1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi giáo viên trong dạy học tác phẩm trữ tình lớp 12

122 390 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 869,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ HUẾ PHÁT TRIỂN CÂU HỎI SÁCH GIÁO KHOA THÀNH CÂU HỎI GIÁO VIÊN TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM TRỮ TÌNH LỚP 12 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC THÁI NGUYÊN - NĂM 2011... Bên cạnh đ

Trang 1

NGUYỄN THỊ HUẾ

PHÁT TRIỂN CÂU HỎI SÁCH GIÁO KHOA THÀNH CÂU HỎI GIÁO VIÊN TRONG DẠY HỌC

TÁC PHẨM TRỮ TÌNH LỚP 12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - NĂM 2011

Trang 3

Tôi xin cảm ơn sở giáo dục và đào tạo Bắc Ninh, ban giám hiệu trường THPT Hàm Long- Bắc Ninh đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi được đi học để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, góp phần cho sự nghiệp giáo dục chung!

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Đỗ Ngọc Thống- người thầy giàu kinh nghiệm và lòng yêu nghề đã đưa ra những gợi ý quý báu,

những chỉ dẫn đầy ý nghĩa để quá trình tiến hành làm luận văn của em diễn ra thuận lợi và có hiệu quả!

Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa ngữ văn, khoa sau đại học, Trường Đại Học Sư Phạm- ĐH Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu taị trường!

Cuối cùng, Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên giúp đỡ và là điểm tựa tinh thần vững chắc trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu!

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011

Tác giả

NGUYỄN THỊ HUẾ

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU ……… …… 1

PHẦN NỘI DUNG……… 7

Chương 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN… 7

1.1.Những điểm cần chú ý trong việc hướng dẫn học sinh tiếp nhận tác 7

phẩm thơ trữ tình……… 7

1.1.1.Khái niệm về thơ trữ tình……… 7

1.1.2 Đặc điểm của thơ trữ tình……….……… 8

1.1.2.1 Nội dung thơ trữ tình……… 8

1.1.2.2.Hình thức thơ trữ tình……… 9

1.1.3 Đặc điểm đối tượng tiếp nhận……… 12

1.1.3.1 Sự phát triển của cảm giác, tri giác, năng lực quan sát… 12

1.1.3.2.Sự phát triển của trí nhớ……… 13

1.1.3.3.Sự phát triển của tư duy trừu tượng……… 14

1.1.3.4.Sự phát triển của tưởng tượng……… 15

1.1.3.5.Sự phát triển của năng lực ngôn ngữ……… 16

1.2.Thực trạng của việc phát triển câu hỏi trong sách giáo khoa hiện nay 17 1.2.1 Những cố gắng đã đạt được……… 17

1.2.2 Những hạn chế còn tồn tại……… ……… 18

1.2.3 Hướng khắc phục……… 20

1.3 Đặc điểm của hệ thống câu hỏi sách giáo khoa và câu hỏi trên

lớp của giáo viên……… 20

1.3.1 Đặc điểm câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa……… 20

1.3.2 Đặc điểm câu hỏi giáo viên……… 21

Trang 5

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CÂU HỎI SÁCH GIÁO

KHOA THÀNH CÂU HỎI GIÁO VIÊN TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH LỚP 12 26

2.1.Những nguyên tắc phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi của giáo viên……… 26

2.2.Mô hình câu hỏi trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình……… 29

2.2.1 Hệ thống câu hỏi khai thác những yếu tố ngoài văn bản 30

2.2.1.1 Câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tác giả……… 30

2.2.1.2 Câu hỏi về hoàn cảnh ra đời bài thơ ……… 30

2.2.2 Hệ thống câu hỏi khai thác những yếu tố của văn bản………… 31

2.2.2.1 Câu hỏi tìm hiểu về nhan đề, bố cục, chủ đề, thể thơ…… 31

2.2.2.2 Hệ thống câu hỏi tìm hiểu những hình thức nghệ thuật đặc sắc ……… 32

2.2.2.3 Hệ thống câu hỏi yêu cầu học sinh chỉ ra giá trị của các hình thức nghệ thuật ……… 36

2.2.2.4 Hệ thống câu hỏi khái quát hóa bài thơ ……… 37

2.2.3 Câu hỏi khai thác tác động của bài thơ đối với cá nhân người tiếp nhận ……… 37

2.2.4 Vai trò của mô hình câu hỏi ……… 37

2.3 Quy trình phát triển câu hỏi ……… 39

2.3.1 Bước 1: Giáo viên đọc và suy nghĩ về tác phẩm văn chương cần dạy.39

2.3.2 Bước 2: Phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi trong giáo án……… 40

Trang 6

lớp 12 ……… 41

2.4.1.Tây Tiến……… 41

2.4.2 Việt Bắc……… 51

2.4.3 Đất nước……… 59

2.4.4 Sóng……… 65

2.4.5 Đàn ghita của lor-ca……… 71

Chương3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM……… 79

3.1 Những vấn đề chung về thử nghiệm……… 79

3.1.1 Yêu cầu thử nghiệm……… 79

3.1.2 Mục đích thử nghiệm……… 79

3.1.3 Thời gian và địa điểm thử nghiệm……… 79

3.1.4 Nội dung và phương pháp thử nghiệm……… 79

3.1.4.1 Nội dung thử nghiệm……… 79

3.1.4.2 Phương pháp thử nghiệm……… 104

3.2 Tổ chức thử nghiệm……… 104

3.2.1.Kết quả thử nghiệm……… 104

3.2.2 Đánh giá kết quả sau thử nghiệm……… 105

PHẦN KẾT LUẬN……… 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 111

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ vai trò của câu hỏi trong dạy học tác phẩm văn chương Các phương pháp dạy học hiện đại đề cao tinh thần đọc hiểu chứ không phải giáo viên áp đặt cách hiểu cho học sinh Bản chất của giờ đọc hiểu là định hướng cho học sinh tự khai thác tác phẩm chứ không phải giáo viên làm hộ bằng cách diễn lại những điều mình đã hiểu cho học sinh nghe Muốn làm được điều này, giáo viên phải có tài năng sư phạm mà quan trọng là xây dựng được một hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc hiểu Hệ thống câu hỏi đó nhằm đạt hai yêu cầu cơ bản sau đây: Thứ nhất, giúp học sinh tự thấy được vẻ đẹp của tác phẩm thơ; thứ hai, giúp học sinh nắm được cách tự phân tích, tìm hiểu một tác phẩm thơ trữ tình Mọi câu hỏi trong giờ dạy học tác phẩm văn chương đều phải tổ chức theo hai hướng trên

1.2 Câu hỏi sách giáo khoa và câu hỏi trên lớp tuy không trùng khít nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Sách giáo khoa đã xây dựng được hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài cho học sinh Nhờ hệ thống câu hỏi này, các em có thể tự học, tự nghiên cứu trước khi bước vào tiết học Giáo viên trong quá trình giảng dạy có thể vận dụng các câu sách giáo khoa vào việc thiết kế một hệ thống câu hỏi cho giờ lên lớp Tuy nhiên, nếu bê nguyên các câu hỏi đó vào trong bài dạy quả là không ổn Bởi lẽ, sách giáo khoa chỉ có có khoảng 4 đến 5 câu mà một giờ văn chỉ có ngần ấy câu sẽ là chưa đủ Hơn nữa, đó là những câu hỏi mang tính định hướng kiến thức, còn chung chung không phải học sinh nào cũng dễ dàng trả lời Cho nên cần phát triển thành những câu hỏi cụ thể hơn, sinh động hơn Mặt khác, câu hỏi sách giáo khoa đã xác định được những vấn đề then chốt cho

Trang 8

việc định hướng tiếp cận tác phẩm nhưng bên cạnh đó còn có nhiều vấn đề có liên quan đòi hỏi phải được giải quyết

1.3.Thực tế những nghiên cứu về sự phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi lên lớp không nhiều, phần lớn là các giáo án soạn sẵn Các giáo án đó chỉ là một trong số các giải pháp mà không phải cách giải quyết duy nhất Hơn nữa chưa đề ra được mô hình xây dựng câu hỏi hướng dẫn giáo viên chuyển từ câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi lên lớp như thế nào cho có hiệu quả Đối với sách giáo viên, phần lớn chỉ giúp các giáo viên trả lời câu hỏi sách giáo khoa chứ đưa ra được hệ thống câu hỏi sinh động, cụ thể Bên cạnh đó, việc xây dựng câu hỏi của các giáo viên còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa thật phát huy được sức sáng tạo của học sinh, chưa tạo được hứng thú cho các em trong việc tìm hiểu tác phẩm Xây dựng câu hỏi là việc làm cần thiết, thường xuyên, liên tục của giáo viên trong quá trình giảng dạy Nhưng đặt câu hỏi như thế nào cho hợp lí, phát triển câu hỏi sách giáo khoa như thế nào cho có hiệu quả thì vẫn là nỗi trăn trở, băn khoăn của hầu hết các giáo viên giảng dạy văn học

Vì những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài : Phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi của giáo viên trong dạy học tác phẩm trữ tình lớp

12, ban cơ bản với mong muốn góp phần nhỏ bé nâng cao hiệu quả dạy học văn

2.Lịch sử vấn đề

Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy sách giáo viên vẫn để nguyên câu hỏi trong sách giáo khoa mà không hề có sự bổ sung, phát triển Vấn đề trọng tâm mà sách giáo viên hướng tới là định hướng kiến thức cho giáo viên qua việc trả lời câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa Như vậy, vấn đề phát triển câu hỏi sách giáo khoa và hướng dẫn giáo viên biết cách làm thế nào để phát triển hệ

Trang 9

thống câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi lên lớp một cách hiệu quả, hợp lí hoàn toàn không được sách giáo viên đả động đến

Khảo sát các cuốn thiết kế giáo án, chúng tôi nhận thấy những điểm nổi bật như sau:

Trong các cuốn thiết kế, chúng tôi ít thấy bóng dáng của câu hỏi sách giáo khoa, chủ yếu vẫn là những câu hỏi theo ý kiến của cá nhân tác giả Điều này không sai vì việc tìm hiểu một tác phẩm có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau, miễn là cùng hướng tới chuẩn kiến thức chung Nhưng vô hình chung, câu hỏi sách giáo khoa được các em tìm hiểu và trả lời trước ở nhà đã bị lãng phí Lại không kiểm tra được các em đã chuẩn bị bài ở nhà như thế nào

Số lượng các câu hỏi của các cuốn thiết kế cho một bài học nhìn chung còn ít, chưa đủ cho một giờ học tác phẩm trữ tình Các tác giả còn thiên về đầu tư cho phần chuẩn kiến thức hơn là phần xây dựng câu hỏi Do vậy nếu giáo viên sử dụng nguyên si thì chắc chắn là chưa đủ Ở cuốn thiết kế của tác giả Phan Trọng Luận và Nguyễn Văn Đường, hệ câu hỏi có phần nhiều hơn, đầu tư công phu hơn nhưng vẫn chưa đề cập hết được những vấn đề cơ bản của bài học

Giữa các cuốn sách, giữa các bài học cũng không có sự nhất quán trong việc đưa ra các dạng câu hỏi cho một tác phẩm trữ tình Dù mỗi bài thơ có đặc điểm riêng về nội dung cũng như nghệ thuật nhưng bao giờ hoạt động tiếp cận cũng phải hướng về những đích chung Do đó, nhất thiết các câu hỏi cần phải tuân theo một mô hình thống nhất và đầy đủ chứ không phải theo cảm hứng

Chưa có cuốn thiết kế nào hướng dẫn giáo viên biết cách phát triển các câu hỏi trong sách giáo khoa thành câu hỏi trong giáo án và vận dụng trong giờ lên lớp Xem các cuốn thiết kế làm mẫu mà các giáo viên tham khảo và học theo là việc

Trang 10

cần thiết nhưng họ chưa được chỉ cho cách làm thế nào để xây dựng và phát triển được một hệ thống câu hỏi thật đầy đủ, hiệu quả

Trong thiết kế giáo án của các tác gỉa, hệ thống câu hỏi có một bước tiến mới

so với câu hỏi sách giáo khoa Tuy nhiên, điều chúng ta dễ dàng nhận thấy là đối tượng hỏi, cách thức hỏi của các tác giả hầu như chưa có sự thống nhất theo những vấn đề cơ bản cần tìm hiểu khi tiếp nhận một tác phẩm trữ tình Chủ yếu,

đó là những câu hỏi theo cách của mỗi người, chỉ là một giải pháp trong số nhiều giải pháp chứ không phải là hướng đi duy nhất Cho nên, giáo viên vẫn có sự lúng túng trong việc phát triển hệ thống câu hỏi lên lớp Lý thuyết chung về xây dựng câu hỏi đã được nhiều tác giả đề cập đến nhưng việc giúp giáo viên biết cách phát triển câu hỏi sách giáo khoa trở thành câu hỏi lên lớp trong dạy học tác phẩm trữ tình thì chưa có ai đề cập đến Do vậy, làm thế nào để phát triển và vận dụng có hiệu quả câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi lên vẫn là nỗi trăn trở của nhiều giáo viên

Ở luận văn này, chúng tôi đi sâu vào một vấn đề cụ thể đó là “ Phát triển câu hỏi trong sách giáo khoa thành câu hỏi của giáo viên trong dạy học tác phẩm trữ tình lớp 12, ban cơ bản”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Đề xuất được một mô hình phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi trên lớp cho giáo viên trong dạy học tác phẩm trữ tình nói chung, tác phẩm trữ tình lớp 12 nói riêng

- Giúp giáo viên biết cách phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi trên lớp

Trang 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần tập trung giải quyết những vấn đề

- Tiến hành thử nghiệm sư phạm

4 phương pháp và đối tượng nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các vấn đề lí luận về xây dựng câu hỏi và đặc điểm nhận thức của học sinh trung học phổ thông

- So sánh, đối chiếu giữa lí luận và thực tiễn

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động

- Điều tra, khảo sát, phỏng vấn, tiến hành dự giờ và phân loại kết quả thử nghiệm

4.2 Đối tượng nghiên cứu

- Hệ thống câu hỏi sách giáo khoa và câu hỏi lên lớp của giáo viên

- Mối quan hệ giữa hai hệ thống câu hỏi này

5 Giả thuyết khoa học

Trong bối cảnh giáo viên hết sức lúng túng trong việc phát triển hệ thống câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi đọc hiểu sao cho có hiệu quả, nếu phát triển câu hỏi trong sách giáo khoa thành câu hỏi của giáo viên một cách khoa học, sáng tạo thì sẽ phát huy được tính tích cực suy nghĩ của học sinh, định hướng

Trang 12

các em khai thác đúng giá trị tác phẩm, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm trữ tình

6.Câu hỏi nghiên cứu

Phát triển hệ thống câu hỏi sách giáo khoa như thế nào để nâng cao hiệu quả dạy học tác phẩm trữ tình?

7 Đóng góp của luận văn

- Giúp giáo viên có một mô hình phát triển được hệ thống câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi trên lớp một cách khoa học, nhất quán

- Đề xuất một hệ thống câu hỏi trên lớp cho một số tác phẩm trữ tình 12

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của luận văn

Chương 2: Phương pháp phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi giáo viên trong dạy học tác phẩm thơ lớp 12

Chương 3: Thử nghiệm sư phạm

Trang 13

phần nội dung

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN

1.1 Những điểm cần chú ý trong việc hướng dẫn học sinh tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình

1.1.1 Khái niệm về thơ trữ tình

Theo từ điển thuật ngữ văn học: “ Thơ là một hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”[30,tr 239]

Như vậy, nội dung chủ yếu của thơ là trình bày tình cảm, cảm xúc, suy tư của chính tác giả, là tâm hồn của chính nhà thơ Nội dung ấy được biểu hiện qua một hình thức ngôn ngữ có nhịp điệu, giàu hình ảnh, hàm súc Điều này giúp ta khu biệt nó với các loại thể khác như kịch: phản ánh đời sống thông qua những mâu thuẫn, xung đột; tự sự: phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó thông qua các hành vi, sự kiện

Thơ có nhiều cách thức phân loại khác nhau Dựa vào hình thức phản ánh, chúng ta có thơ trữ tình và thơ tự sự; dựa vào thể luật có thơ cách luật và thơ tự do; dựa vào nội dung có thơ tình yêu, thơ luân lí, thơ chính trị, thơ đời thường, thơ cổ động tuyên truyền, thơ trào phúng

Trong giới hạn của vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu về

thơ trữ tình “ Thuật ngữ này dùng để chỉ chung các bài thơ mà trong đó những cảm xúc, suy tư của nhà thơ, của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Thuật ngữ thơ trữ tình được sử dụng nhằm phân biệt với thơ tự sự” [30,tr 317]

Trang 14

Theo định nghĩa, thơ trữ tình thể hiện cảm xúc và suy tư của chính tác giả( chủ thể trữ tình) Dựa vào đối tượng để tạo nên cảm xúc của chủ thể trữ tình thì thơ trữ tình có 4 tiểu loại: Thơ trữ tình tâm tình, thơ trữ tình phong cảnh, thơ trữ tình thế sự và thơ trữ tình công dân Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ là tương đối

1.1.2 Đặc điểm của thơ trữ tình

1.1.2.1 Nội dung trữ tình

Nội dung cốt lõi của tác phẩm thơ trữ tình là thể hiện thế giới tâm hồn của nhà thơ- chủ thể trữ tình tác giả Đó chính là những suy tư của nhà thơ về thiên nhiên, cuộc sống, con người Thế giới tâm hồn ấy có nhiều cung bậc cảm xúc với những xúc cảm, tình cảm, tâm trạng, suy tư thầm kín và sâu sắc qua đấy bộc lộ thế giới nội tâm của chủ thể trữ tình trong một khoảnh khắc tâm trạng Ví dụ bài

“ sóng” của Xuân Quỳnh thể hiện suy tư của nhà thơ khi đứng trước biển Từ hiện tượng thiên nhiên là con sóng biển với những đặc tính vốn dĩ của nó, thi sĩ liên tưởng đến người con gái khi yêu với những biểu hiện tâm lí vừa phong phú, phức tạp nhưng cũng vừa thống nhất Đó là tiếng lòng của người con gái trẻ luôn dào dạt khao khát yêu đương

Trong thơ trữ tình cũng có yếu tố tự sự: kể chuyện, tả cảnh… Tuy nhiên đây chỉ là cái vỏ hình thức để biểu hiện nội dung trữ tình mà thôi Cái này gọi là khách thể trữ tình Như thế, trong một bài thơ thường có hai kết cấu: một kết cấu khách thể trữ tình (đối tượng tác động đến chủ thể) và một là chủ thể Hai kết cấu này đan xen, kết hợp nhuần nhuyễn với nhau Tuy nhiên trọng tâm cần khai thác khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm là chủ thể trữ tình Chẳng hạn

cũng trong bài “ sóng” chủ thể trữ tình là nhà thơ và khách thể trữ tình là sóng “

Trang 15

Nhà thơ thổ lộ tâm can của mình bằng hai cách: Cách gián tiếp thông qua hình

một số trường hợp nhân vật trữ tình và chủ thể trữ tình không phải là một Chúng

ta gọi đó là trữ tình nhập vai

Thơ trữ tình cho chúng ta biết sự thật về đời sống tâm hồn cá nhân trong những tình huống cụ thể, sinh động của đời sống Khi phát ngôn, các nhà thơ thường hướng tới những gì lớn lao hơn, tức là tự nâng mình thành người mang tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ của một lớp người, một giai cấp, môt dân tộc Tâm trạng, cảm xúc và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến là điển hình cho người lính trong thời đại Hồ Chí Minh Tâm sự và suy nghĩ của cô gái đang yêu trong thơ Xuân Quỳnh là tâm sự, suy nghĩ điển hình của những người con gái khi

yêu…Cho nên, Bêlinxki đã viết: “ Bất cứ thi sĩ nào, sở dĩ họ vĩ đại là vì những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của lịch sư xã hội; bởi họ là khí quan và đại biểu của xã hội, của thời đại và của nhân loại” [ 67,tr

