1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ

157 1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 4,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về phân hữu cơ vi sinh Phân hữu cơ vi sinh phân HCVS là sản phẩm của quá trình ủ, sản phẩm phân HCVSphải đảm bảo các điều kiện như: chất hữu cơ ổn định dạng mùn, không mang mầ

Trang 1

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hồ tiêu (Piper nigrum L.) là cây công nghiệp dài ngày, có giá trị kinh tế và giá trị xuất

khẩu cao Hạt tiêu là một loại gia vị được yêu thích trên toàn thế giới Nó được mệnh danh là

“vua của các loại gia vị” (Maju và cs 2012; Thangaselvabal và cs., 2008) Hạt tiêu có vị cay,tính nóng nên là một loại thuốc cổ truyền quan trọng và được sử dụng để điều trị tiêu đờm,cảm lạnh, nôn mữa, ỉa chảy, hen xuyễn, khó thở, đờm tắc (Đỗ Tất Lợi, 2004; Ahmad và cs,2011; Hussain và cs., 2011) Bên cạnh đó, tiêu còn có tác dụng sát trùng, diệt ký sinh trùng,xua đuổi sâu bọ (Đỗ Tất Lợi, 2004) Ngoài ra, tiêu còn dùng trong chế biến thực phẩm vànước hoa (Ahmad, 2011; Maju và cs., 2012)

Những năm gần đây, hiện tượng hồ tiêu chết hàng loạt những vùng trồng tiêu ở cáctỉnh Bắc Trung Bộ như Quảng Trị, Quảng Bình …nhưng chưa có biện pháp phòng trừ hữuhiệu nào được nông dân áp dụng Nhiều nơi nông dân phải phá bỏ vườn tiêu, tốn nhiều cônglao động để đào trụ, cây choái, phải đầu tư vốn để trồng các loại cây trồng khác và gặp khókhăn trong chuyển đổi cây trồng hoặc nhiều nơi vẫn để trống các vườn hồ tiêu bị bệnh chếtnhanh Bên cạnh đó những năm qua cũng cho thấy giá tiêu rất bất ổn có thời điểm rớt giáxuống 18.000 đ/kg tiêu khô Người nông dân đang chạy theo giá tiêu, khi tiêu rớt giá bỏ mặccây hồ tiêu không đầu tư Nhưng khi hồ tiêu được giá như thời điểm hiện nay giá tiêu đạt120.000đ/kg tiêu khô (Báo nông nghiệp Việt Nam ngày 27/4/2012) thì người nông dân đầu tưquá nhiều làm cho cây hồ tiêu bội thực nên công tác chọn giống không rõ nguồn gốc và kỹthuật nhân giống không đảm bảo, tình trạng dịch hại phát sinh Nhiều nông dân đã ồ ạt phá bỏ

cà phê để trồng hồ tiêu do giá hồ tiêu được giá (Báo nông nghiệp Việt Nam ngày 21/4/2012).Đặc biệt, hiện nay Việt Nam là nước đứng đầu trong xuất khẩu hồ tiêu và trong 2 - 3 năm trởlại đây hồ tiêu được giá, bà con nông dân bắt đầu khôi phục lại các vườn tiêu bị bệnh và trồngmới nhưng các biện pháp kỹ thuật áp dụng để hạn chế và ngăn ngừa bệnh chết nhanh chưađảm bảo Trong hội nghị lần thứ 4 của Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam (VPA) tổ chức ngày26/4/2012, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã cảnh báo về việc nếu Việt Nam không cócác biện pháp phòng ngừa bệnh chết nhanh hồ tiêu thì sản xuất hồ tiêu Việt Nam sẽ có kịchbản tương tự như Ấn Độ và Indonesia bị bệnh chết nhanh lây lan, phá huỷ nặng nề, sản lượngsụt giảm một cách nhanh chóng và đến nay sản xuất hồ tiêu vẫn chưa có thể khôi phục lạiđược

Bằng phương pháp nhân giống thông thường như: chiết, ghép, giâm cành hoặc trồngbằng hạt, người ta đã thay thế những cây tiêu chết trong vườn (Nguyễn Thị Kim Linh và cs.,2006) và gia tăng diện tích ở các vùng trồng tiêu Tuy nhiên, các phương pháp này còn hạnchế như tốn nhiều thời gian (Hussain và cs., 2011), hệ số nhân giống thấp mà cây giống khiđem trồng vẫn mang theo mầm bệnh và làm lây lan bệnh virus từ cây này sang cây khác, từvườn này sang vườn khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác (Nguyễn Thị Kim Linh và cs.,2006)

Để khắc phục những hạn chế trên, nuôi cấy mô và tế bào thực vật là một trong nhữngphương pháp nhân giống vô tính cây tiêu có hiệu quả cao Ngoài việc nhân giống nhanh, tạo

ra được một số lượng lớn cây con đồng đều có sức sống tốt, sạch bệnh trong thời gian ngắn,phương pháp này còn cho phép giữ được những tính trạng quý của cây mẹ và chủ động cung

cấp nguồn giống vào bất kỳ thời điểm nào trong năm Vì vậy, nhân giống in vitro cây hồ tiêu

Trang 2

(Piper nigrum L.) góp phần đem lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao chất lượng giống

hồ tiêu

Các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở Vùng gò đồi Bắc Trung Bộ là:

- Các biện pháp kỹ thuật thâm canh cây hồ tiêu chưa được áp dụng đúng mức Nhất làviệc áp dụng quản lý, phòng trừ bệnh hại cây trồng và trồng cây che phủ

- Chế biến hồ tiêu ở Vùng gò đồi Bắc Trung Bộ còn hạn chế, chủ yếu là hồ tiêu đen.Chế biến tiêu trắng hầu như chưa được nghiên cứu và chuyển giao cho bà con;

- Chưa xây dựng và phát triển được các kênh tiêu thụ, thương mại hồ tiêu ở vùng và cócác liên kết trong sản xuất và kinh doanh

1.2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Nghiên cứu về phân hữu cơ vi sinh

Phân hữu cơ vi sinh (phân HCVS) là sản phẩm của quá trình ủ, sản phẩm phân HCVSphải đảm bảo các điều kiện như: chất hữu cơ ổn định (dạng mùn), không mang mầm bệnh, cỏdại và các loại nhiễm bẩn khác có hại cho đất và cây trồng

Phân HCVS thường chứa các chất hữu cơ bền vững, sinh khối vi sinh vật đã chết vàmột số vi sinh vật còn sống cùng với các sản phẩm khác của phản ứng hóa học khác giữa cácvật liệu trên

Trichoderma là loại nấm sống chủ yếu trong đất, rất phong phú và đa dạng chủng loại Trichoderma lấy dinh dưỡng để phát triển bằng cách hoại sinh (phân hủy chất hữu cơ) và kí sinh (tấn công nấm, vi khuẩn, và tuyến trùng gây bệnh) Trichodermacạnh tranh dinh dưỡng

và không gian sống của các đối thủ, hoặc ức chế và tiêu diệt bằng cách tiết ra các enzyme vàchất kháng sinh để tiêu diệt nấm, vi khuẩn đối kháng, làm bất hoạt các enzyme gây bệnh Do

sở hữu các đặc tính này cho nên người ta còn gọi nấm Trichoderma là nấm đối kháng Trichoderma còn có thể hình thành khuẩn lạc tập trung quanh vùng rễ, giúp rễ cây hấp thụ

dinh dưỡng và nước tốt hơn khi gặp điều kiện khắc nghiệt bằng việc gia tăng phát triển của rễ

và cây trồng

Nông dân Việt Nam đã sử dụng phân bón hữu cơ từ rất lâu trước khi có phân bón vô

cơ (đạm, lân, kali, canxi, vi lượng) Cho đến nay, mặc dù sản xuất nông nghiệp đã và đang sửdụng một lượng phân vô cơ rất lớn nhưng phân hữu cơ vẫn được trọng dụng để bón lót chohầu hết các loại cây trồng và đặc biệt cho các loại đất đã bị thoái hóa, nghèo mùn như đất bạcmàu, đất cát, đất phù sa chua, Bón phân hữu cơ cho cây trồng sẽ ổn định năng suất, tăngchất lượng sản phẩm, tăng sức khỏe cộng đồng khi sử dụng sản phẩm nông nghiệp bón phânhữu cơ Phân hữu cơ nguyên chất như: phân gia súc, phân xanh, phân bắc sẽ ủ cho chất lượngcao, đảm bảo vệ sinh an toàn cho người sử dụng

Sử dụng phân hữu cơ vi sinh trong trồng trọt được đánh giá là một biện pháp phù hợp,

an toàn và tiết kiệm trong nông nghiệp Thông qua tác dụng phòng ngừa một số bệnh hại nên

nấm Trichoderma giúp giảm một phần thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), giảm ô nhiễm môi

trường, giúp cây trồng sinh trưởng khỏe, giúp đất tơi xốp, giữ độ phì đất lâu dài và cho sảnphẩm sạch, an toàn không có dư lượng thuốc hóa học, giúp người nông dân tiết kiệm đượctiền bạc hơn khi sử dụng các thuốc hóa học khác

Phân hữu cơ vi sinh được chế biến từ quá trình ủ rác sinh hoạt khi bón vào đất làmtăng độ phì nhiêu của đất: tăng chất hữu cơ, cải thiện cấu trúc đất, tạo môi trường sống thuận

Trang 3

lợi cho hệ sinh vật đất Việc bổ sung phân HCVS vào đất cho thấy giảm một số bệnh thực vật

bởi tuyến trùng, vi khuẩn và nấm bệnh trong hệ thống canh tác nông nghiệp Trichoderma là

một sản phẩm giàu vi sinh vật, thành phần các loài vi sinh vật trong mỗi loại khác nhau và rất

đa dạng Các loại phân ủ bón cho cây trồng có tác dụng nhanh hơn phân nguyên chất chưa ủ

Khi sử dụng phân hữu cơ vi sinh bón cho cây trồng, quá trình phân hủy trong đất giúp:

- Cải thiện cơ cấu đất: phân hữu cơ vi sinh khi bón vào đất sẽ làm cho nơi có đất sét,đất bạc màu và đất quánh rã ra, rồi khi gặp lại với đất cát lại làm cho cát rời dính lại với nhau,

từ đó làm cho đất thông khí dễ dàng Phân HCVS còn cải tạo tính chất cơ lý hoá của đất,chống xói mòn, chống chai hoá đất

- Quân bình độ pH trong đất: Phân HCVS cung ứng đầy đủ các chất hữu cơ để chốnglại sự thay đổi pH

- Tạo sự màu mỡ trong đất: Phân HCVS chứa nitơ, photpho, magiê, lưu huỳnh…quátrình phân hủy tiết ra các chất dinh dưỡng, làm đất tăng sự hấp thụ khoáng chất Phân bố dinhdưỡng hợp lý, giúp phục hồi đất bạc màu, đất đã khai thác lâu năm và đất đã sử dụng nhiềuphân bón hóa học

Việc bổ sung phân HCVS vào đất đã cho thấy kháng một số bệnh thực vật bởi tuyếntrùng, vi khuẩn hoặc nấm bệnh trong hệ thống canh tác nông nghiệp (Hoitink và Fahy, 1986;Ringer, 1998) Phân HCVS tạo môi trường tốt cho các loại vi khuẩn có lợi trong đất sinhsống, có khả năng tạo ra các chất dinh dưỡng tốt cho các loại vi sinh vật sinh sống trong đất,

từ đó tạo môi trường cho các loại côn trùng và những loài vi sinh vật chống lại nấm bệnh vàtuyến trùng ký sinh thực vật cũng như tiêu diệt các loại côn trùng phá hoại đất, hoặc tác độngxấu đến cây trồng (Andrés và cs, 2003)

Các nhà khoa học đã tìm ra và chứng minh được khả năng kiểm soát và ngăn chặn cácmầm bệnh của phân HCVS Tiềm năng tự nhiên của phân HCVS có thể được xây dựng dựatrên sự kết hợp của 4 yếu tố: cạnh tranh dinh dưỡng thông qua các vi sinh vật có lợi; sản sinhkháng sinh nhờ hệ vi sinh vật có lợi; sự cạnh tranh đối kháng giữa vi sinh vật có lợi với cáctác nhân gây bệnh; và cuối cùng là kích thích hoạt tính của các gen kháng trong cây (EPA,1997)

Cơ chế tác động của phân HCVS lên tuyến trùng ký sinh thực vật

Alam và Jairajpuri (1990) đã đưa ra cơ chế tác động của neem nói riêng và của phânhữu cơ nói chung lên tuyến trùng ký sinh thực vật như sau: (Randhawa và Parmar, 1995)

- Làm thay đổi các đặc tính lý hóa của đất, ngăn chặn sự phát triển của tuyến trùng

- Phóng thích những chất dinh dưỡng làm bộ rễ phát triển nhanh hơn, làm cây trưởngthành toàn diện và điều này sẽ giúp cho cây thoát khỏi sự tấn công của tuyến trùng

- Kích thích tăng sức đề kháng của thực vật chống lại các tuyến trùng ký sinh thực vật

- Gia tăng những động vật ăn thịt và hoạt động ký sinh của khu hệ vi sinh vật đất

- Những chất độc được tạo ra trong suốt quá trình vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ

Trang 4

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mô tả tác động của neem và phân hữu cơ lên nhóm tuyến trùng ký sinh thực

vật (N.S Randhawa, B.S Parmar, 1995)

Cơ chế liên quan đến khả năng ngăn ngừa mầm bệnh của phân HCVS dựa trên: cạnhtranh đối kháng - chất kháng sinh - sự đa dạng các vi sinh vật ký sinh (Hoitink và cs, 1996).Hơn nữa, hiệu quả ngăn ngừa của phân HCVS còn được xác định bởi sự tác động tổng hợpcủa ba tác nhân: vật lý - hóa học - sinh học Các tác nhân vật lý và hóa học như mối tươngquan giữa nước và không khí hoặc giữa giá trị pH và tỷ suất dẫn điện có trong thành phầndinh dưỡng có tác động làm tăng hoặc giảm tình trạng ban đầu của cây Tuy nhiên, chính cáctác nhân sinh học đóng vai trò chính yếu dựa trên các tác động không chuyên biệt như kíchthích sự gia tăng hoạt động của các vi sinh vật có lợi hoặc các tác động chuyên biệt liên quanđến sự đa dạng và thành phần kết cấu mật độ các vi sinh vật (Hoitink và Boehm, 1997)

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ mô tả hệ thống các tác động của phân HCVS đến vùng rễ (Seminar

proceedings, 2001)

Trang 5

Theo Nico và cs (2003), trong quá trình phân hủy phân HCVS đã tiết ra các độc tố đốivới tuyến trùng như: các hợp chất tanin, phenolic (pyrocatechol, caffeic acid, và vanillic acid)

và các acid béo (Cayuela và cs., 2008)

Còn theo Hoitink một số các tác nhân sinh học được phân lập trong quá trình phân hủy

phân HCVS: Trichoderma hamatum 382 (T382), Pseudomonas spp và Pantoea agglomerans, các chủng Bacillus tiết ra hệ thống tính kháng cho cây là cơ chế của việc làm giảm các tác nhân gây bệnh ký sinh thực vật Trong đó, T hamatum 382 (T382) có hoạt tính kháng mạnh nhất, sau đó là các chủng Bacillus, Pseudomonas spp và Pantoea agglomerans

có hoạt tính kháng kém hơn (Hoitink, 2004)

Phân bón nói chung và phân HCVS nói riêng có thể làm giảm mật độ cũng như sự đadạng của tuyến trùng được giải thích như sau: các sản phẩm của quá trình phân hủy phân bón,phân HCVS trực tiếp tiết ra các độc tố đối với tuyến trùng; sự bổ sung phân bón, phân HCVSlàm tăng các vi sinh vật có hoạt tính kháng sinh hoặc làm tăng các loài nấm, vi khuẩn ăn thịt

và ký sinh đối với nhóm tuyến trùng Phân bón có thể làm giảm sự sống của tuyến trùng thôngqua tác động làm thay đổi môi trường tự nhiên của đất (Kaplan và Noe, 1993)

Cũng có rất nhiều cơ chế trong kiểm soát bệnh ở thực vật đang được các nhà nghiêncứu tranh luận Ở hầu hết các phân HCVS, các vi sinh vật có lợi sẽ cạnh tranh dinh dưỡnghoặc sản sinh ra kháng sinh từ đó ngăn chặn được sự phát triển của mầm bệnh gây ra bởi

Pythium và Phytophthora Ở một số ít khác, các vi sinh vật khác sẽ ký sinh lên tác nhân gây bệnh như Rhizoctonia gây bệnh thối úng Và cuối cùng, một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra

rằng “tính chống chịu thu được ngấm qua rễ” (systemic acquired resistance) có thể đóng mộtvai trò nào đó Khi cây được lớn lên với sự bổ sung phân HCVS thường xuyên sẽ hấp thu mộtlượng lớn các enzyme được cho là có quan hệ tích cực đến hoạt động có lợi của các vi sinhvật (Hoitink và cs., 1997)

Triển vọng của việc ứng dụng phân HCVS trong kiểm soát tuyến trùng ký sinh thực vật

Như ta đã biết phân phân HCVS bao gồm cả phế thải nông nghiệp (phế thải trong chănnuôi và trồng trọt) và phế thải ngành công nghiệp (phế thải trong chế biến thực phẩm,…) và

cả các phế thải trong sinh hoạt của con người, tất cả là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môitrường Tuy nhiên, chính chúng lại được quan tâm và đánh giá là những nguồn phân bón hữu

cơ giàu dinh dưỡng, bao gồm các thành phần dinh dưỡng đa lượng và vi lượng cần thiết cho

sự phát triển của cây (Wilkison,1979)

Quá trình phân hủy của phân HCVS được đánh giá là sự lựa chọn hợp lý và rẻ tiền cho

cả việc làm màu mỡ đất đai cũng như việc kiểm soát tuyến trùng ký sinh thực vật Đây cũngchính là biện pháp xử lý nguồn phế thải an toàn và hiệu quả mà không gây ra các vấn đề vềmôi trường và rất hữu ích trong chăm sóc và bảo vệ cây trồng (Akhtan và Alam, 1993)

Mặc dù sử dụng phân HCVS về mặt phòng trừ tuyến trùng có hiệu quả thấp hơn sovới các loại thuốc hóa học, nhưng ngược lại, biện pháp này có thể đem lại hiệu quả kinh tếhơn do nguồn nguyên liệu rẻ và sẵn có Và điều đặc biệt là không gây tác hại xấu đến môitrường sinh thái và sức khỏe của con người

Tình hình sản xuất và nghiên cứu về phân hữu cơ vi sinh có bổ sung chế phẩm Trichoderma trên cây hồ tiêu

Biện pháp sinh học có thể nói đơn giản là sử dụng các sinh vật để khống chế sinh vậthại và rộng hơn là dùng các sinh vật và các sản phẩm của chúng để kìm hãm sinh vật gây hại

Trang 6

Có thể nói biện pháp sinh học là một biện pháp chủ lực trong quản lý dịch hại tổng hợp hiệnnay (Anandaraj và Sarma, 2003); (Tran, 2007).

