1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du

89 839 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du
Trường học Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
Thể loại Chuyên đề
Thành phố Tiên Du
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 845 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong bất kì chế độ xã hội nào dù là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủnghĩa thì giáo dục luôn là hoạt động quan trọng đối với sự phát triển kinh-tế xãhội của một quốc gia Bởi lẽ giáo dục là nền tảng văn hoá, là cơ sở hình thànhnhân cách và nâng cao ý thức của mỗi con người trong xã hội Cùng với truyềnthống dân tộc, giáo dục thúc đẩy lòng nhiệt huyết của mỗi thế hệ đối với quốcgia dân tộc

Con người là vốn quý, là tài sản vô giá của mỗi quốc gia và tri thức khoahọc là “ sản phẩm đặc biệt” của quá trình học hỏi và trau dồi kiến thức trên ghếnhà trường Trong văn kiện hội nghị lần thứ II đã nêu: “lấy phát triển giáo dụclàm yếu tố cơ bản- là khâu đột phá ” Và đúng vậy, xã hội phát triển đồngnghĩa với tri thức con người được nâng lên một bước

Trong số những biện pháp phát triển toàn diện một quốc gia thì ngân sáchnhà nước được coi là công cụ đặc biệt giúp nhà nước thực hiện các chức năngcủa giáo dục thông qua việc thu- chi Ngân sách Và một trong những khoản chinói trên, chi cho giáo dục nói riêng trên địa bàn Tiên Du đã đóng góp một phầnlớn vào những thành công trên địa bàn Tiên Du

Hơn thế nữa, đại hội Đảng lần thứ VIII đã khẳng định:” phải thực sự coigiáo dục là quốc sách hàng đầu” “ đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển “,một lần nữa dự thảo đại hội IX vừa qua đảng ta đã khẳng địmh:” từng bước pháttriển nền kinh tế tri thức ” Điều này chứng tỏ Đảng và Nhà nước đã khẳngđịnh: Đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển,tạo điều kiện cho giáo dục đi trước một bước so với mục tiêu phát triển kinh tế

xã hội

Sự nghiệp Giáo dục - một sự nghiệp to lớn khó khăn gian khổ của chúng

ta hôm nay đang đứng trước những vận hội và những thử thách lớn trong khiNSNN còn eo hẹp, nhu cầu chi cho giáo dục lại cực kỳ lớn và tăng lên theo thờigian, bỏ xa điểm cân bằng giữa cung và cầu trong giáo dục Với mâu thuẫn đó,

Trang 2

vấn đề đáng quan tâm là sử dụng nguồn vốn NSNN như thế nào để đạt đượcđiểm tối ưu về hiệu quả trong đầu tư cho giáo dục Để khắc phục những tồn tạikhiếm khuyết đó thì cần nhất thiết phải đưa ra các giải pháp nhằm tăng cườngtính hiệu quả trong quản lý chi NSNN cho giáo dục.

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong thời gian thực tậptại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Tiên Du em xin được đi sâu vào nghiên

cứu đề tài : “Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du”

Nội dung đề tài gồm ba phần:

Phần thứ nhất: Hoạt động giáo dục và vai trò của chi ngân sách nhà nướccho sự nghiệp giáo dục

Phần thứ hai: Thực trạng về công tác quản lí chi ngân sách nhà nước chohoạt động giáo dục trên địa bàn Tiên Du những năm qua

Phần thứ ba: Một số biện pháp nhằm tăng cường quản lí chi ngân sáchnhà nước

Đề tài này được hoàn thành trong điều kiện thời gian thực tập khá hạnhẹp, trình độ chuyên môn của em còn hạn chế, khả năng nhận thức lý luận vàthực tiễn còn chưa sắc bén, xuất phát từ sự thiếu kinh nghiệm của một sinh viênsắp ra trường, cho nên chuyên đề này chắc chắn không tránh khỏi những thiếusót và hạn chế Vì vậy, em rất mong nhận được sự phê bình, góp ý của các thầy

cô giáo cùng toàn thể những ai quan tâm đến đề tài này để chuyên đề của emđược hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngân Hàng - TàiChính, đặc biệt là Thầy giáo hướng dẫn đã giúp em trong quá trình viết đề tàinày Em cũng xin cảm ơn cô trưởng phòng cùng toàn thể các cô, các anh, các chịtrong phòng Tài chính - KH Tiên Du đã giúp đỡ em trong qua trình thực tập tại

cơ quan

Trang 3

PHẦN THỨ NHẤT HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VÀ VAI TRÒ CỦA CHI NGÂN SÁCH NHÀ

NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

I TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

1.1 Giáo dục nền tảng văn hóa và nhân cách con người Việt Nam.

Trải qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam vớitruyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất đã không chịu lùi bước trước bất kỳmột thế lực thù địch nào Chúng ta đứng lên bảo vệ tổ quốc, bảo vệ độc lập tựchủ bảo vệ cái quyền mà “thượng đế đã trao cho mỗi người chúng ta” Khôngchịu lùi bước cam tâm làm nô lệ cho kẻ thù đó chính là truyền thống lâu đời củanhân dân ta - con người Việt Nam - trải qua bao nhiêu những biến cố thăng trầmcủa lịch sử, người Việt Nam chúng ta luôn canh cánh bên lòng được ” sánh vaicùng các cường quốc năm châu “, ham học hỏi, khám phá và gìn giữ những gì

mà cha ông ta đã truyền lại cho mỗi thế hệ con người Việt nam Sự nối tiếp vàlưu giữ ấy dường như không bao giờ dừng lại mà nó đã và đang tiếp tục truyền

từ đời này sang đời khác Và phải chăng đó là vốn quí, là ”tài sản vô giá” chomỗi thế hệ người Việt Nam chúng ta

Tiếp thu và gìn giữ những “cổ vật văn hoá” ấy có sự đóng góp không nhỏcủa ngành giáo dục quốc gia Giáo dục đã giúp lưu giữ cái hay cái đẹp củanhững thế hệ trước, giúp thế hệ sau rút ra những bài học kinh nghiệm cho nhữngbước tiến sau này, và dần sự nối tiếp ấy đã phát triển và trở thành không thểthiếu trong tâm thức mỗi thế hệ con ngươì Việt Nam Và phải chăng vì điều ấychúng ta nói rằng: ”Giáo duc là nền tảng văn hoá của một nước, là sức mạnhtương lai của dân tộc ”

Trang 4

Quan niệm về giáo dục của một quốc gia cũng có nhiều ý kiến khácnhau: có ý kiến cho rằng: ”giáo dục là tất cả các dạng học tập của con người” vàđây cũng là dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng con người tuynhiên theo một khía cạnh nào đó thì giáo dục được hiểu là việc trang bị nhữngkiến thức và hình thành nhân cách con người Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ ChíMinh từng nói: ” Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người

”, phải chăng trong đó người đã nhắc nhở toàn xã hội phải luôn luôn gìn giữ vàphát triển sự nghiệp trồng người Và một điều mà chúng ta không thể phủ nhận

là phát triển nhân ttố con người luôn đóng một vai trò quan trọng đối với sự pháttriển kinh tế xã hội của quốc gia đó

1.2 Giáo dục tri thức cần thiêt tiến tới nền “kinh tế tri thức”

Lần lại những trang sử huy hoàng của dân tộc Việt Nam ta mới thấy đượcnhững biến cố quan trọng tạo nên bước ngoặt lịch sử cho quốc gia nhỏ bé này.Bao khổ đau mất mát dân ta phải chịu đã tạo nên nhân cách con người ViệtNam Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân ta đã từng cho rằng, cái đói cái rétkhông sợ bằng cái dốt Và cũng không phải ngẫu nhiên Bác tố cáo hành động vôliêm sỉ của thực dân Pháp - chúng đầu độc dân ta bằng rượu cồn nha phiến - vớimục đích “dốt để trị” Người từng nói : “nạn giặc dốt là một trong nhữngphương thức độc ác nhất mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta Hơn 90%đồng bào ta bị mù chữ, nhưng chỉ cần 3 tháng là đủ để chúng ta học đọc, họcviết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ “ Đồng thời Người cũng khẳng định: ”mộtdân tộc dốt là một dân tộc yếu”

Không chỉ dừng lại ở Người, các vị lãnh đạo của chúng ta sau người cũngbăn khoăn lo lắng cho sự nghiệp giáo dục nước nhà Bởi lẽ Giáo dục trực tiếpcung cấp cho xã hội những con người có đủ tri thức, sự hiểu biết để đưa đấtnước cập nhật những nền thành tựu tri thức mới Hiến pháp 1992 nêu rõ: ”Nhànước phát triển giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài”

Trang 5

Một quốc gia có “dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh” khi quốc gia

