1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng thực tập sư phạm của sinh viên trường đại học quốc gia hà nội

11 1,2K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với sinh viên các trường sư phạm, TTSP là cơ hội để đem các kiến thức đã tích lũy được trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm vận dụng vào công tác giảng dạy và giáo dục.. Mặc dù T

Trang 1

THỰC TRẠNG THỰC TẬP SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐHNN-ĐHQG HÀ NỘI

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực tập sư phạm (TTSP) là một hoạt động đặc biệt quan trọng không chỉ đối với sinh viên sư phạm mà còn đối với các chính bản thân các trường sư phạm Thông qua TTSP, nhà trường sư phạm có được những đánh giá tương đối khách quan về sản phẩm đào tạo của mình; nhờ đó, họ có được cơ sở để nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi của xã hội với ngành giáo dục Đối với sinh viên các trường sư phạm, TTSP là cơ hội để đem các kiến thức đã tích lũy được trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm vận dụng vào công tác giảng dạy và giáo dục Cũng thông qua TTSP, sinh viên được tiếp tục hoàn thiện trình độ, năng lực cũng như là nhân cách của một người giáo viên Thời điểm TTSP cũng là thời điểm sinh viên hình thành rõ nhất tình cảm

và thái độ đối với nghề giáo

Mặc dù TTSP có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với cả giáo sinh thực tập và các trường sư phạm, hiện nay, trong trường ĐHNN-ĐHQG Hà Nội chưa có một đề tài nghiên cứu chính thức nào đánh giá lại thực trạng TTSP nói chung và hiệu quả TTSP của sinh viên trong trường nói riêng Chính vì vậy, việc đưa ra các đề xuất nâng cao hiệu quả TTSP trong trường có thể nói là còn thiếu một cơ sở lý luận và thực tiễn cần thiết Đứng trước vấn đề này, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Thực trạng thực tập sư phạm của sinh viên năm thứ 4 năm học 2003-2004 trường ĐHNN-ĐHQG Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ hướng vào các mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

Trang 2

 Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về thực tập sư phạm, vai trò, nhiệm vụ và nội dung cơ bản mà thực tập sư phạm cần đạt được

 Khảo sát thực tiễn công tác thực tập sư phạm của sinh viên trường ĐHNN-ĐHQG Hà Nội (trên địa bàn Hà Nội, Thái Bình, Bắc Giang…), các khó khăn, thuận lợi mà sinh viên gặp phải trong quá trình thực tập

 Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực tập sư phạm cuối khóa và chất lượng đào tạo người giáo viên của sinh viên ĐHNN-ĐHQG Hà Nội

3 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng thực tập sư phạm của sinh viên năm thứ 4 trường ĐHNN-ĐHQG Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài nghiên cứu khoa học này bao gồm có:

4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nguồn tài liệu nghiên cứu lý luận được sử dụng trong đề tài NCKH này bao gồm có sách báo, Internet, các văn bản quy định của bộ giáo dục và đào tạo

về thực tập sư phạm…

4.2 Phương pháp điều tra viết (xem phụ lục phiếu điều tra)

Bản điều tra viết của chúng tôi hướng tới khách thể là 300 sinh viên năm thứ 4 hệ sư phạm năm học 2003-2004 ở 4 khoa trường ĐHNN-ĐHQG Hà Nội

Số lượng nghiên cứu cụ thể như sau:

- Khoa NN&VH Anh Mỹ: 180 sinh viên

- Khoa NN&VH Trung Quốc: 40 sinh viên

- Khoa NN&VH Nga: 40 sinh viên

- Khoa NN&VH Pháp: 40 sinh viên

4.3 Phương pháp phân tích

Thông qua việc phân tích các kết quả thu thập được từ các phiếu điều tra, chúng tôi sẽ rút ra các bài học kinh nghiệm, những thành tựu đạt được cũng

Trang 3

như những hạn chế còn tồn đọng Thông qua đó, chúng tôi sẽ tìm ra các biện pháp tổ chức thực tập sư phạm nhằm từng bước nâng cao kết quả đợt thực tập

sư phạm này

4.4 Phương pháp thống kê

Các kết quả điều tra thu được sẽ được xử lý bằng phương pháp thống kê Phần nội dung

Chương i Cơ sở lý luận

Theo Nguyễn Đình Chỉnh và Phạm Trung Thanh, TTSP là “một công đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo người giáo viên, là thời gian người giáo sinh được tiếp xúc trực tiếp với thế giới sinh động của hoạt động nghề nghiệp, nhằm giúp giáo sinh củng cố, mở rộng, nâng cao…những gì đã được học ở trường đại học” (Trg 16, 1996) TTSP có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình đào tạo giáo viên ở trường sư phạm Có thể nói một cách khái quát về vai trò của TTSP như sau: “Thực tập sư phạm là điều kiện cần thiết để hình thành khuynh hướng nghề nghiệp-sư phạm, hình thành nhân cách của người giáo viên tương lai, đó cũng là điều kiện để giúp trường sư phạm có khả năng kiểm tra mức độ khuynh hướng nghề nghiệp của sinh viên.” (Điều I Quy chế thực tập sư phạm – Bộ giáo dục và đào tạo, ngày 10/4/1986)

TTSP, theo Nguyễn Đình Chỉnh (1991), phải thực hiện được bốn chức năng chính: (1) chức năng học tập; (2) chức năng giáo dục; (3) chức năng phát triển giáo dục và (4) chức năng thăm dò, chẩn đoán TTSP muốn có hiệu quả thì cần phải đảm bảo các nguyên tắc (1) tính hệ thống, liên tục; (2) tính nghề nghiệp; (3) tính vừa sức với sinh viên và (4) tính giáo dục tư tưởng Hai hình thức TTSP chính là (1) hình thức TTSP có trưởng đoàn và giáo viên hướng dẫn

và (2) hình thức TTSP có trưởng đoàn và không có giáo viên hướng dẫn Đề tài

đã khái quát lại những ưu và nhược điểm của cả hai hình thức này

Trong đề tài NCKH này, chúng tôi cũng đã khái quát lại những nội dung thực tập mà sinh viên sư phạm cần phải hoàn thành, đó là: Thực tập giảng dạy, thực tập chủ nhiệm và thực tập tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp Đồng

Trang 4

thời, đề tài cũng nêu cụ thể những yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả thực tập

sư phạm, sự hoàn thiện tri thức, nghiệp vụ sư phạm cũng như là thái độ, tình cảm nghề nghiệp của giáo sinh Đó là các yếu tố khách quan (học sinh, nội dung chương trình giảng dạy ở phổ thông, thái độ của giáo viên hướng dẫn của trường SP và trường PT và các cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy) và các yếu tố chủ quan từ phía sinh viên sư phạm (sự trang bị kiến thức, lòng yêu nghề, sự tự tin )

Trên đây là một số vấn đề có liên quan đến đề tài NCKH “Thực trạng thực tập sư phạm của sinh viên năm thứ 4 năm học 2003-2004 trường ĐHNN-ĐHQG Hà Nội” Chúng tôi đã lấy đó làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu của mình

Chương iI Kết quả nghiên cứu

A Tổng hợp và phân tích số liệu toàn trường

I Thực trạng thực tập giảng dạy

I 1 Vai trò của môn Tâm Lý học (TLH), Giáo Dục học (GDH) và Phương Pháp Giảng Dạy (PPGD) trong việc giảng dạy của giáo sinh

Nhìn chung, sinh viên đánh giá cao vai trò của ba môn TLH, GDH và PPGD trong quá trình thực tập sư phạm của mình Có tới gần 40% sinh viên cho rằng môn PPGD có tác dụng rất nhiều và nhiều trong việc giảng dạy của

họ, mức này cho TLH là 42% và GDH là 44% Số lượng sinh viên cho rằng ba môn học không có tác dụng chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong số sinh viên được hỏi (giao động từ 2.8% đến 4% sinh viên được hỏi cho ba môn) Điều này cho thấy sự thiết thực của ba môn học trong quá trình đào tạo ở trường ĐHNN-ĐHQG Hà Nội cũng như tình cảm của sinh viên giành cho ba môn học

I.2 Thực trạng lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học (PPDH) Các PPDH đã được sử dụng rộng rãi trong quá trình thực tập Xu hướng lựa chọn PPDH mới nhằm phát huy tính tích cực của học sinh đã xuất hiện, tuy không rõ rệt, song song với PP diễn giảng truyền thống PP diễn giảng truyền thống không phải là sự lựa chọn số một trong sinh viên; thay vào đó là PP

Trang 5

luyện tập và PP vấn đáp Chỉ khoảng 20% sinh viên ‘rất thường xuyên’ lựa chọn PP diễn giảng so với 34% ‘rất thường xuyên’ sử dụng PP luyện tập và 25% cho phương pháp vấn đáp

Một số PP được xem là rất hiệu quả trong dạy học ít được sinh viên áp dụng như PP phân vai, PP hợp tác, và đặc biệt là PP Project 80% sinh viên được hỏi không bao giờ hoặc hiếm khi sử dụng PP Project Điều này có thể lý giải được bởi các PP này đòi hỏi rất nhiều thời gian chuẩn bị (đặc biệt là PP Project) và kinh nghiệm ứng phó với các tình huống bất ngờ (đặc biệt là PP Phân vai) Vì thế, cũng khó có thể đòi hỏi sinh viên trong vòng 6 tuần thực tập lại có thể thực hiện được điều này

I 3 Thực trạng sử dụng các phương tiện dạy học

Bảng phấn vẫn là phương tiện dạy học phổ biến nhất (79,26% tổng số sinh viên “rất thường xuyên” sử dụng) Tiếp theo bảng phấn là băng đài, video, tài liệu phát tay, và tranh ảnh cũng được sinh viên sử dụng ở mức cao (48%; 57% và 64% tương ứng cho mức “rất thường xuyên” và “thường xuyên”) Trong khi đó, chỉ có 3,1% sinh viên có sử dụng máy chiếu với các tờ trong, và tuyệt đối không một sinh viên nào lựa chọn máy chiếu với phần mền Powerpoint Điều này có thể lý giải được bởi không phải trường phổ thông nào cũng có các phương tiện hỗ trợ cho việc sử dụng máy chiếu, và cũng không phải sinh viên nào cũng có đủ trình độ kỹ thuật về vi tính để sử dụng các trang thiết bị trên

I 4 Những thuận lợi, khó khăn trong công tác dạy học đối với giáo sinh I.4.1 Các thuận lợi

Có thể thấy yếu tố thuận lợi lớn nhất và cũng là nguồn động viên lớn nhất với các giáo sinh trong quá trình thực tập là sự ủng hộ của học sinh 33,7% tổng số sinh viên được hỏi cho rằng sự ủng hộ của học sinh đã tạo thuận lợi rất nhiều cho họ trong quá trình dạy học và 42,8% nhận thấy những thuận lợi họ

có được từ sự ủng hộ của học sinh là nhiều Có thể nói, những con số trên là

Trang 6

một đấu hiệu đáng mừng về một đợt thực tập rất có kết quả và ý nghĩa với các giáo sinh

Tiếp sau sự ủng hộ của học sinh, một thuận lợi không nhỏ khác nữa đối với các giáo sinh thực tâp là sự hướng dẫn và ủng hộ nhiệt tình của giáo viên phổ thông Sự hướng dẫn và ủng hộ rất có ý nghĩa và hiệu quả này là một thuận lợi rất nhiều cho 18,01% sinh viên và tạo nhiều thuận lợi cho 37,87% khác

Sự trang bị đầy đủ các kiến thức và kĩ năng dạy học cũng được xem là một thuận lợi lớn khác với sinh viên Có tới 17,65% sinh viên cho rằng sự trang

bị đầy đủ các kiến thức và kĩ năng dạy học tạo rất nhiều thuận lợi cho họ trong quá trình thực tập 37,25% nhận thấy sự thuận lợi ở mức độ nhiều