Theo Anandaraj (1997) khả năng đối kháng của nấm Trichoderma sp., Gliocladium và các vi sinh vật sống trong đất với P capsici rất thấp Vì thế, biện pháp bổ sung chất hữu cơ

có nhiều vi sinh vật đối kháng hay sử dụng các chế phẩm sinh học từ các vi sinh vật này sẽ

hạn chế sự phát triển của nấm P capsici trong đất (Anandaraj, 2000) Có thể trồng các loài Allium như A fistulosum, A ascalonicum, A shoenorapsum, A sativum xung quanh cây hồ

tiêu vì rễ các cây này tiết ra các chất ngăn cản sự nảy mầm của bào tử động, đồng thời kích

thích sự phát triển của các vi sinh vật có lợi trong đất như các loài Trichoderma spp và vi khuẩn Trichoderma harzianum nếu được sử dụng phối hợp phân hữu cơ có thể hạn chế sự

phát triển của bệnh chết nhanh trên cây hồ tiêu (Manohara và cs., 2002)

Nhiều loài nấm đối kháng đã được các tác giả khuyến cáo sử dụng để hạn chế sự phát

triển của nấm Phytophthora spp gây bệnh héo chết nhanh trên cây tiêu như: Trichoderma sp., Gliocladium (Witkowska và cs, 2002) Diby và cs (2005); Anandaraj và cs (2003) nhận thấy nấm Trichoderma harzianum IISR-1369, IISR-1370 phân lập từ vùng rễ cây tiêu có khả năng hạn chế nấm P capsici và kích thích sinh trưởng cây tiêu

Trichoderma sp là một loại vi nấm được phân lập từ đất, thường hiện diện ở vùng xung

quanh hệ thống của rễ cây Đây là loại nấm hoại sinh có khả năng ký sinh và đối kháng trên

nhiều loại nấm bệnh cây trồng Nhờ vậy, nhiều loài Trichoderma spp đã được nghiên cứu

như là một tác nhân phòng trừ sinh học và đã được thương mại hóa thành thuốc trừ bệnh sinhhọc, phân sinh học và chất cải tạo đất (Harman và cs, 2004)

Theo Nguyễn Văn Đĩnh và cs (2007) biện pháp phòng trừ sinh học là một biện pháptiềm năng và chủ lực trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng nói chung Nguyễn Thân (2004)

kết luận việc sử dụng nấm Trichoderma virens dòng T41 có hiệu lực mạnh trong phòng trừ nấm Phytophthora spp gây bệnh chết nhanh cây hồ tiêu, bệnh xì mủ cây sầu riêng

Tại Việt Nam, Trần Kim Loang và cs (2008) đã chọn lọc được 5 isolates nấm

Trichoderma sp từ rễ và đất trồng tiêu tại Tây Nguyên có khả năng đối kháng cao với nấm Phytophthora spp gây hại trên cây tiêu tại đây Chế phẩm Tricô-VTN của các tác giả khi được sử dụng với nồng độ 0,3-0,4% có thể hạn chế sự gây hại của nấm Phytophthora spp.

trên cây tiêu và cây ca cao trong nhà lưới Bên cạnh đó, chế phẩm này cũng cho thấy có hiệulực cao trên đồng ruộng khi được sử dụng với lượng 40 g/gốc tiêu/năm

1.2.2 Nghiên cứu về cây che phủ

Cây che phủ được sử dụng trong hệ thống cây trồng bởi vì chúng cải thiện được dinhdưỡng đất, độ ẩm đất và nâng cao hiệu suất cây trồng Các tác động ngắn hạn bao gồm kiểmsoát được quần thể cỏ dại và dịch bệnh Putnam and DeFrank (1983); Mangan và cs (1995),cây che phủ tạo ra các hiệu ứng làm cân bằng bức xạ (Facelli, Pickett, 1991), ẩm độ đất, nhiệt

độ (Bristow, 1988), và hàm lượng đạm sẵn có (Echenkamp và Moomaw, 1989) Tất cả các tácđộng đó đều làm nâng cao hiệu suất cây trồng Các lớp che phủ còn tạo ra một môi trườngsống cho các loài côn trùng có lợi (Orr và cs., 1997; Reader, 1991; Stinner, House, 1990)

Malaysia trồng cây che phủ để ngăn chặn sự phát triển của cỏ dại dưới những luốngtrồng tiêu trên trụ chết Cây che phủ có tác dụng ngăn chặn xói mòn đất và cải tạo lý, hóa tính

đất Hai cây che phủ quan trọng trồng phổ biến ở Sarawak là Centrosema pubescens và Arachis pintoi (George và cs, 2005)

Trang 7

Ở Ấn Độ, cây che phủ hầu như ít được trồng ở các hệ thống canh tác Một số nơi có

trồng cây che phủ, một số cây được khuyến cáo như: Calapogonium mucunoides và Mimosa invisa Duy trì cây che phủ có thân bò trên mặt đất có hiệu quả làm giảm bệnh hại rễ do nấm Phytophthora spp Ở Indonesia, việc trồng cây che phủ không phải là một hình thức phổ biến.

Tuy nhiên, vài năm qua, trồng cây lạc dại được nông dân chấp nhận Thân những cây che phủnày làm thức ăn cho bò và dê, nông dân hiện trồng cây che phủ trong vườn tiêu kết hợp vớichăn nuôi để tăng thêm thu nhập

Cây che phủ đất như đậu phộng ma (Arachis pintoi), cỏ Stylo (Stylosanthes guianenis)

ngoài tác dụng che phủ đất còn tổng hợp một lượng đạm đáng kể cho đất, cắt định kỳ cỏ Stylolàm thức ăn cho trâu bò Vào mùa khô dùng rơm rạ hoặc cỏ khô tủ quanh gốc tiêu giúp giữ

ẩm, kéo dài chu kỳ và giảm lượng nước tưới

Biện pháp sinh học nhằm kiểm soát cỏ dại là thay thế cỏ dại bằng việc quản lý nhữngloài cây che phủ (Teasdale,1996)

Theo Mammootty và Neema (2006), trồng cây che phủ được khuyến cáo làm giảm sự

lây lan của bệnh do nấm Phytophthora spp Nghiên cứu được thực hiện bởi Ramachandran và

cs (1990) cho thấy trồng cây che phủ (cỏ và Mimosa sp.) giảm sự di chuyển hoặc lây lan của

sinh vật gây hại có trong đất và gia tăng hoạt động của các vi sinh vật đối kháng đối với bệnhthối rễ trong vườn tiêu Để hạn chế nguồn nấm bệnh lây lan từ đất lên thân cây tiêu nên để đấtđược che phủ bằng một số cây họ đậu hoặc cỏ (Ramachandranet và cs, 1991; Sarma và cs,1982) Tuy nhiên, các nghiên cứu của Anandaraj (1997) tại Ấn Độ cho thấy biện pháp phủ đất

sẽ làm gia tăng sự phát triển của nguồn nấm Phytophthora capsici trong đất Tại Malaysia,

các nghiên cứu của Ahmed (1993) cho thấy cây tiêu được trồng trong điều kiện làm sạch cỏ

phát triển tốt hơn khi được che phủ đất bằng cây Desmodium trifolium (Anandaraj, 2000).

Báo cáo Campuchia cho thấy trồng cây che phủ làm gia tăng năng suất (Litzenberge, Lip,1961) Mặc dù cây che phủ làm giảm sự gây hại của tuyến trùng lên cây tiêu, cây tiêu đượchồi phục nhưng không làm giảm mật số tuyến trùng

Trong khi đó, biện pháp trồng cây Macroptilium atropurpureus che phủ đất giữa hàng

và tủ gốc bằng cỏ tranh (Imperata cylindrica) đã được khuyến cáo để giảm mật số tuyến trùng Meloidogyne incognita trong đất trồng tiêu vùng Amazone (Ichinohe, 1980, 1984) Biện pháp

tủ gốc bằng lá cây Gliricidia cũng làm giảm mật số tuyến trùng nốt sưng trên cây tiêu tại

Srilanca (Ratnasoma và cs, 1991)

Có thể trồng các loài Allium như A fistulosum, A ascalonicum, A shoenorapsum, A sativum xung quanh cây hồ tiêu vì rễ các cây này tiết ra các chất ngăn cản sự nảy mầm của

bào tử động đồng thời kích thích sự phát triển của các vi sinh vật có lợi trong đất như các loài

Trichoderma spp và vi khuẩn Trichodermaharzianum nếu được sử dụng phối hợp phân hữu

cơ có thể hạn chế sự phát triển của bệnh héo chết nhanh trên cây hồ tiêu (Manohara và cs,2002)

Trồng cây che phủ như là Arachis pintoi được khuyến cáo và hạn chế cỏ dại, hạn chế nấm P capsici và ngăn chặn sự lây lan P capsici lên những lá tiêu gần mặt đất trong mùa mưa Sự ra hoa của Arachis pintoi như là nguồn dinh dưỡng thu hút một số thiên địch tự nhiên

hiện diện xung quanh vườn tiêu (Manoharas và cs, 2004)

Anandaraj (2000) cho thấy rằng mật số Phytophthora capsici gia tăng khi che phủ cỏ

và thực vật chết Kết luận tương tự được tìm thấy ở Malaysia, trong nghiên cứu với

Trang 8

Desmodium trifolium (L.)

Dutta (1977) khi nghiên cứu ảnh hưởng của cây họ đậu che bóng và phủ đất trồngxen với chè đã nhận xét: việc duy trì hợp lý cây phủ đất sẽ ngăn chặn quá trình mất đạmbởi quá trình nitrat hóa Đốn tỉa hoặc cày vùi cây họ đậu cho chè đã đem lại hiệu quả kinh

tế lớn, tiết kiệm nhiều công vận chuyển, bốc dỡ, trả lại cho đất hàm lượng dinh dưỡng màcây họ đậu đã sử dụng, đồng thời cung cấp thêm cho đất một lượng lớn chất hữu cơ docây họ đậu tổng hợp được

Việc nghiên cứu tập đoàn cây che phủ bảo vệ và cải tạo đất, đã có nhiều kết quả đángkhích lệ Các loại cây được khuyến cáo trồng vào các khoảng trống của vườn hồ tiêu chỉ để lạikhoảng trống dưới tán xung quanh gốc tiêu, cách gốc khoảng 60 cm Làm sạch cỏ xung quanh

gốc Các loại cây che phủ thích hợp là: lạc dại (Arachis pintoi), đậu ma (Centrocema pubesens), đậu lông (Calopogonium mucunoides), cúc nút áo (Wedelia chinensis) (Cục Trồng

Ở Quảng Trị thì việc trồng cây che phủ trên các vườn hồ tiêu để hạn chế dịch bệnh lâylan chưa được áp dụng

Cây lạc Arachis pintoi (lạc dại)

Tên khoa học: Arachis pintoi.

Thuộc họ: Fabaceae

Đặc tính di truyền: (2n = 20), tự thụ phấn, rất ít xảy ra sự thụ phấn chéo

Tên thường gọi: Úc: pinto peanut; Tây Ban Nha: Maní forrajero perenne; Bồ ĐàoNha: Amendoim forrageiro; Indonesia: Kacang pinto; Thái Lan: Thua lisong tao

Xuất xứ: Từ miền trung Brazil (cửa sông Jequitinhonh) Đã được trồng ở Argentina,

Colombia, Mỹ, gần đây trồng ở Đông - Nam Châu Á, Trung Mỹ và Thái Bình Dương

Là một loại có thân ngầm, lâu năm và có rễ cọc ăn sâu vào lòng đất và tạo thànhthảm dày từ thân bò Ban đầu thân mọc nghiêng, sau đó bò rạp, có thể cao đến 50 cm phụthuộc vào môi trường và cách quản lý Lá có 4 lá chét, kích thước 4,4 cm × 3,5 cm Hoa

từ nách lá, cuống ngắn, cánh cờ rộng 12-17 mm, màu vàng tươi hoặc vàng nhạt tuỳ theogiống Ra hoa quanh năm (hoa có màu vàng tươi) Quả (củ) ra ở cuối cuống hoa,thường có 1 hạt, đôi khi có 2 hạt Cuống hoa dài trung bình 10-15 cm hoặc hơn Kíchthước củ phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, tuy nhiên trung bình khoảng 4 mm × 5 mm.Trọng lượng nghìn hạt khoảng 70- 80 g Là cây họ đậu có nốt sần và khả năng cố định đạm

Ở Việt Nam cây lạc Arachis pintoi, còn được gọi là cỏ lạc- lạc dại Giống lạcArachis pintoi thuộc dự án nghiên cứu hệ thống nông nghiệp miền núi phía Bắc (SAM)nhập vào Việt Nam từ năm 1999 và bắt đầu nghiên cứu ứng dụng tại xã Ngọc Phái,huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Giống này còn được Trường Đại học tổng hợpHohenheim - Cộng hòa Liên bang Đức - đưa vào tập đoàn cây họ đậu phục vụ lớp tậphuấn về đánh giá dinh dưỡng và khả năng cải tạo đất của các loại cây họ đậu nhiệt đớiđược tổ chức tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam từ 12 đến 15 tháng 4năm 1999

Khả năng ứng dụng

Trồng ở các đồng cỏ lâu năm nơi gia súc được chăn thả ở mật độ cao; che phủ đất ởcác khu đất trống và trồng dưới tán cây cao (đặc biệt là cây ăn quả như cam, bưởi, xoài, ); làm cây cảnh ở các khu đất trống như dải phân cách trên các trục đường giao thông,

Trang 9

trước cửa khách sạn, trong công viên, Trong nông lâm nghiệp, lạc lưu niên che phủ đấtLN99 là cây cố định đạm nên có tác dụng che phủ đất, chống xói mòn, bảo vệ và cải tạo đấtđồng thời cũng là cây thức ăn gia súc

Tình hình nghiên cứu và ứng dụng cây lạc dại ở Việt Nam

Ở Việt Nam, lạc dại được du nhập thông qua một số dự án hợp tác quốc tế, đặc biệt là cácchương trình nghiên cứu cây thức ăn gia súc với CIAT Tuy nhiên, hiện nay cây lạc dại đượcnghiên cứu và phát triển chủ yếu thông qua dự án “Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp miềnnúi phía Bắc Việt Nam” do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) vàCIRAD hợp tác thực hiện tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn Sau đó lạc dại đã được ViệnKhoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (NOMAFSI) tiếp tục nghiên cứu ứngdụng ở nhiều địa phương trong cả nước, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi phía Bắc và TâyNguyên Hiện nay, lạc dại được trồng nhiều ở Mộc Châu, Sông Mã (Sơn La); Tuần Giáo, TủaChùa, Điện Biên Đông (Điện Biên), Chợ Đồn (Bắc Kạn); NOMAFSI (Phú Thọ); Văn Chấn,Văn Yên (Yên Bái) và các tỉnh Tây Nguyên (Đắc Nông, Đắc Lak, Gia Lai)

1.2.3 Các nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống in vitro cây hồ tiêu

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu in vitro cây hồ tiêu thành công được

ghi nhận như nuôi cấy đỉnh chồi (Nazeem và cs., 1992; Philip và cs., 1992; Babu và cs., 1993;Joseph và cs., 1996), lá (Sujatha và cs., 2003), đoạn thân mang chồi ngủ (Bhat và cs., 1992.),

rễ (Bhat và cs., 1995) và hạt (Nair và Gupta, 2006) Các cây con tái sinh từ callus có nguồngốc từ cây trồng từ hạt và đỉnh chồi cũng đã được báo cáo, nhưng hầu hết đều không thànhcông Như vậy, loại mẫu cấy rất quan trọng trong việc xác định khả năng nảy mầm và tái sinhcủa cây Hơn nữa, độ tuổi sinh lý mẫu cấy, loại mẫu cấy và kích thước mẫu cấy cũng ảnh

hưởng đến sự hình thành cơ quan in vitro.

