Thực hiện tốt công tác Dân số- Kế hoạch hóa gia đình là giảipháp cơ bản nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình vàtoàn xã hội.Với ý nghĩa đó, công tác Dân số-Kế hoạch
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân số là một vấn đề mang tính toàn cầu, là mối quan tâm của nhiềuQuốc gia trên thế giới và là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững củamột đất nước Thực hiện tốt công tác Dân số- Kế hoạch hóa gia đình là giảipháp cơ bản nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình vàtoàn xã hội.Với ý nghĩa đó, công tác Dân số-Kế hoạch hoá gia đình luôn đượcxác định là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển các quốc gia
Tại Việt Nam, trong những năm qua công tác dân số và chăm sóc sứckhỏe sinh sản ở Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực Việt Nam đang
là quốc gia có cơ cấu dân số vàng, hiện nay đứng thứ 14 trong số các nướcđông dân nhất thế giới thứ 8 châu Á và thứ 3 khu vực Đông Nam Á ( Báo cáocủa bộ y tế năm 2013) Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, ViệtNam vẫn đứng trước những nguy cơ gia tăng dân số nhanh trở lại với xuhướng tăng tỉ lệ sinh trong vòng 2 năm trở lại đây Trong đó, tỷ lệ sinh conthứ 3 tăng bất thường
Nhằm quan tâm toàn diện công tác Dân số- Kế hoạch hóa gia đình,trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương,chính sách, luật pháp, và chiến lược về dân số Đảng ta đã khẳng định tạiNghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá VII) rằng công tác dân số – Kếhoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đấtnước, là một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu của đất nước ta làyếu tố cơ bản, để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng từng gia đình vàcủa toàn xã hội Mục tiêu của dân số là thực hiện gia đình 2 con khỏe mạnhtiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lí phù hợp với điều kiện từng nơi,từng địa phương nhằm giúp người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc nâng
Trang 2bền vững của nền kinh tế Bộ Y Tế đã đưa ra mục tiêu dân số và sức khỏesinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 là phấn đấu tốc độ tăng dân số ở vàonăm mức khoảng 1% vào năm 2015 và ổn định ở mức 1% vào năm 2020.
Trong những năm qua công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tại xãYên Hoá, huyện Minh Hóa của tỉnh Quảng Bình được thực hiện khá tốt Tuynhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn đó là mô hình 2 con khógiữ, kết quả giảm sinh tại xã Yên Hóa chưa thực sự vững chắc Điều này cóthể ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương Vì lẽ đó, trong đợt thực tập tốt nghiệp vừa qua, tôi đã
chọn đề tài “Đánh giá tình hình sinh con thứ 3 trở lên tại xã Yên Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay” làm báo cáo
tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
- “Vấn đề giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trên địa bàn huyện Yên
Thành trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị Kim Oanh đã trình bày
được thực trạng và đưa ra dược những giải pháp giảm thiểu tuy nhiên chưaphân tích rõ được những nguyên nhân do đâu mà tình trạng sinh con thứ 3tăng cao tại địa bàn huyện Yên Thành
Đề tài “Vấn đề sinh con thứ 3 trở lên: thực trạng, nguyên nhân, hậu
quả, giải pháp” của Hoàng Công Mú đã tìm hiểu thực trạng sinh con thứ 3 trở
lên trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuy nhiên, đề tài này chưathật sự đi sâu phân tích thực trạng vấn đề mà tập trung vào phân tích nhũngnguyên nhân ảnh hưởng và giải pháp hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 trở lêntại địa bàn nghiên cứu
Dựa trên những đề tài đã từng nghiên cứu trước đó, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Đánh giá tình hình sinh con thứ 3 trở lên tại xã Yên Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay” nhằm đi
sâu nghiên cứu thực trạng sinh con thứ 3 trở lên tại địa bàn xã Yên Hóa và
Trang 3phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng tới tình trạng này Từ đó đưa ra cácgiải pháp hạn chế tình hình sinh con thứ 3 trở lên tại địa bàn.
