1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Thu hút nguồn vốn đầu tư cho giáo dục đại học ở Việt Nam

35 861 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu hút nguồn vốn đầu tư cho giáo dục đại học ở Việt Nam
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan Kim Chiến
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Đề án
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 268 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển cho các quốc gia cũng có một phần đầu tư giáo dục đại học

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

“ Nhân tài là nguyên khí của quốc gia”

Tất cả mọi quốc gia có thể phát triển được là nhờ vào nguồn nhân lực giỏi

Sau 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, giáo dụcđại học (GDĐH) Việt Nam trên thực tế đã cung cấp cho xã hội nước ta mộtnguồn nhân lực bao gồm những công dân được giáo dục trong nhà trường đạihọc và không ít trong số họ có khả năng làm việc ở trình độ cao trong cáctrường đại học,các viện nghiên cứu, các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp,các liên doanh trong và ngoài nước… thuộc khắp các lĩnh vực, ngành nghề Kếtquả cho thấy, lực lượng này đã góp phần quan trọng và to lớn trong thành tựuphát triển kinh tế xã hội thông qua các tỷ lệ tăng trưởng hàng năm cao vào hàngđứng đầu trong các nước ASEAN

Hiện nay, với sự đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, hơnnữa Việt Nam đã gia nhập vào WTO - sân chơi mới của toàn cầu, nền kinh tế xãhội ta hơn bao giờ hết cần đến nhu cầu đào tạo một nguồn nhân lực lớn có trình

độ cao và chất lượng cao Vì vậy, đầu tư cho GDĐH là cực kỳ thiết yếu Tôi

nghiên cứu đề tài: “Thu hút nguồn vốn đầu tư cho GDĐH đại học ở Việt Nam” nhằm để hiểu hơn, có cái nhìn tổng quát về một vấn đề đầu tiên và quan

trọng trong chuỗi các công việc đầu tư cho GDĐH – Thu hút nguồn vốn.

Là một sinh viên năm thứ tư chuyên nghành Quản lý kinh tế, với nhữngkiến thức được học và kiến thức thực tế của bản thân, trên cơ sở lý luận củanhiều tác giả, tôi đưa ra những suy nghĩ và quan điểm của mình về vấn đề này.Trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu này sẽ khó tránh khỏi những khiếmkhuyết vậy mong có được sự đóng góp của thầy giáo cùng bạn đọc Tôi xinchân thành cám ơn thầy: PGS TS Phan Kim Chiến đã tận tình chỉ dạy, hướngdẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình tôi thực hiện đề án này

Trang 2

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Các khái niệm cơ bản

1.3.Đầu tư

Đầu tư là việc hi sinh nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào

đó nhằm thu được các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực

đã bỏ ra để đạt được kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư

là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hi sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.

Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức laođộng và trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là gia tăng vật chất (nhà máy,trường học, đường xá, bệnh viện …), tài sản tài chính (tiền vốn) hoặc tài sản trítuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lý, khoa học kĩ thuật …) và nguồnnhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế vàcho toàn bộ xã hội

Mỗi dự án đầu tư không những mang lại lợi ích cho chủ đầu tư mà cònmang lại lợi ích cho nền kinh tế đất nước

1.4 Đầu tư cho GDĐH

Đầu tư cho GDĐH là căn cứ vào nhu cầu phát triển sự nghiệp GDĐH và nhân lực, vật lực, tài lực xã hội để đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình

độ, nắm vững kiến thức chuyên môn, kĩ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường

Tính chất đầu tư cho GDĐH, trước đây trong cơ chế quản lý kinh tế kếhoạch hoá tập trung, mọi người thường cho rằng đầu tư cho GDĐH là đầu tư

Trang 3

mang tính phúc lợi xã hội Từ những năm đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyếnsang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự nhận thức này

đã có sự thay đổi trong toàn xã hội cũng như các nhà quản lý giáo dục Đầu tưcho GDĐH được phân tích đánh giá từ góc độ sản xuất và tiêu dùng, các kháiniệm về doanh thu, chi phí cho đơn vị đào tạo đã được tính đến

Vậy thu hút nguồn vốn đầu tư cho GDĐH: Là tập hợp điều kiện, chính sách, giải pháp, hoạt động nhằm tập trung được nguồn vốn lại để hình thành nên một quỹ tập trung, quỹ này có nhiệm vụ cung cấp nguồn vốn để phát triển đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho đất nước

2 Phân loại các nguồn vốn đầu tư cho GDĐH

2.1 Theo các nguồn đầu tư

2.1.1 Đầu tư trong nước

- Nguồn vốn từ khu vực tư nhân :

Bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các tổ chức dândoanh… Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, một bộ phận khôngnhỏ của dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tíchluỹ truyền thống Tiềm năng của nguồn vốn này rất lớn, thực tế phát hành tráiphiếu chính phủ cho giáo dục chỉ trong một thời gian ngắn đã thu được hàngngàn tỉ đồng và hàng chục triệu USD

2.1.2 Nguồn vốn nước ngoài

- Nguồn vốn ODA:

Đây là nguồn vốn do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoàicung cấp với mục tiêu cho giáo dục của các nước đang phát triển Nó là mộtnguồn có tính ưu đãi khá cao

- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI:

Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển cho các quốc gia,cũng có một phần dùng cho đầu tư GDĐH

Trang 4

- Một số nguồn vốn viện trợ khác.