Năm 1984, Mathews và cs tiến hành nghiên cứu in vitro khả năng phát sinh hình thái từ

các loại mẫu vật khác nhau của cây tiêu Kết quả, tác giả nhận thấy rằng: trừ mô lá và bao phấn,callus được hình thành từ tất cả các mẫu cấy trên môi trường MS có bổ sung tổ hợp auxin,cytokinin Khả năng tái sinh chồi xảy ra khi nuôi cấy đỉnh chồi của cây con trên môi trường MS

có bổ sung IAA 1,0 mg/l và BA 1,0 mg /l Chồi in vitro đem tạo rễ trên môi trường ½ MS có bổ

sung 0,2 mg/l NAA

Đến năm 1992, Philip và cs đã sử dụng nhiều loại môi trường, chất điều hòa sinhtrưởng và các phương pháp khử trùng khác nhau để nghiên cứu vi nhân giống tiêu đen thôngqua nuôi cấy đỉnh chồi Kết quả cho thấy, hạt giống thường bị nhiễm nấm, vi khuẩn và virusgây bệnh Do đó, khử trùng bề mặt lặp đi lặp lại đã ức chế được sự phát triển của vi khuẩnnhưng không thể loại bỏ nó BA riêng lẻ hoặc kết hợp với IBA và sulfat adenosine (AdSO4)làm tăng khả năng phát triển của đỉnh chồi nuôi cấy Đỉnh chồi phát triển tốt nhất trên môitrường MS có chứa 1,5 mg/l BAP; môi trường thích hợp cho chồi nách sinh trưởng và pháttriển chứa 1,5 mg/l BAP và 3,0 mg/l IBA Chồi cao 4 - 5 cm được cấy lên môi trường ½ MS

có bổ sung 1,0 mg/l NAA để tạo rễ Sau khoảng 4 tuần, cây tái sinh hoàn chỉnh được chuyểnsang chậu có chứa compost (than bùn : cát : đất với tỷ lệ 2:1:1), phủ nilon trong hai tuần trướckhi đưa đến nhà kính

Nghiên cứu khả năng tái sinh cây từ phôi soma tiêu đen, Joseph và cs (1996) nhận

Trang 10

thấy từ lúc hình thành callus, phát triển phôi soma cho đến giai đoạn nảy mầm của phôi mấtkhoảng 8 tháng trong môi trường rắn; trong khi chỉ mất 8 tuần trong môi trường bán lỏng.Đồng thời, nhóm tác giả cũng cho rằng các chất điều hòa sinh trưởng ngoại sinh là không cầnthiết cho sự tăng sinh callus hay sự phát triển của phôi soma

Hầu hết các thí nghiệm đều sử dụng môi trường MS có bổ sung các chất điều hòa sinhtrưởng thuộc nhóm auxin, cytokinin Nguồn auxin có thể là IBA, NAA, IAA và nguồncytokinin gồm BA, kinetin

Năm 2003, Sujatha và Babu đã tiến hành nghiên cứu phát sinh hình thái bằng nuôi cấymảnh lá cây hồ tiêu trên môi trường MS có bổ sung IAA và BA Ngoài ra, bạc nitrat (AgNO3)

5 - 15 ppm đã được nhóm tác giả sử dụng trong môi trường nhằm làm tăng khả năng tạo chồi

Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Nair và Gupta (2006) môi trường SH có bổsung 3,0 - 4,5% sucrose thuận lợi cho sự phát triển của phôi và ở nồng độ sucrose 4,5% một

số phôi sớm nảy mầm

Năm 2008, Moura và cs đã dùng hạt để khảo sát ảnh hưởng cytokinin và than hoạttính lên khả năng tạo chồi cây tiêu Trong môi trường bổ sung 0,2% than hoạt tính, nhóm tácgiả nhận thấy không có sự khác biệt trong cảm ứng chồi với nồng độ BAP sử dụng Điều nàychỉ ra rằng than hoạt tính làm giảm tác dụng của BAP Theo Ebert và Taylor (1990), than hoạttính có tác dụng hấp phụ cao chất điều hòa sinh trưởng có trong môi trường nuôi cấy Do đó,

nó giải thích lý do tại sao có sự khác biệt giữa số lượng trung bình của chồi ở cùng nồng độBAP có và không có than hoạt tính Như vậy, than hoạt tính có thể được sử dụng để làm giảmquá trình oxy hóa của các mô Than hoạt tính được sử dụng trong giai đoạn cuối cùng của quátrình vi nhân giống để tạo rễ và huấn luyện cây trước khi đưa ra ngoài

Năm 2011, Hussain và cs đã tiến hành nghiên cứu nuôi cấy mô cây tiêu tại Pakistan.Nhóm tác giả đã sử dụng thân, lá và đỉnh chồi của cây tiêu để nuôi cấy trên môi trường MS có

bổ sung chất điều hòa sinh trưởng thực vật (2,4-D, BA, IBA) Kết quả cho thấy, tỷ lệ callushình thành thấp trên môi trường bổ sung 2,4-D hoặc IBA ở các nồng độ (0,5; 1,0; 1,5; 2,0;2,5; 3,0 và 3,5 mg/l) Trong khi đó, trên môi trường MS có bổ sung BA 1,5 mg/l thì 100%callus được hình thành từ đỉnh chồi Tái sinh chồi trên môi trường MS có BA 0,5 mg/l thì100% chồi hình thành sau 14 ngày nuôi cấy Rễ bắt đầu xuất hiện sau 8 ngày nuôi cấy trênmôi trường MS bổ sung IBA 1,5 mg/l Cây con hoàn chỉnh được chuyển vào chậu có chứaphân, cát, và đất theo tỷ lệ 1:1:1 Sau 2 tuần huấn luyện thích nghi với điều kiện môi trường,cây được chuyển sang trồng ở nhà kính

Cũng trong năm này, Ahmad và cs (2011) đã dùng cuống lá để nghiên cứu khả năngtái sinh cây tiêu đen trên môi trường MS có bổ sung các chất kích thích sinh trưởng với cácnồng độ khác nhau Cảm ứng callus tốt nhất (85%) trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l BAsau 4 tuần nuôi cấy Sau đó, nhóm tác giả cấy chuyền các callus sang môi trường tương tự đểtái sinh chồi Khả năng tái sinh chồi cao nhất (92%) được ghi nhận ở nồng độ BA 0,5 mg/lsau 5 tuần cấy Số chồi tạo hình thành là 8,1 chồi/mẫu cấy Ngoài ra, tỷ lệ tạo rễ cao nhất(95%) khi sử dụng môi trường có bổ sung 2,0 mg/l IBA

Năm 2012, Maju và cs lại cho rằng khi hạt bắt đầu nảy mầm, môi trường cơ bản SHhoặc MS là tốt hơn so với môi trường cơ bản bổ sung các chất kích thích sinh trưởng Ngay cảviệc bổ sung nồng độ thấp BA (0,1 - 0,2 mg/l) ảnh hưởng không tốt đến sự nảy mầm và hơnnữa cũng ảnh hường đến sự phát triển rễ của các cây con Hạt chín cảm ứng nảy mầm tốt hơn

Trang 11

so với hạt chưa chín Trên môi trường SH bổ sung 2,5 mg/l BA và 0,5 mg/l IAA, chồi pháttriển từ callus đỉnh chồi và đoạn thân với 18 ± 1,7 chồi/mẫu cấy Các chồi tái sinh cao 2 - 4

cm được tách ra và chuyển đến môi trường ½ SH có chứa 0,5 mg/l IBA để tạo rễ Cây conhoàn chỉnh sau đó được đưa đến nhà kính với tỷ lệ sống sót 90%

Ở Việt nam trong những năm gần đây cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây

hồ tiêu Khác với những nghiên cứu về trồng trọt và bảo vệ thực vật, cây hồ tiêu được thực

hiện nhiều và chi tiết Tuy nhiên, những nghiên cứu về nhân giống in vitro cây hồ tiêu được

công bố còn tương đối ít

Kết quả của Đoàn Thị Ái Thuyền và cs (2005) rất đáng chú ý Công trình đã nghiêncứu việc sử dụng kháng sinh trong khử trùng mẫu Hồ tiêu là cây lâu năm, có nhiều mầmbệnh nội sinh như nấm, khuẩn nằm bên trong mô Do đó, các phương pháp khử trùng bề mặtthông thường không thành công trong việc loại bỏ mầm bệnh Để mẫu cấy được vô trùnghoàn toàn, nhóm tác giả đã sử dụng cefotaxim (0,5%) kết hợp với phương pháp khử trùng bềmặt Kết quả không những loại bỏ được các nguồn lây nhiễm bên ngoài mà còn có tác dụngdiệt được các mầm bệnh nội sinh bên trong Hơn nữa, để làm giảm sự tái nhiễm khuẩn mẫucấy, nhóm tác giả đã bổ sung 0,5% cefotaxim trong môi trường nuôi cấy ban đầu Sau đó, cấychuyền mẫu sang môi trường không có chất kháng sinh để tạo chồi mới Với phương phápkhử trùng trên, nhóm tác giả đã nhận được 20 - 30% số mẫu sạch hoàn toàn bệnh nội sinh.Đồng thời, nhóm tác giả cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng lên

sự sinh trưởng và phát triển của cây hồ tiêu in vitro Môi trường MS có bổ sung BA 2 mg/l và

IBA 0,5 mg/l thích hợp nhất cho quá trình tạo chồi từ đốt của cây hồ tiêu Trong đó, khả năngtạo chồi ở những đốt càng gần gốc càng cao Điều này chứng tỏ, khi bổ sung một lượng auxin

và cytokinin thích hợp sẽ làm tăng rõ rệt số chồi hình thành ở đốt cấy Khả năng biệt hóa chồi

từ callus tốt nhất trên môi trường MS có bổ sung BA (5,0 mg/l), IBA (0,5mg/l) và KIN (0,5mg/l) Khả năng tạo rễ của cây hồ tiêu dễ dàng trên môi trường ½ MS có bổ sung NAA ởnồng độ thấp (0,1 - 0,2%)

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Linh và cs (2006) cho thấy callus không thể hìnhthành trên môi trường không bổ sung auxin Môi trường chỉ bổ sung auxin (2,4-D) riêng lẻ,callus hình thành và phát triển chậm, không có khả năng tái sinh chồi nhưng có khuynh hướngtạo rễ Môi trường MS bổ sung BA (5 mg/l) phối hợp với 2,4-D (0,5 mg/l) thích hợp nhất đểtạo và nhân callus từ lá tiêu Việc sử dụng phối hợp 3 mg/l BA và 0,3 mg/l TDZ trong cùng

một môi trường nuôi cấy đã làm tăng nhanh khả năng nhân chồi tiêu in vitro

Đến năm 2007, Nguyễn Thị Thanh và cs cũng đã sử dụng cefotaxim 1% kết hợp vớiphương pháp khử trùng bề mặt để khử trùng hạt tiêu lột vỏ Kết quả thu được mẫu vô trùng từ

80 - 90% Tỷ lệ nảy mầm cao khoảng 57% so với hạt tiêu không lột vỏ Bên cạnh đó, việc táisinh callus từ hạt cũng đã được nghiên cứu Các hạt tiêu vô trùng được đặt trên môi trường

SH có bổ sung 2,4-D nồng độ từ 0,1-2 mg/l và kinetin 0,l mg/l sau một thời gian nuôi cấyquan sát thấy callus hình thành từ vị trí mô noãn Đồng thời, nhóm tác giả cũng tiến hành tạocallus từ rễ khi nuôi cấy trên môi trường SH có bổ sung 0,5 mg/l 2,4-D Callus này được cấychuyền nhân lên cùng môi trường Tuy nhiên, hiệu suất hình thành callus sinh phôi cũng nhưtốc độ nhân mô phôi trên môi trường không cao Nghiên cứu tái sinh chồi trực tiếp từ đốt,lóng, mẫu mô lá hồ tiêu cũng được nhóm tác giả thực hiện

Trang 12

Cũng trong thời gian này, Bùi thị Tường Thu, Trần Văn Minh (2007) đã nghiên cứu

kỹ thuật tái sinh phôi soma cây tiêu (P nigrum L.) nhằm nâng cao năng suất đồng đều trên

các vườn tiêu trồng thâm canh Kết quả cho thấy môi trường thích hợp cho việc phát sinh tếbào soma từ đọt thân chẻ dọc là SH + sucrose 30 (g/l) + 2,4-D (1 mg/l), tăng sinh phôi somatrên môi trường SH + BA (1 mg/l) + sucrose 45 (g/l), tái sinh phôi soma trên môi trường MS+ BA (5 mg/l) + KIN (3 mg/l) + NAA (0,5 mg/l), nhân nhanh thể chồi trên môi trường MS +

BA (0,5 mg/l) + nước dừa (10%), nuôi cấy phát sinh rễ trên môi trường MS + NAA (0,1mg/l) Đây là một hệ thống nhân nhanh công nghiệp hiệu quả

Mặt khác, khi nghiên cứu sự phát sinh hình thái trong nuôi cấy lớp mỏng tế bào (thin

cell layer) lá ở cây hồ tiêu (Piper nigrum L.), Đỗ Đăng Giáp và cs (2009) cho thấy mẫu cấy

tTCL mảnh lá dễ dàng hình thành callus trên môi trường MS bổ sung tổ hợp 2,4-D (0,5 mg/l)

và BA (5 mg/l) Đồng thời, môi trường MS bổ sung 5 mg/l BA thích hợp cho sự phát sinhchồi từ callus

Ngoài việc nghiên cứu nhân giống in vitro cây hồ tiêu, các nhóm tác giả cũng đã

nghiên cứu khả năng sạch virus của cây tái sinh bằng các kỹ thuật sinh học phân tử Bằng kỹthuật ELISA (Enzyme Linked Immunosorbent Assay), Phan Đức Sơn (2003) đã kết luận có 9loại virus gây hại trên cây tiêu tại các vùng điều tra: Kiên Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu và BìnhPhước Năm 2005, Đoàn Thị Ái Thuyền và cs cũng đã sử dụng kỹ thuật ELISA đối với mẫu

trước và sau khi nuôi cấy in vitro để kiểm tra sạch virus đối với các loại virus ToMV (Tomato Mosaic Virus), PVX (Potato virus X), PVY (Potato virus Y) và CMV (Cucumber

mosaic virus) trên các giống được trồng phổ biến tại các tỉnh miền Đông Nam bộ Mặt khác,tác giả Nguyễn Thị Kim Linh và cs (2006) lại sử dụng kỹ thuật SDS (Sodium DodecylSulphate) để kiểm tra 4 loại virus: TMV (Tobacco mosaic virus), ToMV, PVX và PVY trêncác chồi tiêu mới tái sinh từ callus Kết quả cho thấy các chồi tiêu hoàn toàn sạch virus

1.2.4 Nghiên cứu bệnh chết nhanh ở cây hồ tiêu

Bệnh chết nhanh được ghi nhận đầu tiên ở Kampong Pempen tại Lampung (SumateraIsland), Indonesia năm 1885 Sau đó, lan rộng đến Kamong Negara Agoeng, Goenoeng SugihKetjil, Djabung và Negara Batin (Rutgers, 1915) Triệu chứng tương tự được ghi nhận tạiMalang (East Java) năm 1905 (Zehtner, 1905), Bangka Island năm 1916 (Soepartono, 1953)

và Aceh năm 1929 (Muller, 1936) Dịch bệnh tại Palembang năm 1918, tại vùng phía Nam vàĐông Kalimantan năm 1930, phía Tây Java năm 1931 và Central Java năm 1933 (Soepartono,1953) Ngày nay, bệnh chết nhanh được tìm thấy ở hầu hết các vườn tiêu của Indonesia

Ở Malaysia, bệnh được ghi nhận đầu tiên là “chết nhanh” ở Sri Aman Divsion,Sarawak Năm 1940, dịch bệnh bùng phát ở Kuching và Samarahan Division, được xác địnhnhư là bệnh hại rễ mới Bệnh cây phát sinh hàng loạt, bắt đầu năm 1953, phá hủy khoảng 50%vườn tiêu ở Kuching-Seria Dịch bệnh là nguyên nhân gây mất 7.000 tấn tiêu, ước tínhkhoảng 1,7 triệu USD

Ở Ấn Độ, bệnh phát hiện đầu tiên năm 1902 ở vùng Wynad, kế là Madras In Sarma et

al., (1991) ghi nhận bệnh do Phytophthora spp ở Kerala, Karmataka và Tamilnadu

Tại Indonesia, Manohara và Sato (1992) đã thu thập được 168 isolate gây bệnh thối rễtiêu Trong số các isolate này, có 43 isolate được khảo sát các đặc điểm hình thái và sinh lý

Trang 13

Kết quả cho thấy có 1 isolate không phù hợp với đặc điểm của P palmivora MF4 (P.capsici) Loài này được nghi ngờ thuộc loài P nicotianae var parasitica hoặc P nicotianae var nicotianae.

Tại Malaysia, Philippines, Thái Lan đã phát hiện có sự xâm nhập và gây hại của loài

Phytophthora parasitica Tuy nhiên, loài gây hại phổ biến vẫn là loài Phytophthora capsici.

Tại Ấn Độ, Anandaraj (2000) thấy rằng rễ tơ của cây tiêu phát triển nhiều nhất vàotháng 7 và tập trung ở tầng 0-40 cm từ gốc tiêu và ở độ sâu 40 cm Những nghiên cứu ởIndonesia cũng cho kết quả tương tự, có 63,8% rễ tơ ở tầng 0-50 cm Các kết quả này chothấy, các yếu tố thời tiết trong mùa mưa không chỉ thích hợp cho nấm bệnh phát triển mà còn

giúp cây tiêu tạo ra các bộ phận non mẫn cảm với nấm Phytophthora spp.và rễ tiết ra dịch rễ hấp dẫn các bào tử động nấm Phytophthora spp.

