1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp tài chính nhằm phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

25 917 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Tài Chính Nhằm Phát Huy Vai Trò Của Doanh Nghiệp Nhà Nước Trong Điều Kiện Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 282,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giải pháp tài chính nhằm phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 của Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới

và phát triển Kinh tế Nhà nước (KTNN) để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế”{88} KTNN là lực lượng quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong KTNN, một bộ phận quan trọng không thể thiếu, đó là doanh nghiệp nhà nước (DNNN) DNNN giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội

Qua một thời gian dài, từ những năm 1960, Chính phủ đã liên tục cải tiến quản lý khu vực DNNN nhưng vẫn không khắc phục được nhiều tình trạng yếu kém của chúng và nó càng trì trệ hơn Chuyển sang nền KTTT, nhất là trong giai đoạn hội nhập hiện nay, DNNN sẽ không còn được bao cấp, núp bóng Nhà nước, lúc này DNNN phải tự mình vươn lên cạnh tranh trên thương trường hội nhập, với những điều kiện bình đẳng như những doanh nghiệp khác

DNNN đã, đang và sẽ là sức sống của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam Làm thế nào để DNNN đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của KTTT, của sự phát triển hội nhập chung? Đây là câu hỏi lớn luôn được đặt ra trong các đại hội, cuộc họp, thảo luận Và như vậy, việc phát huy vai trò của DNNN chính là phát huy vai trò của KTNN Năng lực cạnh tranh (NLCT) của DNNN chính là NLCT của đất nước Để phát huy hơn nữa vài trò của DNNN trong nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay thì việc nâng cao sức cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp này là việc làm cấp bách

Đề tài: Các giải pháp tài chính nhằm phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được tác giả chọn làm đề tài luận án nghiên cứu Luận án tập trung vào nghiên cứu những lý luận cơ bản về vai trò của DNNN; về năng lực cạnh tranh DNNN; đánh giá những thành quả, hạn chế về hoạt động, về NLCT của khu vực DNNN từ năm 2000 đến nay Từ đó rút ra những nhận xét và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, khả năng cạnh tranh (KNCT) của DNNN, tức là phát huy vai trò nòng cốt của khu vực doanh nghiệp này trong nền kinh tế

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Trong bối cảnh nền KTTT gồm nhiều thành phần kinh tế, nhiều chủ thể kinh tế khác nhau cùng cạnh tranh bình đẳng, làm thế nào để DNNN giữ được vai trò dẫn dắt, chi phối các thành phần kinh tế khác? Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở những lý luận cơ bản

về DNNN và vai trò của DNNN trong nền KTTT, luận án đi vào phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động, vai trò của DNNN và đưa ra những quan điểm, giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm phát huy vai trò của khu vực doanh nghiệp này trong nền KTTT ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Các DNNN nói chung (cả các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận và các doanh nghiệp hoạt động công ích)

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các giải pháp gồm các giải pháp tài chính và giải pháp về quản lý vĩ mô, trong đó các giải pháp tài chính là chủ yếu để phát huy vai trò của DNNN trong nền KTTT

4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Đề tài đóng góp một phần vào việc nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về DNNN và vai trò của doanh nghiệp này trong nền KTTT

Trang 2

- Nghiên cứu những kết quả về hoạt động và vai trò của DNNN thời gian qua, rút ra những nguyên nhân, đánh giá đúng thực trạng, từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp góp phần phát huy vai trò của DNNN

5 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về DNNN, cụ thể :

- “Quá trình đổi mới DNNN ở Việt Nam giai đoạn1986-2000’’, tác giả Hàn Quốc, năm 2002 Đây là một đề tài luận án tiến sỹ kinh tế, trong đó đã lược khảo quá trình hình thành phát triển và những cuộc cải tiến DNNN ở Việt Nam từ năm 1986 ; từ đó đưa

Leekangwoo-ra một số kiến nghị mang tính vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sắp xếp, đổi mới DNNN Việt nam

- “DNNN trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam đến năm 2010’’, tác giả PGS.TS Ngô Thắng Lợi, năm 2004 Cuốn sách chủ yếu bàn về thành phần KTNN, về vai trò DNNN trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển DNNN đến năm 2010 ở Việt nam

-“Cổ phần hoá DNNN- những vấn đề lý luận và thực tiễn’’, tác giả PGS.TS Lê Hồng Hạnh, năm 2004 Nội dung chính của cuốn sách luận gải về xu thế cải cách DNNN, trong đó chủ yếu đề cập đến lý luận và thực tiễn việc cổ phần hoá DNNN

Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác về DNNN như : Chuyển đổi các DNNN ; sở hữu Nhà nước và DNNN trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam ; KTNN và quá trình đổi mới DNNN ; một số vấn đề về bán, khoán kinh doanh, cho thuê các DNNN ở Việt Nam ; Bàn về cải cách toàn diện DNNN và các bài viết về DNNN đăng trên các tờ báo, tạp chí Nội dung chủ yếu của các công trình trên bàn về việc Nhà nước đã, đang và sẽ làm gì để các DNNN hoạt động có hiệu quả hơn trong thời gian tới

Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về “các giải pháp tài chính nhằm phát huy vai trò của DNNN trong điều kiện nền KTTT ở Việt Nam hiện nay’’