2.2 Nguồn vốn dùng để đầu tư theo lĩnh vực ngành đào tạo

Nền kinh tế của mỗi quốc gia có rất nhiều ngành nghề khác nhau Mỗingành đều có một vị trí quan trọng Chính vì vây, cần phải bỏ vốn để xây dựngcác trường đại học với các lĩnh vực khác nhau, có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhânlực trình độ cao để đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước

2.2.1 Khối ngành Khoa học kĩ thuật

Khoa học kĩ thuật là nền tảng của mọi quốc gia, là cơ sở để phát triển đấtnước một cách nhanh nhất Khối ngành nay có nhiệm vụ đào tạo những kĩ sưgiỏi, mà sau khi ra trường, họ sẽ là trụ cột của của nền kinh tế công nghiệp hoá,hiên đại hoá Nguồn vốn đầu tư vào đây phải lớn để việc xây dựng cơ sở, đầu tưphòng thí nghiệm, mua máy móc thiết bị thực hành … để làm sao phục vụ mộtcách tốt nhất cho việc giảng dạy, nghiên cứu, học tập của giáo viên và sinh viên,làm sao để sau khi ra trường sinh viên sẽ không bị bỡ ngỡ trước hệ thống máymóc trang thiết bị của nhà máy, cũng như để có khả năng chế tạo máy móc thiết

bị, đưa nên công nghiệp đất nước lên một tầm cao mới

2.2.2 Khối nghành kinh tế, tài chính, ngân hàng

Đầu tư vào ngành này nhằm tạo ra một đội ngũ cử nhân, thạc sỹ về kinh tế

Họ là những người không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội, nhưngchính nhờ họ mà nên kinh tế của đất nước mới hoạt động thông suốt và có hiệuquả được

2.2.3 Khối ngành y tế

Đây cũng làm một lĩnh vực đầu tư cho giáo dục rất quan trọng Xã hộicàng phát triển, con người càng mắc nhiều loại bệnh tật mà chính từ mọi hoạtđộng gây ra Đầu tư vào khối ngành này nhằm tạo ra đội ngũ bác sỹ, y tá… giỏi

để có thể đáp ứng được nhu cầu sức khỏe người dân.Nhà đầu tư cần phải chú ýđến hệ thống chất lượng giáo dục, vì dù sao, vấn đề về con người vẫn luôn làquan trọng nhất Các sinh viên ở đây phải tham gia học tập, nghiên cứu rấtnhiều Chính vì vậy nhà đâu tư phải bỏ chi phí ra rất lớn để mua các mô hình,các máy móc, các giáo trình, các chương trình khoa học tiên tiến của thế giới

Trang 5

2.2.4 Khối ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ hải sản

Lương thực, thực phẩm là vấn đề thiết yếu của mọi người Đầu tư vào khốingành này cũng sẽ rất hiệu quả và không bao giờ là thừa đặc biệt là ở các nướcđang phát triển Ngoài xây dựng trường lớp, trang thiết bị phục vụ cho học tậpthì vấn đề mua các công nghệ tiên tiến để áp dụng vào lai tạo giống, phát triểngiống, công nghệ chế biến… cũng rất quan trọng

2.2.5 Khối ngành văn hoá xã hội

Kinh tế càng phát triển thì trình độ văn hoá và nhu cầu văn hóa của connguời tăng lên Vì vậy, đây cũng là một lĩnh vực đầu tư cũng đang chiếm ưu thếtrong giáo dục

3 Đầu tư cái gì

GDĐH là vấn đề lớn của mọi quốc gia, bởi nó tạo ra nguồn nhân lực chấtlượng cao cho đất nước Để có thể xây dựng và phát triển GDĐH , chúng ta cầnphải bỏ tiền của, công sức vào đó Mỗi quốc gia dù giàu hay nghèo thì đầu tưcho GDĐH vẫn là vấn đề quan trọng và cấp thiết Đầu tư cho GDĐH là chúng

ta tập trung nguồn lực, tạo điều kiện tốt nhất để cho nền GDĐH phát triển Tuỳvào khả năng của mỗi quốc gia mà chúng ta nên đầu tư như thế nào Ở đâychúng ta bàn đến vấn đề đầu tư cho GDĐH cụ thể là làm những gì?

4.1 Trường học

Muốn đào tạo được thì vấn đề đầu tiên đó là phải có cơ sở để đào tạo - đó

là trường học Trường học phải thoả mãn được một số các điều kiện sau

3.1.1 Phải thuận lợi về vị trí

Tức là trường phải toạ lạc ở một nơi có vị trí thuận lợi Thuận lợi ở đâyđược hiểu đó là về nhu cầu nguồn nhân lực mà địa phương cần, về mối quan hệvới xã hội Tức là, ngành mà trường đào tạo phải nhằm tạo ra nguồn nhân lực

mà địa phương đang thiếu, và xã hội cần Hơn nữa phải tạo điều kiện cho ngườigiáo viên cũng như sinh viên cảm thấy thoải mái, an toàn với nơi học, thấy đượcmội trường xung quanh trường trong lành, và cũng phải thuận lợi về các dịch vụkhác như chợ, hệ thống giao thông và phương tiện đi lại… với hệ thống đường

xá tốt thì cũng là một nhân tố làm tăng sức cạnh tranh của trường Hơn nữa,sinh viên của trường không chỉ là những người dân địa phương Họ là tập hợpngười đến từ mọi vùng đất, họ luôn luôn phải đi về nhà, đi thăm bạn bè, ở một