Đất ẩm ướt, đất nghèo dinh dưỡng, đất có hàm lượng canxi, magiê, kali thấp và hàm

lượng đạm cao cũng tạo điều kiện cho nấm Phytophthora spp phát triển mạnh (Erwin và

Ribeiro, 2005)

Một trong những vi sinh vật quan trọng sống trong đất gây hại cho cây tiêu là nấm

Phytophthora spp Nấm gây hiện tượng chết nhanh và phân bố rộng rãi trên thế giới, đặc biệt

là Châu Á, Châu Úc Ngoài ra, còn có các loài nấm khác gây chết cây như Fusarium spp., Sclerotium rolfsii, Rhizoctonia solani (Barbara, Andre, 2001).

Anith et al., (2003) và Tran (2007) đã thành công trong việc phân lập các chủng vi

khuẩn Pseudomonas đối kháng với P capsici từ vùng rễ cây tiêu có khả năng hạn chế Phytophthora capsici gây héo cây trong vườn ươm.

Bệnh chết nhanh gây thối rễ do Phytophthoracapsici, điều trị bằng metalaxyl, hoặc

phosphonate, fosetyl-Al rất có hiệu quả (Manohara và Rizal, 2002; Wong, 2004) Trên câysầu riêng, Phosphonate được tiêm trực tiếp vào mạch gỗ và libe của cây hạn chế được bệnh do

nấm Phytophthora palmivora gây chảy nhựa thân cây, thối quả, đốm lá và thối rễ Kinh

nghiệm này được Wong (2004) thử nghiệm thành công trên các gốc tiêu có đường kính rễ

7,5-10 mm hút trực tiếp dung dịch acid phosphorous 1-2%

Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, cũng có nhiều ý kiến khác nhau về tác nhân gây bệnh chết nhanh trêncây tiêu Kết quả nghiên cứu thành phần sâu bệnh hại hồ tiêu tại Tân Lâm, Quảng Trị củaNguyễn Ngọc Châu (1995) cho biết tác nhân gây bệnh héo chết nhanh là do nấm

Phytophthora palmivora var piperis Từ các mẫu rễ tiêu bị bệnh thu thập được ở Long

Khánh, Đồng Nai, Nguyễn Vĩnh Trường và cs (2002) đã xác định được nấm gây bệnh cây

tiêu tại các vùng này là Phytophthora capsici bằng phương pháp sinh học phân tử Kết quả

nghiên cứu của Trần Kim Loang và cs (2006) cho thấy trên cây tiêu tại Tây Nguyên có 2 loài

Phytophthora spp gây hại là P capsici và P palmivora.

Một số loài nấm thuộc chủng Phytophthora spp gây thiệt hại ngày càng cao trên một

số cây trồng ở Việt Nam, bao gồm cây ăn quả, rau, cây gia vị, và các cây công nghiệp Mười

ba loài Phytophthora spp đã được định danh ở nước ta, trong đó có hai loài gây thiệt hại nặng

là P infestans trên cây cà chua và P capsici trên hồ tiêu (Đặng Vũ Thị Thanh cs., 2004)

Trang 14

Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà (2007) cho thấy bệnh chết nhanh do nấm

Phytophthora capsici trên cây tiêu ở Quảng Trị là cản ngại chính cho sản xuất hồ tiêu tại địa

phương thiệt hại năng suất từ 17-18% Xử lý hom tiêu trước khi trồng với thuốc trừ nấm có

khả năng giảm thiệt hại do nấm Phytophthora spp gây ra cho vườn tiêu Kết quả nghiên cứu

của Drenth và Sendal (2004) cũng cho thấy thiệt hại do bệnh chết nhanh gây ra ở Việt Nam là15-20% do thiếu kinh nghiệm quản lý bệnh hại

Bệnh hại nghiêm trọng nhất hiện nay đối với hồ tiêu là bệnh chết nhanh, nguyên nhân

gây bệnh là do loài nấm Phytophthora palmivora (Nguyễn Đăng Long, 1987-1988) kí sinh

trên rễ và thân ngầm gây ra Theo nhận xét của tác giả, bệnh phụ thuộc rất nhiều vào quá trìnhtích luỹ của nấm bệnh ở trong đất, nếu có thêm những tác nhân từ bên ngoài tác động vào,bệnh sẽ dễ dàng phát triển thành dịch Khi dịch bệnh đã phát sinh, sự lây lan nhanh chóng củabệnh theo kiểu vết dầu loang do nước mưa chảy tràn Những công trình nghiên cứu gần đây

nhất cho thấy bệnh chết nhanh trên cây tiêu do loài nấm Phytophthora capsici gây nên

(Nguyễn Vĩnh Trường và cs, 2002, 2004; Bùi Ngọc Thao và cs., 2010; Đoàn Nhân Ái, 2007) Bệnh chết nhanh trên cây tiêu rất nguy hiểm, nấm gây bệnh tấn công trên tất cả các phầncủa cây tiêu, và ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng của cây, trường hợp nấm bệnh tấn công vào rễhoặc cổ rễ sẽ gây cây chết đột ngột (Phan Quốc Sủng, 2000)

1.2.5 Nghiên cứu thu hoạch, bảo quản và chế biến hồ tiêu

Thời gian thu hoạch hồ tiêu kéo dài 5-6 tháng ở Indonesia và 7-8 tháng ở Ấn Độ(Dhas, Korrikanthimath, 2003) Thu hoạch hồ tiêu đúng thời điểm đóng vai trò rất quan trọng

để có sản phẩm hồ tiêu tốt và mẫu mã đẹp Hầu hết hồ tiêu hiện nay được thu hoạch bằng tay.Tuỳ vào loại hồ tiêu chế biến mà được thu hoạch ở mức độ già và chín khác nhau của quả hồtiêu Theo Natarajan (1981) để chế biến tiêu trắng (sọ) cần thu hoạch khi chín hoàn toàn (fullyripe); Hồ tiêu đen cần thu hoạch khi gần chín (near ripe), già hoàn toàn (fully mature); Hồ tiêuđóng hộp thu hoạch giai đoạn 4-5 tháng; Hồ tiêu xanh được khử nước (làm khô bằng hơi) thuhoạch trước 10-15 ngày trước khi già hoàn toàn; Chế biến Oleoresin và tinh dầu thu hoạchtrước 15-20 ngày trước khi già hoàn toàn; Chế biến bột hồ tiêu thu hoạch già hoàn toàn vớihàm lượng tinh bột cao nhất Những thay đổi về thành phần hoá học của quả hồ tiêu từ giaiđoạn bắt đầu già (mature) đến chín (ripe) đã được nghiên cứu (Sumathykutty và cs., 1980)

Phơi khô là bước chế biến quan trọng nhất cho tất cả các loại gia vị Hồ tiêu quả cóhàm lượng nước 60-70% ở giai đoạn thu hoạch Quả hồ tiêu có màu xanh, khi phơi khô cómàu đen do enzyme và các hợp chất phenol bị oxy hoá bởi không khí và enzyme phenolase(Mathew, 1994) Phương pháp truyền thống phơi khô hồ tiêu là phơi nắng, sau khi phơi 4ngày có ẩm độ hạt dưới 10% Trong quá trình phơi nắng chí ý đảo, tạo độ khô đồng đều trongkhi phới Nếu phơi không khô đảm bảo độ ẩm hạt dưới 10% thì dễ nhiễm các loại nấm mốclàm cho chất lượng sản phẩm bị kém, mẫu mã xấu (Govindarajan, 1977) Để đảm bảo chấtlượng hồ tiêu khô tốt, cần phơi trên các bề mặt sạch Nghiên cứu do Krishnamoorthy vàZachariah (1992) và Rajagopalan et al (1999) về các loại bề mặt để phơi hồ tiêu, kết quả chothấy không có sự khác nhau

Một kỹ thuật mới liên quan làm trắng (Blanching) các chùm tiêu xanh trong nước sôitrong một phút đã được tiêu chuẩn hoá bởi Viện nghiên cứu Công nghệ Thực phẩm Trungtâm (CFTRI, Central Food Technological Research Institute) ở Karnataka (Pruthi, 1993) Ưu

Trang 15

điểm của phương pháp này là làm thúc đẩy nhanh quá trình khô, màu sắc đồng nhất và giảmnhiễm tạp chất và vi sinh vật Tăng cường oxy hoá phenol của các enzyme pheloase trong quátrình làm trắng và có màu sắc đen đồng đều (Mathew, 1994) Risfaheri, Hidayat (1993) chorằng làm trắng quả hồ tiêu trong nước nóng 80oC trong 1,5-5 phút trước khi phơi nắng Tuynhiên kéo dài thời gian trong nước nóng có thể làm bất hoạt các enzyme và làm mất màu củaquả hồ tiêu Kết quả của Viện Nghiên cứu Cây gia vị Ấn Độ (IISR) cho biết phương pháp xử

lý nước nóng làm giảm mức độ nhiễm vi sinh vật 75-90%

Máy sấy bằng năng lượng mặt trời đã được phát triển bởi Trung tâm Viện Kỹ thuậtNăng lượng (CIAE, Central Institute of Agricultural Engineering) ở Tamil Nadu và được thửnghiệm sấy các nông sản trong đó có hồ tiêu (Joy et al., 1999; Pittappillil, 2000) Ngoài ra cónhiều loại máy sấy được thiết kế để sấy nông sản và hồ tiêu với các công suất khác nhau nhưmáy sấy ASTRA ở Ấn Độ (Anonymous, 1998), máy sấy khay ở Indonesia (Nurdjannah,Hidayat, 1996)

Nhiệt độ cao trong quá trình sấy làm cho hạt hồ tiêu có màu đen bóng loáng và có thểbán với giá cao (Patil, 1989) Các kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu Cây gia vị Ấn độ(IISR) cho biết sấy hồ tiêu ở nhiệt độ 60-65oC thì cũng loại trừ được tất cả vi sinh vật

Làm sạch và phân loại là các bước thực hiện cơ bản để làm tăng giá trị của sản phẩm

hồ tiêu Ở các qui mô nhỏ, hầu hết làm sạch bằng sàng sẩy và bằng tay hoặc sử dụng quạt sẩy.Một số thiết bị rây sàng quay và các thiết bị khác được thiết kế để làm sạch và phân loại hồtiêu (Madasamy, Gothandapani, 1995; 1996; Varadharaju, Sreenarayanan, 1992; Natarajan,1981; Pruthi, 1992) Sử dụng rây làm sạch và phân loại hồ tiêu chủ yếu dựa vào kích thướchạt, các tiêu chuẩn được áp dụng ở Ấn Độ cho hồ tiêu xuất khẩu (Pruthi, 1993)

Hồ tiêu có thể được chế biến ở các dạng sau để làm tăng giá trị sản phẩm:

Hồ tiêu xanh khô: Thomas và Gopalakrishnan (1992) phát triển một quy trình chế biếnliên quan đến làm trắng hồ tiêu (Blanching) và sunphite kết hợp với kiểm soát sấy và giảm ẩm

độ để đảm bảo màu xanh của hồ tiêu

Hồ tiêu xanh đóng hộp: Thu hoạch quả hồ tiêu 1 tháng trước khi già là lý tưởng chosản xuất tiêu xanh đóng hộp (Narayanan et al., 2000)

Hồ tiêu xanh đóng chai: Quá trình sản xuất bao gồm thu hoạch quả hồ tiêu già, đồngnhất về kích thước Rửa, làm sạch và nhúng vào dung dịch acid citric 20% trong 3-4 tuần Sau

đó quả hồ tiêu được ngâm trong dung dịch, đóng chai và bảo quản tránh ánh sáng mặt trời(Pruthi 1997a)

Hồ tiêu trắng: Được chế biến loại bỏ lớp thịt quả bên ngoài Các bước sản xuất tiêutrắng có thể thưc hiện theo mô tả của Pruthi (1980) Hiện nay cũng có nhiều phương pháp đểsản xuất tiêu trắng bằng nhiều phương pháp khác nhau Purseglove và cs (1981), Anonymous(2001)

Ngoài ra hiện nay còn có các sản phẩm tách chiết tinh dầu hồ tiêu (Pruthi, 1977b;Narayanan cs., 2000); sản phẩm oleoresin (Risfaherin, Nurdjannah, 2000; Narayanan, 2000)

Bảo quản hồ tiêu cần được bảo vệ chống ẩm độ, ánh sáng, nhiệt và hương thơm, mùi

vị trong quá trình bảo quản Ẩm độ hạt trước khi bảo quản dưới 10% Các loại nấm mộc, côntrùng cần được loại trừ trong quá trình làm sạch, phơi sấy

Chất lượng của hồ tiêu phần lớn quyết định bởi phương pháp phơi, sấy Mẫu mã, mức

độ nhiễm vi sinh vật, nấm mốc và côn trùng phụ thuộc trong suốt quá trình phơi, sấy

Trang 16

(Pursegolve và cs., 1981) Nếu phơi, sấy không đảm bảo thì nấm mốc sẽ phát triển trên sảnphẩm làm ảnh hưởng đến mẫu mã, chất lượng và giá trị Để bảo quản tốt hồ tiêu thì ẩm độ hạt

là 8,20% và bảo quản ở nhiệt độ 25-280C (Kachru cs., 1990)

Hợp chất alkaloid piperine là thành phần chủ yếu tạo nên vị cay của hạt hồ tiêu và cáchợp chất alkaloid khác là chavicine, piperidine và piperattine (Zachariah, 1998) Thành phầnpiperine trong hồ tiêu khoảng 4-10% nhưng ở dạng thô, ở dạng tinh khiết thì thấp hơn (Pruthi,1993) Tuy nhiên tinh bột là thành phần chủ yếu trong hạt hồ tiêu 35-40% ở tiêu đen và 53-58% ở tiêu trắng (Govindarajan, 1977)

Chất lượng của hồ tiêu phần lớn được quyết định bởi kích thước quả, màu sắc, cácthành phần hợp chất, ẩm độ, sự hiện diện của vi sinh vật và vật ngoại lai những yếu tố này lạiđược quyết định bởi quá trình thu hoạch, chế biến, bảo quản ở nông hộ và doanh nghiệp thumua để xuất khẩu Trên thị trường quốc tế, các chỉ tiêu chất lượng cho thương mại hồ tiêu docác nước nhập khẩu và sản xuất hồ tiêu đưa ra

Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam thời gian thu hoạch hồ tiêu diễn ra 2-3 tháng ở vùng Tây nguyên và ĐôngNam Bộ và 4-5 tháng ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Trung bộ Tiêu được hái bằng tay

và thu hoạch 2-3 đợt trong một vụ (Tôn Nữ Tuấn Nam cs., 2008) Ở nước ta hiện nay tiêu chủyếu được chế biến ở dạng tiêu đen và tiêu trắng Theo Tôn Nữ Tuấn Nam và cs (2008) 1 tấntiêu đen loại tốt sau khi chế biến thành tiêu trắng, giá trị tăng lên 5 -6 triệu đồng/tấn Chế biếntiêu trắng ở mức nông hộ và đại lý thu mua giúp tăng thêm giá trị gia tăng khoảng 300-500nghìn đồng cho mỗi tấn tiêu tuỳ thời điểm (Nguyễn Tăng Tôn, 2005) Tuy nhiên việc sản xuấttiêu trắng chưa có qui hoạch và còn gặp vấn đề về môi trường trong quá trình sản xuất có thểgây ô nhiễm môi trường mùi hôi thối bốc lên trong quá trình ủ ngâm và lên men

Để đánh giá chất lượng hồ tiêu Việt Nam, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượngkết hợp với Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam đã xây dựng và ban hành bộ tiêu chuẩn chất lượng hồtiêu bao gồm: TCVN7036-2002 tiêu đen và TCVN7037-2002 tiêu trắng Bên cạch đó hồ tiêuViệt Nam hiện nay được chủ yếu xuất khẩu ở dạng nguyên liệu và theo các tiêu chuẩn nhưFAQ (Fair Acceptable Quality) và ASTA (American Spice Trades Association) (Tôn NữTuấn Nam và cs., 2008)

1.2.6 Hiệu quả kinh tế

Tổng quan về hiệu quả kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của các nhàsản xuất kinh doanh có thực hiện hạch toán kinh tế, là động lực, thước đo của mọi hoạt động.Nâng cao hiệu quả kinh tế là nhiệm vụ cuối cùng của mọi nỗ lực sản xuất kinh doanh

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật vàhiệu quả phân phối Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến việc xemxét sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được hoặc là hiệu quả kỹ thuật hoặc làhiệu quả phân phối thì mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt được hiệuquả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt tiêu chuẩn về cả hiệu quả kỹ thuật và hiệuquả phân phối thì khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế

Trang 17

Có hai phương pháp kinh tế lượng được sử dụng rộng rãi trong đo lường hiệu quả kinh

tế là phân tích phi tham số màng bao dữ liệu (DEA) và phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) Haiphương pháp thường được ước lượng bằng bình phương bé nhất (OLS) hoặc tối đa hóa xácsuất (Maximum Livelihood) với hàm điều kiện dựa trên giá trị trung bình Chẳng hạn nhưnghiên cứu của Rosli và cs (2013) về hiệu quả kinh tế của cây hồ tiêu ở Malaysia, nghiên cứucủa Thái Thanh Hà về hiệu quả sản xuất của cao su tiểu điền ở Kon Tum, hay nghiên cứu củaNchare (2007) về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kĩ thuật của hộ trồng cà phê ởCamarun, và phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất cacao ở Ghana của Aneani và cs(2011)