187]

1.1.2.2 Hình thức trữ tình

Nếu như nội dung trữ tình là hiện thực được nói tới và thái độ, tình cảm của tác

giả với hiện thực được nói tới thì hình thức trữ tình là cách thể hiện nội dung trữ tình của nhà thơ

Trong sáng tác âm nhạc, các nhạc sĩ chỉ cần dựa vào yếu tố nội cảm thì trong thơ không chỉ có vậy mà còn mở rộng đến mức độ dùng các biểu tượng, các trực

giác và tình cảm bên trong để dựng lên một thế giới khách quan “ Biểu tượng là một trong những hình thức quan trọng của sự phản ánh chủ quan thế giới khách quan Các biểu tượng có ý nghĩa rất lớn cho hoạt động tâm lí con người Nếu

Trang 16

con người không có biểu tượng thì nội dung ý thức của mình chỉ hạn chế ở những chi thức sẵn có, và trong ý thức dường như chỉ phản ánh hình ảnh của các vật thể trong thời điểm hiện đang tác động trực tiếp lên người đó Thậm chí các biểu tượng chứa đựng trong mình tất cả các quá trình tâm lí khác: không có biểu tượng thì không thể xảy ra các cảm giác cũng như các tri giác, các quá trình tư duy và tưởng tượng” [ 28, tr 22] Có thể nói rằng, thơ là nghệ thuật của

biểu tượng Và biểu tượng trong thơ thường gián đoạn, không liên tục, có nhiều khoảng trống

Biểu tượng cho phép thơ không phải kể lể, không phải chạy theo tính liên tục

bề ngoài mà bắt thẳng vào những hình ảnh nổi bật nhất, cô đọng nhất, giàu hàm

ý nhất của đời sống vào mục đích biểu hiện Có được biểu tượng ấy chính là nhờ vào sức liên tưởng tưởng tượng mạnh mẽ của nhà thơ

Bài thơ “đàn ghi ta của lorca” là một ví dụ điển hình Bài thơ có một loạt những biểu tượng: tiếng đàn bọt nước, áo choàng đỏ gắt, vầng trăng chếnh choáng, yên ngựa mỏi mòn, áo choàng bê bết đỏ, tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh, tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan, tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy…Qua

các biểu tượng, người đọc hiểu về không gian văn hoá đậm màu sắc Tây Ban Nha, về hình chân dung nghệ sĩ Lorca và tình cảm của nhà thơ Việt Nam dành cho ông

Thơ thuộc loại lời nói gây cảm xúc đến mức độ sáng chói nhất Bởi vậy, ngữ điệu ở đây có ý nghĩa hàng đầu có khả năng khơi dậy, mô tả lại những sắc thái cảm xúc nhỏ nhất, tinh tế nhất của tình cảm Do đó ngữ điệu trong thơ càng phong phú đa dạng Ngôn từ thơ có tính gián đoạn tạo thành những khoảng im lặng giàu ý nghĩa Nó không phải là ngôn từ tuyến tính mà là ngôn từ phức hợp

Ví dụ:

Trang 17

“ những tiếng đàn bọt bước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li-la-li-la-li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn”

(Đàn ghi ta của lorca- Thanh Thảo)

Nhà thơ cùng một lúc nói về tiếng đàn, về môn đấu bò tót, về người nghệ sĩ

đi ngao du khắp mọi miền đất nước Đó là những sự việc nghe qua có vẻ không

có sợi dây liên hệ gì với nhau những ngẫm kĩ chúng ta sẽ thấy chúng có một mối liên hệ mật thiết với nhau Đàn ghi ta với âm thanh trong trẻo như giọt nước là nhạc cụ truyền thống của đất nước Tây Ban Nha Thêm vào đó là hình ảnh các

võ sĩ đấu bò tót Hai chi tiết này gợi lên một không gian văn hoá đậm nàu sắc Tây Ban Nha Đó là phông nền cho sự xuất hiện của người nghệ sĩ Lor-ca Trên

nền văn hoá ấy, lor- ca là một nghệ sĩ dân gian “hát nghêu ngao” khắp nơi Đó

là một nhà thơ luôn gắn bó sự nghiệp sáng tác của mình với mạch nguồn văn hoá dân gian

Do đặc điểm nêu trên mà thơ sử dụng nhiều phép tu từ ẩn dụ, nhiều tỉnh lược, nhiều định ngữ Ngôn từ thơ phá vỡ những kết hợp thông thường để tạo thành những kết hợp bất ngờ theo nguyên tắc lạ hoá Có những từ tưởng như chẳng thể

đi được với nhau nhưng đứng vào trong câu thơ lại khá xứng đôi Chẳng hạn:

“ Sông mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

( Tây Tiến- Quang Dũng)

Trang 18

Có nhiều bài thơ viết về nỗi nhớ nhưng không mấy bài dùng bằng những

chữ lạ và ám ảnh đến vậy “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ không hình, không lượng

nhưng rất nặng và mênh mông đầy ắp Nó gợi lên trong lòng người đọc cái chập chùng, xa ngái của núi rừng

Ngôn từ trong thơ rất giàu nhạc điệu với những âm luyến láy, những từ trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc và những cách ngắt nhịp có gía trị gợi cảm Trong thơ trữ tình, nhạc tính được thể hiện ở sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp Chẳng hạn “ Tây Tiến” là bài thơ điển hình cho sự giàu nhạc tính với

cách hiệp vằn “ơi”, sự phối hợp giữa những câu thơ nhiều thanh bằng với những

câu thơ nhiều thanh trắc tạo nên sự đối xứng về thanh điệu…

1.1.3.Đặc điểm đối tƣợng tiếp nhận

Trong quá trình dạy học, giáo viên không chỉ chú ý tới đặc điểm của tác phẩm trữ tình mà cần phải hướng tới người tiếp nhận Bởi lẽ, nội dung ý nghĩa

và giá trị của một tác phẩm văn học không chỉ do bản thân nó mà còn chịu ảnh hưởng của đối tượng tiếp nhận Đó là đặc trưng của tâm lí tiếp nhận văn học

Học sinh THPT đã điều khiển được quá trình nhận thức của mình Ở lứa tuổi này, tính chủ định phát triển mạnh trong tất cả các quá trình nhận thức Các

em có những tiền đề rất ý nghĩa trong việc tiếp nhận tác phẩm trữ tình và trả lời cho các câu hỏi mà giáo viên đưa ra

1.1.3.1 Sự phát triển của cảm giác, tri giác, năng lực quan sát

Lúc này, cảm giác của các em đã đạt đến mức tinh nhạy như người lớn Ngưỡng tuyệt đối và tính nhạy cảm tuyệt đối phát triển mạnh ( biểu hiện ở năng lực thưởng thức, sáng tác hội hoạ, âm nhạc, văn học)…Tri giác không gian và thời gian không mắc sai lầm như giai đoạn trước Tri giác có chủ định phát triển, năng lực quan sát được nâng cao, quan sát trở nên có hệ thống, có mục đích toàn

Trang 19

diện hơn học sinh THCS Ngôn ngữ trở thành phương tiện đắc lực cho quá trình quan sát Nhờ sự phát triển này, vốn sống và sự hiểu biết về thế giới tự nhiên, xã hội xung quanh được nâng lên Văn học trong đó có thơ ca lại là tấm gương phản ánh đời sống cho nên nhờ sự phát triển của cảm giác, tri giác, năng lực quan sát

mà các em có khả năng tiếp nhận tác phẩm trữ tình tốt hơn Khi đặt câu hỏi cho học sinh, giáo viên nhất thiết phải lưu ý đến luận điểm này

Tuy nhiên, một số em còn vụng về, phiến diện dẫn đến nhiều kết luận thiếu cơ sở thực tế Đối với những trường hợp này, trong câu hỏi của giáo viên cần có những định hướng giúp các em quan sát một cách có mục đích để những

tư liệu mà các em quan sát được có giá trị đối với việc tiếp nhận một tác phẩm

trữ tình đúng như lời khuyên của I.P.Pavlov: “ Không dừng lại ở bề mặt của hiện tượng”

1.1.3.2 Sự phát triển của trí nhớ

Ghi nhớ ý nghĩa, ghi nhớ từ ngữ logic ở lứa tuổi này chiếm ưu thế Đặc biệt tính hệ thống trong trí nhớ phát triển mạnh Các em tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ Điều này có ý nghĩa đặc biệt với việc tiếp nhận một tác phẩm trữ tình Bởi lẽ, chất liệu của văn học trong đó có thơ ca là ngôn từ Sự phát triển này giúp các em có thể phục hồi, tái tạo tri thức đã có trong bài thơ đang tìm hiểu

và tri thức đã học, đã đọc ở cấp trước…Trên cở sở đó phân tích ý nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn của nó Cho nên, giáo viên có thể sử dụng những câu hỏi huy động tri thức và vốn hiểu biết sẵn có để đánh thức tiềm năng dồi dào trong các

em Và đứng trước những câu hỏi như vậy, các em hoàn toàn có khả năng trả lời

Tuy nhiên, nhiều em còn ở tình trạng nhớ chung chung, đại khái, không có

sự chính xác, cụ thể Điều này không thể đem lại kết quả học tập cao Một số khác vẫn còn tình trạng học vẹt, không cố gắng suy nghĩ, tìm hiểu vấn đề một

Trang 20

cách thấu đáo Khi xây dựng câu hỏi cho những đối tượng này, giáo viên cần lưu

ý đến những gợi dẫn, giúp các em có câu trả lời chính xác đồng thời hướng dẫn, yêu cầu các em ghi nhớ có chủ định và cẩn thận hơn

1.1.3.3.Sự phát triển tƣ duy trừu tƣợng

Nếu ở cấp II, tư duy trừu tượng phát triển mạnh thì đến cấp III, tư duy trừu tượng