Trang 6

nơi mà giao thông không thuận lợi, phương tiện đi lại khó khăn thì rất khó đểtrường có thể thu hút sinh viên được

Vị trí của trường là một trong những yếu tố cạnh tranh của trường Cónhững trường vì toạ lạc ở một nơi không thuận lợi nên rất khó cạnh tranh vớitrường khác cùng ngành mà có vị trí thuận lợi hơn

3.1.2 Cơ sở trường lớp

Các nhà đầu tư cần phải chú ý rằng, trường học được xây dựng cũng phảikhang trang, sạch đẹp, sáng sủa Có như vậy mới tạo được hứng thú cho cảngười dạy và người học Cảnh quan trường học cũng phải thoáng đãng, khôngkhí trong lành để mọi người có thể thư giãn sau những giờ học căng thẳng

3.1.3 Đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, vào các phòng thực hành thực nghiệm, vào khu KTX cho sinh viên

- Đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học

Trước hết đó là bàn ghế, bàn ghế phải sáng sủa, sạch sẽ, tạo được tư thếthoải mái khi ngồi học, không gây sức ép đối với sinh viên Đây là một vấn đềhết sức bức xúc trong giới sinh viên Ngồi học cả ngày dẫn đến cơ thể rất mệtmỏi, mà hệ thống bàn ghế thường cũng rất khó có thể đáp ứng được với tất cảmọi đối tượng học tập Chính vì vậy, nhà đầu tư cần phải quan tâm đến vấn đềnay, coi nó như là vấn đề của mình Có như vậy mới tạo được sự thoải mái khihọc bài, làm tăng chất lượng giờ học hco sinh viên

Thứ hai, đó là hệ thống các máy móc, thiết bị phục vụ cho việc nghiên cứu,giảng dạy, và học tập

Đây là một trong những điều kiện quan trọng góp phần vào việc nâng caochất lượng học tập của sinh viên Vì vậy, trang thiết bị phục vụ cho nhu cầu họctập cho học sinh nói chung và sinh viên nói riêng đòi hỏi phải tương đối đầy đủ,hiện đại, phù hợp với điều kiện của sinh viên

Máy tính nối mạng là thiết bị cần thiết nhất cho sinh viên Nó là cuốn

“Bách khoa tri thức” của sinh viên Thông qua nó sinh viên có thể tìm đượcnhững đáp án cho các câu hỏi của mình một cách đơn giản, nhanh chóng, thuậnlợi mà không cần đến phương pháp cũ như hỏi thầy cô, bàn bè hoặc nhữngngười có trình độ cao hơn

Trang 7

Bên cạnh máy tính, các thiết bị như: máy chiếu, máy ảnh, máy quay phim(cho các ngành xã hội: báo ảnh, phát thanh, truyền hình…) cũng góp phầnkhông nhỏ vào quá trình giảng dạy và học tập của giáo viên, sinh viên Đối vớicác ngành kĩ sư, phải có các phòng thực hành với trang thiết bị đầy đủ phục vụcho quá trình học tập như: hoá chất, vật liệu, các thiết bị đo lường…góp phầnkhông nhỏ vào việc gắn lí thuyết với thực tế, học đi đôi với hành, là bước đầu

để sinh viên tiếp cận với môi trường làm viêc mới

Mặt khác, các trường đại học đồng thời cũng phải là nơi để sinh viên giảitrí, thư giãn sau mỗi giờ học căng thẳng vì vậy ở trường đại học cần phải có cácphòng thể dục thể thao, khu căng tin…Ngoài ra kí túc xá cũng là một nhu cầucần thiết cần được đáp ứng

Các phương tiện vật chất, kĩ thuật liên quan đến việc học tập của sinh viênđóng góp không nhỏ vào quá trình tiếp nhận tri thức của họ Vì vậy, việc quântâm và đầu tư đúng mức vào đấy là rất cần thiết

3.2 Đầu tư vào chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục là yếu tố hàng đầu để tạo nên danh tiếng cho mộttrường đại học Chất lượng giáo dục ở đây bao gồm :

3.2.1 Đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên là tập hợp tất cả những người có trình độ chuyên môntốt, có kĩ năng sư phạm tốt để có thể truyền đạt tri thức một cách tốt nhất chosinh viên Họ cũng là một lực lượng nòng cốt trong nghiên cứu khoa học chođất nước

Ở đây, đầu tư cho đội ngũ giảng viên đó là : Quan tâm đến đời sống giảngviên, có lương, thưởng xứng đáng với sự đóng góp của họ, xứng đáng với mọi

nỗ lực mà họ đã bỏ ra để có một khối lượng kiến thức đồ sộ Tiền lương phảiđảm bảo cuộc sống cho họ một cách tốt nhât Họ là những con người quyết địnhđến nguồn nhân lực tương lai của đất nước Cần phải có một mức lương xứngđáng đối với vai trò to lớn đó Ngoài ra cần phải tạo điều kiện cho họ có thểtham gia nghiên cứu sinh, đi du học ở nước ngoài để mở mang kiên thức, mangmột chân trời kiến thức mới để về phục vụ cho đất nước, họ có thể tham gianghiên cứu khoa học, đóng góp một phần khối lượng tri thức cho đất nước