ấy mọi người được giáo dục một cách toàn diện

Đúng vậy, để đạt được mục tiêu tốt đẹp ấy, thiết nghĩ chúng ta phải tìmcho ra được động lực của sự phát triển? Đó không phải là cái gì khác mà chính

là tri thức, mà giáo dục đem chi thức đến cho mọi người Các nước trên thế giớiđều ý thức được rằng, giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội mà thực sự còn làđòn bẩy cho sự phát triển kinh tế, phát triển xã hội và nâng cao múc sống nhândân Như chúng ta đã biết tri thức nhân loại là vô tận và khả năng con người chiphối sự nảy mầm cuả ”trồi non tri thức “ấy đưa khoa học kĩ thuật vào thực tếcuộc sống đó là những gì mà loài người chúng ta mong muốn Lấy tri thức làmquan điểm đồng thời làm nhân sinh quan cho các quyết định mang tính toàn cụccuả quốc gia nhà nước ta không ngừng nâng cao công tác quản lí, đưa giáoviên lên một vị trí mới nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược con người mà nghịquyết Trung Ương IV đề ra là : cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục làquốc sách hàng đầu đó là động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản đảm bảo thựchiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước, phảicoi đầu tư cho giáo dục là một hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiệncho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội,huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sứcxây dựng giáo dục quốc dân dưới sự quản lí của nhà nước Đó là một chiến lược

có tầm quan trọng bậc nhất trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Một đất nước có nền công nghiệp phát triển tất yếu phải có những conngười có đầy đủ tri thức, trình độ để phát minh sáng chế áp dụng khoa học kĩthuật vào sống và sản xuất Các nước chậm phát triển muốn phát triển phải hếtsức quan tâm đến giáo dục Chỉ có một chiến lược phát triển con người đúng đắnmới giúp các nước thuộc thế giơí thứ 3 thoát khỏi sự nô lệ về kinh tế và côngnghệ Khai giảng năm học 1995-1996 tổng bí thư Đỗ Mười nói: “Con người lànguồn lực quí báu đồng thời là mục tiêu cao cả nhất , tất cả do con người và vì

Trang 6

hạnh phúc của con người, trong đó trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốcgia Vì vậy đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược làyếu tố quyết định tương lai của đất nước” Giáo dục tự nó cung cấp cho xã hộinhững nhà kinh tế, những kĩ sư, bác sĩ và những nhà khoa học có đủ năng lựctrình độ hiểu biết từ đó nó hợp thành lực lượng sản xuất to lớn đủ diều kiện đểđưa đât nước tiến vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên của tri thức, khoa học và côngnghệ tiên tiến Giáo dục mãi là nhiệm vụ không thể thiếu trong xã hội loàingười tương lai - giáo dục là cơ sở của tri thức con người.

II SỰ CẦN THIẾT VÀ VAI TRÒ CỦA CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC (NSNN) CHO HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

2.1 Lý luận cơ bản về ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước 2.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước.

Trong hệ thống tài chính thống nhất, NSNN là khâu tài chính tập chunggiữ vai trò chủ đạo NSNN cũng là khâu tài chính được hình thành sớm nhất, nó

ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời của hệ thống quản lý nhà nước

và sự phát triển của kinh tế hành hoá, tiền tệ Cho đến nay, thuật ngữ “Ngânsách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốcgia, nhưng quan niệm về NSNN còn nhiều điểm chưa thực sự thống nhất

Từ điển Bách khoa toàn thư về kinh tế của Pháp định nghĩa ngân sách là

”văn kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó,các nghiệp vụ tài chính (thu, chia) của một tổ chức công (Nhà Nước, chínhquyền địa phương, đơn vị công) hoặc tư (doanh nghiệp, hiệp hội) được dự kiến

và cho phép” Cụ thể hơn, Bộ tài chính Pháp định nghĩa ngân sách ”là văn kiệntrong đó các khoản thu, và các khoản chi hàng năm của Nhà nước được dự kiến

và cho phép, là toàn bộ các tài khoản phản ánh tất cả các nguồn thu và tất cả cácnhiệm vụ chi của Nhà nước trong một năm dân sự: là toàn bộ các tài khoản phảnánh hạn mức kinh phí của một bộ trong một năm dân sự”

Trang 7

Các nước Trung Quốc và Nga cũng thiên về quan niệm NSNN là kếhoạch thu, chi của Nhà nước trong một năm: Đại từ điển kinh tế thị trường(Trung Quốc) định nghĩa ”NSNN là kế hôạch thu chi tài chính hàng năm củanhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định” Đại từ điển bách khoa toànthư (Liên Xô, 1971) định nghĩa ”ngân sáhc là bảng liệtkê các khoản thu và chibằng tiền của Nhà nước được lập ra cho một thời gian nhất định Bản chất củaNSNN từng nước được xác định bởi chế độ kinh tế xã hội, bản chất và chứcnăng của Nhà nước”.

Riêng ở nước ta cũng có ít nhất 4 định nghĩa khác nhau vễ ngân sách nhànước Đại từ điển tiéng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên (1998) định nghĩa ngânsách là ”tổng số tiền thu và chi trong một thời gian nhất định của nhà nước, của

xí nghiệp hoặc của một cá nhân”

Giáo trình Lý thuyết tài chính (2000) của Học Viện Tài Chính Kế Toán hàNội ghi rõ: ”NSNN là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử NSNN được đặctrưng bằng sự vận động gắn liền với quá trình tạo lập , sử dụng quỹ tiền tệ tậptrung của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trên cơ sở luậtđịnh Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể trong xãhội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc giatheo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”

Theo từ điển thuậtn ngữ tài chính tín dụng (1996) của Viện Nghiên cứuTài chính thì: ”NS được hiểu là dự toán và thực hiện mọi khoản thu nhập (tiềnthu vào) và chi tiêu (tiền xuất ra) của bất kỳ một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, giađình hoặc cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm)

Theo luật ngân sách Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đượcquốc hội thông qua ngày 20/3/1996 thì “Ngân sách nhà nước (NSNN ) là toàn

bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán được cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”

Trang 8

Trong một chừng mực nào đó, các định nghĩa trên đây có những sự khácbiệt nhất định Tuy nhiên, tựu chung lại, chúng đều thể hiện bản chất của NSNNlà:

Xét về phương diện pháp lý: Ngân sách Nhà nước là một đạo luật dự trùcác khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một thời gian nhất định, thường

là một năm Đạo luật này được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành

Xét về bản chất kinh tế: Mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phânphối các nguồn tài nguyên quốc gia (phân phối lần đầu và tái phân phối) Và vìvậy về nội dung kinh tế, NSNN thể hiện các mối quan hệ trong phân phối Đó là

hệ thống các quan hệ kinh tế giữa một bên là Nhà nước và bên kia là các tácnhân của nền kinh tế hành hoá trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lựccủa nền kinh tế, phân phói và phân phối lại thu nhập do các tác nhân kinh tế mớisáng tạo ra

Về bản chất xã hội: NSNN luôn luôn là một cộng cụ kinh tế của Nhànước, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

* Chi ngân sách Nhà nước: Là quá trình phân phối và sử dụng quĩ NSNNtheo những nguyên tắc nhất định nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụKinh tế- Chính trị- Xã hội của Nhà nước

Thực chất, chi NSNN chính là việc cung cấp các phương tiện Tài chínhcho các nhiệm vụ của Nhà nước.Song việc cung cấp này có những đặc thù riệng:

- Chi NSNN luôn luôn gắn bó chặt chẽ với các nhiệm vụ kinh tế- chính trị

mà Nhà nước đảm nhận trong mỗi thời kỳ tính chất và nội dung các khoản chi

do tính chất và nội dung các nhiệm vụ mà Nhà nước đảm nhận quyết định.Ngược lại, nội dung chi tiêu có tác dụng đến kết quả của nhiệm vụ Nhà nước

- Tác dụng và ảnh hưởng của các khoản chi NSNN thường được thể hiện

ở tầm vĩ mô Vì vậy cần có những phân tích đánh giá mang tầm chiến lược lâudài và trong phạm vi nền kinh tế

Trang 9

- Tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách vừa được thể hiện ở hiệu quả

về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao Do vậy, khi đánh giá tính hiệu quảphải sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu vừa mang tính chất định lượng vừa mang tínhchất định tính

- Phần lớn các khoản chi NSNN là những khoản chi bao cấp và khônghoàn trả trực tiếp Do vậy, cần phải đưa ra nhiều phương án khác nhau, trên cơ

sở đó xem xét, quyết định lựa chọn một phương án tốt nhất để giảm bớt các thấtthoát của NSNN

Do vậy có thể nói:

Cùng với việc đảm bảo chi tiêu của Nhà nước bằng việc huy động cácnguồn tài chính trên phạm vi rộng lớn trong và ngoài nước.Trong điều kiện cơ