đã phát triển rất mạnh Trong học tập, sự lĩnh hôi tri thức của các em chủ yếu dựa vào loại tư duy này Tư duy và ngôn ngữ đã ăn nhập ở mức độ cao Sự vận dụng các thao tác tư duy đến cuối cấp khá nhuần nhuyễn Các năng lực phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy luận, năng lực khái quát hoá, trừu tượng hoá phát triển mạnh Đây là những năng lực cực kì hữu ích cho việc tìm hiểu một tác phẩm trữ tình Trong các câu hỏi yêu cầu học sinh hoạt động, giáo viên cần khuyến khích các em phát huy những năng lực này Và nhờ những năng lực này, các em sẽ có khả năng thực hiện tốt các yêu cầu qua hệ thống câu hỏi mà giáo viên đặt ra

Các em có thể lĩnh hội một cách thuận lợi các khái niệm khoa học trừu tượng Các em đòi hỏi mình trong phán đoán, suy luận, khi nói, khi viết phải chặt chẽ và

có căn cứ xác định Các em thích ghi nhớ, tìm hiểu những vấn đề có tính triết lí Mặt khác, do tư duy phát triển mạnh, ở lứa tuổi này xuất hiện tâm lí mới: Tâm lí hoài nghi khoa học Các em thường đặt ra những câu hỏi nghi vấn, thường dùng lối phản đề để nhận thức chân lí sâu sắc hơn Các em thích tranh luận những vấn

đề trong cuộc sống và hăng hái bảo vệ ý kiến của mình…Đặc biệt, ở lứa tuổi này, nhiều năng lực chuyên biệt phát triển nhanh chóng Bởi thế, hứng thú nhận thức phân hoá ngày càng rõ rệt, hoạt động trí tuện trở nên phức tạp và có tính cá biệt hoá cao Trong đó có một số em tỏ ra đam mê với các bài thơ trữ tình Việc giáo viên có những định hướng hợp lí với một hệ thống câu hỏi đầy tính logic

Trang 21

chắc chắn sẽ cuốn hút các em học sinh say mê khám phá các bài thơ trữ tình hơn nữa Những câu hỏi ở dạng các nhận định văn học có sẵn và yêu cầu cho ý kiến rất phù hợp với sự phát triển tâm lí của các em ở giai đoạn này Sự hoài nghi chính là động lực để các em tìm hiểu và khám phá

Tuy nhiên, trong tư duy của các em còn bộc lộ một số nhược điểm nhất định Nhiều em nắm khái niệm còn chung chung, khả năng phân biệt các dấu hiệu bản chất còn hạn chế Nhiều khi các em vội vàng, phiến diện, thiếu cơ sở thực tế, thiếu tính lịch sử Một số em chưa phát huy được tính độc lập trong suy nghĩ Trong tư duy, nhiều khi các em ưa những tưởng tượng triết lí hơn là kết luận thực tế Các em có xu hướng “triết học hoá” những suy nghĩ của mình trong khi

đó kiến thức triết học lại không vững Đây là nguyên nhân dẫn đến mơ mộng viển vông hơn là chịu khó suy nghĩ, đánh giá mình Đánh giá người khác thiếu chính xác Với những đối tượng học sinh này, các em khó có thể trả lời chính xác các câu hỏi mà thầy cô đặt ra vì đối với việc tiếp nhận các bài thơ trữ tình, hoạt động tư duy trừu tượng là rất cần thiết Đây thực sự là một thách thức đối với việc xây dựng câu hỏi của các thầy cô môn văn

1.1.3.4 Sự phát triển của tưởng tượng

Tưởng tượng ở giai đoạn này phát triển mạnh mẽ và có những thay đổi mới

về chất Nội dung tưởng tượng phong phú, sinh động Điều này cực kì hữu ích cho việc khám phá một tác phẩm trữ tình Thông thường, nhà văn là người quan sát, tìm hiểu, chiêm nghiệm về cuộc sống rồi tái tạo nó qua ngôn ngữ tác phẩm Người đọc muốn tìm hiểu tác phẩm phải đi theo chiều ngược lại: Qua ngôn từ

mà hình dung lại thế giới khách quan Tưởng tượng tái tạo của các em lúc mày phù hợp với thực tế hơn Nhờ tưởng tượng tái tạo phát triển, các em có thể “đắm mình” vào những thời kì lịch sử xa xưa, hình dung ra cuộc sống, pháp luật, nền

Trang 22

văn hoá…của những thời kì lịch sư nhất định Đặc biệt các em có thể hình dung

ra nhân vật trong tác phẩm văn học một cách đầy đủ Cho nên trong dạy thơ trữ tình khi giáo viên đưa ra câu hỏi yêu cầu học sinh tả lại bằng ngôn từ của mình bức tranh thiên nhiên hoặc hình tượng nhân vật được nói đến trong bài thơ hoặc đoạn thơ, các em hoàn toàn có khả năng làm tốt

Tưởng tượng sáng tạo cũng phát triển mạnh mẽ, phong phú và giữ vai trò chủ yếu Điều này thể hiện rõ trong quá trình lĩnh hội tri thức và nhiều hoạt động của các em Nhiều em có khả năng sáng tạo nghệ thuật như làm thơ, viết truyện… Tuy nhiên trong nhiều trường hợp học sinh THPT còn tưởng tượng quá xa thực tế, tưởng tượng một chiều, đánh giá không đúng tài năng và năng lực của mình Vì thế, nhiều ước mơ, dự đinh của các em quá lãng mạn tới mức “kì vọng” thiếu cơ sở thực tế dẫn tới “vỡ mộng” của một số học sinh THPT Ngược lại cũng có một số em tự ti đánh giá thấp khả năng của mình Đưa ra các câu hỏi, giáo viên cần giúp các em nhận thức rõ khả năng của mình, dẫn dắt hoạt động tưởng tượng của các em diễn ra đúng hướng

1.1.3.5 Sự phát triển năng lực ngôn ngữ

Ở lứa tuổi này, vốn ngôn ngữ phát triển rõ rệt so với học sinh THCS Năng lực sử dụng các quy tắc ngữ pháp tương đối nhuần nhuyễn Nhu cầu tu từ tăng rõ rệt, ngôn ngữ thầm rất phát triển Bởi thế, học sinh THPT diễn đạt rất lưu loát, diễn cảm và chính xác hơn học sinh THCS rất nhiều Các em luôn có ý thức trau dồi những lời văn đẹp, các em muốn diễn đạt ý nghĩ của mình một các trong sáng, gợi cảm…Chất liệu của văn học là ngôn từ cho nên sự phát triển năng lực ngôn ngữ là một tiền đề thực sự ý nghĩa cho việc cảm thụ văn chương của các

em Các câu hỏi về sự độc đáo, sáng tạo khi sử dụng ngôn từ trong tác phẩm trữ tình các học sinh hoàn toàn có thể trả lời được Do đó, giáo viên cần tận dụng

Trang 23

khả năng này của học sinh để các em tự khám phá cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ thơ

Tuy nhiên, ở lứa tuổi này vẫn có một số hiện tượng như: “ ba hoa”, “ồn ào” trong ngôn ngữ, viết sai, viết ẩu, nghèo từ…Nhiều em lạm dụng ngôn ngữ văn học, coi thường sự trau rồi ngôn ngữ dân gian hoặc cầu kì, triết lí suông trong ngôn ngữ…Những biểu hiện này sẽ hạn chế kết quả học văn của các em Bởi vậy, giáo viên văn cần có định hướng giúp các em tránh những sai lệch về ngôn

từ, khả năng ngôn ngữ phát triển đúng hướng đem lại kết quả cao trong tiếp nhận tác phẩm trữ tình nói riêng, trong cuộc sống của các em nói chung

Như vậy, do có sự hoàn thiện hệ thống các giác quan và vỏ não, do có sự phong phú về tri thức và kinh nghiệm sống, do yêu cầu của hoạt động học ngày càng nâng cao mà năng lực nhận thức của học sinh THPT ngày càng phát triển mạnh, đặc biệt là năng lực tư duy, tưởng tượng và ngôn ngữ Đây là những thuận lợi cho việc dạy học văn Các em hoàn toàn có khẳ năng độc lập suy nghĩ và nhận thức cho nên giáo viên không nên thuyết giảng một chiều mà cần xây dựng

hệ thống các câu hỏi hướng dẫn các em tự tìm hiểu đồng thời tạo hứng thú, kích thích sự phát triển nhận thức của các em góp phần nâng cao chất lượng môn học

1.2 Thực trạng của việc phát triển câu hỏi trong sách giáo khoa

Qua việc tiến hành khảo sát điều tra giáo án, dự giờ các giáo viên và thực

tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy vấn đề phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi của giáo viên có những điểm nổi bật như sau:

1.2.1 Những cố gắng đã đạt đƣợc

Trong những năm gần đây, công cuộc đổi mới phương pháp dạy học được đẩy mạnh không ngừng Theo không khí của thời cuộc, các giáo viên đã có ý thức cải tiến cách dạy góp phần phát huy tính tích cực và sáng tạo nơi người học

Trang 24

Chú trọng xây dựng hệ thống câu hỏi là một trong những việc làm có ý nghĩa thiết thực góp phần nâng cao chất lượng học tập Các câu hỏi đặt ra đã hướng được vào những vấn đề trọng tâm của người học Các em học sinh có nhiều cơ hội hơn để bày tỏ lập trường, quan điểm, cảm xúc…Và các em buộc phải suy nghĩ tìm tòi khi đứng trước mỗi câu hỏi mà giáo viên đặt ra Nhờ đó mà nhận thức và khẳ năng độc lập, chủ động trong tư duy được nâng cao Theo đó mà giáo viên khơi dậy được tiềm năng sáng tạo của học sinh

Trong một giáo án văn hay trong một giờ giảng văn, số lượng câu hỏi khá nhiều Hầu như trong bất cứ một phần nào, một chi tiết nào cũng có các câu hỏi được đặt ra để các em học sinh suy nghĩ và tìm hiểu Do vậy, mỗi chi tiết, mỗi vấn đề của bài học đều hướng được sự suy nghĩ của các em học sinh Người học thực sự phải nhập cuộc, động não suy nghĩ trước những vấn đề của tác phẩm văn học

Như vậy, công việc xây dựng một hệ thống câu hỏi đã được các giáo viên

ý thức rất rõ ràng và chuyển hoá thành hành động thiết thực Họ hiểu mình phải thay đổi phương pháp dạy học theo hướng nào cho có hiệu quả Đây là một hệ quả tích cực của công cuộc đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học được tiến hành một cách đồng bộ, rộng khắp

