LÊ VĂN DƯƠNG PHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH VAI TRÒ GÂY BỆNH CỦA ESCHERICHIA COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON TẠI MỘT SỐ HUYỆN CỦA TỈNH BẮC GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 1LÊ VĂN DƯƠNG
PHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH VAI TRÒ GÂY BỆNH CỦA
ESCHERICHIA COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở
LỢN CON TẠI MỘT SỐ HUYỆN CỦA TỈNH BẮC GIANG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Chuyên ngành: Thú Y
Mã số: 60 62 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS NGUYỄN QUANG TUYÊN
PGS.TS CÙ HỮU PHÚ
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2LÊ VĂN DƯƠNG
PHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH VAI TRÒ GÂY BỆNH CỦA
ESCHERICHIA COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở
LỢN CON TẠI MỘT SỐ HUYỆN CỦA TỈNH BẮC GIANG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bắc Giang là tỉnh có nghề chăn nuôi phát triển đem lại nguồn thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình, ngày 17/08/2005 chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang
đã ban hành Quyết định số 61/2005/QĐ- UB về việc ban hành Quy định một
số chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển Chăn nuôi - Thú y thời kỳ 2006 - 2010 trên địa tỉnh Bắc Giang Do vậy, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện nhiều dự án nạc hoá đàn lợn, hỗ trợ con giống, đưa nái ngoại vào chăn nuôi ở các nông hộ Theo báo cáo thống kê chăn nuôi năm 2009 của Sở Nông nghiệp và PTNT tổng đàn lợn của tỉnh đạt 1.133.188 con; trong đó, đàn lợn nái là 191.957 con
và đàn lợn thịt là 939.809 con Trên địa bàn tỉnh có 430 trại chăn nuôi lợn tập trung với quy mô trang trại 20 nái và 100 lợn thịt trở lên Đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn nuôi lợn của tỉnh, góp phần phát triển chăn nuôi lợn bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn có sức cạnh tranh cao trên thị trường Tuy nhiên, song song với sự phát triển chăn nuôi thì tình hình dịch bệnh cũng đang diễn biến hết sức phức tạp, hàng năm làm chết nhiều đầu lợn của tỉnh Theo báo cáo dịch tễ của Chi cục Thú y[5] năm 2007 toàn tỉnh có 79.430 con lợn bị ốm trong đó 7.620 con chết; năm 2008 có 71.671 con lợn bị ốm và 5.100 con chết; năm 2009 có 88.036 con lợn bị ốm và 5.970 con chết, gây thiệt hại lớn về kinh tế, hay gặp và phổ biến là hội chứng tiêu chảy ở lợn con
dưới 2 tháng tuổi, trong đó vi khuẩn E.coli được đánh giá là nguyên nhân gây
phân lập vi khuẩn E.coli từ các mẫu phân của lợn từ 35 ngày đến 4 tháng tuổi
bị tiêu chảy đã xác định được 60/70 mẫu có vi khuẩn E.coli, chiếm tỷ lệ
85,71% Lý Thị Liên Khai (2001)[22] cũng phân lập được 42 mẫu phân có vi
khuẩn E.coli trong tổng số 50 mẫu phân lợn con bị tiêu chảy, chiếm tỷ lệ
Trang 4E.coli từ các mẫu phân của lợn bị tiêu chảy, đã xác định được 259/325 mẫu có
vi khuẩn E.coli chiếm tỷ lệ 79,69% Trong khi đó, Nguyễn Thị Kim Lan (2004)[23] phân lập E.coli từ các mẫu phân lợn bị bệnh phù đầu ở 2 tỉnh Bắc Giang và
Thái Nguyên, đã thông báo có 100% mẫu phân của lợn bị tiêu chảy và phù
đầu phân lập được vi khuẩn E.coli
từ tháng 5 đến tháng 8 (Hoàng Văn Tuấn và cs, 1998)[70] Trong năm, lợn nuôi ở mùa xuân và mùa hè mắc tiêu chảy cao hơn so với hai mùa còn lại (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006b)[25] Đặc biệt lợn con thường bị tiêu chảy khi thời tiết thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm, mưa phùn…) kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress; lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của lợn mẹ thiếu, không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng
Tổng hợp báo cáo dịch tễ hàng năm của Trạm thú y các huyện, thành phố trong tỉnh cho thấy bệnh tiêu chảy ở lợn hai năm 2007 và 2008 xảy ra phổ biến chiếm tỷ lệ 60% so với tổng số các ca bệnh thường gặp ở lợn, riêng năm
2009 số lợn mắc bệnh tiêu chảy là 62.151 con / 88.036 con mắc các ca bệnh thông thường (chiếm tỷ lệ 71%) Khi áp dụng các phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn do tính kháng thuốc của vi khuẩn cao nên kết quả điều trị rất thấp
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài:
“Phân lập, xác định vai trò gây bệnh của Escherichia coli (E.coli) trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang
và biện pháp phòng trị”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới hai tháng tuổi tại một số huyện thuộc tỉnh Bắc Giang
- Xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli trong hội chứng tiêu
chảy ở lợn
Trang 5- Xây dựng và đề xuất phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con đạt hiệu quả cao
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài là một công trình nghiên cứu có hệ thống, lý luận gắn liền với
thực tiễn sản xuất, chứng minh vai trò của vi khuẩn E.coli trong hội chứng
tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi tại tỉnh Bắc Giang
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo như phục vụ cho công tác bào chế các chế phẩm sinh học phòng bệnh (vác xin, kháng thể…), đồng thời đóng góp thêm tư liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy, cho cán bộ thú y cơ sở và người chăn nuôi
- Kết quả nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con có hiệu quả cao sẽ giúp cho thú y cơ sở, người chăn nuôi trong phòng trị bệnh, góp phần giảm thiệt hại và tăng thu nhập trong chăn nuôi lợn
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY
1.1.1 Khái niệm về hội chứng tiêu chảy
Tiêu chảy là thuật ngữ để chỉ hiện tượng đại tiện phân lỏng, được mô
tả phân lỏng, nhiều nước hoặc có máu, mủ
Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch (Phạm Ngọc Thạch, 1996)[58] Hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh đặc thù (Arche.H, 2000)[2]
Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến bệnh, hoặc loài gia súc, hoặc nguyên nhân chính gây bệnh mà hội chứng tiêu chảy được gọi bằng tên khác nhau như bệnh xảy ra đối với gia súc non theo mẹ, gọi là bệnh lợn con ỉa phân trắng, hay bê nghé ỉa phân trắng,… còn ở gia súc sau cai sữa là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hoá, hoặc hội chứng rối loạn tiêu hoá Nếu xét về nguyên nhân chính gây bệnh thì có các tên gọi như bệnh Colibacillosis do vi
khuẩn E.coli gây ra, bệnh phó thương hàn lợn do vi khuẩn Samonella
Cholerae Suis gây ra, bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do Coronavirus gây ra …
Thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể nhưng khi cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 đến 6 lần trở lên) và nước trong phân từ 75% trở lên gọi là hiện tượng tiêu chảy Tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây
ra đồng thời nên gọi là hội chứng tiêu chảy Cho dù do bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả nghiêm trọng là mất nước, mất chất điện
Trang 7giải và kiệt sức, những gia súc khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn
Đặc biệt khi gia súc bị tiêu chảy nặng kèm hiện tượng viêm nhiễm, tổn
thương thực thể đường tiêu hóa dẫn đến gia súc có thể chết với tỷ lệ cao, gây
thiệt hại lớn về kinh tế
1.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn con
1.1.2.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Ở gia súc non sau khi sinh ra , chức năng của các cơ quan trong cơ thể
nhất là cơ quan tiêu hóa chưa hoàn chỉnh , nồng độ HCl và các men tiêu hóa
chưa đảm nhiệm đầy đủ chức năng tiêu hóa , rất dễ gây rối loạn trao đổi chất ,
hậu quả dễ nhận biết là rối loạ n tiêu hóa, gây tiêu chảy , còi cọc, thiếu máu và
chậm lớn Trong dịch vị của gia súc non chưa có đủ axit HCl tự do nên không
hoạt hóa được men pepsin vì vậy không tiêu hóa hết sữa mẹ , trong khi đó sữa
mẹ lại là môi trường ph át triển tốt của nhiều loại vi khuẩn
Cù Xuân Dần và cs (1996)[7] cho rằng trong dịch vị của lợn con dưới 1
tháng tuổi không có HCl tự do, vì lúc này axit tiết ra ít và nhanh chóng liên
kết với dịch nhầy Do vậy, vi sinh vật có điều kiện phát triển và gây bệnh
viêm dạ dày, viêm ruột ở lợn con
Ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày , đây được coi là giai
đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên Chính nhờ sự thích ứng này , cơ thể lợn con
mới có khả năng hấp thu được kh áng thể miễn dịch qua sữa đầu Trong giai
đoạn này thì dịch vị lại không có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có hoạt
tính làm vón sữa đầu và sữa nên a lbumin và globulin được chuyển xuống ruột
và thẩm thấu vào máu, nhưng khi lợn trên 15 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở
dạ dày không còn là sự cần thiết sinh lý bình thường nữa Việc tập ăn cho lợn
con sớm và cai sữa sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl , hoạt hóa hoạt
động tiết dịch, giúp tăng khả năng tạo các đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Giai đoạn sau cai sữa sẽ là một giai đoạn khó khăn đối với lợn con khi
chuyển từ sữ a mẹ sang thức ăn tổng hợp (dạng rắn ) Điều đó có thể gây mất
Trang 8cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại phát
triển và cũng là nguyên nhân gây ra bệnh , dẫn đến kết quả là lợn con chậm lớn và có thể chết
Ngoài ra , lợn con còn chịu nhiều tác động của lợn mẹ , sự thay đổi ngoại cảnh cũng góp phần làm tăng stress của lợn con
1.1.2.2 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con
Là khả năng của cơ thể đáp ứng lại cá c kích thích của mầm bệnh khi xâm nhập vào cơ thể Ở gia súc non , mầm bệnh có nhiều thuận lợi khi xâm nhập vào cơ thể Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết ra còn ít nên chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa , gây rối loạn trao đổi chất , tiêu hóa kém , hấp thu kém Chính vì vậy , ở giai đoạn này
mầm bệnh như Salmonella, E.coli… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường
tiêu hóa và gây bệnh cho lợn con
Ngoài ra, ở gia súc non các yếu tố mi ễn dịch không đặc hiệu như bổ thể, protein liên kết , lysozym được tổng hợp còn ít , phản ứng của đại thực bào rất yếu , vì thế ở gia súc non không những chưa có kháng thể đặc hiệu mà kháng thể không đặc hiệu cũng rất yếu Chính vì vậy lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết để tăng sức bảo vệ cơ thể, chống lại mầm bệnh
Do cấu tạo đặc biệt của gia súc non nên tiêu chảy thường xảy ra ở giai đoạn lợn con tập ăn và cai sữa Bên cạnh đó còn một yếu tố quan trọng nữa là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột của gia súc non , việc cân bằng hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột như thế nào để khắc phục , hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể gia súc non là rất quan trọng
Để nuôi dưỡng tốt và hạn chế được hội chứng tiêu chảy ở lợn con cần tiêm phòng cho lợn mẹ và tạo cho gia súc non điều kiện sống tốt , tránh các yếu tố bất l ợi tác động vào cơ thể như c hế độ ăn uống không hợp lý , khẩu
Trang 9phần thức ăn không đảm bảo dinh dưỡng , ăn không đúng giờ , thời tiết thay đổi đột ngột, chế độ chăm sóc không thích hợp sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gây bệnh
1.1.3 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn
Theo Lê Minh Chí (1995)[6], Phạm Ngọc Thạch (1996)[58] tiêu chảy
là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Vì vậy việc phân biệt rạch ròi giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn
Phạm Sỹ Lăng (2009)[31] tiêu chảy ở lợn là biểu hiện lâm sàng của nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau như virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, thời tiết, môi trường ngoại cảnh, độc tố
1.1.3.1 Do môi trường ngoại cảnh
Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây bệnh dịch, mối quan hệ giữa Cơ thể - Mầm bệnh - Môi trường là nguyên nhân của sự không
ổn định sức khoẻ, đưa đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001)[57]
Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, các điều kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn, nước uống…
Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh (Hồ Văn Nam và cs, 1997)[32]
Khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt, thức ăn kém chất lượng như mốc, thối và nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc (Trịnh Văn Thịnh, 1985a [64], Hồ Văn Nam, 1997 [32])
Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển… làm giảm sức đề kháng của
Trang 10con vật, vi khuẩn thường trực sẽ tăng độ độc và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2003)[20]
Như vậy nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây bệnh tiêu chảy không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hoà trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hoá
có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh
1.1.3.2 Nguyên nhân do vi sinh vật
Vi sinh vật bao gồm các loại virus, vi khuẩn, nấm mốc chúng vừa là nguyên nhân nguyên phát, cũng vừa là nguyên nhân thứ phát gây tiêu chảy
* Tiêu chảy do vi khuẩn
Trong đường tiêu hoá của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường ruột, được chia thành 2 loại, trong đó vi khuẩn có lợi lên men phân giải các chất dinh dưỡng, giúp cho quá trình tiêu hoá được thuận lợi và vi khuẩn
có hại, khi có điều kiện thì sẽ phát triển nhanh và gây bệnh cho vật chủ
Theo Lê Văn Tạo (1997)[55] cho biết họ vi khuẩn đường ruột gồm những vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Những vi khuẩn này, muốn từ vi khuẩn cộng sinh trở thành gây bệnh phải có 3 điều kiện:
- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính
- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là
sản sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin
- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ
đó phát triển nhân lên
Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là E.coli, Salmonella spp,
Shigella, Klebsiella, Cl.perfringens… là những vi khuẩn quan trọng gây ra rối
loạn tiêu hoá, viêm ruột tiêu chảy ở người và nhiều loại động vật
Trang 11Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996)[14] cho biết chiếm tỷ lệ cao nhất
trong số các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E.coli (45,6%) Cũng theo tác giả, vi khuẩn yếm khí Cl.perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi
Cl.perfringens thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1
tuần tuổi đến cai sữa
Theo Phạm Sỹ Lăng (2009)[31] cho biết bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu có những bệnh sau:
* Tiêu chảy do virus
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996)[58] virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở gia súc Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao
Archie H (2000)[2] cho biết Rotavirus và Coronavirus là những virus
gây tiêu chảy quan trọng ở gia súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn
Trang 12con, ngựa con và đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá huỷ màng ruột và gây tiêu chảy nặng
Các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Chí (1995)[6] và Nguyễn Như Pho
(2003)[40], cũng đã cho thấy Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu chảy
chủ yếu cho lợn con trong giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006)[28] cho rằng bệnh tiêu chảy ở lợn do
Rotavirus thường chỉ xảy ra ở lợn con bú sữa mẹ lứa tuổi 1-3 tuần lễ và lợn
con sau cai sữa khoảng 6 tuân lễ Bệnh tiêu chảy ở lợn do Rotavirus sẽ trở nên trầm trọng, nếu lợn con bị nhiễm kế phát các chủng E.coli có độc lực và các
loài cầu trùng gây bệnh
* Tiêu chảy do nấm mốc
Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm
mốc Một số loài như Aspergillus, Penicillium, Fusarium… có khả năng sản
sinh nhiều loại độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1)
Độc tố Aflatoxin gây độc cho người và gia súc, gây bệnh nguy hiểm nhất cho con người là ung thư gan, huỷ hoại gan, độc cho thận, sinh dục và thần kinh Aflatoxin gây độc cho nhiều loại gia súc, gia cầm và mẫn cảm nhất
là vịt, gà, lợn
Lợn khi nhiễm độc thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng da, ỉa chảy, ỉa chảy
ra máu Nếu trong khẩu phần có 500 - 700g Aflatoxin/ kg thức ăn sẽ làm cho lợn con chậm lớn, còi cọc, giảm sức đề kháng với các bệnh truyền nhiễm khác (Lê Thị Tài, 1997)[52]
1.1.3.3 Tiêu chảy do ký sinh trùng
Có nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh tiêu chảy ở lợn như cầu trùng
(Eimeria), Isospora suis, Crytosporidium hoặc một số loài giun tròn lớp
Nematoda (Ascaris suum, Trichuris suis, Strongyloides, Haemonchus, Mecistocirrus…)
Trang 13Bệnh do Isospora, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn lợn
con từ 5 đến 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003)[40]
Cầu trùng, một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Thái Nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006a)[24]
Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009)[26]
Cầu trùng một số loại giun tròn là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Hà Nội (Thân Thị Đang
và cs, 2010)[11] Qua nghiên cứu tác giả nhận xét lợn nuôi bình thường nhiễm cầu trùng là 35,54%, giun đũa là 31,82%, giun lươn là 41,32%, giun tóc là 23,14% Lợn chủ yếu nhiễm nhẹ, không có lợn nào nhiễm nặng Trong khi
đó, lợn tiêu chảy nhiễm cầu trùng là 56,93%, giun đũa là 35,77%, giun lươn là 60,58%, giun tóc là 28,47% Tỷ lệ nhiễm nặng biến động từ 7,83- 13,46%
Đặc điểm chủ yếu của tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc bệnh
bị tiêu chảy nhưng không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và phân bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn, thể trạng sa sút
Như vậy có thể thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theo một số nhà khoa học nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Nguyễn Thị Nội (1985)[37], Lê Văn Tạo (1993)[53], Hồ Văn Nam và cs (1997) [32] thì dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn đi nữa, cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính
Trang 141.1.4 Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy
1.1.4.1 Cơ chế sinh bệnh
Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy là quá trình rối loạn chức phận bộ máy tiêu hoá và nhiễm khuẩn Hai quá trình này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể quá trình này trước, quá trình này sau và ngược lại, song không thể phân biệt được từng quá trình
Vũ Văn Ngũ và cs (1975)[33], Trịnh Văn Thịnh (1985b)[64] cho rằng
do một tác nhân bất lợi nào đó, trạng thái cân bằng của khu hệ vi khuẩn đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loài nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn, gây ra sự biến động ở nhóm vi khuẩn đường ruột, cũng như ở nhóm vi khuẩn vãng lai, các vi khuẩn gây bệnh có cơ hội tăng mạnh cả về số lượng và độc lực, các vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hóa do không cạnh tranh nổi nên giảm đi, cuối cùng loạn khuẩn xảy ra, hấp thu bị rối loạn, gây tiêu chảy
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996)[58] khi thiếu mật thì tới 60% mỡ không tiêu hoá được, gây ra chứng đầy bụng, khó tiêu và tiêu chảy hoặc việc giảm hấp thu cũng dẫn đến tiêu chảy
1.1.4.2 Bệnh lý, lâm sàng của hội chứng tiêu chảy
Bệnh lý, lâm sàng của hội chứng tiêu chảy ở gia súc đó là sự biến đổi
về chức năng, tình trạng mất nước và chất điện giải, trạng thái trúng độc của
Trang 15thì cũng làm cản trở đến khả năng tái hấp thu nước Ở gia súc bị tiêu chảy, nếu lượng dịch mất đi trong đường ruột vượt quá lượng dịch đưa vào khi ăn hoặc uống, thận sẽ cố gắng bù lại bằng cách cô đặc nước tiểu để giảm lượng nước thải ra Nếu thận không bù được, mức dịch thể trong tổ chức bị giảm và máu bị đặc lại Hiện tượng này gọi là mất nước và triệu chứng lâm sàng là con vật yếu, bỏ ăn, thân nhiệt thấp và có thể trụy tim mắt bị hõm sâu, nhìn lờ
đờ, da khô, khi véo da lên, nếp da chậm trở lại vị trí cũ (Archie.H, 2000)[2] Lợn bị tiêu chảy gầy sút nhanh, da nhăn, tính đàn hồi da kém; nếu tiêu chảy lâu ngày, lợn gầy nhô xương sống, da thô, lông dựng ngược Mặt khác, khi cơ thể mất nước và chất điện giải sẽ kéo theo sự biến đổi của hàng loạt các bệnh
lý khác nhau