Trang 10

chế kinh tế thị trường, NSNN đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tếquốc dân Vai trò nài, về mặt chi tiết có thể đề cập đến nhiều nội dung và nhiềubiểu hiện đa dạng khác nhau, song trên góc độ tổng hợp, có thể khái quát trên bakhía cạnh sau đây:

- Một là, kích thích sự tăng trưởng kinh tế (vai trò điều tiết trong lĩnh vựckinh tế): Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, cùng với việc nhà nước can thiệptrực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vai trò của NSNN trong việc diềuchỉnh các hoạt động trở nên rất thụ động NSNN gần như chỉ là một cái túi đựng

sổ thu để rồi thực hiện việc bao cấp tràn lan cho các hoạt động sản xuất kinhdoanh thông qua cấp vốn cố định, vốn lưu động, cấp bù lỗ, bù giá, bù lương…Trong điều kiện đó, hiệu quả của các khoản thu chi NSNN đến các hoạt độngkinh tế nhằm điều chỉnh các hoạt động đó và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế làhết sức hạn chế

Chuyển sang cơ chế thị trường, trong lĩnh vực kinh tế, Nhà nước địnhhướng việc hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinhdoanh và chống độc quyền Điều đó được thực hiện thông qua các chính sáchthuế và chính sách chi tiêu của ngân sách chính phủ để vừa kích thích và vừa gâisức ép với các doanh nghiệp, nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế

- Hai là, vai trò điều tiết trong lĩnh vực xã hội: Trong thời kỳ kế hoạch hoátập trung, tính chất bao cấp tràn lan cho mọi lĩnh vực kinh tế- xã hội đã hạn chếđáng kể vai trò của NSNN trong việc giải quyết các vấn đề xã hội Trong thời kỳnài, mọi sự ưu tiên, ưu dãi của Nhà nước đều được dành chokhu vực Nhà nước.Những chế độ bao cấp về nha fở, cung cấp lương thực, thực phẩm, hàng tiêudùng với giá thấp… đã gâi ra tâm lý sùng bái biên chế nhà nước, tâm lý trôngchờ, ỷ lại vào Nhà nước Điều đó một mặt làm giảm hiệu qủa công tác, hiệu quảtiền vốn, mặt khác vừa tác động ngược chiều tới việc đảm bảo công bừng xã hội.Bên cạnh đó, sự bao cấp tràn lan cho các hoạt đọng có tính chất xã hội (các hoạtđộng sự nghiệp), song lại thiếu sự tính toán hợp lý về phạm vi, mức độ và hiệu

Trang 11

quả của nó cũng dẫn đến những hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu vềmặt xã hội.

Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt đọng có hiệuquả của bộ máy Nhà nước, sự phát triển của các hoạt động xã hội, y tế, văn hoá

xã có ý nghĩa quyết định Việc thực hiện nhiệm vụ này về cơ bản thuộc về Nhànước và không vì mục tiêu lợi nhuận Việc sử dụng nhhhững dịch vụ kể trênđược phân chia giữa những người tiêu dùng, nhưng nguồn tài trợ để thực hiệncác nhiệm vụ đó lại được cấp phát từ NSNN Như vậy trong việc thực hiện cácnhiệm vụ đó có tính chất chung toàn xã hội, NSNNcó vai trò quan trọng hàngđầu Bên cạnh đó, cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ có tính chất chung toàn

xã hội, hàng năm chính phủ vẫn có sự chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thunhập thấp nhất Chúng ta có thể nhận thấy điều đố thông qua các loại trợ giúptrực tiếp được dành cho những người có thu nhập thấp hoặc có hoàn cảnh đặcbiệt như chi về trợ cấp xã hội; các loại trợ giúp gián tiếp dưới hình thức trợ giácho các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện, nước ), các khoản chi phí để thựchiện chính sách dân số, chính sách việc làm, các trương trình quốc gia về chống

mù chữ, chống dịch bệnh, các chi phí cho việc cung cấp các hàng hoá khuyếndụng, hàng hoá công cộng Tuy rằng mọi tầng lớp dân cư đều được hưởng cácdịch vụ này, nhưng hiện nay ở nước ta, tỷ lệ người nghèo còn chiếm phần lớntrong dân cư nên phần được hưởng của người nghèo cũng lớn hơn

Bên cạnh các khoản chi ngân sách cho việc thực hiện các vấn đề xã hội,thuế cũng được sử dụng để thực hiện vai trò tái phân phối tu nhập, đảm bảocông bằng xã hội Việc kết hợp giữa thuế trực thu và thuế gián thu, một mặt vừatăng cường các khoản thu cho NSNN, mặt khác vừa nhằm điều tiết thu nhập củatàng lớp có thu nhập cao, điều tiết tiêu dùng, bảo đảm thu nhập hợp lý của cáctầng lớp người lao động

Ở đây chúng ta cũng cần nhận thấy rằng: việc sử dụng NSNN làm công

cụ điều chỉnh các vấn đề xã hội là một việc không đơn giản trong điều kiện kinh

Trang 12

tế nước ta hiện nay, vơi một bên là những đòi hỏi rất lớn của các vấn đề xã hộicần giải quyết (nhu cầu chi tiêu), một bên là nguồn thu NSNN còn hạn hẹp (khảnăng tài trợ) thì việc quán triệt phương trâm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”trong việc chăm lo giải quyết các vấn đề xã hội cần thiết Đồng thời cũng cầnquán triệt tinh thần “tiết kiêm, hiệu quả, đúng đối tượng” trong chi tiêu NSNNcho các vấn đề xã hội

- Ba là góp phần ổn định thị trường giá cảc, chống lạm phát:Trong thời kỳ

kế hoạch hoá tập trung, sự đơn điệu về chế độ sở hữu, bó khung trong hai hìnhthức quốc doanh và tập thể đã dẫn đến sự phát triển rất yếu ớt của các quan hệthị trường Bên cạnh đó, cơ chế kinh tế chỉ huy (bằng các mệnh lệnh hành chính)

với việc Nhà nước quyết định giá cả của các loại hàng hoá, dịch vụ, chỉđịnh nơi cung cấp vậttư, tiêu thu sản phẩm cũng đã làm cho các quan hệ tịtrường kém phát triển Trong cơ chế đó, sự vận động của giá cả, chi phí thoát lykhỏi quan hệ cung- cầu của thị trường, sự biến động của chúng được che dấu bởi

sự bao cấp của nhà nước Trong điều kiện đó, vai trò của NSNN đối với cácquan hệ thị trường trở nên lu mờ là điều tất yếu

Trong đièu kiện của nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yéu phụ nthuộc vàoquan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường Do đó để ổn định giá cả, chính phủ

có thẻ tác động vào cung hoặc cầu hàng hoá trên thi trường Sự tác động naykhông chỉ được thực hiện thông qua chính sách thuế mà còn được thực hiệnthông qua chính sách chi tiêu của NSNN Bằng nguồn cấp phát của chi tiêuNSNN hàng năm, các quỹ dự trữ Nhà nước vế hàng hoá và tài chính được hìnhthành Trong trường hợp thị trường có nhiều biến động, giá cả lên quá cao hoặcxuống quá thấp, nhờ lực lượng dự trữ hang hoá và tiền, chính phủ có thể điềuhoà cung cầu hàng hoá, vật tư để bình ổn giá cả trên thị trường, bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng và ổn định sản xuất Chính phủ cũng có thể sử dụng NSNNnhằm khống ché và đẩy lùi lạm phát một cách có hiệu quả thông qua việc thựchiện chính sách thắt chặt ngân sách, nghĩa là cắt giảm các khoản chi tiêu, chống

Trang 13

tình trạng bao cấp, lãng phí trong chi tiêu đồng thời có thể tăng thuế tiêu dùng

để hạn chế cầu, mặt khác có thể giảm thuế đầu tư, kích thích sản xuất phát triển

để tăng cung Ngoài ra việc chính phủ phát hành các cộng cụ nợ để vay nhândân nhàm bù đắp thiếu hụt của NSNN cũng góp phần to lớn vào việc làm giảmtốc độ lạm phát trong nền kinh tế quốc dận

2.1.2: Khái quát nội dung thu, chi của NSNN.