1.2.2 Những hạn chế còn tồn tại

Qua khảo sát điều tra giáo án và dự giờ, chúng tôi nhận thấy có đến 75% các giáo viên không vận dụng các câu hỏi sách giáo khoa vào trong giáo án và quá trình giảng dạy Đối với các giáo viên mới ra trường, kinh nghiệm xây dựng câu hỏi còn hạn chế, kiến thức chưa thưc sự vững vàng thì những câu hỏi hướng dẫn học bài của sách giáo khoa chính là những định hướng quý giá cho việc xác định trọng tâm bài học và xây dựng các câu hỏi phục vụ cho quá trình lên lớp

Trang 25

Còn đối với các giáo viên lâu năm dù kiến thức và kinh nghiệm có vững vàng tới đâu cũng không nên bỏ qua các câu hỏi hướng dẫn học bài của sách giáo khoa Bởi lẽ, các em học sinh đã chuẩn bị và tìm hiểu trước bài học theo những câu hỏi

đó Việc vận dụng và phát triển câu hỏi sách giáo khoa là bước tiếp theo trong một quy trình thống nhất đưa nhận thức của học sinh về bài học được nâng lên Hơn thế, giáo viên còn có thể kết hợp kiểm tra quá trình chuẩn bị bài học trước khi lên lớp của học sinh Vậy mà một số lượng lớn các giáo viên đã phớt lờ những câu hỏi đó Điều này xuất phát từ việc không ý thức được vai trò quan trọng và ý nghĩa thiết thực của hệ thống câu hỏi sách giáo khoa Và đôi khi là một sự cẩu thả, tuỳ hứng không muốn mất thời gian nghiên cứu tìm hiểu những câu hỏi đó Trái lại, họ tuỳ hứng đưa ra câu hỏi một cách thoải mái theo ý kiến của riêng mình Có trường hợp lười hơn thì bê nguyên các câu hỏi trong thiết kế giá án mẫu vào sử dụng

Số còn lại đã ý thức được ý nghĩa của câu hỏi sách giáo khoa thì việc vận dụng cũng chưa thật triệt để, còn tồn tại nhiều hạn chế, dù có đầu tư cho xây dựng câu hỏi nhưng vẫn chưa đến nơi đến chốn Họ ý thức được cần phải vận dụng câu hỏi sách giáo khoa nhưng làm thế nào để phát triển các câu hỏi đó thành một hệ thống sinh động, có hiệu quả và phù hợp với đối tượng học sinh, với nội dung bài học…thì lại không cố gắng tìm tòi, suy nghĩ, học hỏi…Các câu hỏi được sử dụng một cách cứng nhắc như những mệnh lệnh giáo điều nên chưa tạo được niềm đam mê, yêu thích ở các em đối với tác phẩm, chưa lôi kéo được các em vào hoạt động suy nghĩ , tìm tòi và khám phá Và đương nhiên, hiệu quả bài học không được như mong muốn

Có những trường hợp giáo viên bê nguyên câu hỏi sách giáo khoa Mà câc câu hỏi này mới chỉ là những định hướng chung chung Các câu hỏi đặt ra chưa

Trang 26

có những gợi dẫn tích cực cho các em suy nghĩ nên nhiều khi giáo viên đặt câu hỏi rồi lại tự mình trả lời Học sinh cảm thấy nặng nề, tẻ nhạt sau mỗi câu hỏi mà các giáo viên đặt ra Hệ quả là dù có ý thức đổi mới nhưng giáo viên lại quay lại công việc thuyết giảng một chiều như ban đầu Kết quả tiếp theo là không khuấy động được khí thế hoc tập của các em, giờ học rơi vào trầm lắng Tình trạng thông báo kiến thức lại xảy ra Một vòng tròn luẩn quẩn không lối thoát Chỉ có một sự cố gắng lớn, một sự đầu tư thật sự bài bản mới tạo ra bước ngoặt, lối thoát cho sự bế tắc đó

1.2.3.Hướng khắc phục

Để khắc phục được những hạn chế nói trên, đòi hỏi người giáo viên cần cố gắng nhiều hơn nữa trong việc phát triển hệ thống câu hỏi Bản thân các nhà khoa học cũng cần tích cực nghiên cứu để đưa ra giải pháp giúp giáo viên khắc phục được những hạn chế đó Trong khuôn khổ công trình nghiên cứu này, chúng tôi bước đầu đưa ra những gợi ý giúp các giáo viên khắc phục những hạn chế còn tồn tại

1.3.Đặc điểm của hệ thống câu hỏi sách giáo khoa và câu hỏi trên lớp của giáo viên

Qua thực tế giảng dạy, qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy câu hỏi sách giáo khoa và câu hỏi lên lớp của giáo viên có những đặc điểm nổi bật như sau:

1.3.1 Đặc điểm của câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và thông tin, lượng kiến thức của nhân loại ngày càng tăng, nguồn cung cấp kiến thức ngày càng phong phú, đa dạng Với một nguồn kiến thức khổng lồ như thế, giáo viên không thể dạy cho các em tất cả mọi điều mà chỉ có thể rèn luyện năng lực

Trang 27

tự học cho các em Năng lực đó ngày càng trở nên quan trọng trong cuộc sống hôm nay Tuy nhiên, ở học sinh, tuổi các em còn nhỏ, năng lực tự học chưa cao cho nên các em cần được định hướng, giúp đỡ trong quá trình nhận thức Đối với môn văn, học sinh suy nghĩ và tìm câu trả lời cho câu hỏi sách giáo khoa là điều cần thiết và hữu ích, thậm chí, còn là nhiệm vụ bắt buộc Đây là việc làm thường xuyên trước khi lên lớp có tác dụng rất tốt đối với việc nhận thức của các em Các em thường trả lời các câu hỏi đó ra vở soạn của mình trước khi bước vào tiết học.Đứng trước một tác phẩm nghệ thuật giống như một thế giới mới lạ và đầy

bí ẩn, các em chưa biết mình phải bắt đầu tìm hiểu từ đâu, tìm hiểu như thế nào thì câu hỏi sách giáo khoa là những định hướng ban đầu Nhờ đó mà trong giờ học văn, các em tiếp thu nhanh hơn, tốt hơn

Câu hỏi trong sách giáo khoa là những câu hỏi ở tầm chiến lược, bao quát được những vấn đề lớn, trọng điểm của bài học Nếu trả lời được các câu hỏi này, học sinh dã nắm được căn bản tinh thần của tác phẩm văn chương Tuy nhiên không phải bài nào, câu hỏi nào các em cũng có thể trả lời một các đầy đủ, chính xác Chính vì thế mà trong khi lên lên lớp, giáo viên cần phải phát triển thành nhiều tầng bậc, nhiều lớp câu hỏi cụ thể hơn, sinh động hơn

1.3.2 Đặc điểm câu hỏi của giáo viên

Trong hoạt động dạy học văn của giáo viên, hệ thống câu hỏi tồn tại ở hai

dạng: Dạng động và dạng tĩnh

Dạng tĩnh là câu hỏi trong giáo án của giáo viên Các câu hỏi này được

chuẩn bị kĩ càng, có chiều sâu suy nghĩ Giáo viên càng nghiên cứu kĩ, công phu kết quả càng cao Do vậy câu hỏi ở dạng này đòi hỏi rất nhiều thời gian Đầu tư càng nhiều, càng cẩn thận trước khi lên lớp bao nhiêu thì khi lên lớp giáo viên càng thuận lợi và hiệu quả dạy học càng cao bấy nhiêu

Trang 28

Dạng động là sự biểu hiện linh hoạt của câu hỏi đã chuẩn bị ra thực tế

Điều này đòi hỏi người giáo viên có khả năng ứng phó sáng tạo, tài tình Khi học sinh tỏ ra nhận thức tốt, có khẳ năng cảm thụ và lí giải các vấn đề một cách độc lập, giáo viên có thể bỏ bớt các gợi ý dẫn dắt Ngược lại khi đưa ra các câu hỏi

mà học sinh khó trả lời hoặc trả lời sai thì yếu tố gợi ý cần được tăng lên Tóm lại, tuỳ theo phản ứng của học sinh mà giáo viên có thể gia giảm yếu tố gợi ý và vận dụng linh hoạt những câu hỏi đã chuẩn bị

Dạng động là giai đoạn hiện thực hoá ý đồ của giáo viên Trong hoạt động dạy học của mình, giáo viên như một người nghệ sĩ đa năng vừa là nhà biên kịch, vừa là đạo diễn điều khiển các diễn viên lại vừa chính là một diễn viên tham gia

vở diễn Văn bản vở diễn phải hay nhưng diễn xuất cũng phải thật khéo lên bổng xuống trầm theo những diễn biến cụ thể

Câu hỏi ở dạng động và dạng tĩnh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Dạng động là nền tảng của dạng tĩnh Dạng tĩnh là sự thể hiện ra thực tế của dạng động Câu hỏi ở dạng tĩnh càng được chuẩn bị kĩ bao nhiêu thì khi chuyển thành dạng động kết quả càng cao bấy nhiêu

Một tác phẩm trữ tình có nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau Do đó cách mà mỗi giáo viên đặt câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài học cũng khác nhau Tuy nhiên dù đi theo con đường nào thì cũng phải hướng đến đích chung với những vấn đề cốt yếu cần làm sáng tỏ khi tiếp cận một bài thơ trữ tình

hiện đại Và đặc biệt là không nên bỏ qua các câu hỏi của sách giáo khoa

1.3.3.Mối quan hệ giữa câu hỏi sách giáo khoa và câu hỏi giáo viên trong dạy học tác phẩm văn chương

Hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa và câu hỏi của giáo viên có mối liên hệ mật thiết với nhau Đó là những tầng bậc nối tiếp nhau trong một tiến

