thể sẽ phục hồi dần và sẽ góp phần làm cho sự phát triển kinh tế của các nước và các khu vực xích lại gần nhau.Theo các dự báo trên, trong 20 năm đầu của thế kỷ 21, kinh tế thế giới phục
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ THẾ GIỚI 2012 VÀ PHẢN ỨNG CHÍNH
SÁCH CỦA VIỆT NAM
Giảng viên: PSG.TS Tạ Kim Ngọc
Học viên: Hỏa Hạnh Nhân
Cao Thị Kim Dung
Phan Thị Hồng Trang
Hà nội, tháng 7 năm 2012
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT Từ viết
tắt
2 ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
mới nổi gồm Brasil, Nga (Russia),
Ấn Độ (Indian), Trung Quốc (China) và Nam Phi (South Africa)
Organization of the United Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
10 FED Federal Reserve System – Fed Cục dự trữ liên bang
triển.( Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật,
Mỹ, Canada)
13 ICOR Incremental Capital - Output Rate Hệ số sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư
tăng trưởng
14 ILO International Labor Organization Tổ chức Lao động Quốc tế
15 IMF The International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
16 NGOs Non-governmental organization các tổ chức phi chính phủ
Cooperation and Development.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
18 R & D Research &Development Nghiên cứu và phát triển
20 TNCs Trans National Corporations Các công ty xuyên quốc gia
Trang 421 UNEP United Nations Environment
Programme
Chương trình môi trường liên hợp quốc
Trang 5DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 2.1 Tăng trưởng GDP thế giới 2010 – 1011 và dự
báo 2012
2 Bảng 2.2 Tỷ lệ nợ quốc gia/ GDP của một số quốc gia EU
3 Bảng 2.3 Tăng trưởng thương mại thế giới năm 2010-2011
và dự báo năm 2012
4 Bảng 2.4 Chỉ số giá cả của một số hàng hóa quốc tế
5 Bảng 3.1 Tốc độ tăng trưởng bình quân năm của các yếu
tố tăng trưởng kinh tế, vốn, lao động và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) giai đoạn 1991 – 2010
DANH MỤC HÌNH
Trang 6STT Hình Tên hình Trang
1 Hình 1.1 Tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu 2000 - 2010
2 Hình 2.1 Biểu đồ tỷ lệ thất nghiệp ở một số nền kinh tế
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2011 đã qua đi, kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi nhưng không đồng đều giữa các quốc gia và khu vực Trong khi các quốc gia đang phát triển
và mới nổi tiếp tục đà phục hồi kinh tế mạnh mẽ, đóng vai trò là động lực tăng trưởng toàn cầu thì tại các nền kinh tế phát triển, tốc độ phục hồi vẫn khá chậm chạp Bên cạnh đó, kinh tế thế giới trải qua năm 2011 đầy sóng gió, với một loạt thách thức như khủng hoảng nợ công nghiêm trọng tại khu vực đồng tiền chung châu Âu, sức phục hồi "èo uột" của kinh tế Mỹ, đà tăng chậm lại của các nền kinh tế phát triển mới nổi, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát cao, tình hình bất ổn chính trị và thiên tai Những rủi ro đang ngày càng tăng lên cùng với những nguy cơ, thách thức mới phát sinh có thể làm chậm quá trình phục hồi của các quốc gia Năm 2012 tiếp tục là năm khó khăn đối với kinh tế thế giới Đó là đánh giá của nhiều chuyên gia trong bối cảnh các giải pháp được đưa ra để giải quyết cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu vẫn chưa đủ, tỷ lệ thất nghiệp tại các nền kinh
tế phát triển đứng ở mức cao, trong khi các nước đang phát triển và nhiều nước khác vẫn “đau đầu” với bài toán lạm phát Theo dự báo của các tổ chức quốc tế như IMF, WB thì trong năm 2012, các vấn đề như nguy cơ lạm phát gia tăng, cuộc khủng hoảng nợ công vẫn có khả năng diễn biến phức tạp, nhu cầu hàng hóa sụt giảm sẽ tiếp tục là những thách thức cản trở tốc độ phục hồi của các nền kinh tế thế giới
Trước tình hình bất ổn của nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam trong năm 2012 sẽ chịu tác động không nhỏ Nền kinh tế Việt Nam năm 2011 được ví như một chiếc xe đi trong điều kiện giông bão của nền kinh tế toàn cầu Tình hình nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu và những hệ luỵ của nó về chính trị và xã hội đã tạo ra một cuộc khủng hoảng niềm tin, đẩy thị trường tài chính thế giới vào cảnh rối loạn Cùng với đó, nền kinh tế Việt Nam năm 2011 gặp rất nhiều khó khăn một phần là kết quả của những chính sách những năm trước để lại và phản ứng chính sách trong năm 2011 trước những hệ quả đó Đứng trước những khó khăn trên, chính phủ Việt Nam đưa ra các chỉ
Trang 8đạo quyết liệt, kịp thời, linh hoạt, từng bước đưa nền kinh tế Việt Nam ra khỏi khủng hoảng, tiếp tục phát triển trong năm 2012 và những năm tiếp theo.