Cả hai phương pháp này tuy được sử dụng rộng rãi nhưng vẫn bộc lộ những hạn chếnhất định Cụ thể như mức độ tin cậy của phương pháp DEA có thể bị tác động mạnh khi tồntại biến động ngẫu nhiên trong dữ liệu; trong khi đó phương pháp SFA lại nhạy cảm với giátrị ngoại lai và gặp khó khăn trong xác định dạng hàm phù hợp

Trong nhiều nghiên cứu gần đây phương pháp hồi quy phân vị (Quantile Regression)được xem là một phương pháp tiềm năng trong đánh giá hiệu quả sản xuất nông nghiệp vớikhả năng đưa ra kết quả ước lượng chính xác và toàn diện hơn Nghiên cứu của Shaik (2014)

đã cho thấy áp dụng phương pháp hồi quy phân vị trong phân tích lại hàm sản xuất, chi phí vàhàm lợi nhuận trong ngành nông nghiệp Mỹ đưa đến những kết luận mới, toàn diện hơn ỞViệt nam, với đặc trưng là sản xuất nông nghiệp qui mô nhỏ và có biến động lớn về đặc điểmnông hộ, mực độ sử dụng các đầu vào và đầu ra, việc đánh giá hiệu quả sản xuất sử dụng hồiqui phân vị có khă năng đưa ra tham số ước lượng chính xác hơn, đồng thời khái quát tốt hơnđặc điểm phân phối giữa các biến trong mô hình

Thực trạng sản xuất và tiêu thụ hồ tiêu của thế giới

Hồ tiêu là một loại nông sản có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao Trên thị trường thếgiới, các sản phẩm hồ tiêu được giao dịch dưới các dạng sau: tiêu đen, tiêu trắng (tiêu sọ), tiêuxanh, nhựa dầu tiêu Nhu cầu tiêu thụ hồ tiêu trên thế giới không ngừng gia tăng, trong khi đó

hồ tiêu chỉ trồng thích hợp ở vùng nhiệt đới nên hồ tiêu là mặt hàng nông sản xuất khẩu quantrọng của một số nước Châu Á và Châu Phi

Về diện tích trồng, Ấn Độ hiện có đến 231 ngàn ha hồ tiêu, đứng đầu thế giới về diện tíchtiêu Indonesia là nước có truyển thống trồng và xuất khẩu hồ tiêu cũng có diện tích trồng lớn

là 171 ngàn ha Việt Nam là nước thứ 3 trên thế giới về diện tích trồng hồ tiêu Các nước cònlại đều có diện tích tích trồng hồ tiêu không quá 50 ngàn ha như: Malaisia, Srilanka, Thái Lan,Trung Quốc, Madagascar (Bảng 1.1)

Trang 18

Bảng 1.1 Sản lượng hồ tiêu của các nước sản xuất chính trên thế giới

Hồ tiêu được tiêu dùng trên hầu hết các châu lục của Thế giới bao gồm : Châu Âu, Châu

Á, Châu Mỹ, Châu Phi Trong đó, thị phần của thị trường nhập khẩu hồ tiêu cao nhất là Châu

Âu đạt 26,506 tấn chiếm tỷ trọng 38,6% vào năm 2011 và tăng lên vào năm 2012 với 28,252tấn tiêu nhập khẩu, chiếm 40,6% Kế đến là Châu Á và Châu Mỹ Châu Á năm 2011 nhậpkhẩu 23,356 tấn tiêu chiếm tỉ trọng 34% và nhu cầu nhập khẩu tiếp tục tăng vào năm 2012 với25,258 tấn tiêu nhập khẩu đạt 36,2% tổng hồ tiêu nhập khẩu trên Thế giới Châu Phi là nướcnhập khẩu ít hồ tiêu, tỉ trọng nhập khẩu hồ tiêu thấp, đạt 8,7% với 5,937 tấn năm 2011 và 9%với 6,251 tấn năm 2012

Bảng 1.2 Thị trường tiêu thụ hồ tiêu năm 2011 – 2012

Thị trường

Số lượng (tấn)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (tấn)

Tỷ trọng (%)

Tại Việt Nam, trong khoảng từ năm 1975-1981 diện tích trồng tiêu dao động từ 530 hađến 900 ha và sản lượng còn thấp (530 tấn/năm – 850 tấn/năm) Đến năm 1983 diện tích đạt

Trang 19

1583 ha, sản lượng 1.013 tấn/năm, đánh dấu sự phát triển đáng kể Từ năm 1983-1995 diệntích trồng tiêu đã không ngừng tăng lên, song những biến động của thiên tai, sâu bệnh đã làmcho cây hồ tiêu chết hàng loạt Tuy nhiên ở những năm đầu thế kỉ 21 diện tích cũng như sảnlượng hồ tiêu Việt Nam không ngừng tăng lên, năm 2010 tổng diện tích hồ tiêu trong cả nước

ổn định ở 51,5 ngàn ha, sản lượng lến đến 110.000 tấn Từ năm 2003 thì Việt Nam vượt qua

Ấn Độ và trở thành nước số một về sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu

Tiêu Việt Nam hiện nay được trồng chủ yếu ở các tỉnh Đông Nam Bộ, tập trung nhiềunhất ở hai tỉnh Bình Phước và Bà Rịa - Vũng Tàu, và Đồng Nai, chủ yếu trên nền đất đỏ.Vùng trồng tiêu tập trung thứ hai là Tây Nguyên, phân bố chủ yếu ở hai tỉnh Đak Lak và GiaLai Trong đó, tiêu Chư sê ở Gia Lai có năng suất rất cao, trên dưới 4 tấn/ha, Mặc dù vậy,diện tích trồng tiêu ở Đak Lak cũng khá lớn, chiếm đến 11 ngàn ha, chỉ sau tỉnh Bình Phướcvới diện tích 13,500 ha, cao nhất nước (Bảng 1.3)

Bảng 1.3 Các vùng trồng tiêu trọng điểm của Việt Nam

( Nguồn: Báo cáo ngành hàng 2011, Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam)

Thị trường xuất khẩu hồ tiêu của nước ta chủ yếu là ở các nước khu vực Châu Âu,Châu Á, Châu Mỹ và một phần rất nhỏ sang Châu Phi (Bảng 1.4)

Bảng 1.4 Thị trường xuất khẩu hồ tiêu của nước ta năm 2010 - 2011

Trang 20

(Nguồn: Hiệp hội hồ tiêu, 2012)

Theo Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan, năm 2008 Việt Nam xuất 89.705 tấn,năm 2009 xuất khẩu 134.261 tấn và năm 2010 xuất khẩu 116.861 tấn với tổng kim ngạch xuấtkhẩu là 311,5 triệu đô la, 348,1 triệu đô la và 421 triệu đô la Năm 2011, Việt Nam đã xuấtkhẩu đạt 118.416 tấn với tổng kim ngạch đạt 693 triệu USD tương ứng tăng 6,9% và 65% sovới năm 2010, là năm ngành hồ tiêu đạt số lượng và giá trị xuất khẩu cao nhất từ trước đếnnay

Hồ tiêu Việt Nam đã có mặt trên 73 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Việt Namtiếp tục giữ vững kỷ lục là quốc gia sản xuất và xuất khẩu tiêu số một thế giới

So với nhiều nước xuất khẩu tiêu khá lớn trên thế giới với cùng loại tiêu, giá trị xuất khẩucủa tiêu Việt Nam luôn ở mức thấp do một lượng lớn tiêu xuất khẩu của Việt Nam được bánqua thị trường trung gian và chất lượng không đạt tiêu chuẩn vì phần lớn hạt tiêu Việt Namđược chế biến thủ công là chủ yếu

Thực trạng sản xuất và tiêu thụ tiêu của Quảng Trị

Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam đã công nhận Quảng Trị là một trong hai địa phương trên

cả nước (cùng với Phú Quốc) có chất lượng hồ tiêu tốt nhất, thuộc mặt hàng đặc chủng Theocác nhà khoa học, thời tiết khắc nghiệt đã làm cho hạt tiêu Quảng Trị săn chắc, cay hơn vàthơm hơn những nơi khác, được mua với giá cao hơn các nơi khác 1,5 lần

Diện tích cây tiêu của Quảng Trị năm 2001 là 2.025 ha, hàng năm có bổ sung thêmdiện tích trồng mới tuy nhiên, việc tăng diện tích của các vùng không lớn, chỉ khoảng 100-

200 ha/năm Quy mô diện tích chủ yếu tập trung ở Vĩnh Linh, Cam Lộ, Gio Linh; số còn lạiđược trồng rải rác ở một số nơi khác như Hướng Hoá, Triệu Phong, Hải Lăng Tuy nhiên, nhữngnăm gần đây mức độ tăng diện tích chậm lại do ảnh hưởng của giá hồ tiêu bấp bênh, không ổnđịnh mặt khác do các đối tượng sâu bệnh đã làm ảnh hưởng khá lớn đến việc phát triển hồ tiêucủa nông dân toàn tỉnh

Năng suất hồ tiêu của Quảng Trị rất thấp và không ổn định so với những vùng trồngtiêu khác trong cả nước Theo số liệu thống kê, vụ tiêu năm 2009 toàn tỉnh thu được gần 440tấn hạt tiêu khô, dù là năm được mùa nhưng sản lượng vẫn giảm so với năm 2008 là 13,2%,bình quân chỉ đạt trên dưới 1 tấn/ha mà nguyên nhân chủ yếu do trình độ canh tác, chế độ đầu

tư của nông dân còn rất hạn chế, và ảnh hưởng không thuận lợi của khí hậu thời tiết Biếnđộng diện tích hồ tiêu ở Quản trị thể hiện ở bảng 1.5

Trang 21

Bảng 1.5 Biến động diện tích trồng hồ tiêu qua một số năm ở các vùng tại Quảng Trị

Huyện Hướng Hóa 248,0 251,0 245,9 251,6 250,6 237,60 -3,8

Tổng cộng 2093,8 2134,9 2189,92 2220,3 1981,8 1995,4 - 4,7

(Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Trị năm 2011)

Trong giai đoạn từ năm 2006-2011 diện tích hồ tiêu có sự biến động khá lớn, tổngdiện tich trên toàn tỉnh Quảng Trị năm 2006 là 2.093,8 ha nhưng đến năm 2011 tổng diện tích

là 1995,4 ha, giảm 4,7% Diện tích hồ tiêu tăng giảm không đều giữa các huyện trong tỉnh

1.2.7 Chuỗi cung và cách tiếp cận trong phân tích chuỗi cung

Khái niệm chuỗi cung (chuỗi giá trị)

“Chuỗi giá trị” là một khái niệm xuất hiện và phát triển trong quản lý kinh tế vàonhững năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI Khái niệm này được đề cập đến lần đầu tiên

bởi Micheal Porter vào năm 1985 trong cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh” (Competitive Advantage) Trong đó, giá trị của sản phẩm của một doanh nghiệp được tạo ra bởi các yếu tố

như: cơ sở hạ tầng, quản trị nhân lực, nghiên cứu và phát triển (R&D), quản trị đầu vào,logistic đầu vào, logistic đầu ra, quản trị vận hành, marketing, bán hàng và dịch Các tác giảsau này như Lambert (1998), Spekman (1998) mở rộng khái niệm này ra ngoài phạm vi củamột doanh nghiệp và đưa ra khái niệm chuỗi giá trị trong đó có sự tham gia của nhiều doanhnghiệp (hoặc người tham gia) Theo các tác giả này, để đưa sản phẩm tới tay của người tiêudùng, cần có sự tham gia của nhiều người đảm nhận những vai trò khác nhau như: người thugom, người bán buôn, người bán lẻ, người chế biến Qua mỗi khâu như vậy, giá trị của sảnphẩm sẽ thay đổi

Không chỉ cải thiện khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp lớn, nâng cao khả năngtham gia vào chuỗi giá trị cũng mang lại cơ hội cải thiện sinh kế và xóa đói giảm nghèo chongười nông dân Nếu xem mỗi người nông dân là một doanh nghiệp nhỏ, việc tham gia tốthơn vào các chuỗi giá trị sẽ giúp họ tăng thu nhập, có cuộc sống ổn định hơn cũng như cácđiều kiện làm việc tốt hơn (Berg và cs 2007)

Trang 22

Nguồn: Lambert và cs (1998)

Hình 1.1 Cấu trúc chuỗi cung

Cách tiếp cận trong phân tích chuỗi cung

Thông qua tổng hợp tài liệu, Trần Tiến Khai (2011) đã đưa ra ba hướng nghiên cứuchính về chuỗi giá trị gồm (1) Khung khái niệm của Porter (1985); (2) Tiếp cận “filière”(phân tích ngành hàng - CCA); (3) tiếp cận toàn cầu của Kaplinsky (1999), Gereffi (1994;1999; 2003) và Korzeniewicz (1994) Trong khuôn khổ của chuyên đề, chúng tôi sử dụngcách tiếp cận phân tích ngành hàng Phân tích ngành hàng mang những đặc điểm sau: (1)nhấn mạnh mối quan hệ định lượng và vật chất trong chuỗi; (2) sơ đồ hóa các dòng chảy củahàng hóa vật chất; (3) sơ đồ hóa các quan hệ chuyển dạng sản phẩm

Kênh tiêu thụ hồ tiêu Việt Nam

Hồ tiêu Việt Nam xuất khẩu chủ yếu theo tiêu chuẩn FAQ (Fair Acceptable Quality)sang thị trường chính là Châu Á (40,9%), Châu Âu (36,7%), Châu Mỹ và Châu Đại Dương(14,9%), và Châu Phi (7,5%), phần còn lại xuất đi nơi khác Hồ tiêu Việt Nam đã có mặt trên

73 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Hiện nay tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam chiếmgần 43% thị phần thế giới Những năm gần đây Việt Nam đã xuất khẩu một lượng tiêu trắngđáng kể, năm 2004 chiếm 23% thị phần tiêu trắng của thế giới

So với nhiều nước xuất khẩu tiêu khá lớn trên thế giới với cùng loại tiêu, giá trị xuấtkhẩu của tiêu Việt Nam luôn ở mức thấp do một lượng lớn tiêu xuất khẩu của Việt Nam đượcbán qua thị trường trung gian và chất lượng không đạt tiêu chuẩn vì phần lớn hạt tiêu Việt Namđược chế biến thủ công là chủ yếu

Kênh tiêu thụ hồ tiêu có bốn thành phần tham gia với 2 kênh tiêu thụ, trong đó kênhtiêu thụ (1) tiêu thụ phần lớn lượng tiêu sản xuất ra

(1) Người trồng tiêu-Người thu gom-Đại lý thu mua-Doanh nghiệp chế biến hồ tiêuxuất khẩu (theo tiêu chuẩn FAQ/ASTA)-Xuất khẩu/Tiêu thụ trong nước

Trang 23

(2) Người trồng tiêu-Đại lý thu mua-Doanh nghiệp chế biến hồ tiêu (theo tiêu chuẩnFAQ/ASTA)-Xuất khẩu/Tiêu thụ trong nước.

Mối liên kết người bán - người mua

a Phân loại và đặc điểm mối liên kết người bán – người mua

Mối liên kết giữa người nông dân và người thu mua nông sản chính là mối liên kết

người bán – người mua (seller-buyer relationship) Chất lượng của loại liên kết này được chia làm 4 cấp độ khác nhau từ yếu đến mạnh bao gồm: trao đổi (transactional hoặc arm’s- length relationship), hợp tác (co-operation), phối hợp (coordination) và cộng tác (collaboration) (Duffy và Fearne, 2004) (Hình1.2)

Trong cấp độ trao đổi, cả người mua và người bán đều chỉ quan tâm đến giá cả vớinhững giao dịch ngắn hạn (thường là hằng năm hoặc hàng vụ) Trong cấp độ này, giá cả làyếu tố cạnh tranh duy nhất giữa những người bán Đây là cấp độ liên kết thường thấy trongcác cuộc bán đấu giá Hợp tác là cấp độ mà sự trao đổi thông tin bắt đầu xuất hiện đồng thờicác hợp đồng dài hạn hơn bắt đầu được ký kết Tuy nhiên, mức độ thông tin được trao đổi vẫncòn ở mức độ yếu Cao hơn, phối hợp là cấp độ mà thông tin giữa người bán và người muađược trao đổi nhiều hơn và sự đối thoại giữa người bán với người mua được thực hiện mộtcách thường xuyên hơn Hay nói cách khác, ở cấp độ này, đã bắt đầu xuất hiện sự phối hợptrong hành động của người bán và người mua Trong thực tế, để phân biệt rạch ròi giữa haicấp độ hợp tác và phối hợp là không dễ dàng Ở cấp độ cao nhất, cộng tác, ngoài việc trao đổithông tin được đẩy lên mức mạnh nhất, người bán và người mua còn tham gia vào việc lập kếhoạch chung cũng như chia sẻ công nghệ và chiến lược phát triển Tuy nhiên, thực tế khôngthường xuyên ghi nhận được các trường hợp đạt được cấp độ liên kết này, kể cả đối với cáccông ty lớn

Nguồn: Spekman et al (1998)

Hình 1.2 Các cấp độ liên kết người bán – người mua

Duffy và Fearne (2004) đã mô tả các đặc trưng của 2 mức độ liên kết ở 2 cực đối lập

là trao đổi và cộng tác như bảng 1.6 dưới đây

Bảng 1.6 Các đặc điểm của liên kết trao đổi và liên kết cộng tác

Liên kết trao đổi

Ngắn hạn và các cuộc trao đổi diễn ra tách

biệt

Liên kết cộng tác

Cam kết dài hạn

Trang 24

Một người mua có nhiều người bán

Mối tương tác giữa người mua và người bán

kém

Không có kế hoạch sản xuất và kinh doanh

rõ ràng

Không có sự phối hợp về quá trình làm việc

Không đầu tư cho mối quan hệ

Thiếu thông tin

Ranh giới giữa người mua và người bán rõ

rệt

Sử dụng sự đe dọa để giải quyết mâu thuẫn

Không có động lực cải thiện mối quan hệ

Các hành động của 2 bên bị tách rời nhau

Tâm lý cơ hội (thắng – thua)