Trang 29

trình thống nhất Câu hỏi sách giáo khoa có ý nghĩa then chốt, giáo viên có thể phát triển thành những câu hỏi kèm theo nhiều gợi ý lí thú Tiếp theo là sự suy nghĩ, tìm tòi của học sinh Cả hai hệ thống câu hỏi này đều hướng tới những mục tiêu nhất quán cả hai đều xoáy vào những đặc điểm cốt lõi của văn bản tác phẩm đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong suy nghĩ của học sinh Nhờ đó mà đảm bảo được yêu cầu đọc hiểu chứ không phải học sinh tiếp thu một cách thụ động Ngoài ra những câu hỏi chính là những yêu cầu về mặt kiến thức căn bản cần đạt tới khi khám phá một tác phẩm trữ tình Câu hỏi sách giáo khoa

là câu hỏi có tính chiến lược, nền tảng, người giáo viên cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thành nhiều tầng bậc câu hỏi cụ thể hơn, gợi mở hơn vào giờ dạy của mình

Xuất phát từ đặc điểm của mỗi loại câu hỏi đồng thời xuất phát từ mối liên

hệ nêu trên thì việc bê nguyên câu hỏi sách giáo khoa vào giờ học sẽ là không

ổn Bởi lẽ đó là những câu hỏi còn chung chung chưa có nhiều gợi dẫn nên không phải học sinh nào cũng dễ dàng trả lời Đối với đa số các em học sinh để các em có thể hiểu thấu đáo bản chất của văn bản trữ tình thì cần phải có những định hướng cụ thể, những chỉ dẫn cần thiết làm tiền đề để các em tiếp tục suy nghĩ Câu hỏi sách giáo khoa xoáy vào những vấn đề then chốt nhưng bên cạnh

đó còn nhiều vấn đề liên quan đòi hỏi học sinh phải tìm hiểu và nắm được Hơn nữa, mô hình câu hỏi giữa các bài học cũng chưa có sự thống nhất giữa các tác giả Có tác giả đề cập đến bố cục, khái quát hoá nội dung và nghệ thuật có tác giả không Câu hỏi về chủ đề, cảm gứng chủ đạo hầu như không có Như vậy, câu hỏi sách giáo khoa cũng chỉ là những đinh hướng ban đầu Cho nên dù các em học sinh có thông minh đến đâu và dễ dàng trả lời các câu hỏi của sách giáo khoa

Trang 30

thì việc tìm hiểu chỉ dựa vào các câu hỏi đó sẽ là chưa đủ Chẳng hạn, ở bài “ Việt Bắc”, sách giáo khoa ban cơ bản có xây dựng được bốn câu hỏi như sau:

1.Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ và phân tích sắc thái tâm trạng, lối đối đáp của nhân vật trữ tình trong đoạn trích

2 Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên như thế nào?

3 Khung cảnh hùng tráng của Việt bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chíên đã được Tố hữu khắc hoạ ra sao?

[ 90, tr 114 ]

Xét về mặt số lượng, cả một bài học kéo dài hai tiết chỉ có bốn câu hỏi nói trên sẽ là quá ít Nếu sử dụng nguyên si các câu hỏi này thì công việc chính của giáo viên vẫn là thuyết giảng một chiều Nhiệm vụ chính của học sinh vẫn là ngồi nghe và tiếp thu thụ động Về mặt nội dung, còn rất nhiều vấn đề cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu chưa được đề cập tới như: chủ đề bài thơ, nhận diện và đánh giá các biện pháp nghệ thuật, chỉ ra đâu là những điểm sáng thẩm mĩ của bài thơ và giá trị biểu đạt của chúng, đặc điểm về chất nhạc trong bài thơ, liên hệ tác phẩm với đời sống thực tế… Như vậy, câu hỏi sách giáo khoa cũng chỉ là những đinh hướng ban đầu Cho nên dù các em học sinh có thông minh đến đâu

và dễ dàng trả lời các câu hỏi của sách giáo khoa thì việc tìm hiểu chỉ dựa vào các câu hỏi đó sẽ là chưa đủ

Tuy nhiên, nếu giáo viên thoát li hoàn toàn câu hỏi sách giáo khoa thì càng không ổn vì đó là những gợi ý cơ bản cho học sinh tìm hiểu tác phẩm từ trước

Bỏ qua những Câu hỏi này là bỏ qua sự chuẩn bị bài ở nhà từ trước của học sinh

Trang 31

Với bản thân người giáo viên, nhất là những giáo viên mới ra trường thì đây là một nền tảng vững chắc để có thể phát triển bài giảng của mình

Trang 32

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CÂU HỎI SÁCH GIÁO KHOA THÀNH CÂU HỎI GIÁO VIÊN TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH LỚP 12

2.1.Những nguyên tắc phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi của giáo viên

- Cần có sự chuẩn bị kĩ càng: Nếu câu hỏi sách giáo khoa là trách nhiệm

của người soạn sách thì câu hỏi lên lớp là trách nhiệm của người giáo viên Chuẩn bị kĩ càng trước khi lên lớp bao giờ cũng đem lại hiệu quả cao Tìm tòi và xây dựng cho được một hệ thống câu hỏi có chất lượng tốt khó hơn nhiều so với việc diễn giảng một chiều Nói ra những điều mình hiểu dễ dàng hơn nhiều so với việc hướng dẫn người khác cách thức suy nghĩ để đi đến những điều mình hiểu để người học tự nhận ra kiến thức Do vậy, chuẩn bị hệ thống câu hỏi cho

giờ lên lớp phải là một quá trình công phu

- Có tính linh hoạt: Mặc dù hệ thống câu hỏi trong giáo án đã có sự chuẩn bị kĩ

càng nhưng không phải lúc nào cũng phù hợp với hoàn cảnh giờ học cụ thể và đem lại hiệu quả cao Do vậy, nếu bê nguyên, dập khuôn hệ thống câu hỏi vào giờ dạy sẽ là không hợp lí Giờ học có biết bao biến thiên, luôn phát sinh những tình huống bất ngờ, đòi hỏi giáo viên phải biết điều chỉnh kịp thời Chẳng hạn, khi giáo viên đưa ra câu hỏi mà học sinh không trả lời được, đương nhiên cần phải đưa thêm các gợi dẫn hoặc chẻ nhỏ câu hỏi ra thành những yâu cầu đơn giản hơn Ngược lại, khi nhận thấy học sinh phát hiện nhanh vấn đề hơn dự định trong giáo án, chúng ta có thể rút gọn, bỏ bớt yếu tố gợi dẫn để phát huy tính tự lực và sáng tạo trong suy nghĩ của các em

- Có tính gợi dẫn: Dù học sinh ở mức độ nhận thức như thế nào thì nhìn chung

khi đứng trước một tác phẩm văn học, nhất là tác phẩm thơ hàm súc và đa nghĩa

Trang 33

thì việc khám phá những phương diện nội dung và nghệ thuật của nó không phải

là điều dễ dàng, đơn giản Bởi vậy, nhất thiết phải có sự chỉ dẫn, gợi ý của giáo viên Những tư kiệu đó giáo viên có thể cung cấp trước khi đưa ra câu hỏi hoặc lồng ghép với câu hỏi Những gợi ý đó chính là nền tảng, đòn bẩy cho hoạt động học của các em diễn ra có hiệu quả

- Câu hỏi huy động, vận dụng được vốn hiểu biết vốn có của học sinh: Hiểu biết

vốn có của học sinh bao gồm hai phương diện cuộc sống và văn học Hiểu biết

về văn học nhờ quá trình học ở cấp dưới và nhờ việc đọc, tìm hiểu từ bên ngoài Hiểu biết về cuộc sống nhờ quá trình quan sát, tìm hiểu, suy ngẫm về cuộc sống Đây là điều quan trọng khi tìm hiểu một tác phẩm trữ tình Vốn hiểu biết càng phong phú bao nhiêu thì quá trình tiếp cận càng diễn ra thuận lợi bấy nhiêu Tuy nhiên, do thiếu kinh nghiệm, do hạn chế về kĩ năng huy động kiến thức và áp dụng những hiểu biết vốn có vào hoạt động học cho nên các em chưa phát huy được tiềm năng kiến thức của mình Nhiệm vụ của giáo viên là đặt ra các vấn đề

để các em suy ngẫm, tìm ra mối liên hệ giữa cái đã biết và cái cái chưa biết Từ

đó dùng cái đã hiểu để làm sáng tỏ cái chưa hiểu Đặc biệt trong việc làm bài văn nghị luận rất cần kĩ năng so sánh đối chiếu

- Câu hỏi được đưa ra cần tuân theo mạch logic, gợi được cái hồn, cái điệu riêng của tác phẩm Mỗi tác phẩm có một mạch cảm xúc và mạch logic riêng

cho dù có cùng đề tài, chủ đề đi nữa Đi tìm hiểu tác phẩm là phải tuân theo mạch cảm xúc, mạch logic của nó Đương nhiên câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu bài cũng phải tuân thủ điều đó Hơn thế, các câu hỏi còn giúp các em biết cách làm thế nào để tìm và nhận ra mạch cảm xúc, mạch logic của tác phẩm Mỗi tác phẩm trữ tình, nhất là những tác phẩm được chọn lọc trong sách giáo khoa đều là đặc sắc Bởi thế bao giờ mỗi sinh thể nghệ thuật cũng có những cảm xúc và cách

Trang 34

thể hiện riêng biệt Đó chính là cái hồn, cái điệu riêng mà người đọc phải gọi ra được Nếu không thì bài “đất nước” của Nguyễn Đình Thi và “đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm cũng chẳng khác gì nhau vì đều viết về đề tài “đất nước”

- Câu hỏi phải phù hợp với đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh Đối với

học sinh THPT, các em ở độ tuổi 15 đến 18 Tuy nhiên ở từng lớp học, từng vùng miền mà đặc điểm tâm lí, nhận thức có sự khác biệt đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt theo từng hoàn cảnh Trình độ nhận thức của học sinh càng yếu bao nhiêu thì hệ thống câu hỏi càng phải công phu bấy nhiêu

- Bám sát và vận dụng linh hoạt câu hỏi sách giáo khoa Câu hỏi sách giáo khoa

hướng vào những vẫn đề trọng tâm của bài học cho nên việc bám sát các câu hỏi này góp phần đảm bảo nội dung bài học, đảm bảo chuẩn về mặt kiến thức Tuy nhiên không phải câu hỏi nào cũng phù hợp với mọi đối tượng học sinh và điều kiện thực tế giờ học Cho nên việc vận dụng linh hoạt là điều cần thiết chứ không thể coi sách giáo khoa là khuôn vàng thước ngọc