Những đóng góp mới của luận án :

- Luận án đã hệ thống hoá những lý luận cơ bản về KTTT, DNNN; làm rõ vai trò, vị trí, sự tồn tại có tính chất khách quan của DNNN trong nền KTTT; bàn về những tác động của tài chính đến việc phát huy vai trò của DNNN trong nền KTTT

- Luận án đã phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động và vai trò của DNNN, rút ra những thành quả và những tồn tại của DNNN thời gian qua

- Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc, luận án đã rút ra một số bài học kinh nghiệm trong việc phát huy vai trò của DNNN phù hợp với điều kiện Việt Nam

- Luận án đã đề xuất các giải pháp tài chính cả ở tầm vi mô và vĩ mô nhằm phát huy vai trò của DNNN trong nền KTTT ở Việt Nam hiện nay

6 Kết cấu của luận án:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được trình bày thành 3 chương, với những nội dung chính của từng chương như sau:

Trang 3

Chương 1 Kinh tế thị trường và vai trò của Doanh Nghiệp Nhà Nước

trong nền kinh tế thị trường 1.1 Lý luận chung về kinh tế thị trường

KTTT là kiểu tổ chức kinh tế-xã hội trong đó toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất được gắn chặt với thị trường Trong KTTT, việc sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai đều xuất phát từ nhu cầu thị trường, do thị trường quyết định; tiêu dùng cái gì cũng do thị trường quyết định

Từ khi KTTT ra đời cho đến nay có thể khái quát các mô hình:

- KTTT tự do cạnh tranh

- KTTT có sự quản lý của Nhà nước

KTTT mang những đặc điểm phổ biến như sau:

- Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế được chú trọng

- Trên thị trường hàng hoá rất phong phú

- Giá cả được hình thành ngay trên thị trường

- Cạnh tranh là một tất yếu của KTTT

- KTTT là hệ thống kinh tế mở, đa dạng, phức tạp và được điều hành bởi hệ thống tiền

tệ và hệ thống luật pháp của Nhà nước

Những ưu thế kinh tế thị trường mang lại như: KTTT là một nền kinh tế năng động; KTTT thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng; Nền KTTT là nền kinh tế có nhiều loại hàng hoá và dịch vụ, có khả năng thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người

Tuy nhiên, KTTT cũng chứa đựng nhiều khuyết tật: Tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp; Tình trạng phân hoá, bất bình đẳng; Tình trạng suy thoái môi trường, ô nhiễm không khí

Tất cả các khuyết tật trên do KTTT sinh ra nhưng bản thân nó không thể nào khắc phục được Vì vậy phải có sự tác động từ bên ngoài cơ chế thị trường Các nhà Kinh tế học tìm thấy ở đó vai trò của KTNN

Trong nền KTTT, vai trò của Nhà nước thể hiện trên các khía cạnh sau: Nhà nước thiết lập một cơ sở pháp luật vững mạnh; duy trì một môi trường chính sách không lệch lạc,

đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô; Nhà nước đầu tư vào các dịch vụ xã hội cơ bản và cơ cở hạ tầng cơ bản; Nhà nước đứng ra bảo vệ nhóm người dễ bị tổn thương và bảo vệ môi trường

Các biện pháp chủ yếu: Nhà nước kích cầu, duy trì cầu đầu tư, đầu tư các dự án quốc gia, kích thích tiêu dùng xã hội; Nhà nước sử dụng tài chính, tín dụng, lưu thông tiền tệ làm công cụ chủ yếu để điều chỉnh kinh tế; Đồng thời, đảm bảo bù đắp những thiếu hụt của NSNN do tăng chi phí để kích thích đầu tư

1.2 vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường

1.2.1 Nhận thức chung về doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế

* Khái niệm chung về DNNN:

Định nghĩa DNNN được sử dụng khá phổ biến là định nghĩa trong báo cáo của các tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc (UNIDO) Theo UNIDO, “DNNN là các tổ chức kinh

Trang 4

tế thuộc sở hữu nhà nước hoặc do Nhà nước kiểm soát có thu nhập chủ yếu từ việc tiêu thụ hàng hoá và cung cấp dịch vụ”,

Như vậy, định nghĩa trên bao hàm cả những DNNN mà Nhà nước sở hữu 100% vốn và những doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ sở hữu một bộ phận vốn nhưng nắm quyền chi phối mọi hoạt động của doanh nghiệp Và định nghĩa này hiện nay vẫn được nhiều nước sử dụng

* Bản chất của doanh nghiệp nhà nước: Sở hữu thuộc về Nhà nước, điều này dẫn

đến những hệ quả: DNNN không dễ dàng đối phó với những điều kiện thay đổi của thị trường; Mục tiêu không chỉ là lợi nhuận mà còn cả mục tiêu xã hội; Chủ sở hữu không chịu trách nhiệm nhiều đối với sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp

* Nguyên nhân hình thành DNNN:

DNNN được hình thành với 5 lý do chủ yếu sau: Do nhu cầu khôi phục lại những nền kinh tế đã bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh; ở các nước XHCN, kinh tế quốc doanh được coi là thành phần kinh tế chủ yếu; Nhu cầu cung cấp hàng hoá công cộng, tạo việc làm, phân phối thu nhập, xoá bỏ độc quyền, can thiệp vào thị trường điều tiết kinh tế vĩ mô; Thực hiện CNH, HĐH; Thực hiện mục tiêu, lợi ích quốc gia: Quốc phòng, năng lượng tạo nguồn tích luỹ ngân sách lớn