3 Đóng góp của báo cáo
Những thông tin từ quá trình nghiên cứu là cơ sở cần thiết, căn bản để
Từ đó đưa ra những giải pháp can thiệp, giúp đỡ hữu hiệu, phù hợp nhất vớitình hình thực tế tại địa phương, nhằm kiểm soát được tỷ xuất sinh và hạn chếđược tình hình sinh con thứ 3trở lên tăng cao trên địa bàn xã Yên Hóa Đợtthực tế cũng là cơ hội để tôi áp dụng những kiến thức được học thời gian quavào thực tiễn cuộc sống Từ đó sẽ giúp tôi có cái nhìn đúng hơn về cuộc sống.Đồng thời giúp tôi có những kinh nghiệm tốt hơn trong các nghiên cứu sau vànhất là trong quá trình công tác sau này
4 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 46 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên
Chính sách Kế hoạch hóa gia đình
6.2 Khách thể
Hộ gia đình sinh con thứ 3 trở lên
Ủy ban Nhân dân xã
Trạm y tế xã
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Báo cáo sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu tìm hiểu
đề tài “Đánh giá tình hình sinh con thứ 3trở lên tại xã Yên Hóa, huyện MinhHóa, tỉnh Quảng Bình” Chủ nghĩa duy vật biện chứng giải thích các hiệntượng và quá trình xác định trong mối quan hệ qua lại và sự vận động và biếnđổi không ngừng Chủ nghĩa duy vật lịch sử là sự mở rộng những nguyên lýcủa chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu chính sách xã hội, sự
áp dụng những nguyên lý đó vào việc nghiên cứu xã hội cũng như nghiên cứunhững hình thức sinh hoạt xã hội
Cho nên khi nhìn nhận và đánh giá thực trạng vấn đề sinh con thứ 3trởlên ta cần xem xét nó trong mối quan hệ tương tác với các quá trình xã hộikhác phải tìm ra nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó, vềkinh tế, xã hội, văn hóa, phong tục
Trang 57.2 Phương pháp thu thập thông tin
7.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp được sử dụng ở đề tài này nhằmtiến hành thu thập thông tin về một số chính sách của Đảng và Nhà nước vềcông tác DS-KHHGĐ
- Báo cáo tổng kết công tác DS-KHHGĐ năm 2012-2013 Đề án xâydựng nông thôn mới của xã giai đoạn 2010-2020 tại xã Yên Hóa
-Một số tài liệu tập huấn về công tác DS- KHHGĐ cho chuyên tráchxã
- pháp lệnh dân số
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Phương pháp phỏng vấn sau được áp dụng ở đề tài này nhằm đi sâu tìmhiểu những suy nghĩ, vấn đề của những gia đình sinh con thứ 3 trở lên Tôi đãtiến hành phỏng vấn 3 người trong đó có một phụ nữ thuộc diện gia đìnhđông con, 1 phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên và một người chồng thuộc hộ giađình sinh con một bề là gái để tìm hiểu được nguyên nhân của tình hình sinhcon thứ 3 và những ảnh hưởng của thực trạng đó đối với cuộc sống của họ
7.2.3 Phương pháp quan sát
Quan sát được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu khoa học hoặc tiếnhành nghiên cứu một vấn đề cụ thể Phương pháp quan sát là việc sử dụng trithức các ghi chép thông tin để làm căn cứ cung cấp tài liệu cho người tiếnhành quan sát Phương pháp quan sát được thực hiện ở đề tài này nhằm ghichép lại những thông tin quan sát được về đặc điểm tự nhiên, hoàn cảnh giađình của những hộ gia đình sinh con thứ 3 trở lên để thấy được đối với những
hộ gia đình sinh con thứ 3 trở lên điều kiện kinh tế của gia đình họ như thếnào
Trang 6- Chương 2 : Công tác dân sồ kế hoạch hóa gia đình tại địa bàn xã
Yên Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình
- Chương 3 : Một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng sinh con thứ 3
trở lên tại địa phương
Trang 7B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC
KHÁI NIỆM LIÊN QUAN.