Trang 9Xuất phát từ đó nhóm 3 chọn chủ đề “Kinh tế thế giới 2012 và phản ứng chính sách của Việt Nam” cho chuyên đề của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là nêu lên các xu hướng kinh tế thế giới và phân tích phản ứng chính sách của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế thế giới 2012 và phản ứng chính sách của
Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam năm 2012.
Về thời gian: Tập trung phân tích kinh tế thế giới năm 2011 và 2012.
4 Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau đây:
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét tổng thể những vấn đề về xu hướng chủ yếu của nền kinh tế thế giới
Phương pháp phân tích tổng hợp giúp cho việc tổng hợp và phân tích nền kinh tế thế giới năm 2012 và phản ứng chính sách của Việt Nam
Phương pháp thống kê học để xử lý số liệu
5 Kết cấu của chuyên đề
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề được kết cấu thành ba chương:
Chương 1 Lý luận chung về kinh tế thế giới
Chương 2 Tổng quan chung về kinh tế thế giới 2012
Chương 3 Phản ứng chính sách của Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ THẾ GIỚI
1.1 Khái niệm kinh tế thế giới và kết cấu của nó.
Kinh tế thế giới là tổng hòa các nền kinh tế các quốc gia và quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau
Các nền kinh tế dân tộc quốc gia tham gia hoạt động kinh tế quốc tế là những bộ phận của kinh tế thế giới Trên thế giới có khoảng trên 220 quốc gia
và vùng lãnh thổ được coi là nền kinh tế quốc gia Mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế trong đó đã tạo nên sự liên kết các nền kinh tế quốc gia vào thể thống nhất của nền kinh tế thế giới
Nền kinh tế thế giới dưới góc độ hệ thống gồm hai bộ phận cơ bản là các chủ thể kinh tế thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế
Các chủ thể của kinh tế thế giới gồm các nền kinh tế quốc gia độc lập trên thế giới (kể cả vùng lãnh thổ); các tổ chức kinh tế quốc tế (WTO, WB, IMF…); các tổ chức kinh tế khu vực (EU, AFTA, ASEAN,…); các công ty xuyên quốc gia (TNCs); các tổ chức phi chính phủ (NGOs)
Các quan hệ kinh tế thế giới là quan hệ về mặt kinh tế giữa các nước, các nền kinh tế với nhau bao gồm quan hệ về thương mại, tài chính – tiền tệ, phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ…
Kinh tế thế giới không phải là phép cộng số học đơn giản các nền kinh tế quốc gia lại với nhau mà là tổng hòa các quan hệ kinh tế lẫn nhau giữa các quốc gia
Kết cấu của nền Kinh tế thế giới (KTTG) hiện nay phổ biến được nhìn dưới góc độ trình độ phát triển bao gồm các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển Dân số thế giới hiện nay khoảng 7 tỷ người; GDP của toàn thế giới khoảng 60.000 tỷ USD Trong đó, các nước phát triển chiếm khoảng 14,2% dân số thế giới nhưng chiếm 72 % GDP của thế giới
1.2 Những xu hướng chủ yếu trong phát triển kinh tế thế giới
1.2.1 Xu hướng phục hồi tăng trưởng kinh tế thế giới
Các cơ quan nghiên cứu kinh tế trên toàn thế giới như IMF, WB và OEDC… đều đưa ra những dự báo khá lạc quan về sự phát triển cảu kinh tế thế giới trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21 Các dự báo đều thống nhất nhận định rằng trong hai thập kỷ đầu thế kỷ 21, từ 2001 đến 2020, kinh tế thế giới có
Trang 11thể sẽ phục hồi dần và sẽ góp phần làm cho sự phát triển kinh tế của các nước và các khu vực xích lại gần nhau.