* Thu ngân sách nhà nước: tạp hợ cá chủ trương, quan điểm, biện phápnhằm tập trung và huy động các khoản thu vào NSNN

- Nguyên tắc cơ bản:

+ Các chính sách thu vừa nhằm tập trung huy động tốt nhất mọi nguồn thucho NS nhưng phải đảm bảo khuýen khích phát triển kinh tế, mở rộng lưu thônghàng hoá, đảm bảo sự bình đẳng trong cạnh tranh

+ Việc xây dựng các chính sách thu phải chu ý đến việc đảm bảo cho cácđối tượng nằm trong diện điều chỉnh của chính sách này

+ Phải đảm bảo sự công bằng trong điều tiết thu nhập giữa các tàng lớpdân cư

+ Nội dung phải đơn giản, rõ ràng, chính xác

- Nội dung thu NSNN:

+ Xét theo nguồn hình thành các khoản thu, ta có:

Thu từ hoạt động sản xuất- kinh doanh trong nước, bao gồm: nguồn thuđược hình thành và thực hiện trong khâu sản xuất; nguồnthu được thực hiệntrong khâu lưu thông- phân phối; nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ

Nguồn thu từ ngoài nước: bao gồm các khoản thu về vay nợ và viện trợcủa nước ngoàu

+ Xét theo tác dụng của các khoản thu với quá trình cân đối ngân sách,thu NSNN bao gồm các khoản thu sau:

Trang 14

Thu trong cân đối NSNN bao gồm:Thuế, phí,lệ phí; thu về bán và chothuê các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước ; thu lợi tức cổ phần của Nhà nước; cáckhoản thu khác theo luật định.

Thu để bù đắp sự thiếu hụt của NSNN bao gồm các khoản vay trong nước

và vay nước ngoài cho chi tiêu NSNN khi các khoản chi NSNN vượt quá cáckhoản thu trong cân đối của ngân sách

Theo luật NSNN, thu Ngân sách Nhà nước cấp huyện, quận thị xã, thành

phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) bao gồm các khoản thusau:

Tiền thu từ các hoạt động sự nghiệp của các đợn vị huyện quản lý

Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng cáccông trình kết cấu hạ tầng theo quy định của chính phủ

Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước chongân sách cấp huyện

Thu phạt xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực, thu từ các các hoạtđộng chống buôn lậu và kinh doanh trái pháp luật theo phân cấp của tỉnh

Thu kết dư ngân sách cấp huyện

Bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh

Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách cấptỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã theo quy định của pháp luật

* Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm anninh- quốc phòng, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả nợ của nhà

Trang 15

nước, chi viện trợ và các khoản chi theo qui định của pháp luật Theo luậtNSNN, nhiệm vụ chi NSNN cấp huyện bao gồm:

Chi thường xuyên về:

Các hoạt động sự nghiệp giáo dục- đào tạo, y tế thực hiện theo phân cấp của cấp tỉnh

Các hoạt động sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể dục- thể thao, xã hội và các hoạt động sự nghiẹp khác do cơ quan cấp huyện quản lý

Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp huyện quản lý:

- Nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi

- Giao thông

Sự nghiệp thị chính: duy tu, bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng, vỉa hè,

hệ thống cấp thoát nước, giao thông nọi thị, công viên và các sự nghiệp thj chínhkhác

- Các sự nghiệp kinh tế khác

Quốc phòng an ninh và trật tự, an toản xã hội

Hoạt động của các cơ quan cấp huyện của Đảng Cộng sản Việt Nam.Hoạt động của các cơ quan cấp huyện của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt nam, Hội liên hiệp Phụ Nữ Việt nam, Hội Nông dân Việt Nam

Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội- nghề nghiệp cấp huyện theo quy định của pháp luật

Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

Chi đầu tư phát triển

Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội theo phân cấp của tỉnh

Chi bổ sung ngân sách cấp dưới

2.1.3: Các yếu tố ảnh hưởng đến chi Ngân sách Nhà nước.

Trang 16

+ Chế độ xã hội là nhân tố cơ bản ảnh hưởng quyết định đến nội dung cơcấu chi NSNN Chế độ xã hội quyết định đến bản chất và nhiệm vụ kinh tế xãhội của nhà nước.Nhầ nước là chủ thể chi NSNN, vì thế lẽ đương nhiên nộidung cơ cấu của chi NSNN chịu sự ràng buộc của chế độ xã hội.

+Nhân tố thứ hai ảnh hưởng đến nội dung cơ cấu chi NSNN là sự pháttriển của lực lượng sản xuất Sự phát triển của lực lượng sản xuất vừa tạo khảnăng và điều kiện cho việc hình thành nội dung cơ cấu chi một cách hợp lý, vừađặt ra yêu cầu thay đổi nội dung cơ cấu chi trong từng thời kỳ nhất định

+Nhân tố thứ ba ảnh hưởng đến nội dung cơ cấu chi NSNN là khả năngtích luỹ của nền kinh tế Khả năng tích luỹ càng lớn thì khả năng chi đầu tư pháttriển kinh tế càng lớn Đương nhiên việc đầu tư của ngân sách cho đầu tư pháttriển kinh tế tuỳ thuộc ở khả năng tập trung nguồn tích luỹ vào NSNN và chínhsách chi của NSNN trong từng giai đoạn lịch sử

+Nhân tố thứ tư ảnh hưởng đến nội dung cơ cấu chi NSNN là mô hình tổchức bộ máy của nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, xã hội mà Nhà nước đảmnhiệm trong từng giai đoạn lịch sử

Ngoài những nhân tố kể trên, có thể nói cơ cấu chi NSNN của mỗi quốcgia trong từng giai đoạn nhất định chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tố:biến động Kinh tế, Chính trị, Xã hội và của các nhân tố cụ thể như: giá cả, lãisuất, tỷ giá hối đoái

2.2 Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

2.2.1: Nguồn hình thành vốn đầu tư cho sự nghiệp giáo dục.

Sự nghiệp Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, do vậy Nhà nước chủtrương huy động mọi nguồn lực để đầu tư cho sự phát triển của ngành giáo dục

Có thể nói ngành giáo dục được sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân Hiện naynguồn vốn được huy động để đầu tư cho sự nghiệp giáo dục nhưng chủ yếu làcác nguồn sau:

Trang 17

+ Nguồn từ NSNN: Đây là nguồn chủ yếu Chúng ta thường nói giáo dục

là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của cộng đồng Vì thế cần có sự quantâm đầu tư của tất cả các thành phần kinh tế, các cá nhân Tuy nhiên, trên thực tếcho thấy trong tất cả các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục thì nguồn vốn NSNNbao giờ cũng là nguồn quan trọng nhất, chiếm tỷ lệ lớn nhất và ổn định nhất Cótới 85% chi cho Giáo dục và đào tạo là từ NSNN Nguồn này gồm có nguồn từngân sách Tỉnh uỷ quyền cho huyện thực hiện chi cho Giáo dục và nguồn từngân sách huyện chi cho Giáo dục

+ Nguồn vốn ngoài NSNN bao gồm:

Thu từ đóng góp của học sinh: Nguồn này gồm toàn bộ các khoản đónggóp của gia đình hoặc bản thân học sinh cùng với nhà nước đảm bảo cho cáchoạt động giáo dục như học phí, tiền xây dựng, lệ phí thi, tiền học thêm, tiền thu

do phục vụ các dịch vụ ăn ở của học sinh mầm non, học sinh phổ thông bán trúnội trú

Thu từ viện trợ, tài trợ, quà tặng trực tiếp cho giáo dục của các cá nhân, tổchức trong và ngoài nước

2.2.2: Nội dung chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục

Xét theo ngành kinh tế quốc dân, chi NSNN cho sự nghiệp Giáo dục baogồm chi cho các ngành học sau:

- Giáo dục mầm non, bao gồm cả hoạt động nhà trẻ, mẫu giáo

- Giáo dục tiểu học

- Giáo dục phổ thông trung học cơ sở

- Giáo dục phổ thông trung học

- Giáo dục thường xuyên và các hoạt động phục vụ cho giáo dục, bao gồm

cả chống mù chữ và bổ túc văn hoá

- Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp dại nghề trong các trươngphổ thông

Trang 18

Để phục vụ cho công tác quản lý tài chính, người ta phân chia nội dungchi NSNN cho sự nghiệp Giáo dục theo một số nhóm chỉ tiêu chủ yếu:

 Nhóm một: Chi cho con người

Bao gồm chi lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, phúc lợi tập thể cho giáoviên, cán bộ công nhân viên nhà trường…khoản chi này chủ yếu nhằm mục đíchtái sản xuất sức lao động cho đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viên của nhàtrường

Công thức xác định:

`

(1

n i

CNi CNi

C

Trong đó:

-M CNi: mức chi bình quân một công nhân viên dự kiến kì kế hoạch

-S CNi :số công nhân viên bình quân dự kiến có mặt trong năm kế hoạchngành i

-CCNi : số kinh phí chi cho công nhân viên dự kiến kì kế hoạch

Mcn: thường được xác định dựa vào mức chi thực tế kì báo cáo đồng thờitính đến những điều chỉnh có thể xảy ra về mức lơng, phụ cấp và một số khoảnkhác mà nhà nớc dự kiến thay đổi.(còn tiếp)