1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lí và địa hình
+ Vị trí địa lí
Xã Yên Hoá là xã núi rẻo cao nằm ở phía Bắc của huyện Minh Hoá,cách trung tâm huyện 2km Xã có đường quốc lộ 12C chạy qua trung tâm.Toàn xã có 8 thôn
Xã Yên Hoá có diện tích tự nhiên 3 490, 23 ha
Phía Đông giáp xã Minh Hoá
Phía Tây giáp xã Xuân Hoá
Phía Nam: Giáp thị trấn Quuy Đạt
Phía Bắc: Giáp xã Hồng Hoá
+ Địa hình: Xã Yên Hoá có địa hình tương đối phức tạp, độ cao lớnnhất là 650m, ba phía của xã được bao quanh bởi các dãy núi trung bình vàcao, vùng phía Tây và Tây Nam là vùng đất thấp, nơi sản xuất nông nghiệp vàtập trung dân cư, xen lẫn ở giữa có núi đá vôi tạo nên tính đa dạng và phứctạp của địa hình
1.1.1.2 Tình hình thời tiết khí hậu.
Xã Yên Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt của tỉnh Quảng Bình, khíhậu phân thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa nắng Mùa đông ít lạnh hơnBắc bộ nhưng lại nhiều mưa Mùa hè xuất hiện gió phơn Tây Nam khô nóng,gây ra hạn hán kéo dài hang tháng Nói chung khí hậu của vùng khắc nghiệt,nhiều biến động nhất so với các vùng khác Nhiệt độ trung bình cao nhất
Trang 8hang năm 1.000- 4.000 mm Nhìn chung khí hậu và thời tiết của xã tương đốithuận lợi cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi.
1.2 Điều kiện kinh tế
- Tổng diện tích đất tự nhiên là: 3.490,23 ha ( 2.213, 65 ha chi đất nôngnghiệp, chiếm 63, 42% trong đó: 1.667,04 ha đất lâm nghiệp, 130,8 ha đấttrồng cây lâu năm, 110.62 ha đất trồng lúa, 290.69 ha đất trồng cây hằng nămkhác, 10 ha đất trồng cỏ chăn nuôi Đất nuôi trồng thuỷ sản 4, 5 ha Đất phinông nghiệp 150, 65 ha Đất chưa sử dụng 1.125,93 ha
- Cơ cấu kinh tế: tổng số lao động 2181 người Lao động nông nghiệp:1.182 người chiếm 54, 19%; lao động tiểu thủ công nghiệp: 523 người chiếm24%; lao động dịch vụ, thương mại: 476 người chiếm 22% (chủ yếu là nhữngngười hưởng lương)
- Mức thu nhập bình quân đầu người đạt 1.100.000 đồng/người/tháng
Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới còn 146 hộ chiếm 13,66%
- Về sản xuất chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, diện tích gieo trồnghàng năm 2 vụ là 201,19 ha Chăn nuôi toàn xã có 06 trang trại và có cáctrang trại chăn nuôi nhỏ lẻ
Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ thương mại thìtoàn xã co 1 doanh nghiệp thu hút 56 lao động Với mức lương thu nhập từ1.500.000 đến 3.000.000 đồng/tháng Có 8 điểm kinh doanh dịch vụ ăn uống
có 2cơ sở kinh doanh và sản xuất hàng mộc mỹ nghệ, 01 tổ hợp tác khai thácvận tải đá cát sạn với tổng lao động 124 người
Nhìn chung hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã còn chưa
mở rộng, mang tính nhỏ lẻ, thiếu chủ động, nguồn vốn ít cho nên thu nhậpvẫn còn ít và không ổn định
1.1.3 Điều kiện văn hóa – xã hội
- Hệ thống trường học được đầu tư, có 03 trường đạt chuẩn quốc gia ởmức độ 1 (Trường mầm non khu vực thôn Yên Thắng, trường tiểu học nằm ởthôn Yên Định, trường trung học cơ sở Yên Hoá nằm ở thôn Yên Thắng )
Trang 9- Trạm y tế đầy đủ đạt chuẩn ở mức độ 1.