Các mục tiêu của 2 bên mâu thuẫn nhau

Hành động một cách cơ hội dựa trên lợi ích

cá nhận

Có ít người bán được lựa chọnNgười mua và người bán phụ thuộc lẫnnhau

Sản xuất và kinh doanh theo đơn đặt hàngtrước

Làm việc một cách phối hợpĐầu tư cải thiện cho mối quan hệThông tin được chia sẻ

Hoạt động trong các đội vững chắc

Chung tay giải quyết mâu thuẫnCùng nhau tìm kiếm các giải pháp tiến bộ

Cả 2 bên cùng ra quyết định chungTâm lý hợp tác (thắng – thắng)Mục tiêu phù hợp với mục tiêu của đối tácHành động dựa trên lợi ích của cả nhóm(bao gồm cả đối tác)

Nguồn: Duffy và Fearne (2004)

b Các yếu tố đo lường chất lượng của mối liên kết giữa người bán và người mua

Để đo lường chất lượng của mối liên kết giữa người bán và người mua trong chuỗi giátrị, Fischer và Reynolds (2010) đã đưa ra sáu thành tố bao gồm: độ tin cậy, sự cam kết, sựthỏa mãn, sự cân bằng sức mạnh, khả năng giải quyết mâu thuẫn và lịch sử cộng tác

- Sự tin cậy

Morgant và Hunt (1994) giải thích độ tin cậy trong mối liên kết người bán và ngườimua là sự tự tin của người tham gia (người bán, người mua) về uy tín và tính chính trực củađối tác Hay nói cách khác, độ tin cậy thể hiện mức độ tin tưởng của một bên (người bán/người mua) đối với bên còn lại (người mua/người bán) rằng bên còn lại sẽ không làm ảnhhưởng đến lợi ích chính đáng của họ Tuy nhiên, độ tin cậy không chỉ bao hàm sự đảm bảo lợiích mà còn cả sự chấp nhận và chia sẻ rủi ro (Kwon và Suh, 2005)

Sự tin cậy của một người tham gia trong mối liên kết mua-bán được xuất phát từ nhiềuyếu tố cả từ bên ngoài và bên trong Yếu tố bên ngoài bao gồm: sự ổn định, trung thực, côngbằng, trách nhiệm, sự tử tế của đối tác Yếu tố bên trong bao gồm: khả năng tính toán, dựđoán, nhận biết rủi ro và hoàn thành trách nhiệm của người tham gia

Sự tin cậy được xem là nhân tố trung tâm của mối liên kết giữa người mua và ngườibán Nó là chìa khóa để mở ra sự cam kết lâu dài giữa hai bên (Morgant và Hunt, 1994, Duffy

và Fearne, 2004)

- Sự cam kết

Trang 25

Sự cam kết là sự sẵn lòng duy trì mối quan hệ giữa người mua và người bán Có 2hình thức cam kết giữa người mua và người bán: cam kết ý thức và cam kết hành vi (Fischer

và Reynolds, 2010) Cam kết ý thức là hình thức mà 2 bên muốn duy trì mối liên kết vì nghĩrằng mối liên kết này là quan trọng đối với họ Cam kết hành vi là hình thức duy trì mối liênkết do ràng buộc của các hợp đồng hoặc thỏa thuận Một biểu hiện rõ nhất của một mối liênkết có tính cam kết cao đó là các bên tham gia sẵn sàng hy sinh lợi ích ngắn hạn để duy trìmối quan hệ trong dài hạn

Sự cam kết là cơ sở của mối liên kết song phương giữa các mắt xích trong chuỗi giátrị Không có cam kết thì không thể gọi là liên kết, mối quan hệ giữa 2 bên chỉ là mối quan hệtrao đổi thuần túy (Bonney cs., 2007)

- Sự thỏa mãn

Khi tham gia vào một mối liên kết, dù là người mua hay người bán đều kỳ vọng vàolợi ích mà họ thu được từ mối liên kết này Cho dù lợi ích đó là gì: lợi nhuận, việc sử dụngnguồn lực hiệu quả hay uy tín tăng thêm thì các lợi ích này đều phản ánh sự thỏa mãn củacác bên Như vậy, sự thỏa mãn của người bán (hoặc người mua) được định nghĩa là mức độ

mà lợi ích của mối liên kết đáp ứng được kỳ vọng của họ Trong liên kết giữa người mua vàngười bán, sự thỏa mãn đến từ rất nhiều yếu tố như: sự công bằng trong trao đổi, sự phân chiaquyền lực trong vấn đề thương lượng, việc giải quyết mâu thuẫn (Batt, 2010)

- Sự cân bằng sức mạnh

Sức mạnh của bên A trong mối liên kết với bên B được đo lường bằng độ phụ thuộccủa bên B vào bên A Sự phụ thuộc này chính là tầm quan trọng của bên A đối với mục tiêucủa bên B Sự phụ thuộc này càng tăng, sức mạnh của bên A trong liên kết càng tăng Có 3hình thái có thể xảy ra về cán cân sức mạnh giữa người mua và người bán: người bán chiếm

ưu thế (supplier dominance), người mua chiếm ưu thế (buyer dominance) và sức mạnh cânbằng (inter-dependence)

Sự cân bằng về mức mạnh quyết định rất lớn đến việc người mua và người bán lựachọn mức độ liên kết nào Barratt (2004) và Cox (2004) đã chỉ ra rằng trường hợp người bánchiếm ưu thế sẽ dẫn đến mức độ liên kết cộng tác trong khi trường hợp người mua chiếm ưuthế sẽ dẫn đến mức độ liên kết trao đổi Theo Cox, sự cân bằng sức mạnh sẽ tác động rất lớnđến cách mà người mua và người bán làm việc, trao đổi cũng như giải quyết các mâu thuẫnchung

- Khả năng giải quyết mâu thuẫn

Mâu thuẫn được định nghĩa là sự bất đồng giữa các đối tác mà có thể dẫn đến việc phá

vỡ mối liên kết.Hiển nhiên, mâu thuẫn là không thể tránh khỏi trong bất cứ mối quan hệ nào

kể cả quan hệ mua – bán Mâu thuẫn có thể chia làm 2 loại: mâu thuẫn có lợi và mâu thuẫn cóhại Vấn đề được xem xét ở đây là cách thức giải quyết các mâu thuẫn này như thế nào và mốiquan hệ sẽ đi về đâu sau khi có mâu thuẫn xảy ra Một chiến lược giải quyết mâu thuẫn tốtgiữa hai bên sẽ mang lại rất nhiều lợi ích như: thông tin được trao đổi thường xuyên và hiệuquả, cán cân sức mạnh sẽ cân bằng hơn và cơ chế hợp tác sẽ bền vững hơn

- Lịch sử cộng tác

Trang 26

Một mối liên kết để đạt được mức độ cộng tác cần rất nhiều thời gian Mức độ này cầnđược xây dựng dần dần qua từng bước một và đòi hỏi sự nỗ lực của cả hai bên Lịch sử cộngtác (tích cực hoặc tiêu cực) được hình thành thông qua quá trình xây dựng này Một lịch sửcộng tác tích cực sẽ có tác dụng kích thích, thúc đẩy đối tác trong việc xây dựng các mức độliên kết cao thông qua việc xây dựng lòng tin Ngược lại, một lịch sử tiêu cực sẽ hạ thấp uy tín

và phá vỡ hình ảnh của một bên trong mắt của bên còn lại Ban đầu, khi người mua quyếtđịnh hợp tác, trao đổi với người bán, danh tiếng là điều quan trọng Tuy nhiên, để xây dựngcác mức độ liên kết cao, lịch sử cộng tác đóng vai trò hết sức quan trọng

1.2.8 Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới cấp xã khu vực Bắc Trung Bộ

Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 14/6/2010, ban hành Bộtiêu chí xây dựng nông thôn mới cấp xã khu vực Bắc Trung Bộ gồm 19 tiêu chí

Nhóm 1: Quy hoạch

1 Tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch

- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hànghoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ

- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới Chỉ tiêu:Đạt

- Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theohướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp

Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội

2 Tiêu chí giao thông

- Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt chuẩn theo cấp

kỹ thuật của Bộ GTVT Chỉ tiêu: 100%

- Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của BộGTVT Chỉ tiêu: 75%

- Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa Chỉ tiêu 100% (70%cứng hoá)

- Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hoá, xe cơ giới đi lại phải thuận tiện.Chỉ tiêu: 70%

3 Tiêu chí Thủy lợi

- Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh Chỉ tiêu: Đạt

- Tỷ lệ km đường mương do xã quản lý được kiên cố hoá Chỉ tiêu 85%

4 Tiêu chí Điện

4.1 Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện Chỉ tiêu: Đạt

4.2 Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn Chỉ tiêu: 98%

5 Tiêu chí Trường học

- Tỷ lệ trường học các cấp: mần non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở (THCS) có

cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia Chỉ tiêu 80%

6 Tiêu chí cơ sở vật chất văn hoá

- Nhà văn hoá và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hóa – Thông tin (VH-TT) và

Du lịch Chỉ tiêu: Đạt

- Tỷ lệ thôn có nhà văn hoá và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH-TT và Dulịch Chỉ tiêu: 100%

Trang 27

7 Tiêu chí Chợ nông thôn

- Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng Chỉ tiêu: Đạt

8 Tiêu chí Bưu điện

- Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông Chi tiêu: Đạt

- Có internet đến nông thôn Chỉ tiêu: Đạt

9 Tiêu chí nhà ở dân cư

- Tỷ lệ hộ nghèo dưới mức 6% Chỉ tiêu: 5%

12 Tiêu chí cơ cấu lao động

- Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực, nông thôn, nghề nghiệp Chỉtiêu: 35%

13 Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất

Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã sinh hoạt có hiệu quả Chỉ tiêu: Có

14 Tiêu chí giáo dục

- Phổ cập giáo dục trung học Chỉ tiêu: Đạt

- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục họcTHPT Chỉ tiêu: 85%

15 Tiêu chí Y tế

- Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế Chỉ tiêu: Đạt

- Y tế xã đạt chuẩn quốc gia Chỉ tiêu: Đạt

16 Tiêu chí Văn hoá

- Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hoá theo quy định của BộVH-TT&DL Chỉ tiêu: Đạt

- Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia Chỉ tiêu:85%

17 Tiêu chí Môi trường

- Các cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn về môi trường Chỉ tiêu: Đạt

- Không có hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trườngxanh - sạch - đẹp Chỉ tiêu: Đạt

- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch Chỉ tiêu: Đạt

- Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định Chỉ tiêu: Đạt

18 Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh

- Cán bộ xã đạt chuẩn Chỉ tiêu: Đạt

- Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định Chỉ tiêu: Đạt

- Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “Trong sạch, vững mạnh” Chỉ tiêu: Đạt

- Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên Chỉ tiêu:Đạt

19 Tiêu chí An ninh - Trật tự xã hội

Trang 28

An ninh xã hội được giữ vững Chỉ tiêu: Đạt.

Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu của cả hệ thống chính trị xã hội, cần

có sự huy động của toàn dân cùng tham gia Tuy nhiên việc xây dựng nông thôn mới hiện nayvẫn đang ở bước khởi động và cũng có không ít các chỉ tiêu còn đang lúng túng, khó thựchiện, đòi hỏi phải có nhiều thời gian và sự chung tay góp sức của toàn Đảng, toàn dân Để đápứng yêu cầu về phát triển nông thôn mới về kinh tế nông nghiệp, nông thôn cần đẩy mạnhnghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến, công nghệ sinh học, xâydựng nhiều mô hình mới, các mô hình liên kết sản xuất mang lại hiệu quả; sản xuất gắn vớithị trường tiêu thụ và bảo vệ môi trường và mục tiêu cuối cùng là nâng cao thu nhập và đớisống cho bà con nông dân

Xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ cấp bách, lâu dài đòi hỏi sự tham gia của cả

hệ chống chính trị và của toàn dân, qua đó phát huy được sức mạnh đoàn kết gắn bó cùngthực hiện nhiệm vụ chung, nhằm mang lại lợi ích thiết thực, thay đổi toàn diện bộ mặt nôngthôn, góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển văn minh, hiện đại

Như vậy, mục tiêu của đề tài nhằm phục vụ xây dựng nông thôn mới, góp phần hoànthành mục tiêu 10 (nâng cao mức thu nhập tăng 1,4 lần), mục tiêu 11 (giảm tỉ lệ hộ nghèo vàmục tiêu 17 (bảo vệ môi trường)

1.3 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hồ tiêu là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đem lại giá trị kinh tế vànguồn thu nhập cho nông dân Tuy nhiên, diện tích đất trồng tiêu, sản lượng và năng suất tiêuhiện nay đang bị suy giảm do nhiều nguyên nhân: Phần lớn nông dân canh tác cây tiêu theokinh nghiệm của địa phương là chính, giá cả thị trường hồ tiêu biến động thất thường, thâmcanh cây tiêu chưa hợp lý dẫn đến thiệt hại, trong đó sâu bệnh đóng vai trò quan trọng Sâu

bệnh hại tiêu được nhắc đến nhiều nhất là bệnh chết nhanh do Phytophthora spp., bệnh chết chậm do Fusarium sp., bệnh lá nhỏ và xoăn lá do virus, bệnh do tuyến trùng, rệp sáp Trong

đó bệnh thối gốc, rễ (chết nhanh) do nấm Phytophthora capsici là bệnh gây thiệt hại lớn nhất

về kinh tế (Nguyen, 2002; Drenth và Sendall, 2004) Ở Việt Nam, P capsici làm giảm năng

suất hồ tiêu hàng năm ước tính 15-20% do không có kinh nghiệm quản lý bệnh thối rễ, việc

sử dụng thuốc hoá học không đúng và sử dụng giống nhiễm (Drenth, Sendall, 2004; Tran,2007) Thời gian cách ly thuốc dài (15 ngày) và dư lượng trên nông sản khó kiểm soát khixuất khẩu Hơn thế nữa, ở Việt Nam chưa có giống tiêu chống chịu được bệnh chết nhanhhiện đang được sử dụng (Ton, 2005)

Hơn thế nữa hồ tiêu là một cây trồng có giá trị kinh tế cao cho xuất khẩu, đem lạinhiều ngoại tệ, nhưng các nghiên cứu về hồ tiêu ở nước ta chưa được chú trọng đúng mức.Trong giai đoạn 2000 cho đến nay đã có một số đề tài cấp bộ và cấp nhà nước tập trungnghiên cứu về giống và các biện pháp kỹ thuật, phòng trừ sâu bệnh hại và giải pháp thị trườngcho cây hồ tiêu nhưng chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Vì vậy, nghiên cứulựa chọn các giải pháp kinh tế tế-kỹ thuật để phát triển cây hồ tiêu đáp ứng yêu cầu phát triểnnông thôn mới ở vùng gò đồi Bắc Trung bộ có vai trò cấp thiết

Trang 29

Xác định được các giải pháp khoa học kỹ thuật về công nghệ chế biến sau thu hoạchnhằm sản xuất, chế biến sản phẩm hồ tiêu chất lượng cao và hướng đến xây dựng đượcthương hiệu hồ tiêu của vùng.

Xác định được các giải pháp về kinh tế trên cơ sởphân tích hiệu quả kinh tế, phân tíchchuỗi giá trị sản phẩm theo hướng các bên cùng hưởng lợi nhằm hướng đến nâng cao thunhập cho người nông dân thông qua sản xuất hồ tiêu bền vững và đáp ứng với tiêu chí xâydựng nông thôn mới

1.5 CÁCH TIẾP CẬN

1 Cách tiếp cận theo nguyên tắc kế thừa các kết quả nghiên cứu về cây hồ tiêu được

công bố trong và ngoài nước để tiếp tục phát triển các hướng nghiên cứu tiếp theo phù hợpvới điểm nghiên cứu, tránh trùng lặp

2 Cách tiếp cận vùng: Khảo sát điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội, tập quán canh tác,các biện pháp kỹ thuật canh tác, biện pháp phòng trừ dịch hại và các giải pháp kinh tế-kỹthuật khác đã áp dụng để phát triển cây hồ tiêu ở vùng nghiên cứu

3 Cách tiếp cận ứng dụng công nghệ nuôi tế bào để tạo cây giống sạch bệnh

4 Cách tiếp cận khoa học lý thuyết về Quản lý cây trồng tổng hợp (ICM, IntergratedCrop Management), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM, Integrated Pests Management) và tiếpcận Thực hành nông nghiệp tốt (GAP, Good Agricultural Practices) tạo điều kiện cho câytrồng sinh trưởng, phát triển khỏe, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế

mà vẫn thân thiện với môi trường và trong nông sản có dư lượng hóa chất, vi sinh vật hại vànhiễm bẩn vật lý dưới ngưỡng cho phép

5 Tiếp cận khoa học thực hành: Nông dân sẽ trực tiếp tham gia xây dựng mô hình vàtiếp thu ứng dụng kết quả nghiên cứu

6 Cách tiếp cập có sự tham gia, xây dựng sự phối hợp, liên kết và tham gia của 4 nhà:Nhà nông - Nhà doanh nghiệp - Nhà khoa học và nhà chính sách (chính quyền) trong đó nhàkhoa học và chính quyền sẽ tư vấn khoa học và hỗ trợ về mặt hành chính tạo điều kiện thôngthoáng để nhà nông và doanh nghiệp có thể sản xuất và đưa ra thị trường những sản phẩm cóthương hiệu

7 Cách tiếp cận hệ thống: Trong sản xuất hồ tiêu, các hộ nông dân chịu tác động trựctiếp và gián tiếp của nhiều yếu tố (tự nhiên, kinh tế, xã hội) Để đánh giá hiệu quả kinh tế vàphân tích chuỗi giá trị hồ tiêu, cách tiếp cận hệ thống là cần thiết để phân tích vấn đề một cáchtoàn diện

Trang 30

8 Cách tiếp cận truyền thông bằng các phương tiện đại chúng khác nhau như báo, đàitruyền hình thông qua các phóng sự truyền hình để hưỡng dẫn kỹ thuật thâm canh hồ tiêu theothực hành nông nghiệp tốt và quản lý cây trồng tổng hợp, sử dụng một quy trình kỹ thuậtđồng bộ trong sản xuất, thu hoạch, chế biến bảo quản để đảm bảo chất lượng của sản phẩm.