Trang 8

3.2.2 Đội ngũ sinh viên

Lực lượng sinh viên là tải sản của mỗi quốc gia, chính họ là bộ mặt tươnglai của đất nước, họ là lực lượng nòng cốt của đất nước Sinh viên vừa là ngườikhách, cũng vừa là người chủ của mỗi trường Để một trường đại học có thể tồntại và phát triển, ngoài lực lượng giảng viên, đội ngũ quản lý thì lực lượng sinhviên cũng có vai trò vô cùng quan trọng Họ là khách hàng của mỗi trường Sinhviên cần phải được học tập, nghiên cứu, phải được đảm bảo nhu cầu vật chất vàsinh hoạt tốt Vì vậy, nhà trường cũng phải quan tâm đến vấn đề này.Chúng taphải có chính sách thu hút sinh viên cũng như đầu tư vào họ để họ có thể cảmthấy thoả mãn với sự lựa chọn của mình

Ở đây, chúng ta đầu tư gì? Đó là các chính sách đãi ngộ cho sinh viên nhưtrợ cấp cho sinh viên nghèo vượt khó, con thương binh liệt sỹ, gia đình có hoàncảnh khó khăn, cấp học bổng cho sinh viên học giỏi, xuất sắc, nhằm khuyếnkhích động viên họ Có thể tạo điều kiện cho sinh viên có thể vay vốn, tín dụng

để họ có điều kiện học tập tốt hơn Tạo môi trường đại học tốt đẹp, văn minh,lịch sự để sinh viên có thể yên tâm học tập, rèn luyện, tu chí thành người có íchcho bản thân, gia đình và xã hội Cũng cần phải quan tâm đến nhu cầu nơi ănchốn ở của sinh viên Hệ thống kí túc xá phải đảm bảo được nhu cầu sinh hoạtcủa họ

3.2.3 Đầu tư vào các phòng ban nghiên cứu

Đây là vấn đề cần thiết của mọi trường đại học Vì sao? Chúng ta học đểlàm gì? Học để ra đời làm việc, đơn giản là vậy Nhưng với một khối lượng kiếnthức về lý thuyết trong sách vở và trong tài liệu thì liệu rằng ra đời ta có làmđược việc? Lý thuyết là một nhưng thực tế là muôn hình vạn trạng, nó bất biến.Chỉ một nhân tố trong thực tế thay đổi thì thì mọi vấn đề trên lý thuyết sẽ thayđổi Lý thuyết là tổng quát nhưng thực tế là cụ thể của vấn đề Vì vậy, cácphòng nghiên cứu, thực hành thực nghiệm là cực kỳ cần thiết

Ở đây, chúng ta phải đầu tư vào những công cụ, máy móc, các thiết bị nhàxưởng… những cái mà vào thực tế sẽ gặp Chúng ta phải trang bị đầy đủ cácvật dụng, mô hình cần thiết để cóthể phục vụ tốt nhất cho nhu cầu dạy và học ởtrường Người ta bảo : Trăm nghe không bằng một thấy, đó chính là sự thực tế,sinh viên được tự mình rèn luyện, phân tích tình huống xảy ra trong phòng thí

Trang 9

nghiệm Tất cả những gì diễn ra trong phòng thí nghiệm sau này ra đời sẽ gặp,

sẽ có Có như vậy họ mới có thể thích ứng được với xã hội

Chúng ta cũng cần phải bàn đến vấn đề về đi thực tế, thực tập của sinhviên Đây cũng được coi là hình thức như trên nhưng lại đi sát với thực tế củasinh viên hơn Chính vì thế mà hình thức này cũng cần phải chú ý

3.2.4 Đầu tư vào các chương trình đào tạo, vào việc mua bản quyền giáo dục cho trường

Giáo trình là nhân tố đầu tiên để phục vụ cho quá trình giảng dạy, học tập

và nghiên cứu.Giáo trình là tri thức của con người, là kho tàng quý báu củachúng ta Mỗi trường cần phải đầu tư viết và mua giáo trình, với khối lượngnhiều, phong phú và đảm bảo chất lượng Đầu tư mua các bản quyền về chươngtrình học, về dịch sách và viết sách Để phục vụ cho nhu cầu học tập và nghiêncứu, mỗi trường đều phải có hệ thống thông tin thư viện đầy đủ các loại sáchbáo, với hệ thống mạng thông tin để có thể tra cứu, tìm tin một cách dễ dàng

4.Các nguồn tài chính đầu tư cho GDĐH

Nguồn tài chính đầu tư cho GDĐH là tâp hợp các tổ chức, các cá nhân cótiền, có khả năng, và mong muốn được đầu tư trong lĩnh vực này Nguồn tàichính đầu tư cho GDĐH bao gồm: Ngân sách nhà nước (NSNN) cấp (kinh phíhoạt động thường xuyên, kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học),vốn đầu tư xây dựng cơ bản; Nguồn thu sự nghiệp (học phí, lệ phí, hợp tác đàotạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất dịch vụ…) ; Các nguồn thu khác theo quyđịnh của pháp luật Các nguồn tài trợ từ các tổ chức trên thế giới

4.1.Ngân sách nhà nước

Đầu tư của chính phủ vào GDĐH là việc chính phủ sử dụng nguồn NSNN

để chi tiêu vào vấn đề giáo dục Nguồn ngân sách có được từ việc thu thuế Việcchi tiêu cho vấn đề giáo dục từ nguồn ngân sách chủ yếu là cung cấp kinh phícho hoạt động thường xuyên

Thường ở các nước đang phát triển thì nguồn NSNN là nguồn chủ yếu đểđầu tư cho giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng Tuy nhiên không nên coiGDĐH là một gánh nặng cho NSNN mà phải coi đầu tư cho GDĐH là đầu tưcho phát triển, là một khoản đầu tư dài hạn, đúng đắn và cấp thiết Chỉ có mạnhdạn đầu tư toàn diện người và của, kiên quyết đầu tư có trọng điểm theo phương

Trang 10

thức đa dạng hoá nguồn lực thì bản thân GDĐH mới có cơ may đủ lực trên conđường cạnh tranh và hội nhập được với GDĐH trên trường quốc tế Thiếu cáchnhìn xa và đúng đắn này thì không thể có được một nền GDĐH phát triển bềnvững và đất nước sẽ mất đi một động lực thiết yếu, quan trọng bậc nhất trong sựphát triển kinh tế xã hội của đất nước.