- Nhà văn hóa xã, nhà truyền thống và trung tâm học tập cộng đồngchưa có
- Nhà văn hóa thôn đã có đủ ở 08 thôn
- Không có bưu điện văn hóa xã Xã gần trung tâm huyện nên không cóbưu điện văn hóa xã Toàn xã không có điểm internet nào
- Chợ nông thôn: không có chợ, chỉ có chợ ở trung tâm huyện
- Về cấp điện: 100% hộ dân đều sử dụng điện
- Cấp nước sinh hoạt: có 95% số hộ ở thôn Văn La và Lương Yến đượccấp nước máy đến từng hộ gia đình, thôn Phú Cát chưa có hệ thống cung cấpnước sinh hoạt
- Hệ thống thoát nước chủ yếu thoát nước tự nhiên về đồng ruộng và đổ
về khe suối
- Hệ thống đường giao thông: tổng số km đường giao thông trên địabàn xã 66,28km Hiện nay có 8/8 thôn có đường xe ôtô đến trung tâm thôn, hệthống giao thong cơ bản đáp ứng được nhu cầu đi lại cho người dân trong xã,nhưng một số tuyến đường cấp phối nên về mùa mưa ảnh hưởng không nhỏđến việc đi lại của người dân, đường giao thông nội đồng chưa đạt ảnh hưởngđến chất lượng sản xuất Đường xã liên xã có 6,78 km đường bê tông Đườngtrục thôn, liên thông 30 km; đã cứng hoá 15km, đường nội thôn 14 km, đườngtrục chính nội đồng 15, 5 km
1.1.4 Dân cư
Toàn xã có 960 hộ với 3711 nhân khẩu với địa bàn hành chính có 8thôn Yên Thắng, Yên Định, Yên Nhất, Yên Bình, Tân Lợi, Tân Sơn, TânTiến, Kiều Tiến
Tổng số nhà ở: 932 nhà, trong đó tỷ lệ nhà kiên cố và bán kiên cố : 912
hộ, tỷ lệ 97,8% Số nhà tạm 20 hộ, tỷ lệ 2,15 %
Trang 101.1.5 Cơ cấu bộ máy tổ chức
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC XÃ YÊN HOÁ
SƠ ĐỒ KHỐI CHÍNH QUYỀN XÃ YÊN HOÁ
BÍ THƯ ĐẢNG ỦY
PBT THƯỜNG TRỰC ĐẢNG ỦY
PBT ĐẢNG ỦY CHỦ TỊCH UBND XÃ
UVTV ĐẢNG ỦY PCT UBND XÃ
UVTV- CHỦ TỊCH MẶT TRẬN XÃ
HỘI NÔNG DÂN HỘI PHỤ NỮ HỘI CỰU CHIẾN
BINH ĐOÀN THANH NIÊN
Trang 111.2 Các khái niệm liên quan
1.2.1 Các khái niệm
Chăm sóc sức khỏe sinh sản( Theo hội nghị cario) Là tổng thể các
biện pháp, kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe cho con người cótình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết nhữngvấn đề liên quan đến SKSS
Dân số-Kế hoạch hóa gia đình( Theo giáo sư Viện Sỹ Phạm Song)
lLà sự cố gắng có ý thức của một hoặc một cặp hoặc các nhân nhằm điềuchỉnh số con và khoảng cách sinh con không chỉ bao hàm việc lựa chọn sửdụng các biện pháp tránh thai mà còn có những cố gắng của các cặp vợ chồng
để có thai
Mất cân bằng giới tính khi sinh( Theo B.s Trần Thị Kim Cúc.Trưởng
phòng truyền thông, chi cục dân số thành phố Hồ Chí Minh) là tỷ lệ trẻ emnam sinh ra nhiều hơn trẻ em nữ
Trang 12CHƯƠNG 2 CÔNG TÁC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA DÌNH VÀ VẤN ĐỀ SINH CON THỨ 3 TRỞ LÊN TẠI ĐỊA BÀN XÃ YÊN HOÁ,
HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH 2.1 Tình trạng sinh con thứ 3 trở lên tại tại xã Yên Hoá.