1.6 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.6.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây hồ tiêu

1.6.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tạimột số xã trồng hồ tiêu trọng điểm ở Quảng Trị

Các mẫu sâu bệnh hại, mẫu đất trồng tiêu, năng suất được thu thập và thực hiện tại Đạihọc Huế và các cơ quan khác cùng tham gia

Các thí nghiệm nuôi cấy mô, các chỉ tiêu hoá sinh được thực hiện tại tại Khoa Cơ khíCông nghệ, Trường Đại học Nông lâm, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học, ĐạihọcHuế

1.6.3 Phương pháp nghiên cứu

1.6.3.1 Phân tích, đánh giá hiện trạng canh tác, sản xuất hồ tiêu, thu hoạch, bảo quản và chế biến hồ tiêu

Ở Quảng Trị, hồ tiêu chủ yếu được trồng ở Cam Lộ, Gio Linh and Vĩnh Linh Trong

đó, Cam Lộ có điều kiện khí hậu đất đai tương tự ở vùng Tây Nguyên Việt Nam, còn GioLinh và Vĩnh Linh có địa thế đồng bằng Chúng tôi chọn 2 huyện Cam Lộ và Vĩnh Linh đểtiến hành điều tra Ở mỗi huyện chúng tôi chọn 2 xã trồng tiêu chủ lực, mỗi xã chọn ngẫunhiên 30 hộ gia đình với vườn tiêu trên 100 cây Mỗi hộ gia đình được phỏng vấn bằng phiếuđiều tra với các chỉ tiêu liên quan đến hiện trang canh tác (số cây hồ tiêu trong vườn, diện tíchtrồng), các biện pháp kỹ thuật (ươm hom giống, các hóa chất xử dụng xử lý hom giống, lượngphân bón, số lần bón) bảo quản, chế biến và tiêu thụ hồ tiêu

1.6.3.2 Xây dựng mô hình trình diễn sản xuất giống hồ tiêu khoẻ bằng phương pháp giâm hom có xử lý chế phẩm Pseudomonas

Mô hình sản xuất cây hồ tiêu giống khoẻ bằng giâm hom có xử lý vi khuẩn đối kháng

Pseudomonas dựa vào kết quả của các tác giả Tran (2007), Tôn Nữ Tuấn Nam et al (2008).

Mô hình được xây dựng với sự tham gia của nông dân với 1.000 cây/mô hình/ điểm nghiêncứu được bố trí theo phương pháp cặp đôi, đối chứng là mô hình nhân giống tiêu theophương pháp truyền thống của địa phương

Mô hình được xây dựng với sự tham gia tình nguyện của nông dân Chọn hộ nông dân

có điều kiện sản xuất cây hồ tiêu giống bằng giâm hom Sản xuất cây hồ tiêu giống theo quy

trình có xử lý chế phẩm sinh học Pseudomonas với qui mô 1.000 cây giống/mô hình tại Cam

Nghĩa tháng 10/2012

Mô hình gồm 2 công thức: Công thức có xử lý hom hồ tiêu giống với chế phẩm

Pseudomonas (xử lý Pseudomonas) và công thức đối chứng theo phương pháp truyền thống

của nông dân (đối chứng)

Trang 31

Bảng 1.7 Công thức bố trí mô hình

Giống tiêu Vĩnh Linh - Sử dụng dây lươn - Mỗi

hom giống dài 4-5 đốt

Vĩnh Linh Sử dụng dây lươn Mỗi hom giống dài 2 đốt

-Bầu ươm Túi bầu là bì PE có kích thước 20cm×

15cm (rộng × dài), đục 8 lỗ thoát nước

ở nửa dưới của bầu

Túi bầu là bì PE có kích thước10cm ×15cm (rộng × dài), đục 8

lỗ thoát nước ở nửa dưới của bầu

Tỉ lệ phối trộn

đất và phân

Đất và phân được trộn theo tỷ lệ: 4 đất+ 1 phân chuồng hoai mục + 0,5%

super lân + 1% vôi bột

Đất và phân được trộn theo tỷ lệ:

4 đất + 1 phân chuồng hoai mục +0,5% super lân + 1% vôi bột

Xử lý hom

giống

chế phẩm, để 5 phút và chấm lần

2 rồi giâm vào bầu

Chỉ tiêu theo dõi: Sinh trưởng phát triển (tỉ lệ bật hom, thân, cành, lá, số rễ, chiều dài

rễ, tỉ lệ sống), tỉ lệ sâu bệnh hại và hiệu quả kinh tế

1.6.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại cây che phủ đất đến sinh trưởng, phát triển

và tình hình sâu bệnh hại trên cây hồ tiêu.

Hiện nay theo chúng tôi được biết việc trồng cây che phủ trên các vườn hồ tiêu chưađược áp dụng ở Quảng Trị Chính vì vậy, chúng tôi sử dụng cây lạc dại làm cây che phủ để bốtrí thí nghiệm che phủ ở vườn hồ tiêu tại Quảng Trị

Thí nghiệm gồm 3 công thức sử dụng hom giống cây lạc dại với số đốt khác nhau (2đốt, 3 đốt và 4 đốt) Sử dụng cành lạc dại bánh tẻ làm hom giống Thí nghiệm được bố trítrong chậu nhựa với kích thước 40 × 80 × 50 Mỗi chậu là 1 ô thí nghiệm cơ sở và trồng 20hom/chậu, với 3 lần nhắc lại

Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của hom giống cây che phủ bao gồm: Thờigian từ trồng đến hồi xanh (ngày); Thời gian từ trồng đến khi phân cành (ngày); Thời gian từtrồng đến khi cây che phủ được đất (ngày); Khối lượng chất xanh; Năng suất (kg/ha)

Một số chỉ tiêu hóa tính của đất

Mẫu được lấy trong tầng canh tác (0 - 20 cm), lấy 5 điểm theo đường chéo góc trongmỗi chậu Mẫu đất phải được phơi khô trong không khí, nhặt sạch hết rễ cây và nghiền nhỏđến độ mịn thích hợp cho các chỉ tiêu cần phân tích

Xác định độ ẩm của đất: theo phương pháp của Phạm Thị Ánh Hồng (2004).

Xác định pH (Phạm Thị Ánh Hồng, 2004).

Mẫu được ngâm trong nước cất theo tỷ lệ 1:5 (g/ml)

Dầm kỹ mẫu bằng đũa thủy tinh và dùng máy khuấy trong 15 phút sau đó để yênkhoảng 1 giờ Sau đó lọc bằng giấy lọc Dung dịch lọc thu được dùng để xác định pH bằngmáy đo pH với điện cực thủy tinh Precisa (Thụy Sỹ)

Phương pháp phân lập các nhóm vi sinh vật đất (Nguyễn Lân Dũng, 1972)

Môi trường sử dụng cho phân lập các nhóm vi sinh vật: Môi trường MPA (thạch thịtpeptone): phân lập vi khuẩn tổng số; Môi trường Zapek - dok: phân lập nấm sợi; Môi trườngGause: phân lập xạ khuẩn; Môi trường phân lập vi khuẩn phân giải cellulose (CMC: 10 g;(NH4)SO4: 1 g; K2HPO4: 1 g; MgSO4.7H2O: 0,5 g; NaCl: 0,001 g; agar: 20 g); Môi trường

Trang 32

phân giải phosphate khó tan: (Nước: 1 L; Glucose: 10 g; MgCl2.6H2O: 5 g; Ca3(PO4)2: 5 g;MgSO4: 0,25 g; KCl: 0,2 g ; (NH4)2SO4: 0,1 g); Môi trường Ashby: phân lập vi sinh vật sinhmàng nhầy polysaccharide (Glucose: 10 g; CaSO4.2H2O: 0,1 g; K2HPO4: 0,2 g; MgSO4.7H2O:0,2 g; NaCl: 0,2 g; CaCO3: 5 g; nước: 1 L; agar: 20 g).

Các mẫu đất lấy theo phương pháp điểm vào ngày nắng Phân lập các nhóm vi sinh vậtchủ yếu trong các mẫu đất bằng phương pháp pha loãng trên môi trường chọn lọc

- Xác định số lượng vi sinh vật theo phương pháp pha loãng tới hạn trên môi trườngđịnh hướng chọn lọc

- Hoạt tính phân giải cellulose theo phương pháp khuyếch tán trên thạch và đo vòngphân giải trên đĩa thạch

- Xác định tính đa dạng của vi sinh vật bằng phương pháp hình thái, sinh lý sinh hoá

- Xác định thành phần vi khuẩn theo khoá phân loại của Bergey (1974), phân loại nấmmen của Yarrow (1998), phân loại nấm mốc của Bernett và Hunter (1995), phân loại nấmmen sinh màng nhày lipomyces của Babieva (1987)

Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của cây lạc dại đến sinh trưởng phát triển, năng suất củacây hồ tiêu cũng như độ ẩm đất và vi sinh vật đất gồm 2 công thức: Đối chứng: Không trồngcây lạc dại; Mô hình: Trồng cây lạc dại Thí nghiệm được bố trí trên vườn hồ tiêu 5 năm tuổi,giống Vĩnh Linh tại Cam Nghĩa, Cam Lộ, Quảng Trị Thời gian từ tháng 10/2012 Sử dụnghọm lạc dại 3 đốt và trồng với mật độ 10×15 cm

Theo dõi các chỉ tiêu chiều cao thân chính, các yếu tố cầu thành năng suất và năngsuất, độ ẩm đất và vi sinh vật đất

1.6.3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh tuyến trùng trên cây hồ tiêu bằng phân hữu cơ

vi sinh Bokashi-Trichoderma

Phân HCVS Bokashi-Trichoderm có hàm lượng dinh dưỡng 2,5% N - 5,0% P2O53,0% K2O và Trichoderma sp 107cfu/g; Phân HCVS Quế Lâm (đối chứng 2) có hàm lượngdinh dưỡng 3% N - 2% P2O5 - 1,1% K2O Thí nghiệm được bố trí trên giống hồ tiêu VĩnhLinh

-Thí nghiệm được bố trí từ tháng 10/2012 đến tháng 7/2013 tại Cam Nghĩa, Cam Lộ,Quảng Trị trên vườn hồ tiêu kinh doanh 7 năm tuổi

Thí nghiệm gồm 3 công thức: bón phân HCVS Bokashi-Trichoderma; bón phânHCVS Quế Lâm (đối chứng 2); đối chứng 1 (không bón phân hữu cơ vi vi sinh) Với 15 cây/ôthí nghiệm cơ sở và được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên RCBD với balần nhắc lại

Phân HCVS Bokashi-Trichoderma và phân HCVS Quế Lâm được bón vào tháng 10

và tháng 12/2012 với lượng bón 2 kg/gốc hồ tiêu

Phương pháp phân lập và xác định mật độ tuyến trùng: Phân lập và xác định mật sốtuyến trùng từ đất, rễ vào 2 thời điểm tháng 2 và tháng 5/2013 Mẫu đất và mẫu rễ được đựngtrong các túi nilon riêng biệt có ghi rõ thời gian và địa điểm lấy mẫu Trộn đều các mẫu ở mỗithời điểm và bình quân lấy 1 g rễ và 100 g đất để phân lập tuyến trùng Mẫu rễ được rửa sạch

Mẫu đất: Mỗi công thức lấy 5 mẫu, mỗi mẫu 100 g đất ở độ sâu 15 - 20 cm, cách gốc

20 - 30 cm, lấy theo 4 phía xung quanh gốc hồ tiêu

Trang 33

Mẫu rễ: Mỗi công thức lấy 5 mẫu, mỗi mẫu 1 g rễ tơ và tươi, lấy theo bốn phía đốidiện quanh rễ tiêu.

Tách lọc tuyến trùng từ mẫu rễ và đất theo phương pháp phễu lọc của Bearmann vàphương pháp rây lọc (Speiger và Waele D., 1997) có cải tiến Tiến hành rây lọc mẫu đất và rễrồi làm tiêu bản soi dưới kính hiển vi để tính mật số tuyến trùng, rây lọc mẫu đất dùng rây cókích thước lỗ rây 200 lỗ/2,54 cm2 và lọc mẫu rễ dùng rây có kích thước lỗ rây 80 lỗ/2,54 cm2

và 200 lỗ/2,54 cm2 theo Agrios (2004)

Định danh giống tuyến trùng theo phương pháp của Luc và cs (2005) và đếm tuyếntrùng theo phương pháp của Babieva và Gorin (1987)

- Các chỉ tiêu theo dõi: Số nốt sưng trên một đơn vị chiều dài rễ; Số nốt sưng/g rễ; Mật

số tuyến trùng Meloidogyne spp/100 g đất; Mật số tuyến trùng Meloidogyne spp/g rễ; Các yếu

tố cầu thành năng suất và năng suất

1.6.3.5 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh chết nhanh trên cây hồ tiêu

* Vật liệu : Vườn Hồ Tiêu kinh doanh 5 - 7 năm tuổi.

* Phương pháp bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm được bố trí với 5 công thức, 3 lần nhắc lại với quy mô mỗi ô thí nghiệm

10 trụ, tổng số 350 trụ (150 trụ thí nghiệm, 200 trụ bảo vệ) bằng phương pháp khối ngẫunhiên hoàn toàn (RCBD)

- CT1 : Không áp dụng biện pháp phòng trừ (đối chứng 1)

- CT2: Theo quy trình của người dân (đối chứng 2): tưới dung dịch Booc-đô 1% 1lần vào gốc vào đầu mùa mưa

- CT3 : Dùng Ridomil 68WG (nhóm Metalaxyl): tưới vào gốc nồng độ 0,2% , 3 Ldung dịch/gốc/lần tưới, 3 lần cách nhau 15 ngày

- CT4 : Dùng Agri-Fos 400 (gốc phosphonate): (kết hợp vừa tưới vào gốc 4ml thuốc +

4 L nước/lần, vừa phun lên lá) 15 ngày xử lý 1 lần, xử lý 3 lần (đầu mùa mưa)

+ Dùng để phun nồng độ 0,1% phun ướt đẫm đều trên toàn bộ tán lá

+Tưới vào gốc: nồng độ 0,5%, liều lượng 1 L dung dịch/ gốc

- CT5 : Dùng chế phẩm Pseudomonas: 20g/2 L nước/gốc/lần tưới, 30 ngày tưới 1 lần,tưới 3 lần (đầu mùa mưa )

* Chăm sóc: làm cỏ, bón phân, tưới nước theo quy trình chung, phòng trừ sâu bệnh theo quy

Trang 34

Đếm và phân cấp bệnh của các gốc theo bảng phân cấp:

Cấp 0: cây không nhiễm bệnh

Cấp 1: Có 1-2 cành, lá ở trên ngọn bị rũ xuống

Cấp 3: Có 3-5 cành, lá ở trên ngọn bị rũ xuống

Cấp 5: Có trên 5 dây bị rũ xuống và lá trên dây trở thành màu nâu

Cấp 7: Toàn bộ dây bị rũ, lá mất nước chuyển thành màu vàng

Cấp 9: Toàn cây vàng, khô chết

Các chỉ tiêu theo dõi:

- Đánh giá tỷ lệ bệnh trên từng công thức trước xử lý

- Đánh giá chỉ số bệnh trên từng công thức trước và sau khi xử lý

* Xử lý số liệu: bằng các phần mềm Exel, statistic 9.0

1.6.3.6 Nuôi cấy in vitro cây hồ tiêu

Điều kiện và môi trường nuôi cấy

Mẫu được cấy lên các môi trường ½ MS, MS, SH có bổ sung sucrose (30 g/l đối vớimôi trường MS, 10 g/l đối với môi trường SH), 8 g/l agar và các chất kích thích sinh trưởngthuộc nhóm auxin và cytokinin với nồng độ khác nhau tùy theo mục đích của từng thí nghiệm.Môi trường nuôi cấy được điều chỉnh đến pH 5,8; khử trùng ở nhiệt độ 121°C trong 15 phút,

a) Đối với hạt hồ tiêu

Chọn hạt tiêu đã chín, bóc vỏ lấy sọ Sau khi bóc vỏ, hạt được rửa sạch dưới vòinước 15 phút, ngâm trong xà phòng diệt khuẩn loãng trong 60 phút, rồi ngâm trong dungdịch Javel 40% trong 30 phút Sau đó, rửa hạt nhiều lần dưới vòi nước máy và cho vàobình tam giác sạch, đậy nắp bằng giấy nhôm rồi đưa vào tủ cấy vô trùng để tiếp tục khửtrùng

Hạt được ngâm trong cồn 700 trong 60 giây, rửa lại bằng nước cất vô trùng Tiếp tụckhử trùng hạt bằng dung dịch HgCl2 0,1% trong 10 phút, sau đó rửa lại bằng nước cất vôtrùng 5-6 lần