4.2 Đầu tư của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước

Đầu tư của các tổ chức trong và ngoài nước có thể thực hiện thông qua:

4.2.1 Góp vốn ủng hộ các quỹ khuyến học

Đây là hình thức tài trợ của các tổ chức nhằm cung cấp vốn với mục đích làtạo ra một quỹ dùng để khuyến khích vấn đề học tập ở các trường, quỹ nàythường được dùng để giúp đỡ sinh viên trong cuộc sống, học tập, thông quahình thức ủng hộ, trợ cấp cho sinh viên nghèo, cho con em thuộc diện thươngbinh, chính sách, nó cũng có thể được dùng để tu bổ sửa chữa trường học, muacác công cụ dụng cụ phục vụ cho việc học tập

Mục đích của việc làm này là các nhà đầu tư muốn góp một phần nhỏ sứclực của mình, tạo điều kiện, khuyến khích, cho những sinh viên không có đủđiều kiện học tập, cho việc xây dựng đất nước hoặc cũng là một cách để họquảng bá cho thương hiệu của tổ chức Cũng có thể đây là một cơ hội để họ gópphần đào tạo nguồn nhân lực giỏi để sau khi tốt nghiệp sinh viên sẽ quay trở lạiphục vụ họ

4.2.2 Đầu tư trực tiếp cho việc xây dựng, và phát triển đại học

Đây là hình thức các tổ chức kinh tế bỏ tiền trực tiếp xây dựng cơ sở vậtchất, trang thiết bị trường học dưới sự cho phép của nhà nước Tự bản thân họ

sẽ giải quyết mọi vấn đề liên quan đến việc bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực

Họ sẽ tự tổ chức dạy và học theo một chương trình cụ thể mà có sự đồng ý củanhà nước Họ sẽ thuê lực lượng giảng viên, hoặc chiêu mộ họ trở thành giảngviên chính thức của mình, họ tự tuyển sinh sinh viên vào học với cơ chế mà họđặt ra dưới sự quản lý của bộ giáo dục đào tạo Họ thực hiện nghĩa vụ tiềnlương, thưởng đúng với quy định của nhà nước, cũng có thể tiền lương ở cáctrường này sẽ cao hơn rất nhiều tiền lương ở các trường công lập do nhà nướcxây dựng Chính ở điểm này đã tạo cho họ một lợi thế lớn đó là thu hút đượcmột lực lượng giáo viên chất lượng cao, tâm huyết với họ Vấn đề ở đây là học

Trang 11

phí, thường những trường do tổ chức kinh tế hoặc cá nhân xây dựng thường cómức học phí cao hơn rất nhiều so với mức học phí ở các trường công Tuynhiên, đó lại không phải là vấn đề đáng lo ngại của họ vì rất nhiều người sẵnsàng đầu tư cho con em mình đi học, với điều kiện học tập được tốt nhất, trang

bị cho con em mình đầy đủ kiến thức kĩ năng để bước vào đời

Mục đích của việc làm này là vấn đề lợi nhuận Họ đầu tư để thu lợi nhuận,

đó là tất yếu của mọi hình thức đầu tư Ta cũng không thể phê phán hình thứcnày, một số người quan điểm rằng đầu tư cho GDĐH là thực hiện việc xã hộihoá giáo dục, nó như là một dịch vụ công mà ai có khả năng học cũng có thểđược học Bước vào thế kỷ 21, bước vào nền kinh tế thị trường thì đầu tư choGDĐH không còn là một dịch vụ công như trước nữa GDĐH không thể tổchức trong chân không nữa, GDĐH có trăm ngàn mối liên quan với xã hội.Trong thể chế kinh tế thị trường, GDĐH cũng phải tuân theo cơ chế thị trường,hoặc là học theo quy tắc thị trường Dĩ nhiên, quá trình quá trình giáo dục conngười không phải là quá trình sản xuất dây chuyền, không phải là quá trình tiếpnhận đơn thuần Vấn đề ở đây là đầu tư cho GDĐH hiện vẫn là một vấn đề lớn

mà mọi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển cần phải chú trọng vàtập trung nguồn lực nhiều Cho nên, chúng ta vẫn luôn ủng hộ cho mọi nguồnđầu tư cho GDĐH

Ở đây ta cũng cần xem xét sự khác nhau giữa nguồn đầu tư trong nước vànguồn đầu tư nước ngoài :

Đầu tư của các tổ chức kinh tế trong nước thường có nguồn vốn nhỏ, mangtính cấp thiết về nguồn lực Chẳng hạn như đầu tư vào các ngành hiện tại có nhucầu lớn như kế toán, ngân hàng, công nghệ thông tin… hoặc họ sẽ đầu tư vàocác ngành mà hiện tại tổ chức của họ đang cần Mặc dù như vậy sẽ rất mất thờigian và tốn kém, nhưng đó cũng là vấn đề sống còn của tổ chức họ

