hướng tốt đẹp Mặt bằng xã hội được nâng cao lại thúc đẩy sự tu dưỡng đạođức của mỗi thành viên như vậy làm cho đạo đức của xã hội ngày càng hoàn thiện
1.1.2.2 Nghĩa trong quan niệm Nho giáo ở Việt Nam
Nho giáo Trung Quốc đưa ra những quan niệm trong việc đánh giá người quân
tử, khi đến với quan niệm của các nhà văn, nhà thơ trung đại Việt Nam, không đề ranhững tiêu chuẩn cụ thể, nhưng trên cơ sở quan niệm của người Trung Quốc mà vận dụngvới người quân tử của dân tộc mình Những con người phải hết lòng vì nước vì dân,không ngại khó gian truân vất vả và hình tượng người quân tử Việt Nam được ví như sứcchịu đựng dẻo dai của cây tùng, bách, trúc…Chịu bất cứ rét mướt khó khăn gian khổ, dù
có chịu bất cứ khắc nghiệt nhưng vẫn hiên ngang cùng sông núi Và trong bài thơ Tùng
của Nguyễn Trãi đã được một số nhà phê bình viết về hình tượng người quân tử qua biểu
Trang 11tượng cây tùng, trong bài viết của Lê Trí Viễn, quyển “đến với thơ Nguyễn Trãi” Nhà
xuất bản Thanh Niên mượn hình ảnh cây tùng làm biểu tượng Mượn sự vật ẩn dụ thôngthường trong thơ xưa Mượn tùng, trúc, mai để biểu hiện khí tiết của người trượng phu lạicàng là nét cố hữu đã thành công thức
Khi mở đầu bài thơ Nguyễn Trãi đã nói lên được sức chịu đựng dẻo dai của mộtloại cây, mặc dù có gió rét sương băng, những loài cây khác trơ cành trụi lá, mà tùng vẫn
cứ tiếp tục xanh tươi bất chấp giá rét của tháng ba mùa đông Đồng thời qua đây tác giả
đã thể hiện tính cách của người quân tử luôn hiên ngang hứng chịu hết những khó khăn,gian khổ mà cuộc đời mang lại, nhưng trong lòng vẫn bừng cháy ngọn lửa quyết tâm.Cuộc sống là phải chấp nhận hi sinh, có đối mặt với khó khăn mới thấy cuộc sống đángquí Đối với một người quân tử không có khó khăn nào làm họ ngã lòng, càng khó khănluôn giữ vững quyết tâm hơn nữa “lửa thử vàng gian nan thử sức”, đó là một câu nóimang tư tưởng triết lí, khi đã là vàng thật thì không sợ lửa, có sống trong khó khăn gian
khổ mới thấy được sức mạnh tinh thần của con người Và trong bài thơ Tùng cũng thế
hình ảnh những cành cây xung quanh trơ cành, nhưng tùng vẫn hiên ngang ưỡn tấm ngựcmạnh mẽ của mình ra chịu giá rét mùa đông, không hề ngã gục cốt cách thanh cao của câytùng đồng thời cũng là khí tiết của người quân tử luôn hiên ngang cùng năm tháng
“Thu đến cây nào chẳng lạ lùng
Một mình lạc thở ba đông”
(Tùng – Nguyễn Trãi)
Nếu như khi mở đầu bài thơ Nguyễn Trãi giới thiệu hình ảnh mạnh mẽ của câytùng, thì đến khi kết thúc bài thơ tác giả lại một lần nữa khẳng định sức mạnh chóng chọivới thiên nhiên của một sinh vật bình thường nhưng phi thường
“Tuyết sương đã thấy đặng nhiều ngày,
Có thuốc trường sinh càng khỏe tha
Hổ phách phục linh nhìn mới biết Dành cho để trợ dân cày”
(Tùng – Nguyễn Trãi)
Càng trải nhiều sương tuyết thì càng có khả năng sinh sản được những sinh vật quíbáu.Thuốc trường sinh của Nguyễn Trãi là cái chất của tâm hồn: lý tưởng sống để phục
Trang 12vụ, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân Lý tưởng ấy nuôi cái vui trường cửu, cái annhiên tự tại trong tâm hồn, nên ở con người ấy không bao giờ có sự đau buồn đến ngãlòng cũng như trong tâm hồn người quân tử không bao giờ tắt lịm ánh sáng Trong cuộcsống đem lại niềm vui cho mình cần phải có tinh thần lạc quan, luôn nhìn nhận vấn đềmột cách bình tĩnh, có như vậy cuộc sống mới đẹp và có ý nghĩa Đối với người quân tửnhững điều ấy thật sự rất cần thiết, luôn đặt nhiệm vụ phục vụ nhân dân đất nước lên hàngđầu lúc nào cũng thực hiện công việc vì chính nghĩa.
Chẳng những hình tượng người quân tử chỉ được nhắc đến ở những tác phẩm của
Nguyễn Trãi, mà trong tác phẩm Truyện kiều của Nguyễn Du hình tượng người quân tử
được khắc họa rõ nét hơn qua tính cách nhân vật Từ Hải, có tính cách ngoại hình, dángdấp bên ngoài là một người quân tử đầu đội trời chân đạp đất Người quân tử có sức mạnhphi thường, đại diện cho những cá tính gan dạ dám mạnh dạng đứng lên chống lại triềuđình Phong kiến, hình ảnh Từ Hải đại diện cho việc đi tìm công lí chính nghĩa, hành động
và lời nói luôn thể hiện một cách dứt khoác, đặc biệt sức mạnh của Từ Hải tiêu biểu chongười anh hùng mà các tác giả trong giai đoạn văn học trung đại muốn xây dựng ngườiquân tử mẩu mực ấy
Trong các sáng tác của tác giả trung đại không thể không nhắc đến người quân tử
trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Vân Tiên một anh hùng lúc nào cũng hành
động vì chính nghĩa, quyết diệt trừ cái ác, ở Vân Tiên còn có một tinh thần lạc quan tronglúc khó khăn hoạn nạn ý chí sống vẫn kiên cường, lúc nào cũng tin tưởng ở tương lai,những vất vả khó khăn không làm ý chí của người quân tử ấy khuất phục, luôn nhìn vàotương lai để phấn đấu quyết tâm đem lại niềm vui cho cuộc đời những tính cách ấy đạidiện cho những người quân tử mẫu mực, xứng đáng là bậc mẫu nghi thiên hạ
1.2 Chức năng và ý nghĩa trong thực tiễn
1.2.1 Chức năng của nghĩa
Chức năng giáo huấn: Nho giáo đặt vấn đề tinh thần cao hơn, quan trọng hơn
trong đời sống vật chất nhưng trước hết phải có cơm ăn cái đã “dân dĩ thự vi thiên” Nhân
dân phải được no ấm đó là vì lòng nhân ái đối với con người nhưng cũng vì lợi ích củacác tầng lớp trên nữa, vì dân đói thì dân không thể nuôi được những người cai trị họ mà
Trang 13có thể nổi dậy mà chống lại những người này Cho nên khuyên nhân dân nên “an bần lạc đạo” (nghèo mà không oán), cứ lẳng lặng chịu đựng làm ăn Hơn thế nữa nghĩa còn có
tính chất khuyên răn những bậc bề trên của mình mọi người phải tôn trọng nhà vua vì vua
là người đặt ra pháp luật, có quyền cho dân sống, bắt dân chết cũng có thể làm cho người
ta giàu, làm cho người ta nghèo, có thể làm cho người ta sang, làm cho người ta hèn Nếukhông tôn quân thì nước không được yên, thân cũng không được yên.Còn đối với vua lạiphải yêu dân có yêu dân thì dân mới phục tùng và vua mới mạnh “muốn tranh thủ thiên
hạ thì trước hết phải tranh thủ tâm”.[15; tr.235]
Như vậy, yêu dân không phải vì dân, mà chính là vì vua, yêu vua không xuất phát
từ quan điểm đạo đức mà chỉ là một thủ đoạn bảo vệ ngôi vua và giữ gìn pháp luật màthôi Còn trong quan niệm giáo huấn tính cách của người quân tử Khổng Tử nói rằng
nghĩa là theo điều thiện thì phải ghi nhớ để nuôi cái đức của mình, rồi mới hay được, chứ
chỉ nghe cho biết rồi nói ra miệng mà không chịu cố gắng thực hành điều thiện, thì cànghọc lắm càng dỡ nhiều Người đã học đến biết thực tiễn những điều thiện là bao giờ cũngphải thành thực, không giả dối ô mị như bọn ngụy nho Người quân tử phải có cái đạo líđịnh khiến của mình, không mị ô theo thói đời
Chức năng động viên khích lệ: đối với một bậc quân tử khi đã được mọi người coi
trọng và kính nể thì người xem đó là một tấm gương mẫu mực cần noi theo, mong muốnmình cũng giúp ích được một phần nào đó cho xã hội, qua đó ta thấy được sức ảnh hưởngcủa một nhân cách tốt góp phần làm cho xã hội ngày càng phát triển hơn và trong cuộc
sống một phần nào cũng động viên tinh thần người quân tử thực hiện điều nghĩa thúc đẩy
sự tiến bộ của xã hôi ngày càng phát triển hơn nữa
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay để việc nghĩa luôn là một nguồn động viên
khích lệ tinh thần của mỗi người trong cuộc sống, thì chính bản thân tự mỗi người phải có
ý thức coi nó là trách nhiệm phải có chứ không được xem đây là gánh nặng mà có thái độ
không đúng Chính từ những suy nghĩ và hành động trên phần nào đó nghĩa có khả năng
động viên tinh thần của mỗi người trong cuộc sống, xem đó là niềm vui chung của cảcộng đồng, hành động ấy sẽ đem lại niềm vui cho chính bản thân mình và ý chí cầu tiếnngày càng thôi thúc hơn trong lòng của mỗi chúng ta
Trang 141.2.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Trong gia đình: Xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành viên trong gia
đình “Cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, thế là giađạo chính” (phụ phụ, tử tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ, nhi gia đạo chính).Trong ba mối quan hệ (cha con, vợ chồng, anh em) làm nên cái gọi là “gia đạo chính” ấy,thì quan hệ cha con anh em tiêu biểu bằng chữ Hiếu và chữ Đễ, đã được Nho giáo tôn lênrất cao, đặt vào mối quan hệ đặc biệt quan trọng trở thành cốt lõi Trong mối quan hệ của
nghĩa có cả hiếu và lễ chính từ hai yếu tố trên sinh ra nghĩa, người con có hiếu có ý thức
đầy đủ về tình cảm và bổn phận của mình đối với cha mẹ Đó là sự biết ơn, cù lao chínchữ, “cha sinh ta, mẹ nuôi ta, thương thay cha mẹ” (ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao) Đó là
ý thường xuyên làm sao cha mẹ luôn luôn vui sướng, dù mình có ăn phải gạo xấu uốngnước lã cũng thỏa lòng Đó là sự giữ mình không làm điều gì phiền lụy đến cha mẹ, cụ thểhơn, “chỗ chí hiếu của người con, không gì lớn bằng làm cho cha mẹ được tôn trọng chícực, không gì bằng đem cả thiên hạ mà phụng dưỡng cha mẹ” Làm cho cha mẹ được tôntrọng là bậc hiếu cao nhất, không làm cha mẹ nhục là bậc hiếu thứ hai, có thể nuôi cha mẹ
là bậc hiếu cuối cùng Cho nên việc phụng dưỡng kính trọng cha mẹ trong hiếu sau này sinh ra cái nghĩa, cũng chính từ việc nhỏ ban đầu lòng hiếu thảo và sự tôn kính cha mẹ sinh ra cái nghĩa sâu nặng trong mối quan hệ cha mẹ, con cái những việc ấy làm nên đạo
lí của những con người hết lòng vì việc nghĩa.
Trong quan hệ vợ chồng nghĩa còn giáo dục người phụ nữ đi vào khuôn phép, biết
tự kiềm chế, tước bỏ mọi ham muốn cá nhân, chịu thuần dưỡng để vâng lời để nhườngnhịn, để kiên nhẫn chịu đựng và hi sinh Cô con gái trước khi về nhà chồng đã được mẹdặn: con về nhà con, thì nên kính nhừơng, giữ mình cho khéo, đừng trái ý chồng Từnhững việc dạy bảo của Nho giáo người phụ nữ trong xã hội ngày xưa luôn lúc nào cũngthực hiện theo qui tắc Tam tòng tứ đức, nhưng trong xã hội ngày nay ý nghĩa ấy có phầnthoáng hơn người phụ nữ không còn chịu những qui định khắc khe của xã hội qui định,
nhưng một phần nào đó hình thành ở tính cách người phụ nữ sống nặng về cái nghĩa với chồng con hơn, cho dù chịu những bất công nhưng người phụ nữ luôn nghĩ đến cái nghĩa
vợ chồng bao năm chung sống, cho nên vẫn thường hay nói trong mối quan hệ vợ chồng
Trang 15có được cái nghĩa ấy Bên cạnh đó nghĩa trong Nho giáo còn đặt mối quan hệ giữa các
thành viên trong gia đình, một dòng họ phải thương yêu đùm bộc lẫn nhau, khuyến khíchnhau giữ gìn danh dự và phát huy truyền thống của gia đình, của dòng họ
Ngoài xã hội: nghĩa là thể hiện thực hiện kỳ được tinh thần trách nhiệm những
việc cần phải làm để phục vụ cho nhân dân và tổ quốc làm thế nào để động viên nhân dân,
tổ quốc biến thành hiệu quả Thực tế ngoài xã hội thiết lập mối quan hệ ứng xử trong giao
tiếp, tinh thần thái độ trước việc chính nghĩa luôn hết lòng quan tâm giúp đỡ người khác
bằng cả tinh thần và trách nhiệm của bản thân mình
1.3 Tác phẩm Lục Vân Tiên
1.3.1 Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu và sự nghiệp sáng tác
Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 1 – 7 – 1822 tại làng Tân Thới, huyện BìnhDương Phủ Tân Bình, Gia Định Tự là Mạnh Trạch hiệu là Trọng Phủ và sau bị mù hiệu
là Hối Trai, Nguyễn Đình Chiểu mất ngày 3 – 7 – 1888 tại Ba Tri, Bến Tre Nguyễn ĐìnhChiểu là con cụ Nguyễn Đình Huy và bà Trương Thị Thiệt; cụ quê gốc làng Phong Điềntỉnh Thừa Thiên khi tả Lê Văn Duyệt vào trấn Gia Định, cụ theo vào làm việc và cướithêm người vợ là bà Trương Thị Thiệt Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sớm trải qua nhữngngày gia biến và quốc biến hải hùng tác động đến nhận thức ông
Ngay từ nhỏ Nguyễn Đình Chiểu đã theo cha chạy giặc Từ một cậu ấm con quan,bỗng chốc trở thành một đứa trẻ thường dân sống trong cảnh chạy loạn, trả thù, chém giết.Lớn lên bị bệnh mù mắt, bị gia đình giàu có bội ước, công danh dang dở Mặc dù cuộcđời Nguyễn Đình Chiểu gặp nhiều bất hạnh nhưng lúc nào cũng gắn bó với nhân dân Tuysống trong cảnh mù lòa nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã tiến thân thành danh bằng conđường hành đạo của mình Ông đã mở lớp dạy học, viết văn và hốt thuốc chữa bệnh chodân lúc nào ông cũng quan tâm lo lắng cho chiến sự Ở dâu ông cũng làm cùng một nhiệm
vụ của ba người trí thức để cứu dân, giúp đời
Nguyễn Đình Chiểu có nhiều nghị lực và phẩm chất, phải có nghị lực phi thường
và khí phách cứng cỏi thì Nguyễn Đình Chiểu mới vượt qua những bất hạnh của cá nhân
và thời cuộc để đứng vững trước cơn binh lửa hải hùng của lịch sử mà không sờn lòng
Trang 16nản chí Có thể nói Nguyễn Đình Chiểu là hiện thân cho phẩm chất cao đẹp làm người.Trong ứng xử cá nhân, Đồ Chiểu là tấm gương sáng về đạo nghĩa nhân từ Tất cả cô lạithành khí tiết của nhà nho yêu nước Việt Nam tiêu biểu cho giai đoạn nửa cuối thế kỷXIX.
Sự nghiệp sáng tácVăn chương chưa phải là toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu Sự nghiệpcủa ông còn lớn hơn nhiều Ông không chỉ là nhà văn mà còn là nhà giáo, người thầythuốc và một nhà tư tưởng Nhưng văn chương của ông cũng đồ sộ đủ đứng thành sựnghiệp riêng
Nguyễn Đình Chiểu bắt đầu viết văn sau khi mù, hấu hết các tác phẩm đều viếtbằng chữ Nôm Căn cứ vào nội dung chia ra thành hai thời kì sáng tác:
Trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ: tác phẩm Lục Vân Tiên là tác phẩm đầu tay có
tính chất tự truyện
Pháp Xâm lược Nam Kỳ: tác phẩm Dương Từ Hà Mậu, Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp chủ yếu nói về phương thuốc và nghề làm thuốc nhưng tràn đầy tinh thần yêu nước Các bài thơ Đường luật, các bài hịch, văn tế… tiêu biểu là Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (1861), Văn Tế Nghĩa Sĩ Trận Vong Lục Tỉnh (1874), Hịch Kêu Gọi Nghĩa Binh Đánh
Tây, Hịch Đánh Chuột Với những tác phẩm nổi tiếng của mình, Nguyễn Đình Chiểu trở
thành người có uy tín lớn Bọn thực dân nhiều lần tìm cách mua chuột ông nhưng ông vẫnmột mực từ chối ân tứ Cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà thơ mù Nam Bộ là một bàihọc lớn về lòng yêu nước, về việc sử dụng ngòi bút như một vũ khí đấu tranh sắc bén.Tấm gương Nguyễn Đình Chiểu theo thời gian vẫn không mờ đi chút nào
1.3.2 Xuất xứ tác phẩm
Truyện Lục Vân Tiên là tác phẩm lớn trong nền văn học dân tộc, cũng là một tácphẩm mà văn bản có một lịch sử sáng tác và phổ biến khá độc đáo và phức tạp Theo ýkiến chung của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay, tập truyện có thể được sáng tác vào nhữngnăm 1850 trở đi, lúc Nguyễn Đình Chiểu đã bị bệnh mù và đã về Bình Vi (Gia Định) mởtrường dạy học năm 1851 Như vậy hiển nhiên là tập truyện chỉ được hình thành trong trínhớ và tác giả đã đọc cho học trò thân cận của mình giúp việc chép lại
Trang 171.3.3 Tóm tắt tác phẩm
Lục Vân Tiên là một thiếu niên tuổi vừa mười sáu, quê ở quận Đông Thành Chàngtheo thầy học tập giỏi nghề văn nghiệp mà võ cũng hay Nghe tin vua mở khoa thi cầuhiền tài ra giúp nước, chàng tạ từ thầy và cha mẹ lên kinh dự thi Trên đường chàng gặpcướp quấy rối dân lành, chàng đánh tan bọn cướp và cứu được nàng Kiều Nguyệt Nga.Tình đầu tiên của tuổi trong trắng chớm nở Hai người họa thơ cho nhau rồi mỗi người đimột đường Nguyệt Nga ân và tình vương vấn, họa bức tượng người yêu, để hôm sớm ravào thấy trang hiệp sĩ Trên đường đi thi Vân Tiên gặp Hớn Minh và Tử Trực kết bạn tri
âm và cũng gặp Bùi Kiệm, Trịnh Hâm Khi vào đến trường thi Vân Tiên được tin mẹ quađời, vì đau buồn và đường về nhà xa Vân Tiên thương nhớ, khóc mẹ đến mù hai mắt.Tiểu Đồng hết lòng chạy chữa nhưng vẫn không khỏi Trịnh Hâm gạt Tiểu Đồng cột vàorừng và đẩy Vân Tiên xuống sông cho cá ăn Nhưng Vân Tiên được ông Ngư cứu sống,khi tỉnh dậy bảo ông Ngư đưa về nhà Võ Công, vì gia đình trước kia có hôn ước giữa VânTiên và Thể Loan, nhưng đến nhà bị gia đình Võ Công hắc hủi, âm mưu đem Vân Tiên bỏvào hang đá để chết đói Vân Tiên lại được du thần cứu ra khỏi hang, gặp được Hớn Minhđem về chùa, đêm nằm mơ thấy ông tiên cho uống linh đan sáng mắt
Tử Trực khi đậu thủ khoa về ghé nhà Võ Công hỏi và biết được cha con Võ Cônglòng người tráo trở, mắng nhiếc cha con Võ Công thậm tệ và về Đông Thành tìm VânTiên
Khi Lục ông sang nhà Kiều Công cho hay tin Vân Tiên bị nạn không biết còn sốnghay đã chết, Nguyệt Nga đau đớn vô cùng va thề ôm bức tượng thờ Vân Tiên chọn đời.Thái sư cầu thân không được, tâu vua xin cống Nguyệt Nga cho nước Ô Qua, trên đường
đi nàng nhảy xuống sông tự vẫn, được phật Quan Âm cứu đưa vào vườn nhà Bùi Công, bịBùi Kiệm ve vãn, nàng chốn khỏi nhà Bùi Công gặp bà lão đem về nuôi dưỡng Vân Tiênđược sáng mắt thi đổ trạng nguyên, dẹp tan giặc Ô Qua được phong danh tước, trênđường về lạc vào rừng gặp lại Nguyệt Nga và hai người sống bên nhau hạnh phúc, cònnhững kẻ ăn ở hai lòng thì bị chừng phạt
Trang 181.3.4 Giá trị tác phẩm
Lục Vân Tiên là tác phẩm thơ Nôm đầu tiên ở Nam Bộ, trong đó thông qua nhữngmối quan hệ tích cực và tiêu cực trong gia đình và xã hội, thông qua những nhân vật lítưởng như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực, Tiểu Đồng… là những người lao
động giàu nhân nghĩa như vợ chồng ông Ngư, ông Tiều… Nguyễn Đình Chiểu muốn nhấn mạnh cuộc sống tương thân, tương ái với nhau trên cơ sở nhân nghĩa.
Trên cơ sở đó tác phẩm để lại giá trị to lớn về mặt tinh thần cho các thế hệ mai sau,những điều răn dạy các mối quan hệ giao tiếp trong gia đình, cũng như ngoài xã hội Cómột giá trị rất thiết thực đối với chính bản thân của mỗi người là những bài học răn dạy vềcách ứng xử đối với con người, đồng thời nâng cao tinh thần truyền thống tương thân,tương ái của dân tộc ta Quan trọng hơn hết tác phẩm còn có một đóng góp to lớn làmphong phú thêm kho tàng văn chương Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG 2: CHỮ NGHĨA TRONG TÁC PHẨM
LỤC VÂN TIÊN
2.1 Những bậc quân tử mẫu mực trọng nghĩa khinh tài
2.1.1 Trong quan hệ bằng hữu
2.1.1.1.Vân Tiên chàng thanh niên nghĩa hiệp
Với Nguyễn Đình Chiểu nghĩa là căn cốt gốc rễ để trao giồi rèn dũa con người Vìvậy vào đầu tác phẩm ở đoạn “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” nhà thơ hào hứnggiới thiệu hai con người trẻ tuổi, biết hướng theo lòng nhân, biết hành động theo việc
nghĩa Đó là Lục Vân Tiên chàng trai dũng cảm, có lòng nhân sẵn sàng làm việc nghĩa.
Vân Tiên vốn con nhà thường dân, nhưng học giỏi giữa đường gặp cướp Không phảichúng gây sự với chàng, mà chúng quấy nhiễu nhân dân Trước mắt chàng bày ra mộtnghịch cảnh: dân thì than khóc tưng bừng, đều đem nhau chạy vào rừng lên non”, bọn
cướp thì: “ xuống thôn hương thấy con gái tốt qua đường bắt đi” Thế là sau một lời hứa ngắn gọn “tôi xin ra sức anh hào…”, Lục Vân Tiên nhanh nhẹn “ghé lại bên đàng, bẻ cây
làm gậy”, xông thẳng vào giữa bọn cướp Bọn cướp đông đặc Tên tướng cướp “mặt đỏ
bừng bừng” Lực lượng quá chênh lệch Bên kia là lũ lâu la như ong, như kiến, bên nàychỉ độc nhất một chàng trai dũng cảm với lời hứa chân thành “cứu người ra khỏi lao đaobuổi này”, với vũ khí giản dị “cây gậy bên đàng” Vậy mà không một chút nao núng:
Vân Tiên tả đột hữu xông,
雲 仙 左 突 右 衝
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương dang
恪 芾 兆 仔 破 妄 當 延Nguyễn Đình Chiểu không tả tỉ mĩ trận giao chiến mà chỉ kể ngắn gọn bằng mấydòng thơ, một câu so sánh với nhiều từ đặc sắc “Tả đột hữu xông, khác nào Triệu Tử”.Đúng là một dũng tướng, sánh với Triệu Tử Long thời Tam quốc trong trận phá vây quânTào Tháo ở Đương Dương trường bản Ngày xưa Triệu Tử Long chiến đấu vì ngôi vuanhà Hán, Vì bảo vệ một A Đẩu, dù sao cũng là nghĩa vụ của một bầy tôi trung thành Cònngày nay Lục Vân Tiên chiến đấu vì người dân gặp nạn, cứu dân, trừ ác xuất phát từ lòngnhân Giản dị, vô tư mà trong sáng, cao đẹp biết bao Cuộc chiến đấu của chàng làm ta
Trang 20liên tưởng đến cuộc chiến đấu của chàng Thạch Sanh, diệt đại bàng cứu nàng công chúa.Sức mạnh của Lục Vân Tiên là sức mạnh của nhân dân, điều thiện Do đó nó vô địch Lâu la bốn phía vỡ tan,
婁 卥 夝 費 攟 散Điều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay
Lời thơ chân chất có chổ thô mộc, song hồn thơ chan chứa, dạt dào Đọc Lục Vân
Tiên ta thấy những câu chữ chân mộc như thế Thơ chân mộc nhưng cảm hứng tác giả vẫn
bay bổng, mộng mơ Ngỡ như người thi sĩ ấy vừa kể chuyện, vừa rung đùi thích thú, gửitới bạn đọc một lẽ phải nhỡn tiền, người có lòng nhân biết làm việc thiện thì sẽ thắng Kẻđộc ác bất nhân thảm họa như thế đấy, xuất phát từ lòng nhân, Lục Vân Tiên đã làm được
một việc “nghĩa”, một việc xứng đáng được gọi là anh hùng.
Chàng tự nguyện dấng thân vào vòng nguy hiểm, chiến đấu hết mình thắng lợi rực
rở… tất cả đều vì nhân nghĩa, nên khi thắng lợi Vân Tiên không chút kiêu ngạo Trái lại,
chàng thật khiên nhường, chính trực Nghe cô hầu Kim Liên than thở vẩn còn hoảng sợ,Vân Tiên động lòng thương, an ủi: “Ta đã trừ dòng lâu la” Rồi ôn tồn chàng thăm hỏingọn ngành từ tên họ, gia cảnh, đến quê hương, nguyên cớ gặp nạn của cô gái Trong lờichàng còn có ý lạc hậu ảnh hưởng của quan niệm phong kiến “nam nữ thụ thụ bất thân”,song tất cả điều chân thành, dung dị, rất đáng mến Đáng mến đáng phục hơn nữa là saukhi nghe cô tiểu thư Kiều Nguyệt Nga, nạn nhân được cứu giúp kể lễ, thở than, ca ngợi và
tha thiết muốn tri ân, thì: Vân Tiên nghe nói liền cười, “cái cười đáng yêu đáng kính làm
sao! Một là cái cười của người quân tử, hai là cái cười của anh con trai, ba là cái cười của quần chúng rộng lượng, đều ở trên môi Vân Tiên” (Xuân Diệu) Sau nụ cười đáng
yêu ấy lời nói cũng rất đáng yêu
Trang 21Vân Tiên nghe nói liền cười,
雲 仙 呐 唭Làm ơn há dễ trông người trả ơn
爫 恩 甧 易 鐭 圤 呂恩Nay đà rõ đặng nguồn cơn,
哰 它 賋 鄧 源 杆Nào ai tính thiệt so hơn làm gì
儍 埃 併 寔 芻 欣 爫 咦Đúng là giọng nói của người con trai Nam Bộ nôm na giản dị, nó cất lên từ cõilòng chất phác Chất phác là cái bên ngoài, cái võ xù xì, thô nháp Nhưng phía trong phầnruột thì cao đẹp, thắm đỏ, ngọt ngào, thơm thảo một quan niệm nhân sinh, rất hào hiệp vô
tư của cả một lớp người, một thế hệ con người Chúng ta có thể hiểu Lục Vân Tiên trướchết chàng khẳng định việc mình làm là hoàn toàn tự nguyện Gọi là ơn cũng được Haynên xem đó là việc “ơn nghĩa” Làm việc ơn nghĩa thì không nên đợi trả ơn, tính thiệt, lờilãi… Vì ơn nghĩa là lẽ thông thường của người sống có văn hóa, đang theo đòi kinh sử,
người hướng về nghĩa khí, lấy nghĩa lớn, lấy chữ nhân, lòng nhân làm động cơ, làm mục đích cho hành động Chàng đã hành động vì lòng nhân, vì nghĩa lớn trừ kẻ ác, bảo vệ
người lương thiện Chàng chỉ mong Nguyệt Nga cũng như mọi người “rõ đặng nguồncơn” nghiã là hiểu rõ cảm thông cho hành động của chàng
Sau nữa chàng nhắc nhở tới sử sách, nhắc lời các bậc hiền nhân xưa Người xưa
nói “kiến ngãi bất vi vô dũng dã” Nghĩa là thấy việc nghĩa không làm, không phải là người dũng cảm Cách nói của Vân Tiên giản dị hơn: “nhớ câu kiến ngãi bất vi, làm người như thế cũng phi anh hùng”, phi anh hùng là những kẻ tiểu nhân, hèn nhát lời nói
của Vân Tiên chắc nịch, vừa để đối chứng, phê phán những kẻ tầm thường, vừa khẳngđịnh việc làm đúng đắn, là tất yếu, hiển nhiên, thuộc căn cốt, gốc rễ, lẽ sống của mình Đócũng là lẽ sống của biết bao hiền nhân, quân tử ngày xưa, bao con người chân chính ngày
nay Lời chàng nhân cách của chàng, gợi nhớ Từ Hải trong Truyện Kiều: “anh hùng tiếng
đã gọi rằng, giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha
Trang 22Thế đấy, Lục Vân Tiên là một chàng trai dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, tiêu biểucho chàng trai Nam Bộ hảo hán một thời Vân Tiên là một người giàu lòng nhân ái, biếtxúc động sâu sắc trước hoàn cảnh khốn khó của con người bị nạn, đồng thời chàng tỏ ramình là một trang nam tử, biết giữ đúng khoảng cách khi cứu được Kiều Nguyệt Nga, mộtngười phụ nữ xinh đẹp, và dường như ta thấy ở Vân Tiên có một chút lúng túng sợ hãi khiđối diện với Nguyệt Nga, trong con người này ta thấy một nét tính cách còn e ngại, giốngnhư một anh con trai chưa thật trưởng thành, không đủ can đảm khi đối diện với phụ nữ,nhất là người con gái xinh đẹp như Nguyệt Nga.
Sở dĩ, có những nét cách như thế một phần nào ta thấy được Nguyễn Đình Chiểukhi xây dựng nhân vật Lục Vân Tiên là hình tượng một người anh hùng khi còn rất trẻtuổi Qua đây tô đậm thêm cho tính cách của Vân Tiên, đáng được mọi người trân trọng
và ca ngợi Vì đối với một người ngay từ nhỏ ý thức được điều nhân nghĩa như thế, càng
về sau nhân cách ấy càng tỏ sáng hơn nữa
Chẳng những hành động nghĩa hiệp ấy ta chỉ bắt gặp ở Lục Vân Tiên, mà trongcon người Hớn Minh, người bạn đồng môn của Lục Vân Tiên cũng có nét tính cách nhưthế
2.1.1.2 Hớn Minh người anh hùng dũng cảm
Trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu xây dựng nhân vật điều có những nét tínhcách cương trực, ngay thẳng như quần chúng có thái độ dứt khoác như quần chúng, Vântiên là người trực tính, Hớn Minh là người trực tính Vân Tiên khi đi thấy bọn cướp núi làđánh Hớn Minh đi thi giữa đường gặp Đặng Sinh là con một quan huyện, ỷ thế cha, đang
ức hiếp con người ta
Tôi bèn nổi giận một khi,
碎 浽 沒 欺 Vật chàng xuống đó bẻ đi một giò
勿 払 笹 妬 崅 岃 殳 牭
Hớn Minh, con người “mình cao đồ sộ”, “mặt mũi đen sì” đó ta trông thấy conquan ỷ thế, chàng hi sinh cả tương lai, vứt bỏ cả con đường danh vọng để biểu thị một
Trang 23thái độ đầy khí phách của người hiệp sĩ Có thể nói đó là một điển hình của văn học, phảnánh khá trung thành truyền thống cương trực và trọng nghĩa hiệp của người dân Nam Bộ.
Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu chứng tỏ một cách rõ ràng rằng, mọi suy nghĩ, tìnhcảm, cho đến ước mơ và khát vọng của ông đều phù hợp với tinh thần quần chúng laođộng, không những thế ngôn ngữ của ông trong văn học cũng gần gũi với tiếng nói củaquần chúng Ông đã tiếp nhận dòng văn học tươi mát từ trong nguồn văn học phong phú
vô tận của văn học dân gian Lời ăn tiếng nói của quần chúng biểu hiện trong ca dao, tụcngữ và các truyện cổ dân gian đã đi vào tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu một cách rất tựnhiên
Chính vì vậy khi xây dựng nhân vật Hớn Minh, ta thấy bóng dáng rõ nét của chàngtrai nông thôn Nam Bộ, một tính cách rất đáng quí xem ân nhân của bạn như ân nhân củamình Trong tình bạn của Hớn Minh và Vân Tiên Hớn Minh luôn là người bạn tốt hếtlòng vì bạn, một tình bạn đáng quí hết lòng giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn.Sau khi gặp Tiều phu người đã cứu được Vân Tiên, khi hỏi rõ sự tình liền quì gối để đềnđáp công ơn cứu bạn, một hành động mà hiếm thấy có ở một con người vì bạn, không kểsang hèn Xuất phát từ việc biết quí trọng điều ngay lẽ phải ở đời, nên trong Hớn Minhkhông có sự tính toán, khi thấy bạn được bình an là niềm hạnh phúc vô cùng lớn màchàng có được
Hớn Minh quỳ gối lạy liền:
明 跪
Ơn ông cứu đặng Vân Tiên bạn lành
恩 翁 救 鄧 雲 仙 伴 Nầy hai lượng bạc trong mình,
諒 泊 沖 命Tôi xin báo đáp chút tình cho ông
碎 嗔 報 答 拙 情 朱 翁Nét tính cách ấy ta thấy một phần nào đức tính hết lòng vì bạn, vì những đạo lí củacác bậc quân tử lúc nào cũng xem đây là phương châm sống của mình Hành động quì gốitrước ông Tiều tuy bình thường, nhưng bên trong nó mang vẻ đẹp rất đáng được chúng tahọc hỏi và ca ngợi, cái đẹp của con người biết quí trọng điều lương thiện; hành động lúc
Trang 24nào cũng đặc điều nhân, việc nghĩa lên hàng đầu, không phân biệt người sang kẻ hèn, hể
hợp nghĩa, phải đạo thì làm
Ở Nguyễn Đình Chiểu, trong quá trình tiến lên của tư tưởng có quá trình phát triểncủa quan niệm anh hùng Đồ Chiểu chưa có cái táo bạo như Nguyễn Du trước đó, cả ganđưa một tên tướng giặc lên địa vị anh hùng, mang trong mình nổi khát khao “tháo cũi sổlồng”, niềm ước mơ công lí của quần chúng, với cuộc đời Lục Vân Tiên, Hớn Minh chưathoát khỏi quan niệm anh hùng, cá nhân trong thời đại phong kiến Đó đây vẫn mang dángdấp phi thường, nhưng Vân Tiên, Hớn Minh không phải là loại người từ bộ râu, hàmrăng…, cho đến việc làm cái gì cũng siêu quần, cũng hoàn toàn phi thường, quần chúngchỉ đơn thuần là lực lượng thực hiện ý chí cá nhân và chiêm ngưỡng thành tích cá nhânđó
Ở Lục Vân Tiên, Hớn Minh, cái dáng dấp chính yếu là những con người bìnhthường trong cuộc sống họ nhờ vào sự đùm bộc, dạy dỗ, cưu mang của mọi người, của bố
mẹ của thầy học, của bạn bè…Họ có những tình cảm thông thường: tình thương cha, mẹ,tình bạn lòng biết ơn thầy học, biết ơn những người ân nhân Vân Tiên có lúc né tránhchữ “tình” thuần túy của văn học tư sản sau này mà muốn có “nghĩa tình” ở mức độ caonhất đó thôi
Tóm lại Lục Vân Tiên, Hớn Minh được nhìn nhận là anh hùng, chỉ vì họ sống theo
lí tưởng nhân nghĩa, yêu ghét rạch ròi, không sợ gian nguy không sợ cường quyền, dám
hành động giúp đời cứu dân Bên cạnh chàng trai họ Lục và Hớn Minh, còn có Vương TửTrực, một con người đại diện cho việc đứng lên phê bình cái xấu, mắng nhiếc những kẻ
ăn ở hai lòng
2.1.1.3 Vương Tử Trực bênh vực cho tiếng nói lẽ phải
Khi Tử Trực đổ thủ khoa, chàng hồi hương, nhân tiện ghé nhà Võ Công để thămviếng Vân Tiên Cử chỉ của Tử Trực rất đáng khen Vị tân khoa ở kinh mới vinh qui, vộitìm thăm bạn cơ hàn tang tóc đủ chứng minh nghĩa kim bằng và thái độ quân tử
Công rằng: chớ hỏi thêm phiền,
公 哴: 潘 煩 Trước đà lâm bệnh huỳnh tuyền xa chơi
Trang 25駝 臨 病 黄 泉 賒
Ở đây tác giả khéo léo đề cập đến vấn đề Tử Trực có lời hỏi Võ Công mới có lờiđáp tác giả không khéo dài văn đàm thoại, đặt lời vấn đáp vài dòng vô ích, chỉ thúc đẩytình tiết câu chuyện mau lẹ và hợp lí Võ Công bảo với Tử Trực: cháu hỏi đến Vân Tiênchi cho thêm đau lòng Nó đã lâm bệnh và thác rồi, đến đây ta chú ý chất giọng nói giả vờxót thương, giả nhân, giả nghĩa, thêm vào sự khéo léo đem chuyện tình duyên của con gáimột cách gián tiếp
Nghe qua Tử Trực chạnh lòng,
戈 仔 直lHai hàng nước mắt ròng ròng như mưa
行 渃 眜 溶 溶 如 湄Than rằng: chạnh nhớ linh xưa,
炭 哴: 汝 灵Nghĩa đà kết nghĩa, tình chưa phỉ tình
義 駝 結 義,情 匪 情Nghe tin bạn mất, Tử Trực chảy nước mắt và than thở: nhớ vong linh và thuở sinhbình của Vân Tiên, đôi bên đã tỏ tình bằng hữu khi kết bạn với nhau, nhưng chưa có dịpphỉ tình bằng hữu qua hành trạng hay sự trạng Trách hóa công sao lại phụ kẻ tài đức,chàng sớm khuất khi bảng hổ chưa kịp đề danh, khi công chưa thành, danh chưa toại.Người lành đáng lẽ hưởng phước, lộc, thọ Vắng Vân Tiên đời Tử Trực như vắng tri kỷ(đồng đạo), tri âm (đồng tâm)
Trong lúc Tử Trực xót xa vì bạn chết và đề cao tình cảm đối với cố nhân, thì VõCông vẫn theo dõi chủ đích riêng Võ Công đề cập đến tình duyên của con gái một cáchkhéo léo, nhưng đi thẳng đến chủ đích là việc gã con gái cho vị tân khoa một cách sỗsàng, trơ trẻn và đột ngột
Phòng khi hôm sớm vào ra,
防 欺Thấy ngươi Tử Trực cũng là thấy Tiên
仔 直 纙 仙
Trang 26Dù bạc ác vì mưu giết Vân Tiên, dù bất chính vì tham giàu phụ khó, phản bội lờiđính ước thuở xưa, Võ Công có lẽ thẹn thầm nên nêu ra lí lẽ vô duyên: thương Vân Tiên,nhưng Vân Tiên đã mất, nên gã con gái cho bạn của Vân Tiên là Tử Trực, thấy mặt TửTrực như thấy mặt Vân Tiên.
Trực rằng: cùng bạn bút nghiên,
直 哴: 窮 伴 筆 研Anh em xưa có thề nguyền cùng nhau
英 俺 誓 窮
Vợ Tiên là Trực chị dâu,
仙 纙 直 姉 妯Chị dâu, em bạn dám đâu lỗi nghì
姉 妯, 俺 伴 兜 儗
Tử Trực vốn là bạn chân chính của Vân Tiên Chàng xem nghĩa bằng hữu như tìnhmáu thịt, vì thế chàng xem vị hôn thê của bạn như chị dâu, nếu kết duyên với Thể Loanthì vừa lỗi nghĩa, vừa trái đạo
Chẳng hay người học sách chi,
咍 學 册 之Nói sao những tiếng dị kỳ khó nghe
呐 炒 仍 異 奇Thấy Võ Công vô liêm sĩ và tráo trở, Tử Trực nỗi giận mắng nhiếc không tiếc lời,nhưng giữ đúng nho phong của kẻ sĩ, dù giận dữ, dù mắng nhiếc, Tử Trực vẫn khôngdùng lí lẽ thô lỗ Chàng chỉ mượn điển cố xa xôi để mắng Võ Công, làm thế có vẻ thâmthúy hơn vì Võ Công là người có học thức
Trước bản án luân lý, lời nhẹ nhàng mà hùng hồn, lý lẽ tế nhị sâu xa, Võ Côngđành cuối đầu thầm thẹn
Võ Công hổ thẹn xiết bao,
羽 公 虎 掣 包
Trang 27珍 坤 芾 朱 戈Nhưng con gái Võ Thể Loan:
Thể Loan trong cửa bước ra,
体 鵉 沖Miệng chào thầy cử tân khoa mới về
舉 新 科
Từ nảy giờ có lẽ Thể Loan đã núp sau cửa nghe rõ câu chuyện của cha nàng và TửTrực Có lẽ nàng quá tự tin nhan sắc diễm lệ của nàng có thể làm nghiêng lòng trai, nàngđường đột bước ra, chen vào câu chuyện, mắt đưa tình, miệng chào lã lơi
Chẳng những lã lơi mà còn trơ trẻn, đường đột nữa Thể Loan nhắc đến chuyệnduyên tình giữa nàng và Vân Tiên, đành lỡ làng Nàng trách Tử Trực sao lại bạc tìnhtrước lời cầu duyên và tự ý bày tỏ nỗi tình nàng bấy lâu chờ đợi, hy vọng Đã chẳng tựthẹn đem chuyện duyên tình bày tỏ với trai, nàng còn dạy khôn rằng: dù không ưng cũng
bỏ qua nỡ lòng đem chuyện xưa tích cũ mà nói với cha nàng, chẳng kiên dè gì cả
Trực rằng: ai Lữ Phụng Tiên
直 哴: 埃 旅 奉 仙Phòng toan đem mối Điêu Thuyền trêu ngươi ?
Trang 28chàng, vì chàng không phải là Lữ Bố đắm sắc say tình Gián tiếp nêu lên đạo tam tùng(tùng phu) và luân lý tứ đức (ngôn, hạnh), chàng mắng nhiếc Thể Loan gian tà khi VânTiên “đã chết”, cỏ chưa lên xanh ngôi mộ Chàng chê Thể Loan tuy xinh đẹp nhưng kỳthực chỉ là mặt người, lòng thú.
Vân Tiên anh hỡi cố tri,
云 仙 英 故 知Suối vàng có biết sự ni chăng là ?
鐄 別 事 伲 庄 纙Tay lau nước mắt trở ra,
拪 撈 渃 眜 阻
Về nhà sắm sửa tìm qua Đông Thành
茹 懲 戈 東 城Đến đây tác giả đã để nhân vật của mình (Tử Trực) gọi hồn bạn về, vừa để chứngdám tấm lòng chân chính, tấm lòng chung thủy của chàng, vừa để chứng kiến trò đời đenbạc với một Võ Công bất nghĩa, một Thể Loan bạc tình Với mục đích đề cao luân lí cựcđoan, tác giả đã để nhân vật luân lí của mình nghĩ đến bạn “đã chết” Chàng vội vàng bỏnhững kẻ vô luân để sang thăm gia đình Vân Tiên ở quận Đông Thành kế cận đấy
Tóm lại trong “Lục Vân Tiên”, ba chàng nho sinh đã phất cờ Khổng lên đường,
trong cái phong cách truyền thống “tang bồng hồ thỉ nam nhi” Nhưng trong ba con người
ấy điều có đặc điểm chung điều “trọng nghĩa khinh tài”, ghét gian ác luôn lên tiếng bênhvực cho lẽ phải Lục Vân Tiên đại diên cho chàng thanh niên giàu ý chí nghị lực, trongnhững lúc gian khổ nguy hiểm, mặc dù đe dọa đến tính mạng, nhưng Vân Tiên vẫn tin ởtương lai, không bi quan buông xuôi số phận Đặc biệt trong con người này giàu lòng đạinghĩa, thấy việc bất bình là toàn tâm, tòan lực cứu giúp người Với quan niệm cứu giúpngười là niềm vui và hạnh phúc của bản thân, không hề so hơn tính thiệt cho bản thânmình Hớn Minh cũng là một chàng thanh niên giàu nghĩa khí, tánh tình cương trực ngaythẳng, bất chấp cả nguy hiểm hi sinh cả công danh sự nghiệp vì mục đích chung muốn trừbọn cậy quyền ỷ thế Vương Tử Trực lên tiếng bảo vệ đạo lí, luân thường cái lẽ ở đời,
Trang 29mạnh dạng phê phán những con người gian ác, ăn ở hai lòng, với một quan niệm trungthành, chỉ có tình bạn tri âm, tri kỉ mới là những nhân cách đáng được trân trọng.
Nguyễn Đình Chiểu ở đây rất thành công khi xây dựng nhân vật anh hùng, đồngthời cũng là nhân vật lí tưởng đại diên cho công lí Những con người trọng nghĩa khí, dámmạnh dạng lên tiếng đứng lên bảo vệ lẽ công bằng chính nghĩa Hình tượng ba chàng nhosinh ấy là những nhân cách đáng quí, những bậc quân tử mẫu mực, đáng được những thế
hệ thanh niên coi đó là chuẩn mực đạo đức cần học hỏi, rèn luyện và giọt dũa mình sốngxứng đáng phù hợp với đạo lí truyền thống của dân tộc
2.1.2 Trong quan hệ chủ - tớ
2.1.2.1.Tấm lòng yêu mến Tiểu Đồng thắm thiết của Vân Tiên
Tình nghĩa của Vân Tiên và Tiểu Đồng ở đây Nguyễn Đình Chiểu không xem làquan hệ chủ tớ, mà ở đây là mối quan hệ của hai người như hai anh em ruột thịt, đó làquan hệ đồng thanh đồng khí Tiểu Đồng gắn bó với Vân Tiên bằng tình cảm chân thành,ngay cả khi biết Vân Tiên đã chết, vẫn tuyệt đối trung thành đến tận tụy Đáp lại tình cảmcủa Vân Tiên đối với Tiểu Đồng cũng thật cảm động Đấy là vẻ đẹp của những con ngườibiết sống với nhau bằng tình nghĩa
Tiểu Đồng hồn bậu có thiêng,
Thảo tình thầy tớ lòng thiềng ngày nay
2.1.2.2.Tình cảm chân thật của người đầy tớ trung thành
Những con người có phẩm chất tốt đẹp luôn hết lòng với việc thiện ấy, ta tìm thấy
rõ nhất ở nhân vật Tiểu Đồng theo giúp việc cho Vân Tiên trên đường về quê chịu tang
mẹ, hai thầy trò thất lạc Khi nghe bà Quán nói, tưởng Vân Tiên đã chết, và đã đượcngười ta chôn cất thì Tiểu Đồng không phải chỉ xót thương Vân Tiên, mà còn:
Che chòi giữ mả lòng toan trọn bề
椎 拧 酸 沒Một mình ở đất Đại Đề,
Trang 30沒 命 坦 大 提Sớm đi khuyên giáo, tối về quảy đơm.
, 最 拐Dốc lòng trả nợ áo cơm,嘞
Sống mà trọn nghĩa, thác thơm danh hiền
義, 託 名賢Lời nói và hành động ấy thật đáng quí làm sao, một người đầy tớ trung thành vớiVân Tiên trọn cả tấm lòng, từ khi đi cùng Vân Tiên hay gặp tai nạn, Tiểu Đồng hết lòngcứu giúp chủ, xem đây là trách nhiệm của mình, không nỡ đành nhìn Vân Tiên phải sốngtrong cảnh mù lòa tăm tối mà hết lòng cứu chữa
Ở đây ta không nói cái nghĩa tớ thầy theo lối phong kiến, Nguyễn Đình Chiểukhông thể vượt ra khỏi thời đại của mình; ta chỉ nhìn khía cạnh hi sinh của Tiểu Đồng,Vân Tiên và Tiểu Đồng đùm bọc nhau; khi Vân Tiên ốm, Tiểu Đồng tận tụy, tất tả chạychữa tìm thầy thuốc, Tiểu Đồng thật thà dễ bị bọn thầy bói, thầy pháp lừa Mấy năm trờiTiểu Đồng tưởng Vân Tiên chết, Vân Tiên cũng tưởng Tiểu Đồng chết, lúc được hiểnvinh thì làm lễ tế Tiểu Đồng mà khóc ròng ròng, xảy đâu Tiểu Đồng đi ngang qua đó
Tiểu Đồng nhắm ngửa nhìn nghiêng,
小 僮 Ông nầy sao giống Vân Tiên cũng kỳ
翁 抄 雲 仙 奇Tình nghĩa giữa Vân Tiên và Tiểu Đồng sâu đậm, họ là những con người mến yêu
nhân nghĩa; sống hết lòng vì nó; số phận dù có đưa đẩy họ đến đâu thì trong lòng họ vẫn
trung thành với điều ngay lẽ phải, tình nghĩa ở đời là quan trọng, sống không hổ thẹn vớilương tâm mình
Ai còn thấy bổn quan,
埃 哀 本 官
Ba năm gìn giữ mồ hoang đã rồi
Trang 31巴 拧 墓 荒 耒Tình cảm của người đầy tớ ấy dành cho chủ một cách chân thành, mặc dù thời giantrôi qua ba năm, nhưng Tiểu Đồng vẫn trọn vẹn từng ngày bên ngôi mộ chủ.Tình cảm ấy
ít ai có được, có xót thương chăng chỉ nhỏ vài giọt nước mắt xót thương cho tình cảm baonăm qua, rồi cuộc sống ai nấy lo liệu Nhưng ở đây người đầy tớ này không nghĩ đếntương lai hạnh phúc cho mình, quyết trả cho xong nợ áo cơm cùng với Vân Tiên mới cảmthấy tâm hồn mình thanh thản Thấp thoáng đâu đây bên trong con người Tiểu Đồng vẻđẹp của ánh hào quang tỏa sáng, vẻ đẹp ấy từ bấy lâu được che giấu bên trong bởi lớp vỏcủa một tên đầy tớ
Từ những hành động của các nhân vật, Nguyễn Đình Chiểu xây dựng những sốphận những con người bình dân: như ông Quán, ông Ngư, ông Tiều, Tiểu Đồng, KimLiên, Quan âm… đây là những tính cách rất nhân hậu, hết lòng cứu giúp người khác màkhông chút tính toán nghĩ suy gì cho bản thân mình, sẵn sàng giúp đỡ người hoạn nạn,nhân vật Tiểu Đồng trung nghĩa…một phần nào nói lên được bản chất tốt đẹp của quầnchúng lao động Những con người cần cù, lam lũ nhưng bên trong có một vẽ đẹp đángquí Tâm hồn họ lúc nào cũng dạt dào tình cảm yêu thương, họ như một lớp người đạidiện cho một mẫu người tốt trong xã hội, bên cạnh sự ngỗn ngang xã hội mà thời NguyễnĐình Chiểu sống, còn có những tâm hồn đáng được quý trọng và noi theo
2.2 Nhân cách đáng trân trọng của con người bình dân nghèo nhưng không hèn.
2.2.1 Ông Quán, bậc trí thức chọn cách sống ẩn dật
Cần phải nói rằng, bình sinh Nguyễn Đình Chiểu có cách nhìn nhận đúng đắn vềnhững con người bình thường trong xã hội Khi miêu tả những người hầu, con hầu, nhữngông Quán, ông Ngư, ông Tiều trong các truyện thơ, cũng như những kẻ chân lấm tay bùn
trong lịch sử kháng chiến, ông điều làm nổi bật hình ảnh trong sáng của họ Trong Lục
Vân Tiên, ông Quán là một nhân vật đặc biệt Là người bán thức ăn cho khách qua đường,
nhưng ông nói ra toàn những chuyện đạo lý, thời cuộc Có dịp gặp những người trí thức,ông đã bộc lộ những tình cảm “thương ghét” của mình rất rõ ràng
Quán rằng: ghét việc tầm phào,
Trang 32館 哴: 恄 役 尋 拋Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tới tâm.
恄 咳, 恄 蹬, 恄 細 心Hóa ra đây không phải là một ông Quán bình thường, chuyên toan tính lời lỗ,chuyên buôn bán để mưu sinh, mà chính là người trí thức có hoài bảo lớn, tình cảm lớn đi
ở ẩn Xuất phát từ lập trường đi bảo vệ hạnh phúc của con người, ông Quán mượn chuyệnlịch sử để lên án bọn vua chúa hư đốn Ông nói sách vở, nhưng không phải nói để cốtkhoa trương mà có ngụ ý rõ ràng Xét về mặt nghệ thuật, một số nhân vật của NguyễnĐình Chiểu trong các tác phẩm, trừ người thực, việc thực, hầu hết đều không có xuất xứ,lai lịch cụ thể và xuất hiện có phần đột ngột, mang tính ngẫu nhiên nhưng tác giả khôngchú ý đến đều ấy
Nguyễn Đình Chiểu tự trói buộc mình một cách cứng nhắc, trong việc xây dựng bốcục của một tác phẩm Điều ông cần là những nhân vật chính diện xuất hiện hộ ông nhưcái ông cần nói Qua lời nói của ông Quán đồng thời là tiếng nói của tác giả, đối với baonhiêu cảnh ngang trái ông đã từng chứng kiến, bao nhiêu cảnh ngang trái từng tiếp diễnxung quanh ông, Nguyễn Đình Chiểu không thể dửng dưng Ông phải lên tiếng
Chúng ta thấy lời ông Quán nói với đám sĩ tử khi đi thi Ông nói toàn nhữngchuyện kinh sử Nhưng thật ra không phải chuyện kinh sử không Nếu chỉ là nhữngchuyện xảy ra ở đâu đâu và từ mấy nghìn năm trước thì khó mà có cái giọng cay đắngnhư thế Trong cái căm ghét ấy, có cái căm ghét của Nguyễn Đình Chiểu đối với tất cả
thói đời gian tà đang lộng hành trong xã hội Lục Vân Tiên không chỉ là tiếng chửi vào
thói đời gian ác Ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu còn chỉa vào từng loại người cụ thể Bộ ba
Võ công, Quỳnh Trang và Thể Loan Khi Vân Tiên đến lần đầu cả nhà hết sức săn đón.Thể Loan tiễn đưa chàng bằng những lời tình tứ ngọt ngào, đó là những lời chửi của ôngQuán vào thói đời
Trở lại với việc hai càng nho sinh trên đường đi thi gặp Bùi Kiệm và Trịnh Hâm ởnơi nghĩ tiệm nhà ông Quán Tất cả ngồi chung bàn với nhau, khi thấy Tiên, Trực cùngvới Hâm, Kiệm làm thơ, Tiên, Trực xong trước và hay Hâm, Kiệm vu cho phép là theo
cổ thi, thì ông Quán cười vào mặt, chẳng giữ ý tứ là sẽ mất khách hàng, mà là khách hàng
Trang 33Chẳng hay ông Quán cười chi,
庄 咍 翁 舘 唭 之
Vỗ tay xuống chiếu một khi cười dài
撫 拪 詔 沒 欺 唭Tiên rằng: ông Quán cười ai?
仙 哴: 翁 舘 唭 埃 ?Quán rằng: cười kẻ bất tài đồ thơ
舘 哴: 唭 仉 不 才 圖 初Những ông Quán để mất khách như vậy, thực tế không hay có ở trên đời, nhưngđây là một người rất có kiến thức và lí lẽ, đưa ra những lí lẽ thẳng thắn của mình phê phánnhững kẻ bất tài mà lên mặt Kiệm, Hâm là hai kẻ bất tài mà ra vẻ ta đây, chính vì việclàm thấy gai mắt, nên ông Quán lên tiếng phê bình ngay, sự ngay thẳng của ông không sợmất lòng khách Chính vì đây là người không phải sống vì tiền, mà vì mạnh dạng nói lêntiếng nói ngay thẳng bênh vực cho lẽ phải, chính nghĩa
Quán rằng: kinh sử đã từng,
館 哴: 經 史 曾Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa
耒 吏 遣 恒 咄 車Chủ đích của tác giả là luận cổ suy kim, nhìn cổ nhân mà tự xét mình với tình đờighét giận, xót thương dồn dập vào tim não Lời của ông Quán càng về sau càng chứng tỏông là bậc trí thức, tài hoa nhưng ông không muốn lập thân hành đạo giúp đời Ông Quánmuốn noi gương các bậc hiền triết, tiên hiền, thà vui tự do, phóng khoáng còn hơn thamphú quí, vinh hoa, thà đói rách sạch thơm còn hơn biến tiết đổi lòng
Bên cạnh việc Nguyễn Đình Chiểu xây dựng hình tượng ông Quán, một người chủtiệm cơm nhỏ bên đường nhưng kiến thức dầy dặn, trong con người ấy luôn có nét tínhcách thẳng thắn, ghét kẻ bất tài vô dụng lên mặt, lời nói của ông một cách tự nhiên phêbình Tính ông tôn trọng những con người có kiến thức thật sự mà giúp đời, những người
ấy là Vân Tiên, Hớn Minh đáng ông kính trọng và noi theo Ngoài ra Nguyễn Đình Chiểucòn xây dựng những con người bình dân, nhưng tâm hồn lúc nào cũng trong sáng, thánh
Trang 34thiện, luôn xem việc cứu giúp người khác là một việc đáng làm Hình ảnh ấy được tác giảxây dựng qua nhân vật ông Ngư.
2.2.2 Tâm hồn trong sạch thanh cao của ông Ngư
Khi Vân Tiên bị Trịnh Hâm âm mưu giết đẩy xuống sông Dù cuộc đời xấu xa đếnmấy cũng không sao trùm kín màn đen lên hết mặt đất Vẫn có một khe hở cho ánh sángđâu đó Chưa phải con người thì của phải thần linh Vân Tiên rơi xuống nước sâu tưởngchết, lại nhờ “giao long” đưa vào bãi Gia đình ông Ngư cứu vớt được
Vân Tiên là một người tài ba, anh hùng như vậy, mà mang họa mù mắt thì coi nhưchẳng còn gì Một cảm tưởng mơ màng tưởng mình đã chết không ngờ lại còn ở cõi trần,một lời phân trần ái ngại cho cảnh mình và cảnh người…chỉ là cảm xúc hoạn nạn, chỉđáng thương nhưng thái độ của ông Ngư mới đáng trân trọng Người vớt lên được đã lạnhtanh Hối con nhóm lửa lên cho đượm trong giây khắc
Khiến con vây lửa một giờ,
遣 昆 渭 焒 沒Ông hơ bụng dạ, bà hơ mặt mày
翁 浠 胣, 婆浠 眉
Cả nhà ông Ngư điều ra tay cứu giúp Vân Tiên Làm cho Vân Tiên ấm lại và tỉnhdậy Tỉnh dậy và băn khoăn không biết lấy gì để đền ơn Ngư ông gạt đi, nói rõ lòng mình
và nhân đà miêu tả luôn cảnh sông nước và cảnh trí thiên nhiên với tấm lòng thương
người và trọng nghĩa bao la cũng như cùng trời đất Làm sao không thấy cảnh rối rít trong
khoang thuyền ông Ngư lúc vớt được Vân Tiên lên! Lược đi rất nhiều chuyện nhưng hãy
đủ ta thấy sự ân cần, khẩn trương của các động tác cứu người sắp chết đuối, vừa cảmđược nhịp đập hồi hộp của trái tim và tấm lòng ấm áp tình thương người hoạn nạn Mà âncần, khẩn trương, trái tim lòng thương của loại người nào, của kẻ giàu sang chăng? củahạng quyền thế Không, của người dân lao động nghèo mà xã hội khinh người gọi lànghèo hèn – đây là ông lão đánh cá và gia đình ông không có đấng nọ, vị kia, mà chỉ cóông và mụ ông hơ và bà hơ, hơ vào bụng và hơ vào mặt mày, vào những nơi trong ngườinạn nhân theo quan niệm nhân dân Hơ với lửa, lửa bếp nhen lên, nhưng làm sao mà