Trang 35

b) Đối với dây tiêu

Dây tiêu với kích thước từ 5 - 7 đốt thu từ các hom tiêu được cắt thành từng đoạnvới mỗi đoạn là một mắt đốt có cuống lá Mẫu được rửa sạch dưới vòi nước rồi ngâmtrong dung dịch xà phòng diệt khuẩn loãng trong 60 phút Sau khi rửa sạch xà phòng dướivòi nước có thể kết hợp ngâm trong dung dịch thuốc diệt nấm Tricyclazol (330 g/l, phaloãng 10-15 ml) Các đốt tiêu được cho vào bình tam giác sạch, đậy nắp bằng giấy nhômrồi đưa vào tủ cấy vô trùng để tiếp tục khử trùng

Các đốt tiêu được ngâm trong cồn 700 trong 45 giây, rửa lại bằng nước cất vô trùng Sau

đó tiếp tục ngâm mẫu với dung dịch HgCl2 0,1% trong các khoảng thời gian khác nhau đểnghiên cứu hiệu quả khử trùng Rửa lại bằng nước cất vô trùng 5 - 6 lần, tiến hành thu đoạnthân non, cuống lá, mắt đốt làm nguồn mẫu vật để cấy

Nghiên cứu khả năng tạo callus của hồ tiêu

Sau khi khử trùng, mẫu hồ tiêu (hạt, lá có kích thước 0,5 cm × 1,0 cm; cuống lá dài 1cm; đoạn thân dài 1 cm được chẻ dọc theo chiều dài thân) được cấy lên môi trường cơ bản

MS chứa 3,0% saccharose, 0,8% agar có bổ sung BAP kết hợp với IBA hoặc BAP kết hợpvới 2,4-D để thăm dò khả năng tạo callus Số liệu nghiên cứu được thu sau 8 tuần nuôicấy

Nghiên cứu khả năng tạo chồi

Nghiên cứu khả năng tạo chồi từ đoạn mắt đốt tự nhiên

Đoạn mắt đốt tự nhiên sau khi khử trùng được cấy lên môi trường cơ bản MS chứa3,0% saccharose, 0,8% agar và bổ sung riêng lẻ BAP hoặc Kin hoặc BAP kết hợp với IBA

ở các nồng độ khác nhau để nghiên cứu khả năng tái sinh chồi từ đoạn mắt đốt Số liệunghiên cứu được thu sau 8 tuần nuôi cấy

Nghiên cứu khả năng tạo chồi từ callus

Callus có nguồn gốc từ hạt và đoạn thân sau 4 tuần nuôi cấy được chuyển sang môitrường cơ bản MS chứa 3,0% saccharose, 0,8% agar và bổ sung BAP kết hợp với Kin và IBAhoặc BAP kết hợp với TDZ ở các nồng độ khác nhau để nghiên cứu khả năng tái sinh chồi từcallus có nguồn gốc từ đoạn thân và từ hạt Số liệu nghiên cứu được thu sau 8 tuần nuôi cấy

Nhân chồi

Các chồi tái sinh thu được từ giai đoạn nuôi cấy khởi đầu sẽ được cắt thành các đốt dàikhoảng 1,0 - 1,5 cm Mỗi đốt được cấy lên môi trường cơ bản MS có bổ sung riêng lẻ hay tổhợp BAP, Kin và IBA để thăm dò khả năng tạo cụm chồi

Tạo rễ

Chồi in vitro thu được từ các thí nghiệm trên, được cấy lên môi trường ½ MS có

bổ sung NAA (0,1 - 1,0 mg/l) để thăm dò khả năng hình thành và phát triển của rễ

Kiểm tra sạch virus

Các chồi hồ tiêu tái sinh từ callus của các dòng hồ tiêu có nguồn gốc ban đầu từ hạt đượctiến hành kiểm tra virus PYMoV bằng kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction) trước khi cấychuyền sang môi trường nhân chồi

Quy trình chiết và tinh sạch DNA tổng số từ mẫu

Trang 36

- Lấy 0,5 g mẫu lá từ chồi in vitro cho vào cối sứ, thêm 3 ml dịch chiết và 0,3 ml

Sakozyl 10% Tiến hành nghiền, sau đó lấy 1,5 ml dịch nghiền cho vào tube eppendorf 2,0

ml Ủ ở 55°C trong 1 - 2 giờ

- Ly tâm dịch chiết với tốc độ 6.000 vòng/phút trong 5 phút, thu dịch trên tủa (0,8 ml)cho vào tube eppendoft khác Bổ sung 100 µl dung dịch 5 M NaCl và 100 µl CTAB (CetylTrimethyl Ammonium Bromide) 0,7 M để loại bỏ carbamat và làm mỏng màng tế bào tạođiều kiện tốt cho việc thu DNA Ủ ở 65°C trong 10 phút

- Cho 0,6 ml Chloroform/Isoamylalcohol (24/1) vào lắc mạnh, ly tâm 11.000vòng/phút trong 5 phút

- Lấy dịch trên tủa (0,8 ml) cho sang tube eppendorf mới Bổ sung 0,6 mlPhenol/Chloroform/Isoamylalcohol (25/24/1), lắc mạnh, ly tâm 12.000 vòng/phút trong 10phút

- Lấy dịch trên tủa (0,6 ml) cho vào eppendorf mới rồi thêm 360 µl isopropanol, lắcnhẹ, giữ ở -20°C trong 2 giờ hoặc qua đêm

- Ly tâm 15.000 vòng/phút trong 20 phút Loại bỏ dịch trên tủa, thu lấy kết tủa Rửakết tủa bằng ethanol 70% rồi làm khô bằng máy hút chân không

Hòa tan kết tủa bằng 100 µl dung dich đệm TE pH 8,0 và bảo quản dịch DNA ở 20°C dùng làm khuôn mẫu

-Phản ứng PCR

Sau khi tách chiết DNA tổng số, trình tự bộ gen của PYMoV được khuếch đại bằngphản ứng PCR sử dụng cặp mồi chung Badnavirus (bảng 2.2) của TS Hà Viết Cường(Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) thiết kế, sản phẩm có kích thước 600 bp

Thành phần phản ứng PCR trong 1 tube bao gồm: 2,5 µl PCR buffer, 1 µl dNTPs, 1 µlmồi xuôi BadF, 1 µl mồi ngược BadR, 0,5 µl Dream Taq, 1 µl DNA tổng số và 18 µl nước cất

2 lần đã khử trùng Phản ứng được thực hiện trong máy luân nhiệt theo quy trình: biến tínhgenome 94ºC/4 phút; tiếp đến là 35 chu kỳ: 94ºC/40 giây, 55ºC/40 giây và 72ºC/1 phút vàcuối cùng là 72ºC/5 phút

Sản phẩm PCR được kiểm tra bằng điện di trên gel agarose 1,4% với 2 µl thuốcnhuộm ethydium bromide (EtBr) Chạy điện di trong dung dung dịch đệm TAE Dựa vàothang chuẩn marker (1 kb) và mẫu đối chứng để kiểm tra kết quả

Trang 37

Bảng 1.8 Cặp mồi dùng để khuếch đại PYMoV trong phản ứng PCR

Tên mồi Trình tự (5’ ………… 3’)

Kích thước sản phẩm

+ Mỗi ô thí nghiệm 10 trụ, tổng số 350 trụ (150 trụ thí nghiệm, 200 trụ bảo vệ)

- Phương pháp bố trí thí nghiệm : Khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD)

Chăm sóc: làm cỏ, bón phân, tưới nước theo quy trình của Tôn Nữ Tuấn Nam (2007)

Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Tiến hành điều tra hiệu quả phòng trừ bệnh của các công thức thí nghiệm thông qua 2 chỉtiêu là tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%)

a- Tỷ lệ bệnh (%)

Theo dõi bằng cách đếm số cành trên mỗi gốc và số cành bị bệnh trên mỗi gốc

Tỷ lệ bệnh (%) = Số dây bị bệnh / tổng số dây * 100%

b- Chỉ số bệnh (%)

Đếm và phân cấp bệnh của các gốc theo bảng phân cấp:

Cấp 0: cây không nhiễm bệnh

Cấp 1: Có 1-2 cành, lá ở trên ngọn bị rũ xuống

Cấp 3: Có 3-5 cành, lá ở trên ngọn bị rũ xuống

Cấp 5: Có trên 5 dây bị rũ xuống và lá trên dây trở thành màu nâu

Cấp 7: Toàn bộ dây bị rũ, lá mất nước chuyển thành màu vàng

Cấp 9: Toàn cây vàng, khô chết

1.6.3.8 Nghiên cứu phương pháp thu hoạch, phơi sấy, phân loại và bảo quản hồ tiêu

- Chọn mẫu: tại tỉnh Quảng Trị, vùng trồng tiêu nhiều chủ yếu tập trung tại 2 huyện làVĩnh Linh và Cam Lộ, trong mỗi huyện lấy thí điểm 2 xã trồng tiêu chủ lực, trong mỗi xã tiến

hành chọn ngẫu nhiên 15 mẫu để điều tra và đánh giá.

Trang 38

- Lập bảng hỏi: xây dựng bảng hỏi cấu trúc và bán cấu trúc nhằm khẳng định lại các

dữ liệu về thực trạng sau thu hoạch tiêu tại tỉnh, đồng thời đặt ra những câu hỏi tại chỗ để thuthập ý kiến mới nhằm đưa ra những giải pháp để cải thiện thực trạng hiện tại

1.6.3.9 Nghiên cứu qui trình chế biến tiêu đen

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Sơ đồ 1.1 Bố trí thí nghiệm

Lấy mẫu

Đánh giá chỉ tiêu ban đầu

tiêu đen

Sản phẩm tiêu sọ

Trang 39

Thuyết minh sơ đồ

* Phương pháp lấy mẫu tiêu

Tiêu sau khi thu hoạch ở các vườn với độ chín khác nhau, làm sạch sơ bộ, loại bỏ dé,cành lá và tiến hành lấy mẫu với 3 mẫu tiêu với độ chín tăng dần (sơ đồ I) bao gồm:

- Mẫu A: là mẫu tiêu bao gồm chủ yếu các hạt tiêu xanh (tỷ lệ độ chín từ 0-5%)

- Mẫu B: là mẫu tiêu lấy một cách ngẫu nhiên từ các mẫu tiêu ban đầu (tỷ lệ độ chín từ15-20%)

- Mẫu C: là mẫu tiêu được chọn từ vườn có độ chín cao phối trộn với tiêu chín nhặt ra

từ các mẫu ban đầu khác (tỷ lệ độ chín từ 35-40%)

Mỗi mẫu tiêu lấy 3 lần lặp lại Tiến hành đánh giá các chỉ tiêu ban đầu của các mẫunguyên liệu

Đối với mẫu nguyên liệu tiêu dùng cho chế biến tiêu sọ: Mỗi mẫu tiêu tiến hành lấy 30mẫu nhỏ với khối lượng 100 g/mẫu Mỗi mẫu tiến hành khảo sát quá trình bóc vỏ trong 10ngày, lặp lại 3 lần/mẫu/ngày

Phương pháp xác định các chỉ tiêu ban đầu của hạt tiêu

Phương pháp xác định tỉ lệ bóc vỏ của tiêu sọ

Các mẫu tiêu nguyên liệu được ngâm ở các cốc trong nước lã ở nhiệt độ phòng Saucác khoảng thời gian tiến hành bóc vỏ bằng cách chà và đãi vỏ Sau đó tiến hành làm khônước và cân lại khối lượng mẫu chưa bóc vỏ, từ đó xác định khối lượng mẫu đã bóc vỏ Tiêusau khi bóc vỏ, tiến hành làm khô và được sử dụng cho phân tích các chỉ tiêu chất lượng

Trang 40

Phương pháp xác định các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm tiêu sọ, tiêu đen

Xác định piperine bằng phương pháp chiết bằng dung môi ethanol

Cho 0,5 g mẫu đã xay, chính xác đến 0,0001 g và 50 ml ethanol vào bình cầu 100 ml

và đun trong tối 3 giờ, lọc và định mức đến 100 ml Sau đó tiến hành pha loãng bằng cách: lấy

5 ml dung dịch trên chuyển vào bình định mức 50 ml, thêm ethanol tới vạch mức, tiếp tục lấy

5 ml dung dịch vừa pha loãng cho vào bình định mức 25 ml và thêm ethanol tới vạch mức.Dung dịch được đo ở bước sóng 343 nm bằng quang phổ kế phân quang và dùng ethanol làdung dịch chuẩn (TCVN 4045:1993)

Xác định tro tổng số bằng phương pháp phân hủy mẫu đến khối lượng không đổi

Cho 2 g mẫu vào cốc đã xác định khối lượng, nung cốc cùng mẫu trong thời gian 5-6giờ ở nhiệt độ 550oC, sau đó đưa mẫu và cốc ra hút ẩm và cân khối lượng Quá trình tiếp tụcđến khi chênh lệch khối lượng 2 lần cân liên tiếp không quá 0,0005g (TCVN 4045:1993)

Xác định hàm lượng tinh dầu bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn bằng hơi nước

Cho 100g nguyên liệu vào bình cầu với dung môi là nước, tỉ lệ nước nguyên liệu là 3:1.Tiến hành chưng cất trong thời gian 2,5- 4 giờ Hơi nước bay hơi sẽ cuốn theo tinh dầu đi lên,ngưng tụ trong ống sinh hàn, thu hồi nước và tinh dầu, để một thời gian cho tinh dầu phân lớp tiếnhành đọc thể tích tinh dầu thu được (Lê Thị Anh Đào và Đặng Văn Liếu, 2005)

Phương pháp xử lý số liệu

Kết quả thí nghiệm được phân tích phương sai một nhân tố ANOVA (Anova singglefactor) và so sánh các giá trị trung bình bằng phương pháp DUCAN (Duncan’s MultipleRange Test) trên phần mềm thống kê SAS, phiên bản 9.13 chạy trên môi trường Windows

1.6.3.10 Nghiên cứu qui trình chế biến tiêu sọ

Phương pháp đếm bào tử nấm sợi bằng buồng đếm hồng cầu

Buồng đếm hồng cầu dùng để đếm vi sinh vật có kích thước lớn như nấm men, nấmmốc

Cách đếm: Lắc đều ống nghiệm pha loãng mẫu bằng máy vortex Dùng ống hút vôtrùng lấy mẫu, cho một giọt vào mặt trên buồng đếm Chú ý không để thành bọt khí hoặc tràndịch mẫu xuống rãnh sau đó đậy lam kính lên Đặt buồng đếm lên bàn kính hiển vi và để yêntrong 3-5 phút, sau đó tiến hành đếm bào tử trong 5 ô lớn chéo nhau Trong một ô lớn đếm lầnlượt từ ô con 1 đến ô con 16

Tính số lượng bào tử theo công thức:

n a

N: Số lượng bào tử trong 1 ml dịch huyền phù

a: Số lượng bào tử bình quân trong một ô lớn

n: Độ pha loãng mẫu

Ngày đăng: 21/12/2014, 11:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2. Sơ đồ mô tả hệ thống các tác động của phân HCVS đến vùng rễ (Seminar - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ mô tả hệ thống các tác động của phân HCVS đến vùng rễ (Seminar (Trang 4)
Bảng 1.5. Biến động diện tích trồng hồ tiêu qua một số năm ở các vùng tại Quảng Trị - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Bảng 1.5. Biến động diện tích trồng hồ tiêu qua một số năm ở các vùng tại Quảng Trị (Trang 20)
Hình 1.1. Cấu trúc chuỗi cung - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Hình 1.1. Cấu trúc chuỗi cung (Trang 22)
Hình 1.2. Các cấp độ liên kết người bán – người mua - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Hình 1.2. Các cấp độ liên kết người bán – người mua (Trang 23)
Sơ đồ 1.1. Bố trí thí nghiệm - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Sơ đồ 1.1. Bố trí thí nghiệm (Trang 38)
Hình 2.3. Quá trình ngâm tiêu trong nước - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Hình 2.3. Quá trình ngâm tiêu trong nước (Trang 90)
Bảng 2.58. Ảnh hưởng của độ chín đến hàm lượng tro tổng số của tiêu sọ - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Bảng 2.58. Ảnh hưởng của độ chín đến hàm lượng tro tổng số của tiêu sọ (Trang 92)
Hình 2.5. Sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma longibrachiatum Y5, - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Hình 2.5. Sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma longibrachiatum Y5, (Trang 96)
Bảng 2.62. Sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma longibrachiatum Y5, - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Bảng 2.62. Sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma longibrachiatum Y5, (Trang 96)
Hình 2.6. Đồ thị về sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Hình 2.6. Đồ thị về sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma (Trang 98)
Hình 2.7. Đồ thị về sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Hình 2.7. Đồ thị về sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma (Trang 100)
Hình 2.8. Đồ thị về sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Hình 2.8. Đồ thị về sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma (Trang 101)
Hình 2.9. Đồ thị về sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Hình 2.9. Đồ thị về sự biến thiên hoạt độ cellulase của chủng Trichoderma (Trang 103)
Hình 2.10. Quy trình xử lý vỏ tiêu sọ - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Hình 2.10. Quy trình xử lý vỏ tiêu sọ (Trang 105)
Hình 2.11. Đồ thị ảnh hưởng của thời gian và sinh khối khác nhau đến hiệu suất xử lý vỏ - các vấn đề còn tồn tại trong phát triển cây hồ tiêu ở vùng gò đồi bắc trung bộ
Hình 2.11. Đồ thị ảnh hưởng của thời gian và sinh khối khác nhau đến hiệu suất xử lý vỏ (Trang 106)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w