Theo các dự báo trên, trong 20 năm đầu của thế kỷ 21, kinh tế thế giới phục hồi chậm với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của toàn nền kinh tế khoảng 3,1%-3,3%
Trong 10 năm 2001 – 2010, giá trị tổng sản phẩm quốc gia (GDP) của toàn thế giới tính theo giá thực tế ước tính đạt 463,675.35 tỷ USD, gấp 1.63 lần tổng GDP giai đoạn 1991 – 2000 Tốc độ tăng trưởng trung bình ước tính của cả giai đoạn này là 3.2%/năm (so với 3.1%/năm trong giai đoạn 10 năm 1991-2000)
Hình 1.1 Tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu 2000 - 2010
Nguồn: IMF World Economic Outlook, October 2010
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ nửa cuối năm 2008 kéo dài sang năm 2009 lan rộng trên toàn thế giới đã khiến GDP toàn cầu năm 2009 giảm 5.826 tỷ USD so với năm 2008 (đây là lần đầu tiên GDP toàn cầu tăng trưởng
âm trong vòng 20 năm trở lại đây), kéo tốc độ phát triển trung bình của toàn giai đoạn đi xuống, từ 4,04%/năm cho giai đoạn 2001 đến 2007, xuống còn 3,2% cho cả giai đoạn 2001-2010 Trong năm 2010, ước tính kinh tế thế giới đã bước đầu phục hồi với tốc độ tăng trưởng là 4,8% tuy nhiên tốc độ tăng trưởng này được dự báo sẽ giảm xuống 4,2% trong năm 2011 và tăng trở lại vào năm 2012 (IMF)
Tốc độ tăng trưởng GDP trong thời kỳ này có biên độ biến động rộng hơn hẳn so với thời kỳ trước Mặc dù đạt những mốc tăng trưởng cao như 5,2% vào
Trang 12năm 2007, kinh tế thế giới cũng có những đợt giảm sâu từ 4,7% năm 2000 giảm xuống 2,2% năm 2001 (giảm 2,5%) hay từ 5,2% năm 2007 giảm xuống 3,2% năm 2008 (giảm 2%) và -1,3% năm 2009 (giảm 4,5%), trong khi mức giảm sâu nhất của giai đoạn 1990- 2000 chỉ là 1,5% ( từ 4% năm 1997 xuống 2,5% năm 1998) Biên độ biến động rộng của tốc độ tăng trưởng cho thấy cùng với quá trình phát triển nhanh, có nhiều nhân tố rủi ro tiềm ẩn, cùng kinh tế thế giới ngày càng trở nên khó dự báo và kiểm soát
Cơ cấu GDP từ nhóm các nước phát triển và các nước đang phát triển có
sự thay đổi rõ rệt Nhóm các nước đang phát triển chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng GDP của thế giới, đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định
ở mức trên 6% trong suốt thời kỳ từ 2003 đến 2008, và là động lực để kiềm chế
độ suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới trong thời kỳ suy thoái 2008 –
2009 Tuy vậy, nhóm nước phát triển vẫn chiếm trên 70% giá trị GDP của toàn thế giới Trong đó Hoa Kỳ là nước có tỷ trọng GDP luôn ở mức đứng đầu, đạt 14441.42 tỷ USD năm 2008 (trước khi rơi xuống đáy suy thoái vào năm 2009), chiếm 23.79% tổng GDP của thế giới, gấp 2.94 lần GDP của Nhật Bản (nước đứng thứ 2) và 3.33 lần GDP của Trung Quốc (nước đứng thứ 3) Tuy nhiên tỷ trọng của GDP của Hoa Kỳ trong tổng GDP của toàn thế giới đã giảm từ 32.44% năm 2001 xuống chỉ còn 23.79% năm 2008
Tuy nhiên, do những điều kiện đặc thù về mặt địa lý, kinh tế và chính trị của mỗi quốc gia khác nhau nên sự phát triển kinh tế của các quốc gia, khu vực cũng rất khác nhau Các nước đang phát triển sẽ đạt tốc độ tăng trưởng GDP từ 4,5% đến 5%, cao hơn so với các nước phát triển
1.2.2 Xu hướng biến đổi kết cấu kinh tế thế giới
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay được đẩy mạnh trên quy
mô chưa từng có trong lịch sử Cách mạng khoa học công nghệ cao mới liên tiếp thu được tiến bộ, có những đột phá trong lĩnh vực tin học, sinh học, vũ trụ, năng lượng…Các nhân tố dẫn đến sự biến đổi kết cấu nền KTTG trong đó đặc biệt là
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và trở thành lực lượng sản xuất trong đó hơn 60% tăng trưởng nền kinh tế là do năng suất lao động và khoa học công nghệ quyết định
Trang 13Trên cơ sở những thành tựu của cuộc cánh mạng khoa học công nghệ cao
và sự biến đổi của cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu kinh tế thế giới có sự thay đổi lơn theo hướng:
- Thứ nhất, tỷ trọng giữa ba ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng của các ngành dịch vụ, giảm dần tỷ trọng của các ngành nông nghiệp và công nghiệp trong tổng sản phẩm trong nước
- Thứ hai, cơ cấu từng ngành thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng của các ngành công nghệ cao, tiêu hao ít nguyên liệu và giảm tỷ trọng của các ngành tiêu hao nhiều năng lượng
- Thứ ba, thay đổi trong trong chế độ quản lý doanh nghiệp theo hướng làm cho các doanh nghiệp gọn nhẹ và linh hoạt hơn
- Thứ tư, cơ cấu lao động biến đổi theo hướng tăng tỷ trọng của công nhân
cổ trắng và giảm dần tỷ trọng của công nhân cổ xanh Trước kia, công nhân được chia thành “công nhân cổ xanh” lao động bằng chân tay và “công nhân cổ trắng” làm việc trong văn phòng Trong các thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, tỷ
lệ công nhân cổ xanh không ngừng giảm xuống và tỷ lệ công nhân cổ trắng không ngừng tăng lên Cơ cấu lao động thay đổi theo hướng tiến bộ, các yếu tố tái sản xuất sức lao động đã ngày càng đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của quá trình sản xuất xã hội
1.2.3 Xu hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, giá cả
và sản lượng của nền kinh tế do cung cầu trên thị trường quyết định và giảm bớt vai trò điều tiết của nhà nước trong nền kinh tế
Hai thập kỷ đầu thế kỷ 21 là thời kỳ thể chế kinh tế thế giới biển đổi lớn, biểu hiện chủ yếu trên 3 mặt
- Các nước phát triển chuyển sang nền kinh tế tri thức Kinh tế tri thức là nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin Những thay đổi đó được thể hiện cả trên thể chế kinh tế vĩ mô và thể chế kinh tế vi mô
- Các nước đang phát triển chuyển sang nền kinh tế thị trường
Trang 14- Phần lớn các nước chuyển đổi chuyển sang nền kinh tế thị trường Trung quốc đã cơ bản thiết lập được nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, song chưa hoàn thiện.
Như vậy có thể thấy kinh tế tri thức là nền kinh tế được sinh ra và phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường, dẫn đến sự thay đổi trong thể chế kinh tế truyền thống Thể chế kinh tế thị trường mở ra đang và sẽ là xu hướng nỏi bật,
có tính toàn cầu và có tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới Những tác động đó bao gồm:
- Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế của các nền kinh tế
- Mở rộng thị trường quốc gia và thị trường khu vực
- Tăng kim ngạch xuất nhập khẩu
- Thu hút đầu tư nước ngoài
- Khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế
- Tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm
- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Những tác động trên cho thấy một nền kinh tế thị trường toàn cầu sẽ hình thành và phát triển trong tương lai Nền kinh tế thị trường này sẽ dựa trên một nền công nghệ toàn cầu với các xa lộ thông tin, liên lạc vận tải toàn cầu, các thể chế kinh tế toàn cầu
1.2.4 Xu hướng toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng nổi trội và do đó đã trở thành môi trường của các cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước trên phạm vi toàn thế giới Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau càng cao giữa các quốc gia và khu vực Trên thế giới có ba quan điểm toàn cầu hóa bao gồm:
- Toàn cầu hóa đã có từ lâu trong lịch sử, đó là sự tác động của lực lượng sản xuất phát triển làm gia tăng quan hệ giữa các nước, toàn cầu hóa có nghĩa là thế giới hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn cầu hóa trên các khía cạnh khác
- Toàn cầu hóa xuất hiện những năm gần đây sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường quốc trên thế giới và đã bành trướng thế lực, chính sách cảu Mỹ trên trường quốc tế Theo quan điểm này, toàn cầu hóa chính là quá trình Mỹ hóa
- Toàn cầu hóa kinh tế có nguồn gốc từ quốc tế hóa kinh tế, theo đó toàn cầu hóa kinh tế là đỉnh cao của quốc tế hóa đời sống kinh tế quốc tế đỏi hỏi phải
Trang 15đưa vào lưu thông quốc tế, các yếu tố của quá trình tái sản xuất vốn, lao động, dịch vụ.
Thực chất của toàn cầu hóa kinh tế là quốc tế hóa kinh tế và phân công lao động quốc tế
Toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan Trong hơn một thập kỷ lại đây xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới có sự gia tăng mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ, xu hướng chuyển sang kinh tế thị trường, vai trò quan trọng của các công ty xuyên quốc gia, sự chấm dứt chiến tranh lạnh, thế giới chuyển sang thời kỳ mới – hoà bình hợp tác và phát triển Sự gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá kinh tế kéo theo nó là những cơ hội và thách thức mới cho các quốc gia khi tham gia vào quá trình đó
Trong mười năm đầu của thế kỷ 21, kinh tế thế giới đã chứng kiến tốc độ toàn cầu hóa sâu rộng và nhanh chóng Sự hình thành các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, các khu vực mậu dịch tự do, các hiệp định song phương và đa phương đã xóa bỏ các rào cản thương mại, rào cản sản xuất và rào cản về vốn, tăng khả năng tiếp cận dễ dàng với các nguồn lực trên thế giới và gia tăng dòng chảy quốc tế về vốn, hàng hóa và dịch vụ Toàn cầu hóa đã thúc đẩy thương mại quốc tế tăng trưởng mạnh mẽ cả về quy mô và tốc độ Đầu thế kỷ 20, tổng kinh ngạch thương mại thế giới chỉ đạt 20 tỷ USD đến năm 2008 tổng kim ngạch thương mại quốc tế đạt gần 40 nghìn tỷ USD Tốc độ tăng trưởng của thương mại thế giới lớn hơn 2,5 lần so với tốc độ tăng trưởng của kinh tế thế giới dòng vốn lưu chuyển nhanh và dễ dàng giữa các quốc gia, các khu vực kinh tế (FDI toàn cầu năm 2000 là 1400 tỷ USD, và năm 2007 là 1538 tỷ USD) là điều kiện
cơ sở để nhiều quốc gia đặc biệt là những nước đang phát triển có cơ hội tận dụng nguồn vốn từ bên ngoài để tạo nên những bước đột phá về kinh tế xã hội
Trong quá trình phát triển đó, dịch vụ tài chính là khu vực phát triển sau nhưng có tốc độ toàn cầu hóa nhanh nhất và hoàn thiện nhất Các thị trường tài chính chuyển dịch nhanh chóng được hỗ trợ đắc lực từ công nghệ tiến bộ với tốc
độ cao khiến cho giao dịch tài chính vượt khỏi biên giới quốc gia và làm cho
Trang 16hoạt động đầu tư quốc tế trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết Các quy định hạn chế của chính phủ đã được dỡ bỏ tại hầu hết các trung tâm tài chính lớn và người nước ngoài được khuyến khích đầu tư Điều này đã tạo ra một bức tranh toàn cảnh năng động với hàng loạt cơ hội đầu tư
1.2.5 Xu hướng hội nhập và liên kết kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự tham gia vào phân công lao động quốc tế,
là sự gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, với các định chế tại chính quốc tế, trong đó các nước cùng nhau thực hiện dưới các quy định chung trong quá trình hợp tác giữa các nước với nhau
Thực chất của hội nhập kinh tế quốc tế là việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia với nhau trong quan hệ kinh tế quốc tế, xóa bỏ các rào cản trong thương mại quốc tế bao gồm rào cản thuế quan và phi thuế quan Mục đích của hội nhập kinh tế quốc tế là tự do hóa thương mại, đầu tư, mở cửa thị trường
và phát triển kinh tế
Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển
Rõ ràng, hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn và một đặc trưng quan trọng của thế giới hiện nay Xu thế này chi phối toàn bộ quan hệ quốc tế và làm thay đổi to lớn cấu trúc của hệ thống thế giới cũng như bản thân các chủ thể
và mối quan hệ giữa chúng
1.2.6 Tăng trưởng kinh tế xanh
Kinh tế xanh không chỉ là sự lồng ghép vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế, mà nó đã được hiểu sâu rộng hơn, đề cao đến cả phát triển cân bằng, hài hòa giữa các mục tiêu Ngày nay nó đã được coi là một mô hình phát triển mới, được nhiều nước ủng hộ và hướng tới Theo chương trình Môi trường của Liên
hợp quốc (UNEP), nền kinh tế xanh là “nền kinh tế nâng cao đời sống con
Trang 17người và cải tạo công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái”
Theo OECD “Tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng trường và phát triển
kinh tế đồng thời nhằm đảm bảo các nguồn tài sản tự nhiên, tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống của chúng ta Để thực hiện điều này, tăng trưởng xanh phải là nhân tố xúc tác trong việc đầu tư
và đổi mới, là cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững và tạo ra các cơ hội kinh tế mới”
Kinh tế xanh ngày nay là mô hình mục tiêu của các nước, theo nhóm nghiên cứu của nhóm chuyên gia của UNEP thì quá trình xanh hóa không những tạo thêm của cải, đặc biệt đối với vốn tự nhiên, mà còn gia tăng tốc độ tăng trưởng GDP Nền kinh tế xanh còn là trụ cột để giảm nghèo Trong thời kỳ quá
độ sang nền kinh tế xanh, những việc làm mới sẽ được tạo ra thay thế việc làm
bị mất di do chuyển đổi từ nền kinh tế “nâu” sang “xanh” Kinh tế xanh được chứng minh rằng có hiệu quả dài hạn hơn hẳn kinh tế nâu, đồng thời duy trì và phục hồi vốn tự nhiên Nếu có ý thức phát triển kinh tế xanh sớm sẽ rút ngắn được quá trình phát triển, nhanh chóng tiến tới xã hội thịnh vượng, bền vững
1.2.7 Những vấn đề kinh tế toàn cầu đang ngày càng gia tăng
Mặc dù sự phát triển của kinh tế thế giới trong những thập kỷ đầu của thế
kỷ 21 được dự báo khá lạc quan, kinh tế thế giới phát triển theo chiều hướng phục hồi tăng trưởng, song không phải là không có những vấn đề tồn tại trong nền kinh tế thế giới Những vấn đề đó bao gồm an ninh lương thực, an ninh thế giới, cạn kiệt tài nguyên, tác động của hiệu ứng nhà kính, chủ nghĩa khủng bố, tội phạm ma túy hoạt động kinh tế ngầm
Các vấn đề mang tính toàn cầu liên tục tăng lên, tầm quan trọng của một
số chủ đề cũng sẽ tăng lên 10 năm qua thế giới đã xuất hiện một loạt vấn đề lớn mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, cải cách hệ thống tài chính quốc tế, an ninh hạt nhân và ngăn ngừa phổ biến vũ khí hạt nhân, chủ nghĩa bảo hộ thương mại v.v… Cộng đồng quốc tế cho rằng 10 năm tới do ảnh hưởng bởi việc toàn cầu hóa tiếp tục đi sâu phát triển và cục diện quốc tế thay đổi, các vấn đề toàn cầu sẽ không ngừng tăng lên, các lực lượng quốc tế sẽ được tổ chức lại xoay
Trang 18quanh các vấn đề mang tính toàn cầu, sẽ có sự sắp xếp mang tính cơ chế tương ứng trong hệ thống quốc tế.