Đầu tư của các tổ chức kinh tế nước ngoài thường có nguồn vốn rất lớn, thứnhất, đó thường là những tập đoàn kinh tế mạnh, thứ hai, do có sự chênh lệch về

tỷ giá hối đoái mà đồng tiền của họ cũng thường có giá trị hơn Và thường đây

là sự đầu tư của các tổ chức kinh tế của các nước phát triển hơn đến các nướckém phát triển hơn Thường ở những trường này có mức học phí rất cao, nhưng

bù lại thì cơ sở học tập lại cực kỳ tốt, môi trường học tập tốt, đội ngũ giảng viên

Trang 12

vừa trong nước vừa nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có phương phápgiảng hiệu quả, và tại đây sinh viên có điều kiện học ngoại ngữ rất tốt, cùng vớihọc hỏi được nền văn hoá của các nước…

Nói chung, cái gì cũng có cái giá đích thực của nó, tuỳ từng điều kiện hoàncảnh mà mỗi người sẽ tự lựa chọn cho con đường học của mình

4.3 Các nguồn tài trợ của các tổ chức khác trên thế giới

Đó là các nguồn tiền viên trợ từ các tổ chức như IMF ( quỹ tiền tệ quốc tế),UNESCO ( tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hợp Quốc), nguồntài trợ ODA của các nước khác, …Các nguồn viện trợ này thường dành cho cácnước nghèo, kém phát triển, tạo điều kiện cho họ có thêm nguồn lực đầu tư chogiáo dục, để họ có điều kiện học tập trong môi trường tốt hơn, họ có thể đượctiếp cận với tri thức khoa học của thế giới… họ viện trợ để xây dựng trường lớp,

để cung cấp các máy móc trang thiết bị trường học tiên tiến Có như thế thì cácnước này mới có điều kiện để phát triển nền kinh tế, mới có thể sánh vai với cácnước khác trên thế giới

4.4 Nguồn thu sự nghiệp

Đó là nguồn thu từ học phí, lệ phí, hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học,sản xuất dịch vụ…)

Học phí là nguồn thu chủ yếu của tất cả các trường đại học Học phí thuđược, một phần để trả lương cho các cán bộ, công nhân viên trong trường, phầnkhác được giữ lại để tái đầu tư…

Các tổ chức đầu tư với mục đích để kiếm lợi nhuận thì học phí là vấn đềquan tâm hàng đầu của họ Một mức học phí cao nhưng hợp lý thì mới tạo điềukiện cho trường phát triển, tạo được danh tiếng cho trường

5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút nguồn vốn đầu tư cho GDĐH

5.1 Chính sách và cơ chế quản lý giáo dục

Chính sách của chính phủ tác động đến mọi mặt của nền kinh tế xã hội nóichung, việc thu hút đầu tư cho GDĐH cũng không nằm ngoài quy luật đó Cơchế quản lý giáo dục là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình giáo dục củaquốc gia Chính sách và cơ chế quản lý giáo dục phải tập trung tạo ra được đònbẩy quan trọng và đúng đắn trong thị trường giáo dục, dựa vào những quy địnhluật pháp phù hợp và chi tiết hơn , trong đó luật giáo dục có vai trò cơ bản

Trang 13

5.1.1 Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề thu hút nguồnvốn đầu tư cho tất cả mọi lĩnh vực nói chung và cho GDĐH nói riêng Một hànhlang pháp lý đầy đủ, minh bạch, rõ ràng sẽ tạo cho nhà đầu tư cảm thấy yên tâm,

an toàn với nguồn vốn của mình Họ sẽ cảm thấy có một điều kiện tốt để pháthuy được giá trị của nguồn vốn của mình theo mục đích nào đó Cho dù nhà đầu

tư mở trường với mục tiêu lợi nhuận, nhưng luật, chính sách và cơ chế quản lý

sẽ buộc họ phải kiếm lời qua chất lượng giáo dục và giá trị thực sự mà trườngmang lại cho người học, xã hội và đất nước Khi nhà nước có một hệ thốngpháp luật phù hợp xu thế phát triển của đất nước cũng như của thế giới, thì việcthu hút nguồn vốn cho GDĐH sẽ dễ dàng hơn

5.1.2 Môi trường chính trị xã hội

Để có thể thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước, đặc biệt là nguồn vốn đầu

tư của nước ngoài thì môi trường chính trị xã hội là nhân tố cực kỳ quan trọng.Một môi trường chinh trị ổn định sẽ tạo được sự an tâm cho các nhà đâu tư, họcảm thấy tự tin với môi trường an toàn, sẽ sẵn sàng đầu tư nhiều hơn nữa Khi

mà môi trường chính trị xã hội tốt, đầu tư đạt được mục đích của mình, họ sẽ lạitiếp tục đầu tư nhiều hơn nữa Một đất nước có một nền chính trị không ổn định

sẽ rất khó thu hút được nguồn đầu tư nói chung và đầu tư cho GDĐH nói riêng.Người ta cảm thấy bất an với nguồn vốn của mình, không ai muốn mạo hiểmtrong khi có những nơi an toàn hơn cho họ đáp xuống