Sự hướng dẫn và ủng hộ của giáo viên trường Đại Học Ngoại Ngữ và sự tạo điều kiện của Ban chỉ dạo thực tập ở trường phổ thông cũng có đóng góp không nhỏ trong quá trình thực tập của sinh viên

I.4.2 Các khó khăn

I.4.2.1 Các khó khăn chủ quan

Thiếu kĩ năng soạn giáo án có thể coi là khó khăn lớn nhất trong số các khó khăn kể trên Trong tổng số sinh viên được hỏi, kĩ năng soạn giáo án gây rất nhiều khó khăn cho 5,28% và nhiều khó khăn cho 13,38% sinh viên Điều này còn tồn tại là khi ở nhà trường sư phạm, sinh viên chưa có nhiều cơ hội thử sức với việc soạn giáo án, và nếu có thì cũng được thực hiện qua loa, không sát với thực tế ở phổ thông Lúng túng trong việc lựa chọn PPDH và chưa thật sự thuyết phục học sinh trong quá trình dạy học cũng gây trở ngại nhiều đối với 12,06% và 11,68% sinh viên Bên cạnh đó kĩ năng trình bày bảng cũng là một vấn đề lớn với 15,38% sinh viên

I.4.2.1 Các khó khăn khách quan

Học sinh (thái độ và năng lực ngoại ngữ của học sinh) cũng là một trong các yếu tố gây khó khăn cho sinh viên trong quá trình thực tập Về thái

độ của học sinh, 28% cho rằng đó chỉ là khó khăn vừa phải, 29% gặp ít khó khăn và 12% không bao giờ gặp khó khăn về thái độ của học sinh Tuy nhiên,

Trang 7

vẫn còn tới 31% sinh viên cho rằng thái độ học tập của học sinh gây “rất nhiều” hoặc “nhiều” khó khăn cho sinh viên Năng lực học ngoại ngữ của học sinh không phải là vấn đề lớn với đa số sinh viên với 29% cho rằng năng lực của học sinh gây khó khăn ít, 26% ở mức vừa phải và 7% ở mức không bao giờ Tuy nhiên năng lực học ngoại ngữ của học sinh phổ thông có vẻ như gây khó khăn hơn so với tình cảm của chúng 15% sinh viên cảm thấy đây là khó khăn rất lớn đối với họ, và 23% cho rằng đây là khó khăn lớn

Giáo viên hướng dẫn nhìn chung không phải là trở ngại lớn đối với sinh viên Việc thiếu nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn thực tập chỉ thấy ở 18% trong số họ, và việc không ủng hộ áp dụng PPDH mới cũng chỉ là vấn đề lớn với 15% sinh viên Số còn lại chỉ dừng ở mức vừa phải, ít, hay không bao giờ

II Thực trạng thực tập chủ nhiệm

II.1 Kiến thức Tâm lý học (TLH) và Giáo dục học (GDH) với thực tập chủ nhiệm

Cũng như thực tập dạy học, sinh viên có những đánh giá khá cao về sự

hỗ trợ của bộ môn TLH và GDH trong quá trình thực tập chủ nhiệm 13% tổng

số sinh viên cho rằng họ được hỗ trợ rất nhiều và 30% cho rằng họ được hỗ trợ nhiều bởi kiến thức của bộ môn này trong công tác thực tập chủ nhiệm Tuy nhiên, vẫn cần phải lưu lý 12% sinh viên cho rằng hai môn này chỉ có tác dụng

ít và 1% cho rằng hai môn không có tác dụng gì

II.2 Học sinh

Nhìn chung, học sinh là yếu tố đặc biệt có ảnh hưởng đến thái độ, tình cảm sư phạm của giáo sinh thực tập Sự tin tưởng và thái độ tích cực của học sinh có tác dụng to lớn đối với 90% tổng số giáo sinh thực tập được hỏi; tuy nhiên, vẫn có tới 10% cho rằng sự thờ ơ của học sinh làm họ nản lòng

II.3 Giáo viên hướng dẫn và nhà trường phổ thông

Phần lớn sinh viên gặp thuận lợi trong với giáo viên hướng dẫn và nhà trường phổ thông Biểu hiện là phần lớn trong số họ nhận được sự chỉ dẫn rất

Trang 8

nhiều, nhiều, hoặc vừa phải từ giáo viên hướng dẫn với các con số tương ứng là 10,15%, 36.96%, và 26,86% Trường phổ thông cũng tạo điều kiện tốt cho giáo sinh trong thực tập sư phạm Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng còn tồn tại một số cản trở nhỏ trong công tác chủ nhiệm của các giáo sinh thực tập Đó là

sự can thiệp quá sâu của giáo viên vào công tác chủ nhiệm, khiến các bạn sinh viên đôi khi không thể thực hiện các ý tưởng của mình

III ý nghĩa của đợt thực tập sư phạm:

III.1 Kĩ năng, kiến thức, và kinh nghiệm giảng dạy

82% sinh viên cho rằng sau đợt thực tập này các kĩ năng dạy học của họ được nâng cao và 86% sinh viên thấy ý nghĩa tương tự của đợt thực tập sư phạm này với các kĩ năng tổ chức lớp học của mình Những con số cho thấy nhìn chung, mục đích đợt thực tập sư phạm này đã bước đầu thu được những thắng lợi nhất định Các kĩ năng dạy học, giáo dục, các kinh nghiệm xử lý tình huống dạy học, giáo dục, và khả năng giáo tiếp của sinh viên được nâng cao III.2 Thái độ của sinh viên với nghễ dạy học sau đợt thực tập

Nếu như những nhận định phía trên tương đối tích cực, thì sự thay đổi thái độ của sinh viên đối với đợt thực tập lại không mấy khả quan Tổng số sinh viên có thái độ theo hướng tích cực đạt mức 67% (lúc đầu ghét nghề sư phạm, sau thích; lúc đầu thích sau thích hơn; hoặc vẫn thích) Tuy nhiên, vẫn có tới 33% tổng số sinh viên có thái độ theo hướng tiêu cực (lúc đầu thích sau chán; lúc đầu chán sau chán hơn; hay vẫn chán) Nguyên nhân của việc này là do: (1) Học sinh không hợp tác; (2) Giáo viên phổ thông cản trở, và có thái độ ép buộc sinh viên; (3) Nội dung giảng dạy ở phổ thông không phù hợp với trình độ hay (4) công việc mệt mỏi

B Những so sánh giữa các khoa

Bệnh cạnh việc phân tích thực trạng thực tập sư phạm của toàn trường, đề tài NCKH này còn đi vào phân tích các đặc điểm khác nhau giữa bốn khoa (Anh, Pháp, Trung và Nga) bởi trên thực tế, trình độ sinh viên cũng như cơ hội

Trang 9

nghề nghiệp (là các yếu tố ảnh hưởng trong thực tập) có sự khác biệt giữa bốn khoa

I Về phương pháp dạy học (PPDH)

Nhìn chung, sinh viên khoa Anh ít sử dụng PP diễn giảng đơn thuần nhất, trong khi đó, khoa Nga lại thiên về việc sử dụng PP này (56% sinh viên

‘rất thường xuyên’ hoặc ‘thường xuyên’ sử dụng PP diễn giảng Khoa Pháp là khoa có số lượng không bao giờ sử dụng các PP tích cực ít nhất Như vậy, ta có thể thấy sự trênh lệch ở mức độ sử dụng các PPDH giữa các khoa, và điều dễ nhận thấy là sinh viên khoa Anh và Trung (là khoa mà sinh viên được đánh giá nói chung là năng động hơn) đã chứng tỏ sự nhanh nhạy hơn trong việc áp dụng các PP mới

II Về phương tiện dạy học (PTDH)

PTDH cũng là một tiêu chí có sự khác biệt giữa các khoa Có thể thấy, khoa Anh vẫn là khoa có số lượng sử dụng các PTDH “hiện đại” cao nhất Trong khi đó, khoa Trung lại là khoa đi muộn nhất trong việc sử dụng các PTDH hiện đại

III Những thuận lợi trong quá trình thực tập

Nhìn chung sinh viên các khoa đều tương đối thuận lợi trong quá trình thực tập sư phạm, phần lớn sinh viên có rất nhiều, và nhiều thuận lợi với những

tỉ lệ rất cao Tuy nhiên vẫn có một chút khác biệt giữa các khoa Sinh viên khoa Pháp may mắn hơn cả, 28% và 40% sinh viên khoa này gặp rất nhiều, và nhiều, chiếm 68% tổng số sinh viên Sinh viên khoa Anh lại là những người kém may mắn nhất Chỉ có 53% tổng số sinh viên khoa này gặp rất nhiều và nhiều thuận lợi trong khi đó con số sinh viên không may mắn lên đến 16%

IV Các khó khăn trong quá trình thực tập

Sinh viên khoa Anh có vẻ tự tin hơn cả trong việc khẳng định mình, họ cho biết họ gặp ít khó khăn hơn sinh viên các khoa khác với các vấn đề về năng lực của chính mình Trong khi đó, sinh viên khoa Pháp gặp nhiều khó khăn nhất Tương tự với các khó khăn do tình cảm của học sinh tạo ra, sinh viên

Trang 10

khoa Trung may mắn nhất với tỉ số đó là 0,25; tiếp sau khoa Trung là khoa Anh với tỉ số 0,76; và sau khoa Nga với 0,81 là khoa Pháp với tỉ số rất lớn là 1,86

Những khác biệt trong tình cảm và năng lực học ngoại ngữ của học sinh với các môn ngoại ngữ là điều hoàn toàn rõ ràng phản ảnh xu thế học ngoại ngữ hiện nay Tiếng Anh đã không còn là môn ngoại ngữ độc tôn, thay vào đó là sự thịnh hành của tiếng Trung Tiếng Nga và tiếng Pháp vẫn là hai ngoại ngữ có chịu nhiều thiệt thòi nhất Xu thế này chắc chắn sẽ phần nào ảnh hưởng đến sự đam mê học tập của học sinh Chính vì thế nó sẽ chi phối tình cảm của ngay cả sinh viên theo học các ngoại ngữ này

C Một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng thực tập sư phạm cho sinh viên ĐHNN - ĐHQG Hà nội

Mặc dù TTSP được đánh giá nói chung là có hiệu quả, ngay trong bản thân việc thực tập vẫn còn tồn tại một số điểm đáng lưu ý Vì thế chúng tôi có nêu một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng thực tập sư phạm cho sinh viên trường ĐHNN - ĐHQG Hà Nội

2.1 Ngay từ trong trường sư phạm, sinh viên cần được làm quen với nội dung chương trình giảng dạy môn ngoại ngữ ở phổ thông: Nhằm giúp sinh viên tránh được các bỡ ngỡ khi tiếp xúc trực tiếp với môi trường phổ thông

2.2 Tăng thời gian thực tập sư phạm cho sinh viên: Thời gian thực tập 6 tuần có thể nói là tương đối ngắn và nó chưa đủ để có thể giúp sinh viên hình thành một cách tốt nhất các kỹ năng cần thiết của một người giáo viên

2.3 Tổ chức thực hành thường xuyên từ năm thứ nhất: Nhằm đảm bảo tính hệ thống, liên tục của thực tập sư phạm; giúp sinh viên có thể dần dần hình thành, tích lũy được các kỹ năng sư phạm

2.4 Tổ chức các hội thi nghiệp vụ sư phạm: Nhằm thúc đẩy sinh viên tích cực học tập, tích lũy kinh nghiệm của nhà giáo; đồng thời, đó là cơ hội giúp sinh viên trau dồi kiến thức sư phạm

Ngày đăng: 21/12/2014, 00:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w