Số CNV cómặt cuối nămbáo cáo

+

Số CNV dự kiếntăng b/quân năm

kế hoạch

-Số CNV dự kiếngiảm b/quân năm

kế hoạch

=

Số CNV dự kiếntuyển dụng

làm việc

Trang 19

Số thánglàm việc12

 Nhóm hai: Chi cho nghiệp vụ chuyên môn

Bao gồn các khoản chi về giảng dạy, học tập trang thiết bị trong trường(dụng cụ thí nghiệm, sách giáo khoa ) khoản chi này phụ thuộc vào trang thiết

bị trong trường, qui mô, cấp học và bản thân nó quyết định hiệu quả của giáodục Số chi nghiệp vụ chuyên môn của mỗi cấp khác nhau tuỳ thuộc vào tínhchất hoạt động của nó, vì vậy khi xác định số chi nghiệp vụ chuyên môn của mỗicấp phải căn cứ vào từng nội dung cụ thể gắn với nhu cầu kinh phí và khả năngđảm bảo các nguồn kinh phí của ngaan sách nhà nước

+ Số dự kiếnchi về các

Trang 20

liệu, dụng cụ

cho NVCM

học hay thuênghiên cứu

phục trangphục

-khoản khác

 Nhóm ba: Chi quản lí hành chính

Đây là khoản chi nhằm duy trì hoạt động bình thường của bộ máy quản lícủa mỗi cơ quan đơn vị, hay toàn ngành Các đơn vị thuộc phạm vi bao cấp củangân sách nhà nước về công tác quản lí hành chính bao gồm: chi tiền chè nướctại cơ quan, chi trả tiền điện, tiền nước đã dùng tại văn phòng, các dịch vụ vềthông tin liên lạc, chi hội nghi, tiếp khách, hội nghị sơ kết, tổng kết lễ tân cáckhoản chi này liên quan nhiều đến qui mô hoạt động và tổ chức của mỗi loạihình đơn vị:

CNi QLi

C

1

) (

Căn cứ để xác định mức chi quản lí hành chính dự kiến cho năm kế hoạch

là dựa vào mức chi quản lí hành chính thực tế bình quân một công nhân viên kìbáo cáo, khả năng nguồn vốn của ngân sách kì kế hoạch và yêu cầu chi tiết kiệmtrong quản lí hành chính

 Nhóm bốn: chi mua sắm sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ

Trang 21

Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cốđịnh dùng cho các hoạt động hành chính sự nghiệp nên thường phát sinh kinhphí cần có để mua sắm thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản cốđịnh đã bị xuống cấp ở những đơn vị được ngân sách nhà nước bao cấp Vì vậyphải xác định nhu cầu kinh phí để đáp ứng cho mua sắm để sửa chữa lớn hoặcxây dựng nhỏ trong dự toán kinh phí hàng năm của mỗi đơn vị để lập dự toáncho ngân sách nhà nước.

Khi lập dự toán chi cho ngân sách nhà nước cho nhóm mục này cơ quantài chính chủ yếu dựa trên những căn cứ sau:

 Một là: trạng thái của tài sản đã sử dụng tại mỗi ngành, mỗi đơn vịthông qua các tài liệu quyết toán kinh phí kết hợp với điều tra thực tế để dự tínhmức chi cho mỗi ngành, đơn vị

 Hai là: khả năng của nguồn vốn ngân sách đáp ứng các yêu cầu vềtgang thiết bị trong kì kế hoạch

Kết hợp hai căn cứ trên, cơ quan tài chính có thể dự tính mức chi cho muasắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ bằng một tỉ lệ phần trăm trên nguyên giá củatài sản cố định hiện có tại mỗi ngành, mỗi đơn vị

C

1

) (

Trong đó:

CmS : Số chi cho mua sắm, sửa chữa lớn, xây dựng nhỏ của ngân sách nhànước dự kiến kì kế hoạch

NGi: NguyÊn giá tài sản cố định hiện có tại ngành i

Ti : Tỉ lệ % áp dụng để xác đeịnh kinh phí dự kiến chi cho mua sắm,sửachữa lớn và xây dựng nhỏ ngành i

Căn cứ bốn nhóm chi trên ta có:

Trang 22

CGĐ=CNV + CCN + CQL + CmSTrong đó:

CGD: Số chi thờng xuyên cho giáo dục dự kiến kì kế hoạch của ngân sáchnhà nớc

CCN: Số chi CNVdự kiến kì kế hoạch

CNV: Số chi NV-CM dự kiến kì kế hoạch

CQL: Số chi quản lí hành chínhdự kiến kì kế hoạch

CmS: Số chi mua sắm sửa chữa dự kiến kì kế hoạch

2.2.3: Nguyên tắc đảm bảo chi ngân sách tiết kiệm- hiệu quả.

Khả năng là có giới hạn và nhu cầu là vô hạn đó là lí do tại sao chúng ta

đa ra yêu cầu chi tiết kiệm và hiệu quả Đây không phải là lần đầu tiên chúng tanhắc đến hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra, bỏ vào đâu và thực hiện như thếnào? Đó là câu hỏi mà chúng ta luôn phải bận tâm Vì vậy các nhà kinh tế đểđảm bảo yêu cầu này đã đề ra ba nguyên tắc chi:

+ Nguyên tắc quản lí theo dự toán

Đề ra nguyên tắc này, các nhà kinh tế nhằm mục đích thống nhất và tậpchung một mối trong việc thực hiện chi ngân sách nhà nước nói chung và chithường xuyên nói riêng mà chi cho giáo dục là một trong những nội dung trong

đó nhất thiết phải đảm bảo, xuất phát từ một số cơ sở và thực tiễn sau:

Thứ nhất: Hoạt động của chi ngân sách nhà nước đặc biệt là cơ cấu thu

-chi ngân sách nhà nước, đồng thời phải luôn chịu sự kiểm tra giám sát của các

cơ quan quyền lực nhà nước

- Thứ hai: phạm vi và mức độ chi cho từng lĩnh vực là rất khác nhau vì

vậy nhất thiết phải tạo ra những định mức chi riêng hợp lí cho mỗi đối tượng

Tôn trọng nguyên tắc quản lí theo dự toán đối với các khoản chi thườngxuyên được nhìn nhận dưới góc độ sau:

- Mọi nhu cầu chi thường xuyên nói chung và chi giáo dục nói riêng nhấtthiết phải được xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở thông qua việc xét

Trang 23

duyệt của các cơ quan quyền lực nhà nước từ thấp đến cao và quyết định cuốicùng do quốc hội xem xét đề ra.

- Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán cho mỗi cấp, phải căn cứ vào

dự toán kinh phí đã được duyệt mà phân bổ và sử dụng Dự toán chi cho mỗikhoản mục chỉ được phép sử dụng trong khoản mục đó và hạch toán theo đúngmục lục ngân sách nhà nước

- Phải lấy dự toán làm căn cứ đối chiếu, so sánh khi quyết toán kinh phí

và phân tích đánh giá thực hiện của từng kì báo cáo Vì vậy nhất thiết phải đồngnhất trong việc xác lập các chỉ tiêu và khoản mục trong quyết toán và dự toánchi

+ Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả

Đây có lẽ là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản lý tài chính nhànước: nguồn lực là có hạn và nhu cầu là vô hạn vì vậy chúng ta phải chi làm sao

mà với mức phí bỏ ra thấp nhất song hiệu quả đạt được lại cao nhất? Hơn thếnữa do hoạt động của ngân sách nhà nước diễn ra rộng và đa dạng phức tạp, nhucầu chi luôn gia tăng với mức độ không ngừng trong giới hạn huy động cácnguồn thu Chính vì vậy để tiết kiệm và hiệu quả được tôn trọng chúng ta phảilàm tốt và đồng bộ một số nội dung sau:

- Xây dựng các định mục tiêu chuẩn chi phù hợp với từng đối tượng haytính chất công việc, đồng thời bảo đảm tính thực tiễn cao

- Thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng, từ đó tạo tiền đề cho việc lựachọn các tiêu thức phù hợp cho mỗi đối tượng quản lí

- Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các hoạt động hoặc nhóm mục chi phù hợpvới ngân sách mà hiệu quả cao

Nói tóm lại tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt đối lập của nguyên tắc nàysong nó lại có mỗi quan hệ tương hỗ với nhau nếu chúng ta sử dụng hợp lí cácđồng vốn, do vậy khi xem xét phải đặt chúng trong quan hệ tương hỗ, xem xétlợi hại khi chọn vì chúng luôn chi phối lẫn nhau

Trang 24

+ Nguyên tắc “ Chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước ”

Đề ra nguyên tắc này cũng là lí do để Nhà nước khai thác tối đa hiệu quảcủa các công cụ hành chính Kho bạc nhà nước có chức năng quan trọng là quản

lí quĩ ngân sách nhà nước, vì vậy nhất thiết các kho bạc phải quản lí chặt chẽ cáckhoản chi của nhà nước, đặc biệt là chi cho Giáo dục Để tăng cường vai trò củaKho bạc Nhà nước trong kiểm soát chi cho sự nghiệp giáo dục của ngân sáchnhà nước trong điều kiện hiện nay ở nước ta đã và đang triển khai việc chi trựctiếp qua kho bạc nhà nước như là một nguyên tắc trong quản lí khoản chi này