5.1.3 Chính sách về phân bổ sử dụng các nguồn lực tài chính

Phân bổ là một nhân tố cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc thu hút đầu tư chogiáo dục, sự phân bổ phải hợp lý, rõ ràng, và cần thiết Nếu phân bổ nguồn tàichính không rõ ràng rất dễ gây bức xúc đối với xã hội và các nhà đầu tư Cầnthực hiện việc phân bổ một cách công băng nhất Công bằng ở đây không cónghĩa là “cào bằng” Một thực tế hiện nay là “ai cũng muốn như ai”, không tỉnhnào, không trường nào muốn mình thua thiệt về nguồn vốn hơn các tỉnh, cáctrường khác Tuy nhiên, không cào bằng, đó là cần phải có chính sách, cơ chếphân bổ hợp lý, cũng cần phải có trọng tâm, trọng điểm Có như vậy, đất nướcmới có một điểm tựa vững vàng, xây dựng và phát triển tốt ngành kinh tế mũinhọn, phát triển vùng kinh tế trọng điểm của đất nước

Trang 14

5.2 Môi trường và chất lượng giáo dục, đóng góp của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước

Một quốc gia dù giàu hay nghèo thì cũng luôn luôn đặt giáo dục lên hàngđầu, đặc biệt là GDĐH - đào tạo nên nguồn nhân lực chất lượng cao cho đấtnước Môi trường giáo dục là tập hợp tất cả các yếu tố xung quanh, có mối quan

hệ tương hỗ, ảnh hưởng đến quá trình giáo dục và đào tạo Có môi trường giáodục lành mạnh, người ta sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi rót vốn vào

Chất lượng giáo dục cũng là nhân tố quyết định đến việc thu hút vốn Nólàm cho nhà đầu tư cảm thấy hứng thú với hiệu quả của nguồn vốn mình bỏ ra.Nội dung chương trình giảng dạy cần gắn liền với tiến trình phát triển của nềnkinh tế Kinh tế xã hội ngày càng phát triển với tiến độ chóng mặt, trong khi đóGDĐH trì trệ, không theo kịp được với tiến độ phát triển đó thì người đầu tư sẽcảm thấy không thoả mãn GDĐH phải đi bên cạnh, song song với sự phát triểncủa đất nước GDĐH là động lực của phát triển xã hội, là trung tâm tri thức của

xã hội Lấy thực tiễn kinh tế, xã hội làm kim chỉ nam cho định hướng phát triểnnội dung giảng dạy, học tập trong nhà trường Những sinh viên do nhà trườngđào tạo ra không chỉ là để cầm tấm bằng giỏi, bằng khá, mà họ là những conngười đi sâu đi sát với thực tiễn, có khả năng thích ứng với nền kinh tế trongtương lai Sinh viên sau khi tốt nghiệp, ra trường, họ sẽ là chủ nhân của đấtnước, họ sẽ là đường lối, là sức trẻ nhiệt huyết xây dựng và phát triển đất nước.Đóng góp của nền GDĐH đối với sự phát triển đất nước

Nguồn nhân lực có vai trò chính trong sự phát triển kinh tế của đất nước,con người luôn luôn là lực lượng nòng cốt trong mọi vấn đề Nguời sinh viênsau khi ra trường, họ sẽ cống hiến sức trẻ, cống hiến tài năng của minh Họ sẽlàm đất nước vận động lên theo một hướng mới, hướng nên kinh tế đất nướcphát triển theo xu hướng chung của thế giới Những lớp con người mới sẽ có cáinhìn mới về xây dựng đất nước, không theo quan điểm bảo thu lạc hậu của thê

hệ đi trước Họ sẽ đưa đất nước đi lên bằng chính sức lực cảu mình, đưa mộtluồng gió mới đến cho đất nước Làm cho đất nước vận động theo chiều hướngtốt mới tốt hơn

Trang 15

Trong bất kì một tổ chức nào, con người cũng là nhân tố quyết định đếnthành công của tổ chức đó Phát triển hay tiêu vong? Đó chính là nhờ nguồnnhân lực chất lượng cao đó.

Sự đóng góp của họ được nhìn chung, một cách tổng thể đó là đưa đất nướclên một tầm cao mới, đưa nền kinh tế đất nước phát triển Mọi người có cuộcsống vật chất no đủ, có đời sống tinh thần được tăng cao…

5.3 Nhu cầu của xã hội

Sinh viên là lực lượng kế cận nhất nắm lấy vai trò là người lãnh đạo đấtnước vì vậy đầu tư cho GDĐH không chỉ là nhu cầu, mong muốn của các bạnsinh viên mà đó còn là đòi hỏi cấp thiết của toàn xã hội

Thời đại ngày nay không những là thời đại của nền kinh tế công nghiệp với

kĩ thuật tiên tiến, hiện đại mà đó còn là thời đại của nền “kinh tế tri thức”.Nắmbắt được tri thức sẽ cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về mọi mặt của đờisống Đó là hành trang để bước vào thời đại mới, để hoà nhập với nền kinh tếthế giới

Vì nền kinh tế nước ta đang trên đà hội nhập nên nhu cầu của các ngànhnghề trong xã hội cũng có sự thay đổi so với trước Trước đây, những ngành vềcông nghệ thông tin, điện tử viễn thông, ngân hàng… chưa được xã hội quantâm nhưng ngày nay do đòi hỏi của sự phát triển nền kinh tế đất nước và sự hộinhập kinh tế nên những ngành này ngày càng được quan tâm, chú ý hơn Bêncạnh đó, những ngành mới xuất hiện như: tự động hoá, thời trang… cũng đượcđông đảo bạn trẻ đón nhận và xã hội quan tâm

Nói điều đó để biết rằng các nhà đầu tư cho GDĐH không chỉ cần nhận biết

về nhu cầu ngành nghề ở hiện tại mà cũng phải đi trước, đoán nhận biết xuhướng phát triển ngành nghề trong tương lai để từ đó đầu tư cho hợp lí và cóhiệu quả hơn