- Dù phát triển như thế nào cũng phải xoáy vào trọng tâm bài học và phù hợp với đặc trưng của thơ trữ tình Việc này không hề đơn giản nhất là với các em

học sinh bởi lẽ văn bản thơ trữ tình rất khó tiếp cận Thơ trữ tình là một phiến đoạn cảm xúc: Niềm hứng khởi ngây ngất trong tâm hồn, phút thăng hoa tràn đầy niềm vui, nỗi buồn hay những suy tư bộc phát ngập tràn dòng ngô gôn từ…Ngôn nữ thơ ca vừa hàm súc, đa nghĩa hướng vào chiều sâu tâm hồn con người với những ngõ ngách sâu kín nhất Điều cốt yếu là bám sát vào cái tôi trữ tình với nhiều phương diện bộc lộ của nó

- Câu hỏi phải lôi cuốn được học sinh tham gia một các tự nguyện, khơi dậy được hứng thú học tập nơi các em Giáo viên đừng nên biến những câu hỏi cỉa

mình thành các mệnh lệnh giáo điều mà là lời mời gọi hứa hen những điều lí thú

Trang 35

để học sinh có một tâm thế tốt, bước vào tìm hiểu tác phẩm với niềm khao khát…Bởi vì mợi sự thành công đều xuất phát từ niềm đam mê, yêu thích Có vậy người học mới ham học hỏi, mày mò, cũng nhờ đó mà dễ dàng khám phá được tri thức

- Khi đưa ra câu hỏi, giáo viên cần “ giả vờ ngốc nghếch” để học sinh phát huy

hiểu biết của mình Có nghĩa là hỏi về những điều mình biết rõ nhưng lại giả vờ như không biết gì

- Câu hỏi phải được kết hợp với ngữ điệu sinh động trong quá trình lên lớp của giáo viên Như đã nói, hoạt động dạy học của người giáo viên như một người

nghệ sĩ đa năng và ở bất kì công đoạn nào, người giáo viên cũng có vai trò quan trọng cho sự thành công của vở diễn Trong khi lên lớp đưa ra các câu hỏi thì người giáo viên chính là một diễn viên trình bày tác phẩm mà mình biên soạn

Vở diễn có hay đến đâu nhưng diễn xuất kém thì chất lượng của nó cũng sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều Cho nên, đây là khâu không thể xem thường Giáo viên tuỳ theo mạch cảm xúc của tác phẩm mà có ngữ điệu cho phù hợp khi lên bổng, lúc xuống trầm “đánh thức” hoạt động tư duy của các em chứ không phải đề đều như

ru ngủ học sinh Chính giọng điệu là một yếu tố quan trọng góp phần lôi cuốn học sinh vào tìm hiểu bài học Các em trở nên chú tâm hơn với đặc điểm của nhân vật trong tác phẩm và lời giảng của thầy cô

2.2 Mô hình câu hỏi trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình

Ở phần này, chúng tôi tiến hành tìm tòi, nghiên cứu để rút ra mẫu số chung cho việc xây dựng câu hỏi trong dạy học thơ trữ tình Có nghĩa là dù giáo viên dạy bài nào, dạy như thế nào tuy con đường đi là khác nhau nhưng vẫn phải hướng tới đích chung Theo chúng tôi, khi xây dựng câu hỏi cho dạy học một bài thơ trữ tình chung ta nên đi vào những vấn đề cơ bản sau đây

Trang 36

2.2.1 Hệ thống câu hỏi khai thác những yếu tố ngoài văn bản

2.2.2.1 Câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tác giả

Đối với nội dung này, kến thức đã có sẵn trong sách giáo khoa nên học sinh không quá khó khăn để tìm ra vấn đề Mấu chốt là các em phải tóm lược được những ý cơ bản, then chốt khi tìm hiểu bất cứ một tác giả văn học nào Giáo viên cần đưa ra những đề mục cơ bản để các em dựa vào đó mà tóm tắt Câu hỏi thông thường là :1 Em hãy nghiên cứu sách giáo khoa và rút ra những nét chính

về cuộc đời tác giả trên những phương diện sau: Họ tên đầy đủ, năm sinh, năm mất; quê hương; gia đình; bản thân? 2 Kể tên những tác phẩm chính và đặc điểm rút ra từ những tác phẩm đó.? Đồng thời thấy được ảnh hưởng của hoàn cảnh xuất thân đến con người và sự nghiệp sáng tác Ngoài ra giáo viên có thể yêu cầu học sinh đưa ra những hiểu biết vốn có về tác giả để hiểu sâu sắc hơn về người thân sinh ra đứa con tinh thần là tác phẩm Nhiệm vụ của hệ thống câu hỏi này là giúp học sinh nhìn ra được mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm

2.2.2.2.Câu hỏi về hoàn cảnh ra đời bài thơ

Hoàn cảnh ra đời cũng là một yếu tố ảnh hưởng và chi phối đến bài thơ ở nhiều khía cạnh Hoàn cảnh ra đời bài thơ bao gồm hoàn cảnh rộng và hoàn cảnh hẹp Hoàn cảnh rộng là điều kiện lịch sử xã hội và hoàn cảnh hẹp là bối cảnh trực tiếp

ra đời bài thơ.Câu hỏi thông thường là: Bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh nào

? Hoàn cảnh đó tác động như thế nào đến tâm hồn nhà thơ? Câu hỏi này hướng dẫn học sinh giải quyết mối quan hệ giữa tác phẩm và thời đại

2.2.2 Hệ thống câu hỏi khai thác những yếu tố của văn bản

Đây là phần trọng tâm của bài học đòi hỏi nhiều tâm lực và hết sức công phu của người giáo viên Mọi câu hỏi đều xoay quanh diễn biến tâm trạng nhân vật trữ tình đồng thời phát hiện được những sáng tạo độc đáo của tác giả trên mọi

Trang 37

phương diện của tác phẩm Tuy nhiên để hiểu được tâm trạng của nhân vật trữ tình thì cần phải bóc tách được lớp vỏ ngôn ngữ với những biểu hiện sinh động của nó Nổi bật hơn cả khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản thơ trữ tình là những vấn đề sau đây

2.2.2.1 Câu hỏi tìm hiểu nhan đề, bố cục, chủ đề, thể thơ

Đây là những vấn đề đầu tiên, có tính chất bề nổi trên câu chữ mà học sinh không quá khó khăn cũng không quá dễ dàng trong việc tìm ra Cho nên, giáo viên cũng cần có những gợi ý dẫn dắt học sinh suy nghĩ qua hệ thống câu hỏi

Đối với nhan đề bài thơ “ như một ngọn đèn mờ vì nó được pha sắc trong

bảng màu xanh, đỏ, trắng, tím, vàng Ánh sáng mờ vì nó muốn tự giấu đi một cái

gì đó chưa nói hết” [ 28, tr 131] Đặt nhan đề phù hợp là một dụng công của tác giả Mặc dù là ngọn đèn mờ nhưng dẫu sao đó vẫn là ánh sáng cho nên chúng ta vẫn có thể phần nào hiểu về tác phẩm Những góc khuất, những chỗ còn mơ hồ của tác phẩm người đọc sẽ được sáng tỏ qua việc tìm hiểu bài thơ Tùy từng bài thơ với độc đáo và giá trị biểu đạt khác nhau của nhan đề mà giáo viên có thể hỏi theo những cách khác nhau Thông thường là: Em có nhận xét gì về nhan đề bài thơ? Nhan đề đó gợi cho em liên tưởng đến điều gì? Tại sao tác giả không đặt nhan đề là thế này mà lại đặt là thế kia? ( Tại sao không đặt là “sông dài” mà lại đặt là “tràng giang”) Cách đặt nhan đề đó của tác giả có dụng ý gì?

Sau khi tìm hiểu nhan đề, giáo viên cần đưa ra các câu hỏi hướng sự chú ý của

các em vào kết cấu của bài thơ Việc tìm ra kết cấu là cần thiết nhưng không hề

đơn giản Không tìm ra được một kết cấu hợp lí đồng nghĩa với việc không chỉ ra được mạch vận động của chủ thể trữ tình mà đây lại là một trong những nội dung cốt lõi của việc tìm hiểu tác phẩm thơ Đối với nội dung này, giáo viên có thể đi thẳng vào vấn đề như sau: Theo em, bài thơ có thể chia thành mấy phần? Nội

Trang 38

dung chính của từng phần và mối liên hệ giữa các phần đó? Bám sát vào kết cấu giúp chúng ta hiểu được mạch tâm trạng của chủ thể trữ tình

Tiếp theo, giáo viên cần hướng học sinh suy nghĩ về chủ đề bài thơ Đọc

xong một bài thơ các em cần tự đặt ra một câu hỏi: Nội dung chính của tác phẩm nói về vấn đề gì? Sau đó tự suy nghĩ và tìm câu trả lời cho câu hỏi đó Đây là yêu cầu tối thiểu đầu tiên của hoạt động tiếp cận văn bản Nhưng không phải học sinh nào cũng ý thức được điều đó cho nên giáo viên cần nhắc lại câu hỏi yêu cầu hoạt động nói trên trong nhiều bài học khác nhau góp phần hình thành thói quen trong suy nghĩ của các em

Thể thơ cũng là một khía cạnh mà hoạt động tiếp cận cần chú ý Việc sử lựa

chọn thể thơ của tác giả có dụng ý nhất định Người đọc cần chỉ ra được ý nghĩa của việc sử dụng thể thơ Nên giáo viên cần hỏi là: Xác định thể thơ được sử dụng ở đây? Việc sử dụng thể thơ đó có ý nghĩa gì? Chẳng hạn việc sử dụng thể thơ lục bát thường tạo ra giọng điệu trầm lắng, kéo dài do tất cả các âm tiết cuối đều mang thanh bằng, nhất là các vần của nó thường khơi vào những cảm xúc đằm thắm và sâu lắng trong lòng người Cho nên thơ lục bát dễ đọc, dễ nhớ, dễ