Để thực hiện tốt nguyên tắc chi trực tiếp qua kho bạc nhà nước cần giảiquyết một số vấn đề cơ bản sau:

- Mọi khoản chi phải được kiểm tra kiểm soát trước, trong và sau quátrình cấp phát thanh toán và thuộc dự toán ngân sách được duyệt theo chế độtiêu chuẩn và định mức do cơ quan có thẩm quyền quyết định

- Các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước phải mở tài khoản tại ngânhàng, kho bạc nhà nước, chịu sự kiểm tra kiểm soát của các cơ quan tài chính,kho bạc nhà nước trong việc lập dự toán thanh toán, hạch toán và quyết toánngân sách nhà nước

- Các cơ quan tài chính có trách nhiệm phải thẩm định dự toán và thôngbáo hạn mức kinh phí gửi cho đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách, kiểm tra sửdụng kinh phí đồng thời xét duyệt quyết toán chi của đơn vị và tổng quyết toánchi ngân sách nhà nước

- Kho bạc Nhà nước phải kiểm soát hồ sơ, chứng từ và điều kiện cấp phát,thanh toán kịp thời khoản chi ngân sách nhà nước theo quy định Tham gia vớicác cơ quan tài chính cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền trong việc sửdụng ngân sách nhà nước và xác nhận số thực chi ngân sách qua kho bạc

- Lựa chọn phơng thức cấp phát, thanh toán đối với từng khoản chi cho sựnghiệp giáo dục phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện tại: phương thức cấpphát thanh toán đối với từng khoản lương, các khoản có tính chất lương sẽ khác

Trang 25

với phương thức cấp phát, thanh toán cho xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm vật

tư thiết bị

Đó là ba nguyên tắc cần thiết để chi ngân sách nhà nước tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất Để làm rõ thêm điều này ta nghiên cứu nội dung chi của ngânsách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục.

Trong mỗi gian đọan khác nhau, mức độ, nội dung cơ cấu chi Ngân sáchNhà nước cho sự nghiệp Giáo dục cũng có sự khác nhau, sự khác nhau đó bắtnguồn từ các nhân tố ảnh hưởng sau:

Các nhân tố chủ quan, bao gồm:

+ Định hướng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia

+ Thực trạng tình hình giáo dục và các chỉ tiêu về qui mô chất lượng giáoviên, học sinh, hiện trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị

+ Khả năng huy động các nguồn vốn ngoài NSNN cho sự nghiệp Giáodục

+ Khả năng đáp ứng nhu cầu chi tài chính cho sự nghiệp Giáo dục từnguồn NSNN

+ Phụ thuộc vào cơ cấu chi của NSNN: Chi cho sự nghiệp Giáo dục phảiđược đặt trong mối quan hệ cân đối với các khoản chi khác

+ Phụ thuộc vào tính hiệu quả của công tác quản lý chi

Các nhân tố khách quan, bao gồm:

+ Xu hướng và thực trạng phát triển kinh tế- xã hội- chính trị của cácnước trên thế giới và khu vực Vấn đề này tác động trực tiếp đến định hướngphát triển và thực trạng Kinh tế- Xã hội- Chính trị của nước ta, đặc biệt khi quốc

tế hoá, toàn cầu hoá đang là xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay và như vậy

sẽ ảnh hưởng đến chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục

Trang 26

+ Vị trí địa lý, các điều kiện tự nhiên như tài nguyên, đất đai, khí hậu sẽ

có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đối với cả khả năng và nhu cầu chi cho sựnghiệp giáo dục

+ Mức độ phát triển của lực lượng sản xuất: Đây là nhân tố vừa tạo ra tiền

đề, khả năng cho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước cho

sự nghiệp Giáo dục Bởi lẽ nhân lực con người là yếu tố quyết định sản xuất, màđầu tư cho giáo dục là đầu tư để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡngnhân tài Tù đó xây dựng và tạo lập nên những kĩ sư, bác sĩ, cán bộ kinh doanh tạo tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá

+ Tốc độ tăng trưởng dân số : Việc qui mô dân số mở rộng trong điềukiện trang thiết bị hạn chế từ đó làm giảm phúc lợi xã hội/người dân Để đảmbảo phúc lợi xã hội cho người dân không ngừng tăng lên khi dân số tăng đồngnghĩa với việc đầu tư thêm về phúc lợi cho toàn xã hội về mọi mặt nói chung vàtrang thiết bị cho ngành Giáo dục nói riêng Và cũng có nghĩa chi cho Giáo dụctăng lên

2.3 Vai trò của chi ngân sách nhà nước cho hoạt động giáo dục

Trong điều kiện đổi mới hiện nay, Nhà nước ta nói riêng và các nước trênthế giới nói chung khuyến khích các hình thức xã hội hoá lĩnh vực Giáo dụcnhưng NSNN vẫn đóng vai trò và giữ vị trí hết sức quan trọng Như vậy đầu tưcho Giáo dục là điều không thể thiếu

Ngân sách nhà nước là nguồn tài chính cơ bản, to lớn nhất để duy trì vàphát triển hệ thống Giáo dục quốc dân theo đúng đường lối của Đảng “ Giáo dục

là quốc sách hàng đầu” Trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn, cácthành phần kinh tế phát triển không đồng đều song lại phải cạnh tranh hết sứckhốc liệt của nền kinh tế thị trường vì vậy sự đóng góp của thành phần kinh tếnày là không đáng kể, mọi gánh nặng đều đặt lên vai của Nhà nước- Ngân sáchNhà nước

Trang 27

Hơn thế nữa đầu tư của NSNN tạo điều kiện ban đầu, đồng thời là cơ sởtiền đề cho sự ủng hộ Giáo dục của các tầng lớp nhân dân thông qua việc giáodục cho các tầng lớp nhân dân hiểu được vai trò và tác dụng to lớn của Giáo dụcđối với con em họ từ đó thu hút sự đóng góp của nhân dân cho Giáo dục.

Không ngừng nâng cao đời sống vật chất của đội ngũ giáo viên, giúp mọingười yên tâm công tác nâng cao chất lượng giáo dục, thông qua việc tănglương, giảm niên hạn tăng lương Đó là những gì nhà nước đóng góp nhằm nângcao hiệu quả giáo dục, quan tâm đến sự nghiệp trồng người

Không dừng lại ở đó, NSNN còn giúp điều phối cơ cấu giáo dục của toànngành, thống nhất thời gian dạy, chương trình học của từng lớp và từng cấp học

Theo thể chế thiết lập giáo dục hiện hành, nền Giáo dục được hình thành:Giáo dục chính qui, phi chính qui và Giáo dục thường xuyên Nền Giáo dụcchính qui lại được chia thành các hệ nhỏ trong một thể thống nhất của hệ thốngGiáo dục Quốc gia- một hệ thống xuyên suốt từ Giáo dục mầm non đến hệ đạihọc cung cấp toàn diện nền tri thức nhân loại.(sơ đồ hệ thống giáo dục quốcgia)

2.4 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Do đặc điểm của chi tiêu ngân sách là hầu hết các khoản chi mang tínhchất bao cấp, tác dụng tới cả các lĩnh vực kinh tế chính trị, mà chi NSNN choGiáo dục cũng là một phần trong chi NSNN, do đó, công tác quản lý chi NSNNcho Giáo dục cũng phải đảm bảo những nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả

Công tác quản lý chi NSNN là một quá trình liên tục qua nhiều khâu,nhiều giai đoạn từ quá trình lập dự toán đến quá trình tổ chức thực hiện chi vàquyết toán chi ngân sách

Để đảm bảo cho NSNN được sử dụng một cách có hiệu quả nhất cần phảiđẩy mạnh công tác quản lý chi Ngân sách cho sự nghiệp Giáo dục Đây chính làđiều kiện tiên quyết cho việc phân bổ và sử dụng kinh phí Nhà nước cho Giáo

Trang 28

dục đạt hiệu quả là tốt nhất, đạt được mục tiêu Giáo dục đào tạo đề ra nói riêng

và mục tiêu kinh tế- xã hội nói chung

PHẦN THỨ HAI THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÍ CHI NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN DU

Tiên Du là một huyện lớn của tỉnh Bắc Ninh, vừa được tái lập năm1999.Với 15 xã và 1 thị trấn, tổng diện tích là 10.630,03 ha; dân số 125.764 khẩu,nằm trên tuyến đường quốc lộ 1A đi qua, cùng lợi thế gần thủ đô, mạng lướigiao thông, thông tin liên lạc phát triển đã tạo điều kiện cho Tiên Du mở rộnggiao lưu kinh tế với các vùng phụ cận, thu hút các dự án đầu tư

Sau khi huyện Tiên du được tái lập, Phòng Tài chính- KH huyện Tiên Duđược thành lập theo quyết định số 106/1999 / QĐ- UB ngày 30 / 5 / 1999 củaUBND tỉnh Bắc Ninh Với chức năng giúp UBND và Chủ tịch UBND cấphuyện quản lý Nhà nước đối với các lĩnh vực quy hoạch, kế hoạch phát triểnkinh tế xã hội, tài chính, vật giá, đầu tư, đăng ký kinh doanh với các nhiệm vụsau:

Giúp UBND và Chủ tịch UBND cấp huyện hướng dẫn và tổ chức thựchiện nhiệm vụ quản lý về Tài chính, Ngân sách nhà nước và giá trên địa bàntheo quy định của Pháp luật

Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị ở địa phương lập, chấp hành và quyết toánNgân sách nhà nước

Lập phương án phân bổ dự toán Ngân sách cấp huyện, báo cáo UBND,trình HĐND quyết định

Kiểm tra việc quản lý Tài chính, Ngân sách của chính quyền cấp xã vàcác cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp của Nhà nước thuộc cấp huyện

Trang 29

Tổng hợp báo cáo và quyết toán thu chi Ngân sách nhà nước trên địa bàn,phối hợp với cơ quan thu thuế trong quản lý thu ngân sách, với kho bạc nhànước trong kiểm soát chi Ngân sách.

Quản lý tài sản nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp trên địa bàn theoquy định

Phối hợp với các tổ chức liên quan của địa phương, xây dựng quy hoạch,quản lý, thực hiện quy hoạch và lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

Xét, cấp đăng ký kinh doanh theo phân cấp của UBND tỉnh, đồng thờithực hiện chức năng tổng hợp thông tin báo cáo giữa tỉnh và cấp huyện

Về tổ chức bộ máy của Phòng Tài chính- KH huyện Tiên Du có tổng số

10 cán bộ viên chức gồm có: Trưởng phòng, Phó trưởng phòng và các côngchức chuyên môn giúp việc ở các bộ phận quản lý Ngân sách, kế hoạch đầu tư,công tác giá cả và cấp phát đăng ký kinh doanh

I HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH GIÁO DỤC TIÊN DU THỜI GIAN QUA

Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 9, nghị quyết Đạihội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ 16, nghị quyết Đảng bộ Tiên Du lần thứ 14.Trong năm qua được Huyện Uỷ, Hội đồng Nhân dân và UBND Huyện đã quantâm và tạo điều kiên thuận lợi cho sự nghiệp phát triển Giáo dục- Đào tạo củahuyện Đội ngũ giáo viên được tăng cường nâng cao vẽ chất lượng giảng dạy,luân chuyển điều động 6 giáo viên là các hiệu trưởng giữa các trường tronghuyện (cấp tiểu học và trung học cơ sở ) để đáp ứng công tác và đổi mới phươngpháp giảng dạy

Tiếp tục đổi mới sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo đó là tất cả những gì màĐảng bộ các cấp chính quyền quan tâm và dành cho ngành giáo dục Tiên Du.Với đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm và tâm huyết với sự nghiệp giáo dục,trong nhiều năm liên tiếp ngành giáo dục Tiên Du luôn đi đầu trong tỉnh về côngtác giảng dạy Hơn 90% giáo viên cấp tiểu học đạt trình độ chuẩn hoá, giáo viên

Trang 30

cấp trung học cơ sở đạt tiêu chuẩn 95% Điều đó chứng tỏ ngành giáo dục Tiên

Du ngày càng quan tâm đến chất lượng giảng dạy Tuy đội ngũ giáo viên cấptrung học mới đạt ở mức 65 % trình độ trung học sư phạm mẫu giáo song trongnhiều năm liên tiếp giáo dục mầm non đã thu hút số lượng lớn các cháu theo

học: Năm học 2001 - 2002 vừa qua Giáo dục mầm non thu hút 4370

cháu Trong nhiều năm số lượng đội ngũ giáo viên tăng lên nhanh chóng đápứng nhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân

Bảng 1: SỐ LIỆU ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIÊN DU.

Nguồn: Phòng Giáo dục- Đào tạo Tiên Du

Chất lượng học sinh phổ thông cũng khá tiến bộ Có thể nói chất lượnggiáo dục ở khối phổ thông chính là nền tảng quan trọng đối với việc hình thànhnhân cách và tri thức trẻ của các em Chính vì điều này, ngành giáo dục đã cónhững biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục như đổi mới mục tiêu, đổimới phương pháp giảng dạy và học tập theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học,năng lực biết đặt và giải quyết vấn đề để học sinh không thụ động trong việc tiếpthu bài giảng Với sự lỗ lực của thầy và trò, trong mấy năm gần đây chất lượnggiảng dạy của các cơ sở trường lớp được nâng lên đáng kể cả về ddạo đức vàchuyên môn

Bảng 2: CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG NĂM HỌC 2001 - 2002

Trang 31

Nguồn: Phòng Giáo dục- Đào tạo Tiên Du

Chất lượng giáo dục quyết định đến chất lượng của các kì thi, trong hainăm liên tiếp, kết quả các đợt thi tốt nghiệp của học sinh phổ thông đều đạt đượcnhững kết quả cao:

Bảng 3: CHẤT LƯỢNG CÁC KÌ THI TỐT NGHIỆP HAI NĂM 2000 - 2001

Nguồn: Phòng Giáo dục- Đào tạo Tiên Du

Hệ thống Giáo dục- đào tạo trên địa bàn huyện Tiên Du trong những nămqua tương đối ổn định và phát triển, quy mô các trường lớp được mở rộng, pháttriển mạnh mẽ ở tất cả các cấp, các ngành học

Theo số liệu của Phòng Giáo dục- Đào tạo Tiên Du, quy mô của hệ thốngtrường lớp có sự mở rộng Người dân đã trú trọng nhiều đến việc học tập củacon em họ Đi sâu vào từng ngành học có thể thấy rôx sự thay đổi khởi sắc của

hệ thống Giáo dục huyện

+ Giáo dục mầm non: Năm 2002, có 16 trường với 58 nhóm và 2.244cháu tăng 9,5% so với năm học trước Mẫu giáo có 166 lớp với 4828 cháu tăng

3 lớp và 156 cháu so với năm học trước

+ Giáo dục tiểu học: Năm 2002 có18 trường đạt 1005 kế hoạch, có 418lớp với 13.487 học sinh giảm 21 lớp và 1.112 học sinh so với năm học trước Sốhọc sinh lớp 3, 4, 5 được học ngoại ngữ là 100% Số trương tiểu học đạt chuẩnquốc gia gồm 10 trường: Hoàn Sơn, Cảnh Hưng, Liên Boã, Nội Duệ, Việt Đoàn,Lạc Vệ 1, Lạc Vệ 2, Hạp Lĩnh, Đại Đồng, Phú Lâm1

Trang 32

+ Giáo dục trung học cơ sở: năm 2002 có17 trường, 265 lớp với 11.697học sinh, tăng 10 lớp và 730 học sinh so với năm học trước Đến nay giáo dụcTHCS của huyện đã được tỉnh công nhận đạt 100% phổ cập THCS.

+ Giáo dục thường xuyên: Thực hiện chủ trương của huyện nhằm phổ cậpgiáo dục ở các cấp học, công tác giảng dạy và học bổ túc cho mọi đối tượng trênđịa bàn đã được quan tâm cao, việc dạy và học nghề đã được đẩymạnh đào tạocho mọi đối tượng trên đại bàn Lớp bổ túc THPT có 5 lớp với 224 học viên, kếtquả thi tốt nghệp đạt 98% Lớp dạy nghề có tổng số 7.845 học viên Trong đóTHPT có 3.103 học viên, THCS có 4.742 học viên Các nghề đào tạo chủ yếu làđiện dân dụng, bảo vệ thực vật, tin học kết thúc các lớp học đều có tỷ lệ đạtcao

Bảng 4: SỐ LIỆU PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH HỌC SỰ NGHIỆP

GIÁO DỤC TIÊN DU

18173

43925599

418265102

14599116275009

13487116975071

Nguồn: Phòng Giáo dục- Đào tạo Tiên Du

II.TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ VÀ SỬ DỤNG KINH PHÍ NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TIÊN DU THỜI GIAN QUA.

1 Khối lượng và mức độ chi từ ngân sách địa phương cho hoạt động giáo dục.

Trang 33

Trong những năm qua Đảng và nhà nước ta đã và đang rất quan tâm đếnviệc phát triển phát triển giáo dục và đào tạo nhiều chính sách, chỉ thị về việcđổi mới và phát triển giáo dục ra đời Tại đại hội trung ương khoá 8 đã khẳngđịnh: “ Giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của nhà nước và của toàndân” Mọi người chăm lo cho giáo dục, học thường xuyên, học suốt đời và vìgiáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Đất nước ta đang trong giaiđoạn đổi mới từng bước các chính sách, các giải pháp cụ thể cho từng ngành,từng lĩnh vực phát huy tác dụng và tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sốngkinh tế xã hội, nhu cầu đòi hỏi chi ngân sách cho giáo dục không ngừng tănglên.