Trong những năm qua thực hiện chủ trương chính sách của Đảng vànhà nước từ Trung ương đến địa phương Xã Yên Hoá đã triển khai các chỉthị, Nghị quyết liên quan đến công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình đã cónhiều cố gắng trong công tác tham mưu cho Uỷ ban nhân dân xã và sự phốikết hợp với các cơ quan, ban, nghành và các đoàn thể, tuyên truyền lồng ghépchương trình Dân số – Kế hoạch hoá gia đình vào tổ chức như Đoàn thanhniên, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội nông dân, Tư pháp, Giáo dục…Nhằm nângcao chất lượng chăm sóc sức khoẻ sinh sản, cho các bà mẹ, chăm sóc sứckhoẻ sinh sản vị thành niên và thành niên tại các trường học, hoạt động tíndụng vào các hội phụ nữ, hội nông dân… chú trọng đến công tác dịch vụ kếhoạch hoá gia đình, đặc biệt là đa dạng hoá các phương tiện tránh thai đảmbảo tính an toàn và hiệu quả, giúp các đối tượng hiểu biết và chấp nhận cácbiện pháp tránh thai Vì vậy đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận mụctiêu giảm sinh chung góp phần vào xoá đói giảm nghèo của địa phương
Tuy nhiên do nhận thức của người dân, do phong tục tập quán còn lạchậu, do một số cán bộ, đảng viên cố tình hiểu sai pháp lệnh dân số nên tỷ lệsinh con thứ 3 trở lên đã có xu hướng gia tăng trở lại Nhìn vào những kết quả
có được từ báo công tác dân số trong 5 năm của xã từ 2009-2013 có thể nhậnthấy rằng số sinh hằng năm tại xã không cao lắm, không đồng đều và có tỷ
lệ sinh con thứ 3trở lên cứ tăng trở lại trong vòng 2 năm trở lại đây đó là 2năm 2012-2013.Xã Yên Hoá của huyện Minh Hoá là một huyện có dân sốkhá đông tính đến 31/12/2013 toàn xã có 960 hộ với 3.711 khẩu Trong đó số
hộ gia đình sinh con thứ 3 là 18 hộ.Số phụ nữ từ 49 tuổi là 990, phụ nữ
Trang 1315-49 có chồng là 668 người.Số trẻ sinh ra trong năm là 62 cháu So với năm
2012 tăng 11 cháu Trong đó con thứ 3 trở lên :18 cháu chiếm tỉ lệ 29,03%
tăng so với năm 2012 là 19,33% Uớc tính 6 thág đầu nă m 2014 đã có
khoảng 8 trường hợp vi phạm sinh con thứ 3 trở lên Theo kết quả tôi
nghiên cứu được, trong những năm qua tỷ lệ sinh con thứ 3 của xã Yên Hoátăng tập trung chủ yếu vào những gia đình làm nông có trình độ đân trí thấp
và một số ít là án bộ Đảng viên Thực tế ta có thể nhận thấy được người
phụ nữ có trình độ càng cao thì tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở những nhómngười này là thấp hơn so với những nhóm người không có trình độ học vấn
Có một số ít gia đình có đủ cả gái, cả trai nhưng họ vẫn đẻ thêm vì vẫn có tư
tưởng “ trời sinh voi, trời sinh cỏ” Xã Yên Hoá đã rất nỗ lực trong việc vậnđộng cặp vợ chồng không sinh con thứ 3 tuy nhiên vẫn còn tình trạng nhiềucặp vợ chồng cố tình sinh con thứ 3 trở lên đặc biệt ở thôn Tân Lợi và KiềuTiến Đó là 2 trong tổng số 8 thôn của xã Yên Hoá có tỷ lệ các cặp vợ chồngsinh con thứ 3 trở lên cao hơn so với các thôn còn lại
Thực tế hiện nay tại địa phương tỷ suất sinh tăng, thu nhập thấp, dân tríkhông đồng đều là những thực trạng cần đặt ra câu hỏi làm thế nào để tăng thunhập cho người dân? Làm thế nào để cho người dân chấp nhận thực hiện quy
mô gia đình ít con? đó là bài toán đặt ra cho lãnh đạo địa phương và cơ quantham mưu đó là Trung tâm Dân số - Kế hoạch hoá gia đình huyện Minh Hoá
2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng sinh con thứ 3 trở lên tại địa bàn xã Yên Hoá, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.