đi vào lòng người…

2.2.2.2 Hệ thống câu hỏi tìm hiểu những hình nghệ thuật đặc sắc

* Thứ nhất: Hệ thống câu hỏi tìm hiểu về tính nhạc

Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều bài thơ được chuyển thể thành bài hát, bởi lẽ thơ rất giàu nhạc điệu Tính nhạc là đặc trưng cực kì quan trọng của tác phẩm thơ Nhịp thơ góp phần thể hiện nhịp của con tim Chất nhạc chính là nét duyên thầm trong thơ càng khám phá càng thấy say đắm Nó có sức lôi cuốn

người đọc, tạo sự đam mê cho nên Lafontaine nói “ chẳng có thơ nào không có

Trang 39

nhạc” Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về tiết tấu, giàu từ

láy âm, tượng hình chính là thứ ngôn ngữ giàu tính nhạc

Tính nhạc trong tác phẩm trữ tình được tạo nên bởi nhiều yếu tố ở trình độ của các em học sinh khó có thể hiểu hết được Cho nên khi tìm hiểu tác phẩm, giáo viên chỉ cần hướng dẫn học sinh những phương diện cơ bản, cần thiết và dễ hiểu Dưới đây là ba phương diện cơ bản bộc lộ nhạc tính trong thơ:

- Vần: Là sự lặp lại những âm thanh tương tự để tạo chỗ dựa cho nhạc tính Vần

có hai dạng là vần chân và vần lưng Ví dụ trong bài “ Tây Tiến” sử dụng cách gieo vần chân “ơi” ngoài việc giúp bài thơ giàu nhạc tính dễ đọc, dễ nhớ dễ đi vào lòng người còn góp phầm thể hiện tư tưởng tình cảm của tác phẩm

- Thanh điệu: Thơ Việt Nam thường chia thành hai nhóm lớn là nhóm vần bằng

và nhóm vần trắc Vần bằng có thanh huyền và thanh ngang Vần trắc bao gồm các thanh còn lại ( Hỏi, sắc, ngã, nặng)…Khi có sự luân phiên theo một chu kì nhất định sẽ tạo nên tiết tấu của thơ

Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu khổ thơ số 1 trong bài thơ “ Tây Tiến” giáo viên có thể hỏi là “ Em hãy nhận xét về thanh điệu của các câu thơ? Tác dụng của việc sử dụng thanh điệu ở đây?”

Việc sử dụng thiên về thanh bằng cũng làm cho bài thơ giàu nhạc tính hơn Đối với vấn đề này, giáo viên có thể hỏi học sinh là: Em có nhận xét gì về thanh điệu, cách hiệp vần, sự đối xứng? Điều đó có ý nghĩa gì đối với chất nhạc trong bài thơ?

- Sự đối xứng trong cách ngắt nhịp: Điều này tạo cho câu thơ, đoạn thơ sự cân

đối, hài hoà Chính đây là nhân tố làm tăng chất nhạc cho bài thơ Chẳng hạn trong bài “ Việt Bắc” với cách ngắt nhịp đối xứng:

“ Miếng cơm chấm muối / mối thù nặng vai

Trang 40

…Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son”

Cách ngắt nhịp như trên tạo cho đoạn thơ nhạc điệu ngân nga trầm bổng Tác dụng của chất nhạc trong thơ nói chung là tạo cho cho lời thơ một nét duyên thầm, dễ đọc, dễ nhớ khơi vào mạch cảm xúc sâu lắng trong lòng người

* Thứ hai: Câu hỏi về những từ ngữ và hình ảnh độc đáo

Nếu chất liệu để xây dựng một tác phẩm hội hoạ là màu sắc, đường nét của

âm nhạc là âm thanh, nhịp điệu thì chất liệu của văn học là ngôn từ Ngôn ngữ thơ có đặc điểm riêng, có vị trí đặc biệt Đó là thứ ngôn ngữ được lựa chọn, gọt rũa và được tổ chức tài tình, tinh tế Trình độ sử dụng ngôn ngữ là một phương diện quan trọng để đánh giá tài năng của nhà thơ và giá trị tác phẩm Các tác giả làm thơ là gạn đục, khơi trong tìm về những giá trị tinh khiết nhất của ngôn ngữ

Từ ngữ là bức mành quan trọng cần vén để đi vào khám phá giá trị tác phẩm Cho nên phân tích thơ phải trên tinh thần “ sợi tóc chẻ làm tư”, phải khai thác mọi hàm ý mà từ ngữ ấy tạo ra Đặc biệt chỉ ra được sự độc đáo trong việc sử dụng ngôn ngữ của bài thơ Dù hỏi theo cách nào giáo viên cũng phải giúp học sinh bật lên được nhận thức đó

Ngôn ngữ là chất liệu xây dựng tác phẩm trữ tình, người đọc thông qua ngôn ngữ mà tái tạo lại hình tượng đồng thời tìm ra những giá trị độc đáo của tác phẩm Tuy nhiên, mọi từ ngữ được sử dụng trong bài thơ không phải lúc nào cũng có giá trị như nhau mà tập trung nhiều hơn ở một số từ, cụm từ gọi là những điểm sang thẩm mĩ Nếu tất cả ngôn từ của tác phẩm tạo thành con đường dẫn người đọc đi vào thế giớ nghệ thuật của nhà thơ thì điểm sáng thẩm mĩ chính

là những tấm biển chỉ đường giúp người đọc đi đúng hướng

Việc xác định những điểm sáng thẩm mĩ không quá khó nhưng cũng không hề đơn giản đối với các em học sinh, phải được thục luyện nhiều lần Trong các câu

Ngày đăng: 20/12/2014, 23:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Huy Bắc ( chủ biên). Ngữ văn ôn thi tốt nghiệp và tuyển sinh quốc gia, NXB Đại học quốc gia 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn ôn thi tốt nghiệp và tuyển sinh quốc gia
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2009
4. Bộ giáo dục và đào tao. Tài liệu bồi dưỡng môn ngữ văn 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng môn ngữ văn
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tao
Năm: 2011
16. Trần Thanh Đạm ( chủ biên). vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại, NXB giáo dục 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1971
17. Nguyễn Đăng Điệp.Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB văn học,2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB văn học
Năm: 2002
21. Phùng Thị Hằng. Đề cương bài giảng tâm lí học lứa tuổi học sinh, 2008 22. Hêghen. Mĩ học. NXB Hà Nội. 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học
Tác giả: Hêghen
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1999
25. Đỗ Văn Hiểu. Đi dưới “tấm biển biển chỉ đường” của văn bản, văn học và tuổi trẻ số 140, tháng 6- 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tấm biển biển chỉ đường
26.Nguyễn Trọng Hoàn. Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương. NXB Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
37.I.Ia Lecne: Dạy học nêu vấn đề, NXB Giáo dục, H. 1977 ( dịch từ tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học nêu vấn đề
Tác giả: I.Ia Lecne
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1977
39.Lê Xuân Lít. Hỏi và đáp văn chương trong nhà trường, NXB ĐHQG Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp văn chương trong nhà trường
Tác giả: Lê Xuân Lít
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2007
41.Lê Thị Xuân Liên. Một số nguyên tắc xây dựng câu hỏi khi thiết kế một bài học theo định hướng đổi mới, tạp chí giáo dục số 171, 9- 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nguyên tắc xây dựng câu hỏi khi thiết kế một bài học theo định hướng đổi mới
Tác giả: Lê Thị Xuân Liên
Nhà XB: tạp chí giáo dục
Năm: 2007
44. Phan Trọng Luận( chủ biên). Sách giáo viên ngữ văn 12 tập một, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên ngữ văn 12 tập một
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
45. Phan Trọng Luận( chủ biên). Thiết kế bài học ngữ văn 12 tập một Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học ngữ văn 12 tập một
Tác giả: Phan Trọng Luận
51. Đỗ Quang Lưu.Nghiên cứu và phê bình văn học chọn lọc, tập 4, NXB Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và phê bình văn học chọn lọc, tập 4
Tác giả: Đỗ Quang Lưu
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2000
53. Vũ Nho. Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong giảng văn ở trường THCS, NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong giảng văn ở trường THCS
Tác giả: Vũ Nho
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
66. Phạm Toàn. Công nghệ dạy văn. NXB Lao động, 2006. Cần Văn Thái. Quan niệm đúng về sự chủ động sáng tạo, GD &T Đ, 17-9-2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ dạy văn
Tác giả: Phạm Toàn
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2006
70. www. Evan.com. Trao đổi với nhà thơ Thanh Thảo về bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàn ghi ta của Lor-ca
Tác giả: Thanh Thảo
71.www.youtobe.com/watch.Phạm Gia Mạnh. Tìm hiểu bài thơ “ Tây Tiến” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu bài thơ “ Tây Tiến”
Tác giả: Phạm Gia Mạnh
72. www.youtobe.com/watch.Phạm Gia Mạnh. T ìm hiểu bài “ sóng” 73 www.youtobe.com/watch. Hà Phương Minh. Cảm nhận về bài “đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm Sách, tạp chí
Tiêu đề: sóng” 73 www.youtobe.com/watch. Hà Phương Minh. Cảm nhận về bài “đất nước
74. www.youtobe.com/watch. Nguyễn Lan Nhi . Việt Bắc- Bức tranh tứ bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Bắc- Bức tranh tứ bình
Tác giả: Nguyễn Lan Nhi
1. Lê Bảo. Thơ Việt Nam tác giả, tác phẩm, lời bình, , NXB Giáo dục 2003 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tượng này? - phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi giáo viên trong dạy học tác phẩm trữ tình lớp 12
Hình t ượng này? (Trang 73)
Hình tượng chủ đạo của bài thơ? - phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi giáo viên trong dạy học tác phẩm trữ tình lớp 12
Hình t ượng chủ đạo của bài thơ? (Trang 77)
Hình  ảnh  bông  hoa  đong  đưa  giữa - phát triển câu hỏi sách giáo khoa thành câu hỏi giáo viên trong dạy học tác phẩm trữ tình lớp 12
nh ảnh bông hoa đong đưa giữa (Trang 96)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm