1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích giá trị tài nguyên của một nhóm động vật hoang dã và đề xuất các nhóm giải pháp quản lý bền vững

34 615 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số loài thú như chó thiếutuyến mồ hôi trên cơ thể thì ở trong xoang miệng, trên mặt lưỡi của chúng lạimang nhiều tuyến nhầy có vai trò như tuyến mồ hôi Hệ thần kinh ở thú đặc biệt ph

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ

KHOA SINH HỌC - -

BÀI TIỂU LUẬN

Đề t ài:

PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN CỦA MỘT NHÓM ĐỘNG VẬT HOANG DÃ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC NHÓM GIẢI

PHÁP QUẢN LÝ BỀN VỮNG

Giảng viên hướng dẫn:

Trang 2

Các từ viết tắt

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ THÚ VÀ GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN CỦA MỘT SỐ LOÀI THÚ 2

1 Đặc điểm chung của thú 2

2 Vai trò của thú trong tự nhiên và đời sống con người 4

2.1 Vai trò sinh thái 4

2.2 Vai trò kinh tế 5

3 Các mối đe dọa chính đối với động vật quý hiếm thuộc lớp thú 6

3.1 Buôn bán bất hợp pháp 6

3.2 Nuôi nhốt làm cảnh 8

3.3.Săn bắn trái phép 8

4 Tình trạng thú và một số loài động vật quý hiếm ở Việt Nam 9

4.1 Khu hệ thú ở Việt Nam 9

4.2 Tiềm năng thú ở Việt Nam 11

4.3.Tình trạng thú ở Việt Nam hiện nay 11

4.4.Một số loài động vật hoang dã quý hiếm ở Việt Nam 12

PHẦN 2: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BỀN VỮNG VÀ BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 20

1 Giải pháp quản lý bền vững 20

1.1 Điều tra, giám sát động vật hoang dã 20

1.2 Thông tin, tuyên truyền 22

1.3 Hợp tác quốc tế 22

2 Bảo tồn động vật hoang dã 23

2.1 Các thủ tục về gây nuôi và vận chuyển động vật hoang dã 23

2.2.Cứu hộ động vật hoang dã 25

2.3.Gây nuôi, phát triển ĐVHD 26

2.4 Mười cách thức hiệu quả nhất để góp phần bảo tồn động vật hoang dã 27

KẾT LUẬN 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

Trang 4

MỞ ĐẦU

Mỗi năm, rất nhiều loài thú hoang dã bị tuyệt chủng Những loài vật đã

có thời từng lang thang khắp Trái Đất hàng đàn thì nay đã vĩnh viễn biến khỏihành tinh của chúng ta với một tốc độ nhanh khủng khiếp Các nhà khoa họcước tính rằng tốc độ tuyệt chủng hiện thời cao hơn 1000 lần so với tốc độbình thường chỉ bởi một yếu tố Điều gì đã gây ra tốc độ tuyệt chủng tăngnhanh đến thế? Câu trả lời đơn giản nhưng đáng lo ngại là: con người

Chúng ta đang tiêu thụ các tài nguyên thiên nhiên của Trái Đất nhanhhơn so với mức có thể tái tạo được chúng Chúng ta đang hủy hoại môi trườngsống của động vật, thức ăn, nước và không khí của chúng, và tiêu diệt chínhbản thân các loài vật, với một tốc độ không thể chống lại Càng nhiều tổ chim

bị phát quang đi để xây những tòa nhà chọc trời, nhiều con sông bị san lấp đểlàm bãi đỗ xe và nhiều đàn voi bị tàn sát để làm đồ trang sức rẻ tiền, thì sốlượng và tính đa dạng của động vật càng bị giảm sút

Vậy câu hỏi đặt ra là chúng ta phải làm sao?

Trang 5

PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ THÚ VÀ GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN

CỦA MỘT SỐ LOÀI THÚ

1 Đặc điểm chung của thú

Thú là lớp động vật có xương sống có hệ thần kinh phát triển cao vàthích ứng mềm dẻo Chúng chiếm lĩnh hầu hết các môi trường sống trên tráiđất, từ miền núi cao, rừng rậm nhiệt đới cho đến biển sâu Đến ngày nay, vớikhoảng 4.500 loài, thú chỉ còn chiếm 0,5 % tổng số loài động vật đang tồn tại

và phát triển trên thế giới

Thú cùng với Cá, Lưỡng cư, Bò sát và Chim tạo thành ngành Động vật

có xương sống với đặc điểm đặc trưng nhất là cơ thể được nâng đỡ bởi mộttrục vững chắc gọi là xương sống Xương sống cùng với các thành phần kháccủa bộ xương tạo thành khung nâng đỡ toàn bộ cơ thể So với các nhóm độngvật có xương sống khác, Thú là lớp động vật tiến hoá nhất Điều này thể hiện

ở những điểm sau:

Cơ thể thú được bao phủ bằng một lớp lông mao Trên cơ thể của thú

có mang nhiều tuyến ngoại tiết có vai trò quan trọng như tuyến nhầy, tuyến

mồ hôi, tuyến sữa, tuyến bã, trong đó tuyến nhầy và tuyến mồ hôi có vai tròquan trọng trong việc điều chỉnh thân nhiệt Một số loài thú như chó thiếutuyến mồ hôi trên cơ thể thì ở trong xoang miệng, trên mặt lưỡi của chúng lạimang nhiều tuyến nhầy có vai trò như tuyến mồ hôi

Hệ thần kinh ở thú đặc biệt phát triển, đặc biệt là sự hình thành vỏ nãomới và trung khu điều hoà thân nhiệt ở não bộ Hệ thần kinh phát triển còntạo cho con vật có những bản năng phức tạp (làm tổ, nuôi con, kiếm mồi, lẩntránh kẻ thù, ) làm cho thú thích nghi nhạy bén hơn đối với điều kiện sốngluôn biến động

Thú đẻ con và nuôi con bằng sữa mẹ Phôi thai phát triển trong bụng

mẹ đảm bảo an toàn trước mọi điều kiện bất lợi, được cung cấp dinh dưỡngthông qua nhau thai Khi ra đời, thú con được nuôi bằng sữa mẹ - loại thức ăn

Trang 6

có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho một cơ thể phát triển mà khôngmột loại thức ăn nào sẵn có trong tự nhiên có thể so sánh được.

Máu của thú bao gồm những tế bào hồng cầu không có nhân và lõm haimặt để tăng cường diện tích hấp thụ ô-xy Tim thú có 4 ngăn nên máu mangô-xy (máu trong động mạch) không bị lẫn vào máu mang khí cac-bô- nic(máu trong tĩnh mạch), có tác dụng tăng cường quá trình trao đổi chất bêntrong cơ thể, giúp thú có khả năng điều hoà nhiệt độ cơ thể luôn trong mộtphạm vi nhất định và không phụ thuộc vào sự biến đổi nhiệt độ môi trường

Ngoài ra, thú còn mang nhiều đặc điểm khác có tác dụng tăng cườngkhả năng sống sót của cơ thể và duy trì sự phát triển mạnh mẽ của giống nòi:

Bộ răng đã phân hoá thành ba loại răng; Răng cửa, răng nanh trước hàm vàrăng hàm đảm nhiệm từng vai trò nhất định khác nhau; Hàm dưới của thú chỉbao gồm một mảnh xương (trong khi ở các lớp Động vật có xương sống khác

do nhiều mảnh ghép lại) nên vững chắc hơn, giúp thú có thể bắt mồi đạt hiệuquả cao hơn

Trong lịch sử tiến hoá, loài thú cổ nhất đã xuất hiện cách đây khoảng

180 triệu năm Tuy nhiên, trong một thời gian dài sau đó - khoảng 100 triệunăm - các loài thú cổ hầu như không phát triển thêm nhiều

- 70 triệu năm, khi các loài bò sát cổ đã bị tiêu diệt, thú mới bước vàogiai đoạn phát triển phồn vinh nhất: Xuất hiện thêm nhiều loài thú với sốlượng cá thể của mỗi loài cũng tăng lên Giai đoạn phát triển rực rỡ nhất củathú là cách đây khoảng 25 triệu năm - khi đó thú đã phát triển đến 1.200giống khác nhau (mỗi giống lại bao gồm nhiều loài) Tuy nhiên, cho đến ngàynay, dưới tác động của chọn lọc tự nhiên cũng như sự khai thác bừa bãi củacon người, trên thế giới chỉ còn lại khoảng 1.000 giống thú khác nhau vớikhoảng 4.500 loài

Trang 7

2 Vai trò của thú trong tự nhiên và đời sống con người

2.1 Vai trò sinh thái

Thú rừng là những sinh vật tiêu thụ ở các cấp trong chuỗi, lưới thức ăncủa quần xã Hiệu suất chuyển hoá năng lượng và khả năng tổng hợp sinhkhối của một hệ sinh thải rừng phụ thuộc vào sự phong phú, đa dạng haynghèo nàn của sinh vật tiêu thụ các cấp trong chu trình thức ăn và mạng lướithức ăn của hệ sinh thái, mà các loài thú là một mắt xích rất quan trọng Sựmất cân đối về khả năng tiêu thụ giữa các sinh vật sàn xuất và sinh vật tiêuthụ sẽ làm thay đồi xu thế phát triển của mỗi nhỏm và cỏ thể dẫn đến sự mấtcân bằng sinh thái Như vậy, hoạt động của các nhóm thú trong hệ sinh tháirừng có ảnh hưởng đến xu thế phát triển của rừng ở đó, chúng góp phần duytrì và thúc đẩy sự phát triển hay làm suy giảm hoặc kìm sinh trưởng và pháttriển của thực vật rừng, nghĩa là các loài thú góp phẩn ảnh hưởng tới sự pháttriển và tiến hoá của hệ sinh thái rừng

Vai trò sinh thái của thú có thể tóm lược một số điểm sau đây:

Thú rừng có vai trò không nhỏ đóng góp vào việc tái sinh và phục hồirừng Các loài thú ăn mật hoa, quả cây rừng đã trở thành vật thụ phấn và pháttán hạt của nhiều loài thực vật có vai trò sinh thái quan trọng trong các hệ sinhthái rừng

Thú rừng có vai trò sinh thái rất quan trọng giúp ích cho sự phát triểncủa quần xã sinh vật thông qua các hoạt động mang tính bản năng sẵn có củachúng nhằm đảm bảo sự tồn tại của nòi giống Trong rừng nói chung cũngnhư ở nước ta có nhiều loài thú Móng guốc ăn lá cây, chồi non Với mật độthích hợp chúng ỉà những nhân tố tích cực thúc đẩy quá trình phát sinh rừng

tự nhiên Ngược lại nếu mật độ quá cao chúng sẽ kìm hãm và làm mất khảnăng tái sinh chồi, thậm chí làm suy kiệt rừng Thực tế đã chứng minh, nhiềukhu rừng ở Tây Bác, Tây Nguyên, Bắc Trường Sơn có mật độ thú móng guốccao, nhưng chúng chưa gây ra tác hại đáng kể cho cây rừng Sự hiện hữu củacác đản khỉ ăn lá là một chỉ số về chất lượng rừng Với đời sống thường

Trang 8

xuyên di chuyển, ít khi ở một chỗ cố định nên tác hại đo thú Móng guốc vàKhi, Voọc gây ra thường không đáng kể Ngoài ra cũng cần chú ý rằng thúMóng guốc hoang dã là nguồn cung cấp thức ân cho nhóm thú ăn thịt tồn tại

vả phát triển Thú rừng cũng có vai trò quan trọng trong đắu tranh sinh học.Những loài thú nhỏ cũng là con mồi của chim ăn thịt

2.2 Vai trò kinh tế

* Các loài thú rừng là đối tượng săn bắn để lấy thực phẩm như: hươu,nai, hoẵng, lợn rừng, sơn dương, chồn, cầy, đon, nhím, Nhiều di tích để lạichứng tỏ người cố đã biết săn thú rừng Cách săn chỉ là đuổi đánh hoặc vâydồn thú vào hang, hổ hay xuống nước rồi bắt hay giết chết

Nhân dân ta săn thú chủ yếu để lấy thịt và dược liệu Công cụ và vũ khísăn ở Việt Nam khá phong phú Ngoài giáo hay lao, nhân dân còn dùng 3 loạicạm bẫy chỉnh: bẫy sập, bẫy càn bật (cạm), bẫy hổ Ngoài ra, họ còn dừng nỏđối vởi thú nhỏ và súng đổi với thú lớn Do hoạt động sân bắn của con người,

mà nhiều loài thú hiện nay đã bị tuyệt chủng (heo vòi, tê giác hai sừng, ) hay

bị đe doạ tuyệt chủng (tê giác một sừng, hổ, báo, trâu rừng, hươu sao, ), vànhièu loài trước kia khá phổ biến, hiện nay trở nên hiếm ở nhiều địa phương(nai, sơn dương, bỏ tót, ) Hơn nữa, việc sử dụng thú săn băn còn loãng phí.Nhân dân chưa biết dùng da thú, mà loại da này cũng có giá trị công nghiệpkhông kém da trâu, bò, Thú rừng từ lâu được coi là nguồn lâm sản khôngthể bỏ qua được trong kinh doanh tổng hợp nghề rừng Hầu hết các loài thúrừng đều cỏ giá trị to lớn đối với cuộc sống Đó là nguồn lợi cung cấp thựcphẩm cho nhân dân

* Các loài thú cung cấp nguồn dược liệu vô giá: mật các loài gấu; trăn;

kỳ đà; khỉ; tê tê; sơn dương; chồn; cầy; đon; nhím; sừng sơn dương; răng hổ;gan và mỏng chân rái cá; xạ cầy hương, cầy giông; lông đon nhím; vảy tê tê,máu khỉ, óc khỉ, được ưa dừng trong Đông ỵ để chữa bệnh Nhung hươu,nai, hoẵng là thuốc bổ toàn thân Bộ xương hổ, khi là nguyên liệu để nấu caodùng làm thuốc bổ Vảy tê tê dùng để chửa nhiều bệnh ngoài đa Vảy có tính

Trang 9

chất sát trùng và kích thích sự tuần hoàn ở nơi lở loét, thúc đẩy quá trình làmsẹo Hàng năm nước Singapore xuất khẩu hơn 60 tấn vảy tê tê Mật gấu dùng

để chữa chấn thương, kích thích sự tuần hoàn ở chổ xoa bốp Nhiều loài thú

cổ thể cho chất xạ hương, dùng làm dược liệu trong Đông y và làm nguyênliệu giữ hương trong công nghiệp nước hoa

* Các loài thú cho da lông và những nguyên liệu làm đồ mỹ nghệ đẹp vàquý: da lông báo hoa, báo gấm, mèo rừng, chồn, sóc, rái cá; ngà voi; sừng móngtrâu, bò, bò tót, vuốt hổ, là những nguyên liệu làm đồ mỹ nghệ đẹp và quý

* Các loài thú có ích cho khoa học vi sản xuất nông nghiệp: chuột, thò,khỉ là đối tượng thí nghiệm dùng trong bộ môn giải phẫu sinh lý, bệnh lý Cácloài thú ăn thịt như chồn, cầy, mèo rừng tiêu độc các loài gậm nhấm gây hạihoa màu hay mang những mầm bệnh truyền nhiễm Nhiều loài thú như dơi,chuột chù, tê tê tiêu diệt những sâu bọ cổ hại, hoặc mối phổ hại gỗ

* Các loài thú là sản phẩm đặc sản có giá trị xuất khẩu: khi, đon, nhím,nai, hoăng, lợn rừng, Riêng vùng quần đảo Vân Hải (khu Hồng Quảng)trong những năm từ giữa thập niên năm mươi của thế kỷ trước đến nay, nhândân đã săn bât được hàng nghìn con thú từ các loài kể trên

* Các loài thú làm cảnh, giải trí cũng cố một ý nghĩa lớn trong đời sốnghiện đại Đo mức sống của nhân dân ta còn thấp nên việc nuôi thú rừng làmcảnh, giải trí chưa phổ biến

3 Các mối đe dọa chính đối với động vật quý hiếm thuộc lớp thú

3.1 Buôn bán bất hợp pháp

Tình hình buôn bán ĐVHD tại Việt Nam đang diễn ra hết sức phức tạp,với nhiều thủ đoạn rất tinh vi Bọn buôn lậu sử dụng các tuyến đường bí mật

và các phương tiện chuyên chở cũng như liên lạc hiện đại nhằm đối phó với

sự kiểm soát của các cơ quan chức năng Nhiều chủ buôn sử dụng giấy tờ giảmạo, khai báo sai về loài, số lượng ĐVHD nhằm đánh lừa các cơ quan chứcnăng Các loài bị buôn lậu chủ yếu như: rắn, rùa các loại, tê tê, gấu, các loàikhỉ, các loài ếch nhái, chim (chủ yếu là động vật tươi sống) Động vật hoang

Trang 10

dã trong nước chủ yếu được cung cấp cho các nhà hàng thịt thú rừng, đặc biệt

ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thịt thú rừng là cácmón ăn khoái khẩu Lợi nhuận thu được từ việc buôn bán bất hợp pháp cácloài ĐVHD là rất lớn Nguyên nhân của tình trạng này là:

- Khung hình phạt với các hành vi buôn lậu trong lĩnh vực này còn thấp

- Lực lượng thực thi pháp luật về quản lý ĐVHD còn mỏng, trình độchuyên môn, kỹ thuật còn yếu, phương tiện, công cụ hỗ trợ còn lạc hậu

- Nhu cầu về ĐVHD trên thị trường nội địa và quốc tế rất lớn

- Nhận thức của các chủ kinh doanh và cộng đồng về vấn đề bảo vệĐVHD vẫn còn thấp

- Công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức về hệ thống văn bảnpháp quy về quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi tự nhiên chưa được coitrọng và thực hiện rộng rãi

- Cơ chế chính sách cho lực lượng thực thi chưa thoả đáng;

- Lực lượng thực thi chưa có được thực quyền, trang thiết bị phục vụcông tác chưa đủ và lạc hậu Vẫn còn những chồng chéo về chức năngnhiệm vụ giữa các cơ quan hành pháp

Buôn bán các loài thú: Trong tổng số hơn 252 loài thú thì có đến 147loài là đối tượng bị săn, bắt và buôn bán, nhưng trên thị trường mới chỉ ghinhận được 55 loài thú Trước đây buôn bán các loài thú chủ yếu phục vụ nhucầu thực phẩm của người dân địa phương Trong những năm gần đây việcbuôn bán các loài thú bán trên thị trường chủ yếu cung cấp cho các nhà hàngnhằm đáp ứng nhu cầu ẩm thực của người dân thành phố và xuất khẩu Ngoàithịt, thú rừng còn được buôn bán với mục đích làm cảnh, tình trạng nuôi nhốtđộng vật diễn ra khá phổ biến Các loài thường bị nuôi nhốt làm cảnh như:Thú linh trưởng, báo, gấu, một số loài cầy, chồn Bên cạnh đó việc buôn bán,săn bắt thú với mục đích thuốc dân tộc khá phổ biến Mật gấu, sừng tê giác,cao khỉ, cao xương hổ vẫn được coi là những bài thuốc cổ truyền chữa đượcnhiều loại bệnh Hiện tại có hàng nghìn con gấu bị buôn bán, nuôi nhốt phục

Trang 11

vụ cho khai thác mật Trong 2 năm gần đây (2000-2003) đã có 4 vụ buôn bán,vận chuyển hổ và các sản phẩm của hổ được lực lượng Kiểm lâm phát hiện.Rất nhiều vụ buôn bán bất hợ pháp ngà voi cũng đã được phát hiện.

Động vật được mang về nuôi nhốt làm cảnh, giải trí, làm siếc để thảomãn nhu cầu của con người

với số lượng lớn động vật bị nuôi nhốt , trong đó có nhiều loài quýhiếm là một trong những nguyên nhân quan trọng đe doạ đến các loài ĐVHD

3.3.Săn bắn trái phép

Săn bắt lấy thương phẩm, sưu tầm sinh vật hoang dã cũng là mộtnguyên nhân quan trọng dẫn đến nạn diệt chủng, săn bắn ĐVHD đã tồn tại từhàng nghìn năm về trước, nhưng trong những thập kỷ gần đây việc săn bắnđộng vật đã vượt quá ngưỡng bền vững Tốc độ tái tạo quần thể hoang dãkhông đủ so với việc săn bắn Trước đây, người dân địa phương thường sănbắn quanh năm, đặc biệt là mùa sinh sản, chính vì vậy nhiều con cái bị săn

Trang 12

bắn, khả năng tái tạo đàn giảm Do tác động từ nhu cầu động vật hoang dãtrên thị trường, đặc biệt là xuất khẩu, áp lực săn bắn ĐVHD tại các KBTTN

và VQG ngày một tăng, mặc dù Chính phủ đã có các biện pháp tăng cườngquản lý ĐVHD

Săn bắt trộm lấy sừng tê giác

4 Tình trạng thú và một số loài động vật quý hiếm ở Việt Nam

4.1 Khu hệ thú ở Việt Nam

Loài thú đã được phát hiện, có tới 78 loài và phân loài thú là đặc hữu(Lê Trọng Cúc, Trong hệ thống các khu bảo vệ vùng Đông Dương - Mã Laicủa IUCN, Việt Nam được xem như là nơi giàu thành phần loài và có mức độđặc hữu cao so với các nước trong vùng phụ Đông Dương Theo thống kê,hiện nay khu hệ thú ở Việt Nam bao gồm khoảng 300 loài (Viện Sinh thái vàTài nguyên sinh vật, 2003) Nhiều loài trong số này có tính đa dạng địaphương cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị khoa học và kinh tế Trong tổng số

300 loài thú đã được phát hiện, có tới 78 loài và phân loài thú là đặc hữu (LêTrọng Cúc 2002)

Chỉ tính riêng thú linh trưởng trong vùng phụ Đông Dương có 21 loàithì ở Việt Nam đã có tới 15 loài, trong đó có 7 loài và phân loài đặc hữu(Eudey, 1987) Hiện nay đã thống kê được 23 loài và phân loài, chiếm tới 38

% số loài khỉ hầu công bố ở Châu Á, trong đó có 2 loài và 5 phân loài đặc hữu

Trang 13

là: Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), hiện nay chỉ còn gặp ở NaHang (Tuyên Quang) và ở một số vùng lân cận.; Cu li nhỏ (Nycticebuspygmaeus) và các phân loài đặc hữu khác: Voọc đen má trắng(Trachypithecus francoisi francoisi); Voọc đầu trắng (Trachypithecusfrancoisi poliocephalus); Voọc gáy trắng (Trachypithecus francoisihatinhensis); Voọc mông trắng (Trachypithecus francoisi delacourii) và Chà

vá (Pygathix nemaeus)

Nhóm Thú móng guốc (Artiodactyla) có vai trò quan trọng trong tựnhiên và cả với đời sống con người Theo thống kê, ở Việt Nam cho đến naymới biết được 23 loài và phân loài thuộc 5 họ, trong đó có hai loài đã bị tuyệtchủng Một số đại diện quan trọng của nhóm này, là Bò xám (Bos sauveli),

Bò rừng (Bos banteng), Trâu rừng (Bubalus bubalis), Nai Cà toong (Cervuseldi),

Nhóm Thú ăn thịt (Carnivora) trong rừng nhiệt đới Việt Nam kháphong phú Cho đến nay đã phát hiện được 39 loài thuộc 24 giống, 6 họ trong

đó có tới 16 loài được xếp vào động vật rừng quý hiếm và đặc hữu Đại diệncho nhóm này là chó sói lửa, Gấu ngựa, Gấu chó, Hổ, Mèo rừng, Báo hoamai, Cầy vòi mốc, cầy vòi hương,

Nhiều loài thú có ý nghĩa lớn về bảo tồn như Voi, Tê giác, Bò rừng, Bòtót, Trâu rừng, Bò xám, Hổ, Báo, Hươu sao, Nai cà tông, Cu ly, Vượn, Voọc,Voọc đầu xám, Voọc quần đùi, Voọc mũi hếch,

Biển Việt Nam cho đến nay đã thống kê được 16 loài thú biển Thườnggặp là Cá voi xanh, Cá voi không răng, cá voi khoang và một số loài quýhiếm như Bò biển (Dugong dugong) Chúng là những loài có nguồn gốc từThái Bình Dương, xâm nhập vào biển Đông trong quá trình di cư tránh mùađông ở phương Bắc hoặc theo các dòng biển đi kiếm ăn; ngoài ra còn hay gặp

cá heo, cá ông sư, ở vùng cửa Ba Lạt (sông Hồng), vùng biển miền Trung,vùng cửa sông Cửu Long và vùng đảo Côn Sơn

Trang 14

4.2 Tiềm năng thú ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những nơi trên thế giới chưa được nghiên cứumột cách có hệ thống Chắc chắn còn nhiều loài vẫn chưa được phát hiện ởViệt Nam Chỉ tính riêng vài năm gần đây (từ năm 1992 đến năm 1997), cácnhà khoa học Việt Nam cùng phối hợp với WWF đã phát hiện thêm 3 loài thúlớn và 3 loài thú nhỏ: Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang lớn(Megamuntiacus vuquangensis) ở vùng Hà Tĩnh; ở Lâm Đồng; Mang Trườngsơn (Caninmutiacus truongsonensis) được phát hiện ở tây Quảng Nam, Mang

Pù Hoạt (Miền Tây Nghệ An), Cầy Tây Nguyên (Viverra taynguyenensis) ởvùng Tây Nguyên, )

Trong năm 2000, Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật đã phát hiệnmột quần thể của loài Rái cá lông trũi (Lutra sumatrana) ở khu bảo tồn UMinh Thượng (Kiên Giang), loài này tưởng như đã bị tuyệt chủng Bổ sungcho danh mục thú là loài Dơi quả (Spearias blanfordi) - loài mới được xácđịnh Trong năm 2001 - 2002 cũng đã phát hiện thêm phân loài Voọc chà váchân xám (Pygathrix nemaeus cinereus) tại Ba Tơ (Quảng Ngãi) Kết quảkhảo sát năm 1999 - 2000 tại vùng đất ngập nước và núi đá vôi Vân Long(Ninh Bình) đã phát hiện được quần thể Voọc mông trắng có khoảng 30 cáthể bao gồm cả con đực, con cái trưởng thành và con non Đây là quần thểVoọc mông trắng tự nhiên có số lượng đông nhất ở nước ta hiện nay

4.3.Tình trạng thú ở Việt Nam hiện nay

Do rất nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân khách quan từthiên nhiên và nguyên nhân chủ quan do con người gây ra, hiện nay khu hệthú đang gặp rất nhiều mối đe doạ và đang bị suy thoái nghiêm trọng

Trang 15

Bảng Tình trạng diễn biến số lượng một số loài thú quý hiếm, có giá trị về nhiều mặt ở

Trang 16

núi Các thông tin thu nhận được từ các thợ săn và các nhà khoa học cho thấyquần thể Hổ rất phong phú (Lê Hiền Hào, 1973), cho tới những năm 1973 số

Hổ bị giết hàng năm không dưới 300 con Hiện nay tình trạng Hổ ở Việt Namđang ở mức báo động cao Ước tính số lượng Hổ còn lại không quá 150 conđang sinh sống ở các khu rừng bị chia cắt và xuống cấp nghiêm trọng Theothống kê của Cục Kiểm lâm năm 2002, qua tổng hợp báo cáo từ các Chi cụcKiểm lâm trên toàn quốc, hiện nay hổ ở Việt Nam phân bố trong những sinhcảnh nhỏ hẹp, bị chia cắt Số lượng hổ còn lại khoảng 150 cá thể tại các tỉnhGia Lai, Kon Tum, Quảng Nam, Lai Châu, Quảng Trị, Quảng Bình

Voi Châu á

Voi Châu á (Elephas maximus), nằm trong nhóm I-B của nghị định 48/NĐ-CP và Phụ lục I CITES Là loài thú có vòi cỡ lớn, phân bố rộng ở 12nước Châu á là ấn Độ, Nê pan, Bangladesh, Myanma, miền Nam Trung Quốc,Thái Lan, Lào, Căm Pu Chia, Việt Nam, Malayxia, đảo Xumatra và Bocnêo

ở Việt Nam, trước đây voi có số lượng nhiều hơn và phân bố rộng ở nhiều nơitrong cả nước, hiện tại Voi chỉ tồn tại trong những quần thể nhỏ từ 3 - 5 cáthể, sống trong các sinh cảnh bị chia cắt tại các tỉnh Gia Lai, Đắc Lăk, VQGYok Đôn, Kon Tum, Quảng Nam, Hà Tĩnh, Bình Thuận, Đồng Nai Theođiều tra của Cục Kiểm lâm, số lượng voi sống trong tự nhiên hiện tại ở nước

Trang 17

ta không quá 150 cá thể Trong những năm gần đây (2000-2003), tình trạngxung đột voi và người diễn ra rất gay gắt tại các tỉnh Bình Thuận,

Quảng Nam Nguyên nhân của sự xung đột là do người dân địa phươngvào rừng thu hái lâm sản, sự xâm lấn rừng để lấy đất làm nông nghiệp đã dẫnđến nguồn thức ăn và vùng sống của voi ngày một thu hẹp Bên cạnh voirừng, đồng bào dân tộc Tây Nguyên từ lâu đã có truyền thống săn và thuầnhoá voi, hiện tại số lượng voi nhà còn khoảng 120 cá thể Voi nhà được dùngchủ yếu cho việc kéo gỗ và du lịch Cùng với chủ chương đóng cửa rừng củaChính phủ, hạn chế khai thác lâm sản, việc nuôi voi trở thành gánh nặng đốivới người dân địa phương

Sao la

Sao la (Pseudorys nghetinhensis), nằm trong Nghị định 48/NĐ-CP vàPhụ lục I CITES Là loài thú móng guốc mới được phát hiện ở Việt Nam vàonăm 1994, tại Vườn quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh Sao la chỉ phân bố ởLào và Việt Nam, trên độ cao từ 200 đến 700m thuộc vùng núi thấp của dảiTrường Sơn, kéo dài theo biên giới Việt - Lào từ Nghệ An đến Thừa ThiênHuế Sao La có trọng lượng khoảng trên dưới 100kg, với cặp sừng đen bóngdài từ 40 đến 50 cm gần như thẳng Lông của Sao la mềm và mượt có mầunâu xám, trên cổ và mặt có những đốm lông màu trắng nhạt Sao la ăn thựcvật, chúng có thể ăn nhiều loại lá rừng khác nhau đặc biệt là các cây họ ráy.Mới đây ở khu rừng đầu nguồn Sông Hương (huyện vùng cao A Lưới), người

Ngày đăng: 21/12/2014, 11:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w