Bản thân tôi mặc dù đang là sinh viên chuyên ngành công tác xã hộinhưng qua quá trình về thực tế tại 8 thôn của xã, qua xem xét kết quả tổnghợp báo cáo xã tôi mạnh dạn đưa ra một số nguyên nhân chủ yếu của thựctrạng sinh con thứ 3 trở lên tại địa phương như sau:
Trang 14- Nguyên nhân thứ 1: Do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ.
Qua quá trình quan sát và phỏng vấn sâu đối với những hộ gia đìnhsinh con thứ 3 trở lên trở lên, trong đó điển hình là gia đình anh Đinh TiếnHóa tôi nhận thấy rằng xã Yên Hoá là một xã có nền kinh tế nông nghiệp.Tâm lý, tập quán của người dân trong xã hội nông nghiệp, chịu ảnh hưởng sâurộng của tư tưởng phong kiến về việc sinh con, muốn có đông con và phải cócon trai nỗi dõi tông đường còn rất nặng nề đã ăn sâu vào tư tưởng của ngườidân Mỗi gia đình và mỗi dòng họ, điều thể hiện rất rõ trong các tiệc cỗ, tiệccưới hỏi dựng vợ gả chồng, tổ chức họp dòng họ vào những ngày cuối năm.Những người không có con trai phải ngồi khác mâm hoặc mâm dưới, chỉnhững người có con trai mới được coi là người trong dòng họ, người để nỗidõi tông đường
Cho nên có gia đình đã có cả trai lẫn gái họ vẫn sinh thên con thứ 3,thậm chí con thứ 4, Thứ 5
- Nguyên nhân thứ 2 : Thiếu đồng bộ và chặt chẽ trong sự phối kết hợp giữa cơ quan Dân số- Kế hoạch hoá gia đình với các cơ quan ban, ngành, đoàn thể
Qua quá trình quan sát tôi nhận thấy được rằng sự phối kết hợp giữa cơquan Dân số- Kế hoạch hoá gia đình với các cơ quan ban, ngành, đoàn thểchưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ và chưa toàn diện, đặc biệt đối với một số, cấp
Uỷ đảng, Chính quyền địa phương chưa quan tâm còn cho rằng công tác Dân
số – Kế hoạch hoá gia đình là riêng cho ngành dân số, chưa tạo tạo điều kiệncho chuyên trách dân số xã công tác
Một số cấp Uỷ đảng, Chính quyền chưa nhận thức đầy đủ tầm quantrọng, ý nghĩa chiến lược của công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình
Trong chỉ đạo còn biểu hiện thiếu tập trung, thiếu quyết liệt, thiếunhững giải pháp thiết thực.Chưa phát huy tốt vai trò cơ quan tham
Trang 15mưu….Một số bộ phận cán bộ, đảng viên không gương mẫu, nhưng chưa xử
lý nghiêm các vi phạm, chậm sửa đổi pháp lệnh dân số và các chính sách, quyđịnh không còn phù hợp với tiêu chuẩn mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 đến 2 con;
Hệ thống tổ chức làm công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình thiếu tính ổnđịn, tạo nên nhận thức không đúng của cả cán bộ và nhân viên và nhân dân về
về chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác Dân số – Kế hoạch hoá giađình
Hệ thống công tác dân số kế hoạch hóa chưa đủ mạnh và quá tải vềcông việc; việc tuyên truyền, giáo dục, cung cấp dịch vụ và xây dựng chínhsách, chế độ còn nhiều bất cập
- Nguyên nhân thứ 3: Do chưa thực hiện tốt công tác truyền thông dân số và tuyên truyền các biện pháp tránh thai.
Qua quá trình đi kháo sát tại các hộ gia đình tại địa phương tôi nhậnthấy rằng ở địa phương mặc dù đã được các cán bộ y tế xã, cán bộ chuyêntrách xã thường xuyên tư vấn tuyên truyền về công tác kề hoạch hóa gia đình,
về các biện pháp tránh thai an toàn tuy nhiên một số cặp vợ chồng cố tìnhkhông sử dụng biện pháp tránh thai nào cả vì họ cho rằng không cần thiết phảithực hiện Một phần là do công tác truyền thông chưa thu hút được sự quantâm của người dân.Theo kết qủa thu thập được tại báo cáo và quá trình phỏngvấn sâu thì thấy rằng năm 2013 toàn xã có đến 177 cặp vợ chồng không sửdụng biện pháp tránh thai và có một số cặp vợ chồng bị vỡ kế hoạch vì biệnpháp tránh thai chưa thật sự hiểu quả nên phải sinh thêm nhưng nguyên nhânnày là không đáng kể
- Nguyên nhân thứ 4: Người dân cố tình hiểu sai về pháp lệnh dân số.
Qua quá trình phỏng vấn sâu cá nhân tôi nhận thầy khi pháp lệnh dân
số ra đời năm 2003 tại điều 10 mỗi cặp vợ chồng cá nhân có quyền“ Quyếtđịnh về thời gian sinh con và khoảng cách các lần sinh, phù hợp với lứa tuổi
Trang 16tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập lao động công tác, thu nhập và nuôi dạycon của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng”.
Căn cứ vào điều này nhiều người, nhiều cặp vợ chồng đã cố tình hiểusai pháp lệnh để sinh thêm con, trong đó có cả cán bộ công chức viên chứcđiển hình có gia đình chị Đinh Thị Duyên là giáo viên mầm non và đang làĐảng viên tuy nhiên chị lại vi phạm sinh con thứ 3 Những trường hợp viphạm tại xã có xử lý nhưng chỉ làm chiếu lệ, chưa nghiêm còn mang tính hìnhthức Hơn nữa Điều 10 chậm được sửa đổi do vậy năm 2011 tỷ lệ sinh con thứ
3+ trở lên xã Yên Hoá có nguy cơ tăng trở lại
-Nguyên nhân thứ 5: Trình độ của cán bộ chuyên trách xã và công tác viên dân số còn hạn chế.
Đây là một trong những nguyên nhân hết sức quan trọng không thểthiếu.Qua quá trình quan sát thực tế tôi thầy rằng về mạng lưới cơ sở xã có1cán bộ chuyên trách, 8 cộng tác viên dân số Đội ngũ Cán bộ chuyên trách vàcộng tác viên làm công tác dân số – Kế hoạch hoá gia đình từ xã đến thônbản, trình độ văn hoá thấp, không đồng đều phần đa chưa học hết lớp 9 Lựclượng này chưa được đào tạo về trường lớp nào về kiến thức dân số, chỉ đượctrang bị rất ít về kiến thức dân số- Kế hoạch hoá gia đình qua khi tuyển dụngvào làm chuyên trách, nhưng yêu cầu của công việc đòi hỏi cao năng lựcchuyên môn lại yếu, do vậy không đáp ứng được chức năng tham mưu cholãnh đạo về công tác quản lý và phân loại đối tượng, chính vì vậy việc tuyêntruyền vận động, truyền thông thay đổi hành vi đạt hiệu quả không cao.Trongkhi đó chi phí thù lao cho chuyên trách và cộng tác viên thông bản là quáthấp, yêu cầu công việc đòi hỏi lại khá cao Phải theo dõi cụ thể, cập nhậpthông tin hàng ngày, hàng tháng, hàng quí đầy đủ và phải thật chính xác, biểumẫu báo cáo thì nhiều và nhiều chi tiết tỷ mỷ đòi hỏi phải chính xác Hiện naymặc dù thông tư 05 đã ra đời, sớm và đưa đội ngũ này trở thành cán bộ viênchức của trạm y tế, nhưng đến nay tại huyện Minh Hoá chưa thực hiện Thù