* Tiêu thức chung nhận biết DNNN các nước trên thế giới:

- Nhà nước chiếm trên 50% vốn của doanh nghiệp, từ đó Nhà nước có thể gây ảnh hưởng chi phối trực tiếp; gián tiếp đối với các doanh nghiệp

- Các doanh nghiệp đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân; nguồn thu chủ yếu đều từ hoạt động kinh doanh và thường phải thực hiện song song hai mục tiêu: Lợi nhuận

- Căn cứ vào địa vị pháp lý: DNNN do Chính phủ trực tiếp quản lý; DNNN có đầy đủ

địa vị pháp nhân và toàn bộ tài sản thuộc về Nhà nước; DNNN hỗn hợp có địa vị pháp nhân độc lập và Nhà nước có quyền sở hữu một phần tài sản

- Căn cứ vào quan hệ pháp lý, phân cấp sở hữu của chính quyền: DNNN Trung ương

và DNNN địa phương

- Căn cứ vào quy mô: DNNN lớn; vừa và nhỏ

1.2.2 Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường

Về cơ bản, tính chất chung hoạt động của doanh nghiệp trong nền KTTT chủ yếu có mấy điểm sau: Doanh nghiệp là chủ thể pháp nhân trên thị trường; Thông qua các tín hiệu nhanh nhạy trên thị trường về giá cả; cơ chế cạnh tranh, mạnh thắng yếu thua, tạo ra động lực và sức ép thường xuyên đối với các chủ thể thị trường; Các sản phẩm, dịch vụ, tiền tệ và các yếu tố sản xuất như vốn, lao động đều được tự do lưu thông, doanh nghiệp tự mình quyết định sản phẩm gì, cung cấp dịch vụ nào, huy động vốn từ kênh nào để đạt mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận

Hoạt động của doanh nghiệp trong nền KTTT bao gồm: Hoạt động tạo ra tài sản phục

vụ cho hoạt động kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp trong tương lai; Hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm hoạt động sản xuất và hoạt động tài chính

Trang 5

* Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các DNNN trong nền KTTT: Các DNNN hoạt động tốt hơn nếu có cạnh tranh; cách thức quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp sẽ quyết định tính tự chủ, sáng tạo của khu vực doanh nghiệp này; quy mô đầu tư của Chính phủ phù hợp tác động mạnh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước và các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường

1.2.3.1 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường:

Xét về tổng thể, DNNN có những vai trò chủ yếu sau đây :

Thứ nhất, DNNN có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hạ tầng cho nền kinh tế Do tác

động của quy luật giá trị, việc đầu tư vào hạ tầng như hệ thống giao thông, thông tin, liên lạc, các dịch vụ công ích như điện, xây dựng hạ tầng, vận tải hành khách và hàng hoá thường ít được các doanh nghiệp quan tâm đầu tư Chính vì vậy, DNNN được coi là giải pháp cho việc xây dựng hạ tầng cơ sở ở nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia đang phát triển, thiếu vắng những doanh nghiệp tư nhân có tiềm lực kinh tế và kỹ thuật

DNNN được giao phó vai trò khá lớn trong việc đảm bảo các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu hoặc nhạy cảm của nền kinh tế mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không thể đảm nhiệm vì những lý do khác nhau Các loại hàng hoá, dịch vụ thiết yếu mà DNNN có nhiệm vụ phải bảo

đảm là điện, nước, dịch vụ giao thông công cộng, thông tin liên lạc Những hàng hoá, dịch vụ nhạy cảm

là các sản phẩm như chất nổ, chất độc, chất phóng xạ, dịch vụ viễn thông quốc tế

Thứ hai, DNNN phải tạo ra được nguồn thu cho ngân sách để phát triển kinh tế xã hội Có thể nói đối với nhiều quốc gia đang phát triển, đóng góp của DNNN vào tổng thu nhập quốc dân và NSNN

là rất lớn Ngay cả đối với nhiều nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ đóng góp của DNNN vào tổng thu nhập quốc dân cũng khá lớn Nguồn tài chính do DNNN đóng góp cho NSNN sẽ được dùng tập trung cho khu vực công cộng Điều đó giúp cắt giảm chi tiêu Chính phủ và hạn chế tăng thuế cá nhân

Thứ ba, DNNN với vai trò là một công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế Nhờ vào sự tồn tại của thành phần kinh tế công với tiềm lực to lớn, Nhà nước có thể tác động tới sự phát triển của nền kinh

tế theo những chiều hướng hoặc theo những chính sách thích hợp với lợi ích quốc gia trong từng giai

đoạn cụ thể Và lúc này, DNNN là công cụ sắc bén để Nhà nước thực hiện sứ mệnh này DNNN với vai trò là công cụ để Nhà nước điều tiết nền KTTT được cụ thể hoá trên các khía cạnh sau:

Trước hết có thể thấy DNNN có những lợi thế so sánh so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Lợi thế so sánh của DNNN chủ yếu thể hiện ở phương diện hiệu quả xã hội DNNN hoạt động vì mục tiêu chủ yếu là tối đa hoá lợi ích của dân DNNN trở thành đối tác và lực lượng hậu thuẫn cho sự phát triển của khu vực kinh tế khác, giúp nền kinh

tế phát triển bền vững

Ngoài ra, DNNN còn là một công cụ để góp phần khắc phục các khuyết tật của thị

tr-ường DNNN tham gia điều tiết độc quyền Độc quyền có những tác động tiêu cực nhưng cũng

có những tác động tích cực Vai trò của Nhà nước là phải điều tiết để tranh thủ lợi thế của độc quyền Điều này sẽ thích hợp nếu những ngành độc quyền đó được đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Nhà nước- hình thành những công ty độc quyền Nhà nước

Thứ tư, thúc đẩy và đảm bảo việc làm cũng là một trong những vai trò quan trọng của DNNN Các DNNN thường tạo khá nhiều việc làm cho người lao động, bởi lẽ: DNNN thường

có quy mô lớn; DNNN thường đảm nhiệm những dự án lớn, cần sự tham gia của lực lượng lao

động đông đảo

Thứ năm, giảm nghèo đói là vai trò được các quốc gia đang phát triển kỳ vọng nhất từ các DNNN Mang tính xã hội hoá cao, nắm giữ những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, được

Trang 6

Nhà nước bao cấp nhiều mặt nên DNNN cần phải trở thành động lực của việc xoá đói, giảm nghèo

Thứ sáu, tăng cường sự phát triển kinh tế-xã hội và củng cố chủ quyền quốc gia là vai trò khá phổ biến của DNNN ở các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Sự tồn tại của DNNN trong nhiều lĩnh vực then chốt của nền kinh tế bảo đảm cho Chính phủ đứng vững trước các sức ép kinh

tế của các quốc gia khác, cũng như sức ép từ doanh nghiệp khác khi đứng trước sự cần thiết phải thay

đổi hoặc điều chỉnh chính sách cũng như cơ cấu kinh tế Ngoài ra, trong một quốc gia, DNNN phải có nhiệm vụ dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phấn đấu vì sự phát triển kinh tế của đất nước

Thứ bẩy, DNNN ở các nước, đặc biệt là các nước XHCN thường được giao sứ mệnh trở thành hình mẫu về hiệu quả sản xuất kinh doanh, trở thành mô hình giải quyết các vấn đề về an sinh xã hội cho người lao động Vai trò này của DNNN ở các nước XHCN bắt nguồn từ quan niệm về tính chủ đạo của KTNN Theo đó DNNN phải là hình mẫu của các doanh nghiệp khác xét ở nhiều tiêu chí: Đóng góp cho NSNN, đóng góp GDP; công nghệ tiên tiến, quản lý hiện đại, đặc biệt hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh cao

Ngoài ra, DNNN còn phải dẫn đầu, tiên phong trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ hiện đại, tiên tiến

Tóm lại , DNNN ở bất cứ quốc gia nào đều gánh vác một số hay toàn bộ những vai trò nêu trên Tuy nhiên vai trò của DNNN được thực hiện với những mức độ thành công khác nhau ở mỗi nước

1.2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường

Nhóm các nhân tố khách quan:

Thứ nhất, các nhân tố kinh tế: Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế trong nước và thế giới, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế sẽ mang lại sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các doanh nghiệp; Tỷ giá hối đoái và lạm phát trong điều kiện hội nhập kinh tế cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của DNNN

Thứ hai, các nhân tố về chính trị và cơ chế chính sách pháp luật: Để các doanh nghiệp

được hoạt động bình đẳng cần tạo ra một sân chơi chung; Mối quan hệ Chính phủ các nước tốt

sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp khai trương, mở rộng thị trường, mở rộng môi trường cạnh tranh, giúp doanh nghiệp tự học hỏi, phát triển, hoàn thiện mình; Luật pháp quốc tế, hiệp

định thương mại tạo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có cơ hội nhận biết vị trí, quyền lợi và nghĩa vụ của mình để phấn đấu

Thứ ba, sự tiến bộ khoa học công nghệ: Đây là nhân tố chất lượng quan trọng tác

động đến hiệu quả, sức cạnh tranh của DNNN Nhân tố này ảnh hưởng đến chất lượng và giá thành sản phẩm đối với DNNN

Thứ tư, quy mô dân số; văn hoá, tâm lý xã hội: Sự thay đổi số lượng dân số; thu nhập người dân, trình độ văn hoá, giáo dục, quyết định không nhỏ đến vai trò doanh nghiệp Nó khiến doanh nghiệp biết cần phải sản xuất cái gì và theo chiến lược nào?

Nhóm các nhân tố chủ quan: Các nhân tố như: quy mô vốn, tình trạng công nghệ, trình độ quản lý, trình độ người lao động trong doanh nghiệp có ảnh hưởng quan trong đến việc phát huy vai trò của DNNN

1.3 Tác động của tài chính đến vai trò của Doanh nghiệp nhà nước trong nền Kinh tế thị trường:

Tài chính là một công cụ quan trọng để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp Thông qua các quan hệ tài chính, doanh nghiệp có thể thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà

Trang 7

nước, thực hiện vai trò tạo lập vốn cho phát triển kinh doanh, thực hiện việc phân phối một cách hợp lý kết quả hoạt động của mình

Tài chính đảm bảo huy động và sử dụng vốn đúng hướng của doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững

Tài chính là công cụ trụ cột để giúp Nhà nước, trong đó có DNNN thực hiện kiểm kê, kiểm soát nền kinh tế, để giữ ổn định kinh tế vĩ mô, can thiệp vào thị trường, định hướng phát triển cho nền kinh tế

Thông qua phân phối, tài chính giúp DNNN và Nhà nước hiện vai trò điều tiết thu nhập, chống phân hoá giàu ngèo, góp phần thực hiện công bằng xã hội

Tác động của tài chính đến vai trò của DNNN trong nền KTTT được cụ thể hoá trên các khía cạnh chủ yếu như: Năng lực tài chính quyết định đến quy mô kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp; Cơ chế quản lý tài chính- Nhà nước xây dựng một cơ chế quản

lý tài chính cho DNNN hoạt động, một cơ cơ quản lý tài chính phù hợp, rõ ràng sẽ là nền tảng

để DNNN thực hiện tốt nhiệm vụ hoạt động kinh doanh; Các công cụ tài chính vĩ mô như thuế, tín dụng, đầu tư, hỗ trợ… có tác dụng rất lớn đến vai trò của DNNN

Tóm lại: Các kết luận chính trong chương một:

-Mở rộng nhận thức về DNNN- đó không chỉ là những doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ; rút ra bản chất của DNNN

- Nhận thức được vai trò của DNNN trong nền KTTT Quan niệm về vai trò của DNNN trong điều kiện nền KTTT hiện nay đã có những khác biệt căn bản so với nền kinh tế bao cấp trước đây

- Hệ thống hóa nhận thức về những tác động của tài chính đối với việc phát huy vai trò của DNNN trong nền KTTT

Đây là những nội dung có ý nghĩa lý luận làm cơ sở soi sáng thực trạng ở chương 2

Chương 2

Đánh giá thực trạng phát huy vai trò của Doanh Nghiệp Nhà Nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt

Nam hiện nay

2.1 Doanh nghiệp nhà nước và vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở việt nam

2.1.1 Quan niệm và quá trình hình thành Doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam:

* Các giai đoạn lớn về quá trình hình thành và phát triển DNNN ở Việt Nam:

- Giai đoạn 1955 - 1975:

Khu vực DNNN ở Việt Nam được hình thành ngay sau khi đất nước giành được độc lập từ thực dân Pháp từ năm 1954, thông qua việc quốc hữu hoá các hãng tư nhân đang tồn tại vào thời điểm đó và xây dựng các DNNN mới

- Giai đoạn 1976 - 1986:

Đây là giai đoạn tiếp quản, cải tạo XHCN và xây dựng mới các DNNN trên địa bàn phía nam của đất nước Trong giai đoạn này, tư tưởng chỉ đạo của các chính sách, giải pháp phát triển hệ thống DNNN chưa có thay đổi so với giai đoạn trước

Trang 8

- Giai đoạn từ năm 1986, với Đại hội Đảng VI:

Chủ trương của giai đoạn này là phát triển về mặt chất khu vực KTNN, hướng chúng hoạt động theo cơ chế thị trường Tiếp theo là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu DNNN, trong đó quan trọng nhất là cổ phần hoá

Nhận thức về DNNN ở Việt Nam:

Từ năm 1977-1988, khi đó xí nghiệp công nghiệp quốc doanh là đơn vị cơ sở sản xuất và kinh doanh của nền kinh tế XHCN thống nhất, là nơi trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội và tạo nguồn tích luỹ cho XHCN Trong giai đoạn này, tư cách pháp nhân của DNNN được nhấn mạnh

Đến năm 1995, với sự ra đời của luật DNNN đã chứa đựng khá nhiều những nét mới, quan điểm tiến bộ hơn khi nhìn nhận về loại hình doanh nghiệp này Theo đó, DNNN do Nhà nước đầu tư vốn thành lập và quản lý; Theo mục tiêu kinh tế - xã hội, DNNN được phân làm hai loại: DNNN hoạt động kinh doanh và DNNN hoạt động công ích; DNNN có tư cách pháp nhân

Cho đến năm 2003, luật DNNN mới ra đời, trong đó nhận thức về DNNN đã có những bước phát triển cao hơn, phù hợp hơn với chủ trương đổi mới khu vực doanh nghiệp này Điều 1, luật DNNN năm 2003, định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH” Lúc này, DNNN không chỉ là những doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ mà còn là những doanh nghiệp, trong đó Nhà nước nắm cổ phần chi phối (trên 50% cổ phần)

Ngày 29.11.2005, với sự ra đời của luật doanh nghiệp thống nhất, theo đó DNNN là những Doanh nghiệp có vốn Nhà nước trên 50%, bao gồm: công ty cổ phần (nếu nắm trên 50% vốn

điều lệ) và công ty TNHH (nếu nắm toàn bộ vốn điều lệ)

2.1.2 Vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 2.1.2.1 Đặc điểm sự quản lý nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VI (tháng 3.1989) đã đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên CNXH, coi chính sách kinh

tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH Và nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN chính là nền KTTT định hướng XHCN ở Việt nam hiện nay

Trong nền kinh tế này, Vai trò của Nhà nước được thể hiện chủ yếu ở những điểm sau: Thông qua tác động đối với kinh tế, Nhà nước một mặt kiểm soát và hỗ trợ sự phát triển của bản thân nền kinh tế, mặt khác điều chỉnh cơ cấu và thúc đẩy tiến bộ xã hội

Kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam mang những đặc điểm: Nền KTTT còn ở trình độ kém phát triển; Nền KTTT với nhiều thành phần kinh tế, trong đó KTNN giữ vai trò chủ đạo; Nền KTTT phát triển theo cơ cấu kinh tế mở ; Nền KTTT phát triển theo

định hướng XHCN dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước

2.1.2.2 Vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường

ở Việt Nam:

Thứ nhất, DNNN phải nắm giữ các lĩnh vực, ngành nghề then chốt ; chi phối được

các lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa đối với sự phát triển ổn định của đất nước Các lĩnh vực mà doanh nghiệp tư nhân khó hoặc không đủ tiềm lực thực hiện DNNN cần phấn đấu để làm nhiệm vụ đi đầu, là tấm gương dẫn đường cho các doanh nghiệp khác noi theo

Trang 9

Thứ hai, DNNN phải là động lực cho sự phát triển của các doanh nghiệp khác thông qua hiệu quả hoạt động cao trên nền công nghệ sản xuất hiện đại và hệ thống quản lý tiên tiến

Thứ ba, DNNN là nguồn lực vật chất chủ yếu của Nhà nước DNNN phải tạo ra được

sự đóng góp quyết định cho NSNN

Thứ tư, DNNN có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các chính sách xã hội như việc làm, trợ cấp xã hội Đây là vai trò cần phát huy của DNNN trong điều kiện hiện nay 2.2 thực trạng phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

2.2.1 Kết quả và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam thời gian qua

* Về số lượng DNNN: Số lượng DNNN giảm dần nhưng quy mô ngày càng tăng Trải qua các giai đoạn sắp xếp, tổ chức lại hoạt động và cổ phần hoá DNNN, số lượng DNNN giảm dần về qui mô Vào ngày 31/12/2000, số DNNN hoạt động trong các ngành kinh tế là 5.759 doanh nghiệp, thì đến ngày 31/12/2001 con số này chỉ còn là 5.355 doanh nghiệp, ngày 31/12/2002 là 5.364 doanh nghiệp, năm 2003 là 4845; năm 2004 còn 4.596 doanh nghiệp, 31/12/2005 còn 4.086 doanh nghiệp, và đến năm 2006 chỉ còn 3.720 doanh nghiệp, giảm 9% so với năm 2005

Qui mô của DNNN ngày càng lớn lên, cụ thể:

- Lao động bình quân một doanh nghiệp năm 2000 là 363 người, đến năm 2005 là 499 người ; năm 2006 tăng lên là 513 người

- Vốn bình quân một doanh nghiệp năm 2000 là 130 tỷ đồng, đến năm 2005 là 355 tỷ

đồng, năm 2006 là 475 tỷ đồng

* Tài sản; nguồn vốn và tình hình công nợ: Giá trị tài sản bình quân một DNNNnhững năm gần đây tăng cao; các doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư vào TSCĐ Tuy nhiên cơ cấu nguồn vốn còn chưa hợp lý, tiềm ẩn nhiều rủi ro; tình hình công nợ khá phức tạp

Vốn nhà nước trong mấy năm gần đây tăng, chủ yếu do Nhà nước cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các công trình trọng điểm, bổ sung từ quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá DNNN cho các CTNN cần nắm giữ 100% vốn, bổ sung để bảo đảm tỷ trọng vốn chi phối của Nhà nước, bổ sung từ nguồn lợi nhuận sau thuế của CTNN

Năm 2005, tổng số nợ phải thu bình quân khoảng 155.000 tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2004 Tổng số nợ phải trả bình quân là 390.000 tỷ đồng, tăng 1% so năm 2004, trong đó

định và đầu tư dài hạn Trong tổng nguồn vốn tại ngày 31/12/2005 tỷ trọng nợ phải trả chiếm chủ yếu 76,7% Tỷ trọng này gần như không đổi trong suốt các năm qua

Năm 2006, trong tổng giá trị tài sản của DNNN, giá trị tài sản dài hạn tính đến ngày 31/12 là 811.747 tỷ đồng, chiếm 45,91%, tăng 36,6% so với cùng kỳ năm 2005 Như vậy, năm 2006 các DNNN đã chú trọng nhiều hơn đến việc đầu tư vào TSCĐ Cũng vào thời điểm này, tổng nguồn vốn chủ sở hữu của DNNN là 422.468 tỷ đồng, chiếm 23,89% Như vậy tỷ

Trang 10

trọng này vẫn không thay đổi nhiều trong mấy năm gần đây Nếu so với cùng thời điểm năm

2000, năm 2006 tỷ trọng nợ phải trả tăng những 32,3% Điều này cho thấy cơ cấu nguồn vốn của DNNN ngày càng mất cân đối, chứa đựng nguy cơ rủi ro tài chính cao

* Về kết quả sản xuất kinh doanh: Số DNNN kinh doanh có lãi tăng khá cao và giảm dần số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ

Số doanh nghiệp SXKD có lãi cao hơn và số doanh nghiệp SXKD doanh thua lỗ thấp hơn,

tỷ lệ tổng mức lỗ so với tổng mức lãi cũng thấp hơn các khu vực khác

Năm 2005, tổng doanh thu là 850.842 tỷ đồng, tăng 17,4% so với năm 2004 Số doanh nghiệp có lãi chiếm 83%, số doanh nghiệp hoà vốn là 7% và số doanh nghiệp thua lỗ là 10%

Số doanh nghiệp kinh doanh có lãi chủ yếu tập trung tại các Tổng Công ty nhà nước Số doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, có lỗ luỹ kế lớn chủ yếu thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, xây dựng công trình giao thông, giấy, dệt may…

Năm 2005, tổng lợi nhuận trước thuế của DNNN là 48.877 tỷ đồng, tăng 27,7% so với năm 2004 và tăng 73 % so với năm 2003 Năm 2006 là 62.285 tỷ đồng, tăng 34,2% so với năm 2005

* Năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh: Chỉ tiêu này tại các DNNN trong những năm gần đây tăng rõ rệt; đặc biệt vấn đề bảo toàn vốn đã được chú trọng

- Năm 2003, bình quân trong 100 đồng doanh thu mà DNNN đạt được có 4,154 đồng lợi nhuận trước thuế; năm 2004 là 5,281 đồng; năm 2005 là 5,691 đồng; và đến năm 2006 là 6,12

- Đối với DNNN, tỷ suất lợi nhuận vốn nhà nước là chỉ tiêu rất quan trọng Năm 2003,

tỷ suất này là 10,87% trong đó, DNNN Trung ương là 11,3%, DNNN địa phương là 9,6% Năm

2004 là 15,4%; năm 2005 là 16%, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước; và năm 2006 là 14,74% Như vậy hiệu quả kinh doanh của vốn nhà nước đã được cải thiện rõ rệt trong các năm Những ngành có tỷ suất lợi nhuận tăng mạnh nhất là: Khách sạn, Nhà hàng, hoạt động kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn, y tế, giáo dục, đào tạo

- Năm 2003, một đồng vốn tạo ra 0,67 đồng doanh thu; Năm 2004, một đồng vốn tạo ra 0,64 đồng; Đến năm 2005, năm 2006 chỉ tiêu này gần như không đổi Có thể thấy trong mấy năm gần đây tốc độ quay vòng vốn trong các DNNN là ổn định

Một trong những chỉ tiêu chính biểu hiện NSLĐ trong các DNNN là chỉ tiêu doanh thu bình quân một lao động Doanh thu thuần bình quân một lao động năm 2003 là 300 triệu

đồng Năm 2005, bình quân một lao động làm ra 421 triệu đồng doanh thu, tăng 121 triệu

đồng so với năm 2003 (tăng 40,3%), năm 2006 là 525 triệu đồng

ở khía cạnh khác của năng suất là khả năng tạo ra lợi nhuận của người lao động Năm

2003 bình quân một lao động trong DNNN làm ra 12,5 triệu đồng lợi nhuận; đến năm 2004 là

17 triệu đồng năm 2005 con số này lên đến 23,9 triệu đồng; cao hơn 1,9 lần so với năm 2003

và hơn 1,4 lần so với năm 2004, năm 2006 là 32,7 triệu đồng tăng 36,8% so với năm 2005

* Về qui mô của DNNN và tình hình đầu tư: Vốn và lao động bình quân một doanh

nghiệp tăng lên đáng kể ; công tác đầu tư, đổi mới công nghệ đã được chú trọng

Trang 11

Nhìn chung, những năm gần đây, nhiều DNNN có qui mô nhỏ, làm ăn kém hiệu quả

đã được sàng lọc dưới các hình thức chuyển đổi Do đó, số còn lại chủ yếu là những doanh nghiệp có qui mô lớn Như vậy, qua số liệu tóm tắt cho thấy, cho đến hết năm 2005, số DNNN có vốn từ 10 đến 50 tỷ đồng là 1.405 doanh nghiệp (chiếm 34,4% trong tổng số DNNN); số DNNN có vốn trên 50 tỷ đồng là 1.808 doanh nghiệp (chiếm 44,2%); Năm 2006

là 1.785 doanh nghiệp, chiếm 48%

Xét theo tiêu chí về lao động vào năm 2005, số DNNN có qui mô lao động tương đối lớn (trên 300 lao động) là 1.411 doanh nghiệp; chiếm tỷ lệ 34,5%; năm 2006 là 1.256 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 33,8%

Năm 2006 có trên 60% DNNN có hoạt động đầu tư trong năm Tốc độ tăng vốn đầu tư của DNNN trong 3 năm gần đây tăng bình quân 11,8%/năm Tính bình quân năm 2005, một

Thứ nhất, tỷ trọng những DNNN có qui mô vừa và nhỏ còn cao

Thứ hai, công nghệ lạc hậu do vốn ít, mức trang bị TSCĐ cho một lao động có tăng lên trong những năm gần đây nhưng nhìn chung ở mức thấp

Thứ ba, trình độ lao động lành nghề thấp, thu nhập người lao động chưa cao, trình độ quản lý còn yếu

Thứ tư, tình hình tài chính kém lành mạnh, còn tiềm ẩn những nhân tố kém an toàn trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh

Thứ năm, đầu tư còn mang tính dàn trải, chưa thực sự hiệu quả:

Thứ sáu, giá thành sản phẩm còn cao

Thứ bảy, việc chấp hành nghị quyết của Đảng chưa cao

Nguyên nhân của những tồn tại:

- Khách quan : Cơ chế quản lý chưa hoàn thiện

- Chủ quan: Nhiều ngành, địa phương chưa quán triệt quan điểm về vai trò của DNNN; Cơ chế chính sách quản lý tài chính còn nhiều tồn tại vướng mắc cần tháo gỡ; Thị trường vốn chưa phát triển hoàn hảo; Chính sách thuế chưa thật hợp lý, còn nhiều điểm phải

bổ sung sửa đổi

2.2.2 Những đóng góp chủ yếu của Doanh nghiệp Nhà nước cho nền kinh tế:

* Lao động và thu nhập: DNNN thu hút số lượng lớn lao động, đem lại thu nhập bình quân cho người lao động khá ổn định và ngày càng tăng

Số lao động hiện đang làm việc trong các DNNN tại thời điểm ngày 31/12/2005 là 2.040.859 người, giảm 2,3% so với năm 2000 và giảm 9,9% so với năm 2003; năm 2006 là 1.906 Tốc

độ giảm số lượng lao động trong DNNN nhỏ hơn tốc độ giảm về số lượng doanh nghiệp Như vậy số lao động bình quân trong một DNNN qua các năm tăng lên

Năm 2005, thu nhập bình quân người lao động là 2.142.000 đồng/tháng; năm 2006 là 2.633.000 đồng/tháng Như vậy thu nhập bình quân người lao động năm 2006 tăng 22,9% so với năm 2005

Trang 12

* Đóng góp cho NSNN: DNNN là một trong số những nguồn chủ yếu cung cấp tài chính cho NSNN

Năm 2003, DNNN đã đóng góp 53.422,7 tỷ đồng tiền thuế và các khoản khác cho NSNN; chiếm 7,87% so với doanh thu Con số này đến năm 2005 là 64.664,1 tỷ đồng, tăng 21,04% so với năm 2003, và chiếm 7,53% so với doanh thu mà khu vực doanh nghiệp này đạt được

Trong tổng thu cân đối NSNN, khu vực thu nội địa, thu từ KTNN trong đó có DNNN năm

2005 là 38.906 tỷ đồng, ước năm 2006 là 46,119 tỷ đồng, tăng 134,2% so với năm 2000; chiếm 17,5% tổng thu cân đối ngân sách So với khu vực thuộc các thành phần kinh tế khác, thu ngân sách

2006 là 363.449 tỷ đồng, chiếm 37,2% Tốc độ tăng GDP bình quân của khu vực KTNN giai đoạn 1996-2005 là 7,4%

*Tổng vốn đầu tư huy động của khu vực DNNN ngày càng cao, tạo nguồn lực phát triển kinh tế xã hội

Có thể nói, DNNN là một kênh quan trọng để thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước Khu vực KTNN mà chủ yếu là các DNNN, có tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển giai

đoạn 1996-2005 đạt 15,1%, cao gấp gần 3 lần so với các khu vực kinh tế khác Năm 2005, cơ cấu vốn đầu tư thuộc khu vực KTNN chiếm 53,84% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, sơ bộ năm 2006 chiếm 52,29% Trong tổng vốn đầu tư của thành phần KTNN thì vốn của các DNNN và vốn NSNN năm 2005 chiếm 73,15%; ước năm 2006 chiếm 77,74%

* Giá trị sản xuất công nghiệp của DNNN tăng với một tỷ lệ khá ổn định trong những năm gần đây

Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp khu vực DNNN đạt 143.069,8 tỷ đồng chiếm 34,1% so toàn ngành trong đó DNNN Trung ương là 102.788 tỷ đồng; DNNN địa phương là 40.281,8 tỷ đồng

2.2.3 Vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước trong việc chi phối, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển

Thực tế, trong rất nhiều Tổng Công ty kể cả các Tổng Công ty đã chuyển sang hoạt

động theo mô hình công ty mẹ- con và các Tổng Công ty được thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế, rất nhiều doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ dưới dạng công ty TNHH một thành viên Hơn nữa, theo số liệu công bố của Công ty chứng khoán Bảo Việt năm 2007, hiện nay, trong tổng số hơn 3.000 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đã cổ phần hoá thì

có tới 29% doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối Trong đó đại bộ phận là thuộc các lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế Thí dụ Tổng Công ty Điện lực Việt Nam còn nắm tới 65% vốn của Nhà máy thuỷ điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh, 75% vốn của nhà máy thuỷ điện Thác

Bà và nhiệt điện Phả Lại, 51% vốn của công ty cổ phần Điện lực Khánh Hoà Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam nắm 51% vốn của Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá, chuyên về dịch vụ xếp dỡ hàng hoá cảng biển Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam nắm tới 52,4% vốn của Công

ty cổ phần Gas-Petrolimex; 51,2% vốn của Công ty cổ phần vận tải xăng dầu đường thuỷ; 51,1% vốn của Công ty cổ phần vận tải xăng dầu VIPCO 25 đơn vị ở Tập đoàn Than và

Ngày đăng: 28/03/2013, 12:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w