Trong các chủ đề toàn cầu, vấn đề nguồn tài nguyên sẽ càng nổi rõ hơn, canh bạc giữa các bên xoay quanh nguồn tài nguyên sẽ vẫn tiếp tục diễn ra Trong sự thay đổỉ của cục diện quốc tế trong tương lai, do sự tranh giành giữa các cường quốc truyền thống và cường quốc mới nổi đối với quyền lực ngày càng gay gắt, một số chủ đề gây kiềm chế đối với các nước mới nổi sẽ tăng lên,
ví dụ một số chuyên gia cho rằng vấn đề tỉ giá tiền tệ có khả năng trở thành chủ
đề toàn cầu quan trọng nhất trong tương lai, và vấn đề này chủ yếu là nhằm vào vấn đề nâng giá đồng nhân dân tệ Bên cạnh đó, nhóm các vấn đề được hình thành xoay quanh các chủ đề khác nhau sẽ trở thành hiện tượng quan trọng trong các mối quan hệ quốc tế
Trang 19CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ THẾ GIỚI 2012
2.1 Đà phục hồi kinh tế chững lại, tăng trưởng đồng loạt giảm sút
Sau một vài dấu hiệu khả quan vào đầu năm, kinh tế thế giới đã nhanh chóng tụt dốc với rủi ro và khó khăn ngày càng chồng chất Tính đến thời điểm này, các tổ chức quốc tế đã liên tục điều chỉnh dự báo về tăng trưởng kinh tế toàn cầu theo hướng thấp hơn
Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới 24/1/201211 của quỹ tiền tệ quốc tế IMF cho rằng sự phục hồi kinh tế toàn cầu đã chững lại kể từ khi nó nhen nhóm
Chính sách tiền tệ đang trở nên rủi ro hơn do khu vực tài chính yếu kém, nỗi lo lắng về nợ công khiến cho các chính phủ phải tiến hành các chính sách tài khóa thắt chặt, làm tổng ầu trong mức tiêu dùng của người dân sa sút khi nạn thất nghiệp tăng
Bảng 2.1 Tăng trưởng GDP thế giới 2010 – 1011 và dự báo 2012
Quỹ tiền tệ quốc tế Ngân hàng thế giới
Trang 20WB,2012: Global Economic Prospect, Uncertainties anh Vulnerabilitíe, Volum
4, January 2012, Washing ton,D.C, January 2012
Bảng số liệu đã cho ta một số nhận định rõ nét như sau:
Kinh tế Hoa Kỳ đạt tăng trưởng là 1,8% so với mức 3% năm 2010, nguy
cơ nền kinh tế Hoa Kỳ đã lên cao vào quý III năm 2011 với một loạt dấu hiệu rối loạn trên thị trường : tài chính, nợ công cáo, tỷ lệ thất nghiệm không giảm, tiêu dùng và đầu tư sản xuất giảm, khiến thị trường nhà cũng chững lại Nếu suy thoái kép xẩy ra, những nền kinh tế nhỏ và mới nổi ở châu Á và các nước láng gièng có mối quan hệ thương mại sâu rộng với Hoa Kỳ sẽ bị tác động mạnh
Nhật Bản do sự tác động của động đất, sóng thần và cuộc khủng hoảng phóng xạ hạt nhân với ước tính thiệt hại vào khoảng 16.900 tỷ yên (210 tỷ USD) – chưa bao gồm thiệt hại do sự cố tại nhà máy điện hạt nhân FukushimaI đã khiến cho hoạt động kinh tế Nhật bị chững lại trong hơn 3 tháng – và đạt tỷ lệ tăng trưởng trung bình năm âm (-0.9%)
Kinh tế Liên minh châu Âu EU đã khởi sắc vào quý I/2011 nhưng càng về cuối năm, càng giảm sút, khiến tỷ lệ trung bình năm chỉ có 1,5%
Chi tiết trong các nền kinh tế đầu tầu thì chỉ có Đức giữ mức tăng trưởng cao: 3%, còn lại Anh, Pháp, Italia, Tây Ban Nha tăng trưởng lần lượt 0,9%; 1,6%; 0,4% và 0,7% (nguồn IMF đã dẫn)
Các khu vực khác trên thế giới: đã bắt đầu xuất hiện giảm tốc tăng trưởng tren khắp các nền kinh tế đang phát triển: từ Mỹ Latin cho đến Đông Âu, Trung Đông, Nam Á và Đông Á
Đầu tiên, đây là do chính sách vĩ mô thắt chắt nhằm chống lạm phát và bong bóng tài sản được kích hoạt thêm bởi luồng vốn bên ngoài và tăng giá hàng hóa thế giới, xuất khẩu sang các nền kinh tế giảm, giá cả các mặt hàng cơ bản cũng giảm theo, các luồng vốn đột ngột rút đi
Trong số các nền kinh tế mới nổi thuộc nhóm BRICs (Brasil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc) – chỉ có Nga vẫn giữ đà tăng nhẹ từ 4% lên 4,1%, còn lại đều giảm tốc Trung Quốc giảm từ 9,2% xuống 7,4% (2011)
Tăng trưởng của nhóm các nền kinh tế công nghiệp mới nổi châu Á giảm còn một nửa, từ 8,4% xuống còn 4,2 % trong năm 2011 và dự kiến là 3,3% trong