Để định hướng cho sự phát triển của toàn nền kinh tế, nhà nước thực hiệnvai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng các chính sách, giải pháp cụ thể, và nócàng đa dạng trong nền kinh tế thị trường, như: công cụ hành chính ( mệnhlệnh), công cụ pháp luật, công cụ kinh tế, công cụ giáo dục, công cụ chuyênchính ( vũ lực) Mỗi công cụ trên có những điểm mạnh, diểm yếu riêng và mức

độ sử dụng chúng cũng khác nhau trong mỗi giai doạn lịch sử Nếu như trongnền kinh tế kế hoạch hoá tập chung, công cụ hành chính được sử dụng nhiềunhất và là công cụ quan trọng nhất của nhà nước để điều chỉnh nền kinh tế, thìtrong nền kinh tế thị trường dịnh hướng xã hội chủ nghĩa thì công cụ pháp luật,kinh tế, tài chính là các công cụ giữ vai trò quyết định nhất và cộng cụ tài chính

có vai trò hết sức quan trọng

Trong bốn năm qua công tác quản lý tài chính huyện đã đạt được nhữngthành tích đáng khích lệ với kế hoạch thu - chi ngân sách nhiều năm được hoànthành đó là điều kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế của tất cả các ngành, các lĩnhvực, thúc đẩy sự chuyển biến của cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, đảm bảo sự ổnđịnh chính trị, trật tự an toàn xã hội, mức sống của nhân dân dần được nâng cao,tạo điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Trang 34

Bảng 5: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN THU - CHI NGÂN SÁCH HUYỆN

TIÊN DU QUA BỐN NĂM 1999- 2000- 2001- 2002

Cùng với các ngành khác, Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện đã quan tâmrất lớn đến sự nghiệp giáo dục, liên tiếp cụ thể hoá các nghị quyết, quyết địnhcủa Đảng và nhà nước Trên địa bàn huyện ra những kế hoạch dài hạn, trunghạn, kế hoạch hàng năm và đề ra chiến lược cụ thể để đưa sự nghiệp giáo dụchuyện tiến những bước tiên mới

Trang 35

09 Sự nghiệp phát thanh truyền

Trang 36

Nguồn: Tổng quyết toán chi NS huyện Tiên Du năm 2000

Giáo dục tạo tiền đề cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo vì vậy các khoản

chi cho sự nghiệp giáo dục là vô cùng cần thiết và đóng góp lớn vào những

thành công trong sự nghiệp trồng ngời Phạm vi hoạt động của ngành giáo dục

rất rộng, bao gồm: Khối mầm non, khối phổ thông, các trường đặc biệt và giáo

dục thường xuyên, chính vì vậy chúng ta rất khó xác định danh giới và điều kiện

cho sự hoạt động này Nhận thức rõ tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục, thựchiện chủ trương “ Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển”, Tiên Du đã dành

phần kinh phí đáng kể trong ngân sách để mở rộng mạng lưới trường lớp, nâng

cao chất lượng dạy và học, từng bước hiện đại cơ sở vật chất tạo tiền đề cho sự

phát triển những năm tiếp theo

Nhìn vào số liệu của bảng quyết toán tổng hợp chi ngân sách địa phương

năm 2000 và năm 2001 chúng ta thấy chi ngân sách huyện cho giáo dục- đào tạo

là rất thấp, chỉ chiếm khoảng 2% tổng chi ngân sách huyện Sở dĩ như vậy, là vì

Trang 37

trong nhứng năm đó ngân sách nhà nước cho ngành giáo dục không được cấpphát trực tiếp qua Phòng Tài chính- KH, ngân sách nhà nước cấp cho giáo dụcđược cấp cho phòng Giáo dục- Đào tạo, các trường thực hiện hình thức báo sổgửi lên phòng Giáo dục Do vậy, ngân sách huyện chi cho Giáo dục- Đào tạo ởđây chỉ là những khoản hỗ trợ của ngân sách huyện cho giáo dục và dào tạo Vìvậy trong năm 2000 và năm 2001 này chúng ta không đi sâu vào phân tích, đánhgiá tình hình quản lý của phòng Tài chính-KH trong công tác chi ngân sách chogiáo dục Mà chúng ta cũng cần có những tìm hiểu về nội dung chi ngân sáchnhà nước cho giáo dục- đào tạo của phòng Tài chính- Kế hoạch, cụ thể như sau:

Năm 2000 : Tổng chi ngân sách huyện cho sự nghiệp giáo dục- đào tạothực hiện 180,294 triệu đồng, chủ yếu đó là những khoản chi hỗ trợ; nội dung,

cơ cấu những khoản chi đó được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 7 : CHI NGÂN SÁCH GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO NĂM 2000

Đơn vị: Đồng

Loại Khoả

n

Mục

T

Mục

Trang 38

14 11 Đào tạo và bồi dưỡng N.vụ cho

Nguồn: Tổng quyết toán chi NS huyện Tiên Du năm 2000

- Năm 2001, trong năm này số chi từ ngân sách huyện cho sự nghiệp giáodục địa phương tăng lên cả về số tương đối và số tuyệt đối khi so sánh với tổngchi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo và tổng chi ngân sách huyện

Bảng 8: CHI NGÂN SÁCH GD- ĐT NĂM 2001

Đơn vị: Đồng

Trang 39

Loại Khoả

n

Mục

T

Mục

14 11 111 Thông tin, tuyên truyền, liên lạc 3,278,000

14 11 111 01 Cước phí điện thoại trong nước 1,148,000

14 11 111 10 Sách, báo, tạp chí thư viện 1,874,100

14 11 114 99 Chi phí thuê mướn khác 198,000

Trang 40

Năm 2002: Thực hiện thông tư số 103/ TT/ BTC ngày 18/7/1998 của BộTài Chính hướng dẫn việc phân cấp, lập, chấp hành và quyết toán Ngân sách nhànước Căn cứ vào quyết định của Tỉnh Uỷ, UBND tỉnh về việc thực hiện cấpphát kinh phí trực tiếp đến đơn vị sử dụng NSNN Phòng Tài chính- Kế hoạch

đã thực hiện cấp phát kinh phí trực tiếp cho 36 đơn vị thuộc ngành giáo dục- đàotạo trên đại bàn huyện Tiên Du

Năm 2002, số chi từ ngân sách huyện cho sự nghiệp giáo dục là 15025triệu đồng, chiếm tỉ trọng 37,5% so với tổng chi ngân sách huyện

Bảng 9: CHI NGÂN SÁCH GIÁO DỤC- ĐÀO

Ngày đăng: 28/03/2013, 12:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: CHẤT LƯỢNG CÁC KÌ THI TỐT NGHIỆP HAI NĂM 2000 - 2001 - Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du
Bảng 3 CHẤT LƯỢNG CÁC KÌ THI TỐT NGHIỆP HAI NĂM 2000 - 2001 (Trang 31)
Bảng 4: SỐ LIỆU PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH HỌC SỰ NGHIỆP - Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du
Bảng 4 SỐ LIỆU PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH HỌC SỰ NGHIỆP (Trang 32)
Bảng 6: QUYẾT TOÁN TỔNG HỢP CHI NSĐP NĂM 2000, 2001 - Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du
Bảng 6 QUYẾT TOÁN TỔNG HỢP CHI NSĐP NĂM 2000, 2001 (Trang 35)
Bảng 7 : CHI NGÂN SÁCH GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO NĂM 2000 - Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du
Bảng 7 CHI NGÂN SÁCH GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO NĂM 2000 (Trang 37)
Bảng 9: CHI NGÂN SÁCH GIÁO DỤC- ĐÀO - Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du
Bảng 9 CHI NGÂN SÁCH GIÁO DỤC- ĐÀO (Trang 40)
Bảng 14: CƠ CẤU CHI QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH - Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du
Bảng 14 CƠ CẤU CHI QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH (Trang 55)
Bảng : TỔNG HỢP KINH PHÍ UỶ QUYỀN CỦA NGÂN SÁCH TỈNH - Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du
ng TỔNG HỢP KINH PHÍ UỶ QUYỀN CỦA NGÂN SÁCH TỈNH (Trang 63)
Sơ đồ ngân sách cho sự nghiệp giáo dục - Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du
Sơ đồ ng ân sách cho sự nghiệp giáo dục (Trang 76)
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ NGÂN SÁCH GIÁO DỤC TIÊN DU. - Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục ở huyện Tiên Du
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ NGÂN SÁCH GIÁO DỤC TIÊN DU (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w