Hơn nữa vấn đề nên đầu tư vào ngành, lĩnh vực gì cũng cần phải chú ý đếnnhu cầu ngành nghề hiện tại của địa phương Chẳng hạn, ở một thành phố lớn,

đô thị sầm uất thì việc đầu tư vào khối ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng làmột sự đầu tư hợp lý, ở những địa phường mà có rất nhiều khu công nghiêp thìkhối ngành khoa học kĩ thuật là sự lựa chọn hàng đầu… Có cầu mới có cung,cung cầu gặp nhau, tạo điều kiện chọ nền giáo dục phát triển

Trang 16

Cá nhân ở đây là những người đơn lẻ tham gia vào quá trình đầu tư chogiáo dục Đó có thể là một doanh nhân, một tỷ phú, một người nghệ sỹ… tómlại họ phải là những người có rất nhiều tiền, và họ là những người quan tâm đếnnền giáo dục Họ có thể đầu tư toàn bộ xây dựng một trường, tham gia mọi côngviệc của trường, tức là với hình thức đầu tư trực tiếp Cũng có thể họ đứng ra

mở các lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ và chuyên môn chođội ngũ giảng viên, hay đơn thuần họ chỉ đầu tư trang thiết bị hiện đại cho mộttrường nào đó… Dù đầu tư dưới hình thức nào thì người đầu tư cũng phải nhìnthấy triển vọng , tương lai của nó Nếu họ nhìn thấy ở đó sẽ khả quan thì họ sẽđầu tư, và sẽ đầu tư nhiều hơn, ngược lại nếu sự án không khả quan thì họkhông cảm thấy thích thú đầu tư, không muốn đầu tư và họ có thể sẽ không đầu

tư nữa Không chỉ là những người đầu tư nhằm kiếm lợi nhuận mới có suy nghĩnhư vậy mà kể cả những người viện trợ, làm từ thiện cũng vậy Tức là, đã xácđịnh đầu tư cái gì thì cũng phải mang một hiệu quả nhất định nào đó

Các tổ chức ở đây là các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các tổ chứcchính trị xã hội khác Việc đầu tư của họ cũng có hai mục đích hoặc là để giúp

đỡ các quốc gia đang phát triển, hoặc cũng có thể là đầu tư để kiếm lợi nhuậnNgành giáo dục đang là một lĩnh vực đầu tư mới rất nhiểu triển vọng, đó thực

sự là một ngành siêu lợi nhuận Viêc các cá nhân, hoặc tổ chức đầu tư vào đâyvới mục đích kiếm lời là một hướng đúng

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 Thực trạng chung của nền giáo dục ở Việt Nam

1.1 Quy mô phát triển GDĐH

Từ năm 1998 đến nay, quy mô GDĐH đã tăng đáng kể Hiện cả nước có

127 trường cao đẳng, 87 trường đại học, học viện Quy hoạch mạng lưới cáctrường đại học, cao đẳng trong giai đoạn 2001-2010 đã được chính phủ phêduyệt, trong đó chú ý đến việc xây dựng các trường đại học, cao đẳng tại cácvùng khó khăn, thành lập thêm các trường đại học công lập tại Thanh Hoá, AnGiang, Vĩnh Long, Tây Bắc nhằm tạo điều kiện đào tạo cho nguồn nhân lực tạichỗ, đồng thời qua đó có các trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật phục vụcho sự phát triển kinh tế xã hội trên đia bàn

Bằng nhiều nguồn vốn, các trường đã cố gắng nâng cấp thư viện, phòng thínghiệm, cơ sở thực hành, mua sắm thiết bị hiện đại và nối mạng Internet Tuynhiên, tình trạng chung là cơ sở vật chất kĩ thuật của các trường đại học cònthiếu và lạc hậu, diện tích sử dụng của các trường mới chỉ đáp ứng được 1/3chuẩn quy định Tiến độ xây dựng hai trường đại học quốc gia và đại học sưphạm trọng điểm còn rất chậm Việc xây dựng chương trình khung và công tácbiên soạn giáo trình chưa được quan tâm đúng mức, giáo trình đại học hiện naycòn thiếu nhiều và lạc hậu

Với số lượng khoảng 40 000 giảng viên trên 1 triệu sinh viên, hầu hết cáctrường đại học, cao đẳng đều thiếu giảng viên Tỷ lệ sinh viên trên một giảngviên bình quân là 25,8 Đội ngũ giảng viên đại học, cao đẳng có trình độ thạc sỹmới đạt 45% Phần đông giảng viên nòng cốt, chuyên gia đầu ngành đã cao tuổitrong khi chưa xây dựng được đội ngũ kế cận Thêm vào đó, chưa có chính sáchthích hợp để xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học của các cơ quan nghiên cứutham gia giảng dạy tại các trường đại học Hoạt động nghiên cứu khoa học tạicác trường đại học chưa được quan tâm đúng mức Đa số giảng viên chỉ tậptrung vào giảng dạy, ít tham gia nghiên cứu khoa học

Trong 5 năm qua, số sinh viên tăng bình quân 6,4%/năm Năm 2003-2004

cả nước có hơn 1 triệu sinh viên Hàng năm, số sinh viên từ khu vực nông thộnmiền núi chiếm khoảng 70 % số sinh viên tuyển mới

Ngày đăng: 28/03/2013, 12:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w