Hiện tượng trúng độc xảy ra do thức ăn lên men phân giải sinh độc tố,
hệ vi khuẩn đường ruột sinh sôi, sản sinh ra nhiều độc tố Các độc tố đó cùng với các sản phẩm của viêm, tổ chức phân huỷ, ngấm vào máu, tác động vào gan làm chức năng gan rối loạn, gia súc bị trúng độc, đồng thời tác động cản trở quá trình tiêu hoá tiếp tục gây tiêu chảy nặng hơn, tăng nguy cơ nhiễm độc máu và gây tử vong
1.1.4.3 Hậu quả trong hội chứng tiêu chảy
Hậu quả trực tiếp và nặng nề của hiện tượng tiêu chảy là sự mất nước
và mất các chất điện giải của cơ thể, kéo theo hàng loạt các biến đổi bệnh lý (Lê Minh Chí, 1995)[6]
Lợn bị tiêu chảy giảm khả năng tiêu hoá, chuyển hoá và hấp thụ các chất dinh dưỡng, nên lợn gầy còm, chậm tăng trọng, dễ dàng mắc các bệnh khác (Phạm Sỹ Lăng và cs, 1997)[27]
Hiện tượng mất nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu không được điều chỉnh Gia súc non dự trữ dịch thể tương đối thấp nên đặc biệt mẫn cảm với sự mất nước Chính vì vậy, biện pháp phòng chống và bù nước trong điều trị tiêu chảy luôn luôn phải đặt ra (Arche.H, 2000)[2]
Trang 16Ở lợn hiện tượng tiêu chảy thường có quá trình nhiễm khuẩn Khi tiêu chảy do nhiễm khuẩn, các triệu chứng trầm trọng hơn và hậu quả để lại nặng
nề hơn Bệnh có thể lây lan và kế phát nhiều bệnh khác, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi
Như vậy, với mỗi một nguyên nhân gây tiêu chảy khác nhau thì cũng
để lại những hậu quả khác nhau
1.1.5 Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy
Hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra Chính vì vậy, sự xuất hiện của bệnh phụ thuộc vào sự xuất hiện các nguyên nhân và sự tương tác giữa nguyên nhân với cơ thể gia súc Các yếu tố như tuổi gia súc, mùa vụ, thức ăn, chuồng trại, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng đều có ảnh hưởng đến bệnh tiêu chảy ở gia súc
Fairbrother.J.M (1992)[84] cho rằng khi bệnh tiêu chảy xảy ra, thường gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Bệnh thường xuất hiện ở 3 giai đoạn phát triển của lợn con:
- Giai đoạn sơ sinh (1- 4 ngày tuổi)
- Giai đoạn lợn con theo mẹ (5 - 21 ngày tuổi)
- Giai đoạn lợn sau cai sữa (trên 21 ngày tuổi)
Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy trong một số cơ sở chăn nuôi lợn phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, vệ sinh thú y ở đó, còn tỷ lệ chết, mức độ trầm trọng của bệnh ở một đàn phụ thuộc vào giai đoạn mắc bệnh (Hoàng Văn Tuấn,
1998 [59], Đoàn Thị Kim Dung, 2004 [8])
Về mùa vụ, bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ xảy ra quanh năm, nhưng cao nhất là tháng 5- 8 (Hoàng Văn Tuấn và cs, 1998)[70] Trong năm, lợn nuôi ở mùa xuân và mùa hè mắc tiêu chảy cao hơn (13,67 - 14,75%) so với hai mùa còn lại (9,18- 9,68%) (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006b)[25]
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006b)[25] khi nghiên cứu một
số đặc điểm dịch tễ học hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa của các hộ
Trang 17chăn nuôi gia đình tại Thái Nguyên cho biết bệnh tiêu chảy chịu ảnh hưởng rõ rệt của lứa tuổi mắc bệnh, các loại thức ăn, nền chuổng và tình trạng vệ sinh thú y
Về độ tuổi mắc bệnh, tỷ lệ lợn tiêu chảy giảm theo tuổi, cao nhất ở giai đoạn sau cai sữa đến 2 tháng (13,9%), sau đó giảm dần và chỉ còn 5,55% ở lợn trên 6 tháng tuổi
Về thức ăn, lợn nuôi thức ăn tổng hợp dạng viên, không qua chế biến, mắc tiêu chảy với tỷ lệ 8,96% Tỷ lệ này tăng lên khi cho thức ăn truyền thống mang tính tận dụng và ăn rau sống (16,1%)
Điều kiện chuồng trại và vệ sinh cũng có ảnh hưởng khá rõ rệt đến tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn Lợn nuôi trong nền lát gạch có tỷ lệ tiêu chảy là 9,49%%, tăng lên ở chuồng có nền láng xi măng (12,64%) và cao nhất ở chuồng nền đất nện (20,37%) Lợn được nuôi ở điều kiện vệ sinh thú y tốt tỷ
lệ tiêu chảy là 8%, thấp hơn rõ rệt so với nuôi trong điều kiện vệ sinh thú y kém (20,35%)
Ngoài các vấn đề nêu trên, hội chứng tiêu chảy còn bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây bệnh do virus, vi khuẩn, cầu trùng, giun sán ký sinh đường tiêu hóa… Các tác giả đều cho rằng, khi lợn mắc tiêu chảy do các tác nhân vi sinh vật, thường làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết
1.1.6 Biện pháp phòng trị tiêu chảy cho lợn
Trang 18Để phòng bệnh tiêu chảy trước hết cần hạn chế và loại trừ các yếu tố strees sẽ mang lại hiệu quả tích cực, đồng thời khắc phục những yếu tố khí hậu, thời tiết bất lợi để tránh rối loạn tiêu hoá, giữ ổn định trạng thái cân bằng
C
Vi khuẩn đường ruột, đặc biệt là E.coli được đánh giá là nguyên nhân
gây bệnh phổ biến và quan trọng nhất trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi, nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vacxin phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh
Nguyễn Thị Nội (1985)[37] dựa trên kết quả xác định tần suất các
serotype O của E.coli gây bệnh phân trắng lợn con để chọn các serotype O có
tần suất xuất hiện cao chế vacxin
Lê Văn Tạo (1996)[54] đã chọn chủng vi khuẩn E.coli mang kháng
nguyên K88 kết hợp với ít nhất 2 yếu tố gây bệnh khác nhau là Ent và Hly dùng
để sản xuất vacxin cho uống và tiêm nhằm phòng bệnh lợn con phân trắng Còn Nguyễn Thị Nội và cs (1989)[39] đã tiến hành nghiên cứu một loại
Streptococcus để phòng tiêu chảy cho lợn con
Đặng Xuân Bình và cs (2008b)[4] đã nghiên cứu, chế tạo autovaccine
từ các chủng E.coli độc có mang yếu tố gây bệnh phòng bệnh phân trắng lợn
con trên thực địa
Nguyễn Ngọc Hải (2010)[17] nghiên cứu, chế tạo autovaccine từ 7 gốc
E.coli phân lập từ các mẫu phân heo con tiêu chảy có kết quả rõ nhất, để
phòng tiêu chảy cho heo con theo mẹ; đã kết luận vácxin chuồng thực nghiệm
tạo được đáp ứng miễn dịch tốt, hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy do E.coli tương đương với vác xin phòng bệnh E.coli của Mỹ
Trang 19Việc sử dụng vacxin phòng bệnh tiêu chảy cho lợn (đặc biệt là lợn con) đến hiện nay vẫn đang đƣợc các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu và thử nghiệm.
Ngoài sử dụng vacxin, một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu các chế phẩm dùng để phòng bệnh tiêu chảy Đây là biện pháp vừa giúp tăng khả năng đề kháng, vừa khống chế sự phát triển quá mức của một số loài vi khuẩn
có hại cho cơ thể gia súc
Tạ Thị Vịnh và cs (2002)[74] đã sử dụng chế phẩm VITOM 1.1 (chứa
Bacillus subtilis chủng VKPMV - 7092) để phòng và trị bệnh tiêu chảy cho
lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi
Trần Thị Hạnh và cs (2004)[18] đã chế tạo sinh phẩm E.coli - sữa và
Cl.perfringens - toxoid dùng phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con
Phan Thanh Phƣợng và cs (2008a)[46], đã nghiên cứu thành công và
đƣa kháng thể E.coli dạng bột từ lòng đỏ chứng gà đã đƣợc miễn dịch các
Nhƣ vậy, vấn đề phòng bệnh tiêu chảy cho lợn đã có nhiều tác giả nghiên cứu Mỗi công trình nghiên cứu đều đi sâu vào một khía cạnh, một số nguyên nhân gây bệnh và đã đạt đƣợc một số kết quả khả quan Tuy nhiên, do
có nhiều nguyên nhân và yếu tố gây bệnh, nên vẫn còn nhiều vấn đề thực tiễn đòi hỏi phải giải quyết trong phòng bệnh tiêu chảy cho lợn
Trang 201.1.6.2 Điều trị bệnh
Theo Lê Minh Chí (1995)[6] cho rằng trên thực tế lâm sàng, điều trị mất nước là điều trị bắt buộc và là điều kiện để hạ thấp mức độ thiệt hại do bệnh tiêu chảy gây ra
Theo Phạm Ngọc Thạch (2005)[59] để triều trị hội chứng tiêu chảy gia súc, nên tập trung vào 3 khâu là:
- Loại trừ những sai sót trong nuôi dưỡng như: Loại bỏ thức ăn kém phẩm chất (ôi mốc…), giảm thức ăn xanh chứa nhiều nước, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, loại bỏ thức ăn không tiêu hoá được, đang lên men trong đường ruột
- Khắc phục rối loạn tiêu hoá và chống nhiễm khuẩn
- Điều trị hiện tượng mất nước và chất điện giải
Phạm Thế Sơn và cs (2008a)[50] đã sử dụng chế phẩm EM-TK21 trong phòng trị bệnh tiêu chảy ở lợn con 1- 90 ngày tuổi, cho kết quả dùng trong phòng bệnh tỷ lệ bảo hộ đạt 81,3%; dùng trong điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con tỷ lệ khỏi bệnh đạt từ 72% - 96%
Huỳnh Kim Diệu (2009)[10] nghiên cứu, khảo sát thành phần dinh dưỡng của lá cây xuân hoa và thử nghiệm trong phòng, trị bệnh tiêu chảy cho lợn; đã có kết luận cây xuân hoa là cây thuốc mới được phát hiện, chứa các hoạt chất có khả năng phòng trị bệnh tốt, có thể thay kháng sinh trong trị bệnh tiêu chảy cho lợn
Nguyễn Hữu Vũ và cs (2010)[76] đã nghiên cứu thành công và đưa
E.coli (sản phẩm đã được Cục Thú y cấp giấy phép lưu hành trên toàn quốc)
Kết quả thử nghiệm tại Hoài Đức- Hà Tây cho thấy:
- Điều tri 10 đàn lợn con bị tiêu chảy do vi khuẩn E.coli bằng sản phẩm
HANVET K.T.E HI tỷ lệ khỏi 100% sau 2- 4 ngày
- Điều tri 10 đàn lợn con bị sưng phù đầu do vi khuẩn E.coli bằng sản phẩm HANVET K.T.E HI tỷ lệ khỏi 87,5 - 88% sau 2- 4 ngày
Trang 21Phạm Sỹ Lăng (2009)[31] đã đưa ra biện pháp tổng hợp để phòng trị bệnh tiêu chảy ở lợn con do vi khuẩn gồm 2 phần chủ yếu là biện pháp kỹ thuật chăn nuôi và biện pháp kỹ thuật thú y
* Biện pháp kĩ thuật chăn nuôi
Với chăn nuôi thâm canh công nghiệp cần tuân thủ những yêu cầu sau đây:
- Điều tiết chế độ ăn trước và sau cai sữa cho phù hợp, chú ý tăng chất khô, giữ khẩu phần vừa phải
- Tập ăn sớm cho lợn con nhằm kích thích thống tiêu hóa của lợn phát triển sớm hoàn thiện về tổ chức và chức năng hoạt động nhằm cho lợn sớm thích ứng với điều kiện sinh sống
* Biện pháp kĩ thuật thú y
Nhằm tăng sức đề kháng, tăng miễn dịch phòng bệnh cho lợn con cần chú ý:
- Trước hết việc đỡ đẻ phải được thực hiện chu đáo, lau khô lợn sơ sinh
để tránh bị nhiễm bệnh, đặt chúng vào ngăn lợn con khô ráo, có sưởi ấm Ngoại cảnh lạnh làm giảm nhanh chóng năng lượng dự trữ, nhất là lượng glycogen ở lợn sơ sinh
Trang 22- Chú ý việc ra nhau thai cuả lợn mẹ, kịp thời xử lý việc sót nhau, tránh ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn mẹ, ảnh hưởng tới lợn con
- Sau khi đẻ xong cần cho lợn sơ sinh bú lần đầu tiên để bổ sung kịp thời năng lượng dự trữ của lợn sơ sinh bị giảm đi nhanh chóng Quan trọng hơn nữa là lợn sơ sinh được tiếp nhận kháng thể kháng từ sữa đầu cuả lợn mẹ đã
được tiêm phòng miễn dịch với các chủng E.coli gây bệnh đặc hiệu
- Tiêm bổ sung chế phẩm sắt cho lợn con trong ngày đầu sau đẻ Nhu cầu sắt của lợn con là 7-10 mg/con/ngày Trong khi đó hàm lượng sắt trong sữa đầu của lợn mẹ chỉ có khoảng 1ppm Sắt là nguyên nhân gây thiếu máu ở lợn con, thiếu sắt làm bạch cầu trung tính giảm khả năng tiêu diệt vi khuẩn
- Tiêm vaccin E.coli cho lợn mẹ mũi thứ nhất 21 ngày trước khi đẻ,
tiêm nhắc lại lúc 7 ngày trước khi đẻ để tạo hàm lượng kháng thể cao truyền qua sữa đầu cho lợn sơ sinh
- Tiêm kháng thể E.coli (dạng lỏng) hoặc cho uống kháng thể kháng
E.coli (dạng bột) nhằm đưa kháng thể thụ động vào phòng trị bệnh Liều
lượng và cách dùng tuân theo chỉ định của nhà sản xuất
- Dùng thuốc kháng sinh hoặc chế phẩm vi sinh vật để phòng trị
Ngoài ra còn có thể lựa chọn sử dụng các chế phẩm men tiêu hóa để hạn chế sự sinh trường, phát triển của các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột, tạo sự cân bằng vi khuẩn để phòng bệnh
Hiện nay, để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn, nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho rằng, cần phải xác định được nguyên nhân gây bệnh, hiểu
rõ cách sinh bệnh và triệu chứng bệnh Việc sử dụng kháng sinh trong điều trị tiêu chảy do nhiễm khuẩn được nhiều người nghiên cứu và đưa ra nhiều phác đồ khác nhau, nhưng các tác giả đều thống nhất rằng: Sử dụng kháng sinh có hiệu quả cần phải xem xét khả năng mẫn cảm và tính kháng thuốc của vi khuẩn
Trang 231.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ VI KHUẨN E.COLI GÂY BỆNH ĐƯỜNG
TIÊU HOÁ
Vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) thuộc họ Enterobacteriaceae, nhóm
Escherichiae, giống Escherichiae, loài Escherichia coli Trước đây được gọi
là Bacterium coli commune hay Bacillus coli communis, lần đầu tiên phân lập
được từ phân trẻ em bị tiêu chảy năm 1885 và được đặt theo tên của người bác
sỹ nhi khoa Đức Theodor Escherich (1857 - 1911) (Nguyễn Vĩnh Phước, 1974 [44], Nguyễn Lân Dũng và cs, 1976 [9], Nguyễn Như Thanh và cs, 1997 [56],
Lê Văn Tạo, 1997) [55]
Vi khuẩn E.coli thuộc họ Enterobacteriaceae, là họ vi khuẩn thường
trực ở trong ruột, chiếm tới 80% các vi khuẩn hiếu khí, vừa là vi khuẩn cộng sinh thường trực đường tiêu hoá, vừa là vi khuẩn gây nhiều bệnh ở đường ruột
và ở các cơ quan khác (Lê Văn Tạo, 1997)[55]
Trong điều kiện bình thường, E.coli khu trú thường xuyên ở phần sau
của ruột, ít khi có ở dạ dày hay đoạn đầu ruột non của động vật Khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng phát triển nhanh về số lượng, độc lực, gây loạn khuẩn, bội nhiễm đường tiêu hoá và trở thành nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy (nguyễn Vĩnh Phước, 1978)[45]
1.2.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của vi khuẩn E.coli
1.2.1.1 Đặc điểm hình thái
Vi khuẩn E.coli là trực khuẩn hình gậy ngắn hai đầu tròn, có kích thước
2 - 3m x 0,3- 0,6m; ở môi trường nuôi cấy, trong canh khuẩn già, xuất hiện những trực khuẩn dài 4 - 8m Trong cơ thể người và động vật, vi khuẩn thường có hình trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Phần
lớn vi khuẩn E.coli có khả năng di động do có lông ở xung quanh thân, không
sinh nha bào, có thể có giáp mô Vi khuẩn bắt màu gram âm, có thể bắt màu đều hoặc sẫm ở hai đầu, khoảng giữa nhạt hơn Nếu lấy vi khuẩn từ khuẩn lạc
Trang 24nhầy để nhuộm, có thể thấy giáp mô, nhưng khi soi tươi thì thường không nhìn thấy được (Nguyễn Quang Tuyên, 2008)[72]
1.2.1.2 Đặc điểm cấu trúc
Vi khuẩn E.coli được chia làm serrotype khác nhau dựa vào cấu trúc
kháng nguyên thân O, giáp mô K, lông H và kháng nguyên bám dính F Bằng phản ứng ngưng kết, các nhà khoa học đã tìm ra được 250 serotype O, 89 serotype K, 56 serotype H và một số serotype F (Fairbrother J M, 1992)[70]
Khi xác định serotype đầy đủ của một chủng vi khuẩn E.coli thì phải
xác định đủ cả 3 loại kháng nguyên nói trên
- Kháng nguyên O (Kháng nguyên thân - Ohne Hauch) được coi như là một yếu tố độc lực có thể tìm thấy ở thành tế bào và có liên hệ trực tiếp với hệ thống miễn dịch Kháng nguyên O khi gặp kháng huyết thanh tương ứng sẽ xảy ra phản ứng ngưng kết Ngưng kết kháng nguyên O tạo thành những hạt nhỏ, khó tan
- Kháng nguyên H (kháng nguyên lông - Hauch) là thành phần lông vi khuẩn, có bản chất protein, kém bền vững hơn so với kháng nguyên O
Kháng nguyên H không phải là yếu tố độc lực của vi khuẩn, nhưng có khả năng tạo miễn dịch mạnh Phản ứng miễn dịch xảy ra nhanh hơn so với kháng nguyên O
Kháng nguyên H của vi khuẩn E.coli không có vai trò bám dính, không
có tính độc và cũng không có ý nghĩa trong đáp ứng miễn dịch phòng vệ nên
ít được quan tâm nghiên cứu, nhưng nó có ý nghĩa rất to lớn trong xác định
- Kháng nguyên K (Kháng nguyên vỏ bỏ - Capsular), còn được gọi là kháng nguyên bề mặt (OMP - Outer membrane protein) hoặc kháng nguyên
vỏ bọc (Capsular) Vai trò của kháng nguyên K chưa được thống nhất Có rất nhiều ý kiến cho rằng, nó không có ý nghĩa về độc lực của vi khuẩn, vì thấy
Trang 25rằng độc lực của chủng E.coli có kháng nguyên K cũng giống độc lực của
chủng không có kháng nguyên K (Orskov F, 1978)[99] Tuy nhiên, có ý kiến khác cho rằng, nó có ý nghĩa về độc lực vì nó tham gia bảo vệ vi khuẩn trước những yếu tố phòng vệ của vật chủ Tuy vậy, phần lớn các ý kiến đều thống nhất kháng nguyên K có hai nhiệm vụ sau:
+ Hỗ trợ trong phản ứng ngưng kết của kháng nguyên O, nên thường
ghi liền công thức serotype của vi khuẩn là Ox:Ky như E.coli O139: K88,
O149: K88, O138:K81, O138:K82, O157:K17…
+ Tạo thành hàng rào bảo vệ vi khuẩn chống lại tác động của ngoại cảnh và hiện tượng thực bào, yếu tố phòng vệ của vật chủ
Tóm lại, dựa vào kháng nguyên O, E.coli được chia làm nhiều nhóm; căn cứ vào cấu tạo kháng nguyên O, K, H, E.coli lại chia làm nhiều type, mỗi
type đều được ghi thứ tự các yếu tố kháng nguyên O, K, H
- Kháng nguyên F (kháng nguyên Fimbriae - kháng nguyên bám dính)
Hầu hết các chủng E.coli gây bệnh đều sản sinh ra một hoặc nhiều kháng
nguyên bám dính Các chủng không gây bệnh thì không có kháng nguyên bám dính Kháng nguyên bám dính giúp vi khuẩn bám vào các thụ thể đặc hiệu trên
bề mặt tế bào biểu mô ruột và trên lớp màng nhày để xâm nhập và gây bệnh, đồng thời chống lại khả năng đào thải vi khuẩn của nhu động ruột
Một số loại kháng nguyên bám dính của vi khuẩn E.coli thuộc nhóm ETEC (Enterotoxigenic Escherichia coli) gây bệnh chủ yếu cho lợn là F4
(K88), F5 (K99), F6 (987P), F18 và F41 (Cater.G.R và cs, 1995)[77]
1.2.2 Đặc tính nuôi cấy, sinh vật, hoá học
1.2.2.1 Đặc tính nuôi cấy
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (1997)[56], Nguyễn Quang Tuyên
(2008)[72] vi khuẩn E.coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện, có thể
sinh trưởng ở phổ nhiệt độ khá rộng (từ 5- 400C), nhiệt độ thích hợp là 370
C
và phổ pH rộng (pH từ 5,5- 8,0), pH thích hợp nhất từ (7,2 - 7,4)
Trang 26Vi khuẩn E.coli phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông
thường Khi nuôi cấy trên các môi trường, để trong tủ ấm ở 370C và sau 24 giờ vi khuẩn sẽ phát triển như sau:
+ Môi trường thạch thường: Hình thành những khuẩn lạc tròn, ướt, bóng láng không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, đường kính từ 2- 3mm Nuôi lâu, khuẩn lạc có màu nâu nhạt và mọc rộng ra, có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R (Rough) và M (Mucons)
+ Môi trường nước thịt: Phát triển rất tốt, môi trường đục đều có lắng cặn màu tro nhạt ở dưới đáy, đôi khi có màu xám nhạt, canh trùng có mùi phân hôi thối
+ Môi trường MacConkey: Khuẩn lạc có màu hồng cánh sen, tròn nhỏ, hơi lồi, không trầy, rìa gọn, không làm chuyển màu môi trường
+ Môi trường thạch máu: Khuẩn lạc to, ướt, lồi, viền không gọn, màu xám nhạt, một số chủng có khả năng và gây ra hiện tượng tan máu
+ Môi trường Simmon citrat: Khuẩn lạc không màu trên nền xanh lục + Môi trường Endo: Khuẩn lạc màu đỏ
+ Trong môi trường EMB: Khuẩn lạc màu tím đen
+ Trong môi trường SS: Khuẩn lạc có màu đỏ
1.2.2.2 Đặc tính sinh hoá
+ Phản ứng lên men đường: Vi khuẩn E.coli lên men sinh hơi các loại
đường Lactose, Frutose, Glucose, Levulose, Galactose, Xylose, Manitol, lên men không chắc chắn các loại đường Duncitol, Saccarose và Salixin
Hầu hết các chủng vi khuẩn E.coil đều lên men đường Lactose nhanh
và sinh hơi, đây là đặc điểm quan trọng để dựa vào đó phân biệt vi khuẩn
E.coli và Salmonella
+ Một số phản ứng sinh hoá khác: Phản ứng Indol và MR dương tính,
Trang 271.2.3 Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E.coli
1.2.3.1 Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn E.coli
Để có thể gây bệnh, trước hết vi khuẩn E.coli phải bám dính vào tế bào
nhung mao ruột bằng các yếu tố bám dính như kháng nguyên F Sau đó, nhờ các yếu tố xâm nhập (Invasion), vi khuẩn sẽ xâm nhập vào tế bào biểu mô của thành ruột Ở đó, vi khuẩn phát triển, nhân lên, phá huỷ lớp tế bào biểu mô, gây viêm ruột, đồng thời sinh sản độc tố đường ruột Enterotoxin Độc tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối, nước, làm rối loạn chu trình này Nước từ cơ thể tập trung vào lòng ruột làm căng ruột, cùng với khí do lên men ở ruột gây nên một tác dụng cơ học, làm nhu động ruột tăng, đẩy nước và chất chứa ra ngoài, gây nên hiện tượng tiêu chảy Sau khi đã phát triển ở thành ruột, vi khuẩn vào hệ lâm ba, đến hệ tuần hoàn, gây nhiễm trùng máu Trong máu, vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào, gây dung huyết, làm cho
cơ thể thiếu máu Từ hệ tuần hoàn, vi khuẩn đến các tổ chức cơ quan Ở đây,
vi khuẩn lại phát triển nhân lên lần thứ hai, phá huỷ tế bào tổ chức, gây viêm
và sản sinh độc tố gồm Enterotoxin và Verotoxin, phá huỷ tế bào tổ chức, gây
tụ huyết và xuất huyết
1.2.3.2 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E coli
Các yếu tố gây bệnh của E.coli bao gồm khả năng kháng khuẩn, yếu tố
bám dính, khả năng xâm nhập, yếu tố gây dung huyết và khả năng sản xuất
độc tố Các chủng vi khuẩn E.coli không có các yếu tố trên thì không có khả
năng gây bệnh
Dựa vào các yếu tố gây bệnh nói trên, người ta đã phân loại vi khuẩn
E.coli thành các loại sau: Enterotoxigenic E.coli (ETEC), Enteropathgenic E.coli (EPEC), Adherence Eteropathogenic E.coli (AEEC) và Verotoxingenic E.coli (VTEC) (Lê Văn Tạo, 1997)[55] Trong đó, các chủng vi khuẩn thuộc
nhóm ETEC và VTEC thường gây ra bệnh tiêu chảy cho lợn con sơ sinh và lợn sau cai sữa (Fairbrother.J.M, 1992)[84]
Trang 28* Yếu tố kháng khuẩn
Nhiều chủng vi khuẩn E.coli có khả năng sản sinh ra chất kháng khuẩn
có tác dụng ức chế hoặc tiêu diệt các loại vi khuẩn khác, gọi là ColicinV Vì vậy, yếu tố này cũng được coi là một trong các yếu tố độc lực của vi khuẩn
E.coli gây bệnh (Smith H W và cs, 1967)[102]
Đặng Xuân Bình và cs (2008a)[3] khi nghiên cứu khả năng sản sinh
yếu tố cạnh tranh colicin của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được từ phân
của lợn con phân trắng tại các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Tây đã có kết
quả là 26,5% số chủng vi khuẩn E.coli sản sinh ra yếu tố cạnh tranh colicin
* Yếu tố bám dính
Để gây bệnh, các chủng ETEC phải bám dính lên trên tế bào biểu mô của ruột non Hầu hết các chủng ETEC đều có mang một hoặc nhiều các yếu
tố bám dính như: F4 (K88), F5 (K99), F6 (987P), F17, F18, F41, F42 và F165 Ở lợn, các chủng vi khuẩn ETEC gây bệnh tiêu chảy thường mang các yếu tố bám dính sau đây:
- F4 (K88): F4 hay còn gọi là K88 và là một kháng nguyên không chịu
nhiệt Bằng việc sử dụng các kháng huyết thanh đặc hiệu, Orskov và cs (1964)[98] đã phân biệt được hai loại khác nhau của F4 là F4ab và F4ac Loại thứ 3 được phát hiện bởi Guinee và Jansen được đặt tên ở F4ad (Guinee và cs, 1979)[88] Sợi F4 giúp cho vi khuẩn bám được vào receptor tương ứng của nó trên tế bào biểu mô của lông nhung ruột non, từ đó vi khuẩn có thể xâm nhập
cố định và phát triển được ở thành ruột non Yếu tố bám dính F4 được mang
trong vi khuẩn E.coli thuộc nhóm ETEC, gây bệnh tiêu chảy ở lợn trước và
sau cai sữa (Nagy và cs, 1999)[96]
- F5 (K99): F5 trước kia được cho là kháng nguyên bám dính của
E.coli chỉ gây bệnh ở bê, nghé và cừu Tuy nhiên, hiện nay chúng cũng được
tìm thấy với tỷ lệ thấp ở các chủng ETEC phân lập từ lợn tiêu chảy (Links và
Trang 29cs, 1985)[92] Sự sản sinh F5 phụ thuộc vào nhiều yếu tố của vi khuẩn như tốc độ sinh trưởng, pha sinh trưởng, nhiệt độ và alanine trong môi trường Các gen mã hoá cho sự tổng hợp F5 nằm trên AND của plasmid (Isaacson, 1977)[86]
- F6 (987p): Các nhà khoa học cho rằng fimbriae này đóng vai trò
quan trọng trong việc gây bệnh của ETEC F6 của ETEC ở lợn có thể giúp vi khuẩn bám vào cả các receptor cấu tạo bởi glycoprotein và glycolipid trên riềm trải của các tế bào biểu mô ruột (Dean và cs, 1989, 1994)[80], [81] F6 bám dính ở màng nhầy để phân phối độc tố đường ruột tối đa đến vật chủ
- F18: F18 là tên đặt cho nhân tố bám dính 8813 Bởi vậy, một loại
fimbriae mới đã được đề nghị công nhận là F18ab, F18ac (Pippinger và cs, 1995)[102] Một nghiên cứu của Nagy và cs (1996)[95] thấy rằng F18ab và F18ac khác nhau về mặt sinh học F18ab ít thấy thể hiện ở cả trong điều kiện thực tế và trong phòng thí nghiệm Chúng thường thấy cùng với việc sản xuất SLT-2e ở các chủng VTEC, trong khi F18ac thể hiện rất rõ ở cả trong thực tế
và trong phòng thí nghiệm, chúng mang các đặc tính của các chủng ETEC
Một đặc điểm đáng chú ý ở F18ac là chúng không bám vào riềm bàn chải của lợn sơ sinh trong điều kiện thực tế và trong phòng thí nghiệm (Nagy
và cs, 1992)[94], cũng không tập trung ở lớp màng nhầy của ruột ở lợn con mới sinh (Casey và cs, 1992)[78] Điều này ngược với F5 và F6, chúng bám vào các tế bào biểu mô ruột Khả năng bám này ở lợn cai sữa nhiều hơn so với lợn sơ sinh Lý do xác đáng để giải thích về việc tăng sự mẫn cảm với bám dính của F18ab và F18ac theo tuổi của lợn vẫn chưa được làm rõ, nhưng
có thể là do sự tăng dần các receptor đặc hiệu ở lông nhung của ruột lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi Sự thiếu hụt các receptor của F18ab và F18ac ở lợn sơ sinh có thể giải thích cho lý do vì sao chỉ thấy các chủng VTEC và ETEC ở lợn cai sữa (Nagy và cs, 1999)[96]
Trang 30* Yếu tố xâm nhập của vi khuẩn E.coli: Là một khái niệm dùng để chỉ
quá trình chưa được xác định một cách rõ ràng mà nhờ đó vi khuẩn E.coli qua
được hàng rào bảo vệ của lớp màng nhầy (mucosa) trên bề mặt niêm mạc để xâm nhập vào tế bào biểu mô (Epithel), đồng thời sinh sản và phát triển trong lớp tế bào này Trong khi đó những vi khuẩn khác không có khả năng xâm nhập, không thể qua được hàng rào bảo vệ của lớp màng nhầy hoặc khi qua được hàng rào này, sẽ bị giữ lại bởi tế bào đại thực bào của tổ chức hạ niêm mạc (Giannella và cs, 1976)[87]
* Độc tố của vi khuẩn E.coli:
Vi khuẩn E.coli sản sinh nhiều loại độc tố: Enterotoxin, Verotoxin,
Neurotoxin Mỗi loại độc tố gắn với một thể bệnh mà chúng gây ra
- Nhóm độc tố đường ruột (Enterotoxin): gồm 2 loại
+ Độc tố chịu nhiệt (Heat Stable Toxin - ST): Độc tố này chịu được nhiệt độ 1000
C trong vòng 15 phút Độc tố ST chia thành 2 nhóm STa và STb dựa trên đặc tính sinh học và khả năng hoà tan trong methanol Sta kích thích
và Cl-; làm giảm khả năng hấp thu chất điện giải và nước ruột STa thường thấy ở ETEC gây bệnh lợn dưới 2 tuần tuổi và ở lợn lớn
STb kích thích vòng nucleotid phân tiết dịch độc lập ở ruột, nhưng phương thức tác dụng của STb vẫn chưa được hiểu rõ STb hoạt động ở ruột non lợn, nhưng không hoạt động ở ruột non chuột, bê và bị vô hoạt bởi
Trypsin STb tìm thấy được ở 75% các chủng vi khuẩn E.coli phân lập từ lợn
con, 33% phân lập từ lợn (Fairbrother và cs, 1992)[84] Vai trò của STb trong tiêu chảy được biết đến mặc dù ETEC sản sinh STb có thể kích thích gây tiêu chảy ở lợn con trong điều kiện thực nghiệm và STb làm teo lông nhung ruột lợn (Carter và cs, 1995)[77]
Cả STa và STb đều có vai trò quan trọng trong việc gây tiêu chảy do
các chủng E.coli gây bệnh ở bê, nghé, dê, cừu, lợn con và trẻ sơ sinh
Trang 31+ Độc tố không chịu nhiệt (Heat Labile Toxin - LT): Độc tố này bị vô
LT2, nhưng chỉ có LT1 bị trung hoà bởi Anticholerae toxin LT là một trong những yếu tố quan trọng gây triệu chứng tiêu chảy (Fairbrother và cs, 1992)[84] Cả hai loại độc tố ST và LT đều bền vững ở nhiệt độ âm, thậm chí
cả ở nhiệt độ (-200
C)
Xác định một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn E.coli phân
lập từ lợn con (1- 45 ngày tuổi) bị tiêu chảy ở tỉnh Hưng Yên bằng các phản ứng PCR Kết quả đã xác định được 3 loại độc tố là Sta, STb, LT và 2 yếu tố bám dính F4 và F18 (Đỗ Ngọc Thúy và cs, 2008)[68]
- Nhóm độc tố tế bào (Shiga/ Verotoxin):
Konowalchuck và cs (1977)[90] đã phát hiện một loại độc tố hoạt động trong môi trường nuôi cấy tế bào Vero (nên chúng được đặt tên là độc tố tế
bào Vero), được sản sinh bởi vi khuẩn E.coli gây bệnh tiêu chảy ở người, tiêu
chảy và bệnh phù đầu ở lợn con Ảnh hưởng gây bệnh ở tế bào của độc tố Vero rất khác so với ảnh hưởng của độc tố đường ruột không chịu nhiệt cổ
điển ở nhóm vi khuẩn E.coli gây bệnh đường ruột (ETEC) Độc tố Vero
(VTs) hay Shiga (SLTs) là thuật ngữ được sử dụng trước đây Gần đây, các nhà khoa học đã đề nghị sử dụng tên độc tố Shiga (Stx) cho tất cả những độc
tố tế bào này Stx sản sinh bởi E.coli bao gồm 2 nhóm: Stx1 và Stx2
* Vai trò gây bệnh của các loại kháng nguyên
Theo ý kiến của nhiều tác giả, mặc dù các vi khuẩn E.coli có nhiều loại
kháng nguyên, trong đó, có loại tạo miễn dịch phòng vệ cho vật chủ, có loại không tạo miễn dịch phòng vệ cho vật chủ nhưng đều tham gia vào quá trình gây bệnh bằng cách tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào tế bào vật chủ
và tham gia vào quá trình kháng lại các yếu tố phòng vệ tự nhiên của vật chủ Các kháng nguyên tham gia quá trình trên phải kể đến là kháng nguyên O, kháng nguyên K, kháng nguyên F
Trang 32* Yếu tố dung huyết (Hly)
Để phát triển trong cơ thể, vi khuẩn E.coli cần được cung cấp sắt Hầu hết những chủng E.coli gây bệnh thường có khả năng gây dung huyết Để chiếm dụng sắt của vật chủ, vi khuẩn E.coli tiết men Heamolyzin phá vỡ hồng
cầu, giải phóng sắt trong nhân HEM
Có 4 kiểu dung huyết của vi khuẩn E.coli là: -haemolysin, -haemolysin,
-haaemolysin, -haemolysin, nhưng quan trọng nhất là kiểu -haemolysin và
-haemolysin (Ketyle và cs, 1975)[89]
1.2.4 Khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn E.coli
Để trị bệnh đường ruột, người ta sử dụng nhiều loại kháng sinh Kháng sinh còn được trộn vào thức ăn với tỷ lệ thấp để phòng bệnh và kích thích tăng trọng Vì vậy, khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn đường ruột nói
chung và vi khuẩn E.coli nói riêng đang ngày một tăng, làm cho hiệu quả điều
trị giảm, thậm chí nhiều loại kháng sinh còn bị vô hiệu hoá hoàn toàn
Sở dĩ khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn nói chung và E.coli nói
riêng tăng nhanh, lan rộng vì gen sản sinh yếu tố kháng kháng sinh nằm trong plasmid R (Resistance) Plasmid này có thể di truyền dọc và di truyền ngang cho tất cả quần thể vi khuẩn thích hợp (Falkow, 1975)[85]
Sử dụng phương pháp kháng sinh đồ, Lê Văn Tạo (1993)[53] đã xác
định được khả năng kháng kháng sinh của các chủng E.coli phân lập từ bệnh phân trắng lợn con và kết luận vi khuẩn E.coli có được khả năng này là do
nhận được bằng di truyền dọc và di truyền ngang qua plasmid Với những ý nghĩa trên, ngày nay việc nghiên cứu khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn không còn đơn thuần là việc lựa chọn kháng sinh mẫn cảm để điều trị bệnh do
E.coli gây ra mà còn là nghiên cứu một yếu tố gây bệnh của vi khuẩn này
Phạm Khắc Hiếu và cs (1999)[19] đã tìm thấy chủng E.coli kháng lại
11 loại kháng sinh, đồng thời chứng minh khả năng di truyền tính kháng
thuốc giữa E.coli và Salmonella qua plasmid
Trang 33Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của 106 chủng E.coli phân lập từ lợn
con theo mẹ bị tiêu chảy ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, Đỗ Ngọc Thuý và
cs (2002)[66] đã thu được kết quả các chủng có xu hướng kháng mạnh với các loại kháng sinh thông thường vẫn dùng để điều trị bệnh: Amoxicillin (76,42%), Chloramphenicol (79,25%), Trimethroprim/ Sulfamethoxazol (80,19%), Streptomycin (88,68%), Tetracyclin (97,17%) Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn với trên 3 loại kháng sinh là phổ biến (chiếm 90,57%) và kiểu kháng thuốc kháng với các loại kháng sinh: Tetracylin, Trimethroprim/ Sulfamethoxzol, Streptomycin và Chloramphenicol chiếm tỷ lệ cao nhất (76,24%) Có thể dùng Amikacin, Apramycin hay Ceftiofur để điều trị cho lợn con bị tiêu chảy, thay thế cho các loại kháng sinh trước đây vẫn dùng
Bùi Xuân Đồng (2002)[15] đã tiến hành thử kháng sinh đồ với các
chủng E.cloi phân lập được từ Hải Phòng cho kết quả mẫn cảm với các loại kháng sinh Chloramphenicol, Norflxacin, Ampicilin, còn với các chủng E.cloi
tại tỉnh Tiền Giang thì Bùi Trung Trực (2004)[69] cho rằng chúng vẫn mẫn cảm mạnh với Norfloxacin và Colistin
Khi thử nghiệm phòng và trị bệnh E.coli dung huyết cho lợn con ở Thái Nguyên
và Bắc Giang, Nguyễn Thị Kim Lan (2004)[23] đã thông báo vi khuẩn E.coli
phân lập từ lợn bệnh rất mẫn cảm với kháng sinh Amikacin, kém hơn với Doxycycline, không mẫn cảm với Ampicilin và Cefuroxinme
Võ Thị Trà An và cs (2010)[1] kiểm tra khả năng mẫn cảm với kháng
sinh của 100 gốc vi khuẩn E.coli phân lập từ phân heo, bò trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận Mức độ mẫn cảm của E.coli giảm dần
với các kháng sinh: Ceftazidime (93%), Amoxicillin/clavulanic acid (73%), nofloxacin (66%), gentamycin (40%), chloramphenicol (34%), kanamycin (33%), Trimethroprim/ Sulfamethoxazol (29%), cephalexin (25%), Ampicilin (21%), Tetracyclin (20%), colistin (7%)
Trang 34Như vậy, có thể thấy qua thời gian và ở các địa điểm khác nhau, tính
kháng kháng sinh của vi khuẩn E.coli gây bệnh cũng khác nhau
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ VAI TRÕ
CỦA VI KHUẨN E.COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY
1.3.1 Những nghiên cứu trong nước
Bệnh tiêu chảy có ở hầu hết các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi Trong chăn nuôi lợn, bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi và đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh Các nhà
khoa học trong nước đều nhấn mạnh vai trò của vi khuẩn E.coli trong hội
chứng tiêu chảy ở lợn
Đào Trọng Đạt và cs (1986)[13] cho rằng trong các vi khuẩn đường
ruột loài Escherichia là loài phổ biến nhất, chúng xuất hiện sinh sống trong
động vật chỉ vài giờ sau khi sinh và tồn tại cho tới khi con vật chết Vi khuẩn
E.coli sinh sống bình thường trong đường ruột của người và động vật Khi
các điều kiện nuôi dưỡng khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y kém, sức chống
đỡ bệnh tệch của con vật yếu, thì vi khuẩn E.coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh Tỷ lệ chết do E.coli khá cao Thậm chí có khi tỷ lệ đó
còn đến 100%
Niconxki.V.V (1986)[36] khoảng 20 - 50% lợn con chết trong những
ngày sơ sinh do E.coli gây nên, đôi khi tỷ lệ chết tới 100%
Để xác định vai trò của một E.coli gây ra bệnh nào đó, cần kiểm tra độc lực và các yếu tố gây bệnh mà chủng E.coli đó có được Do vậy, kết quả những nghiên cứu về độc lực, yếu tố gây bệnh của E.coli chính là đánh giá
khả năng gây bệnh của nó Cù Hữu Phú và cs (2004)[43] cho biết vi khuẩn
E.coli là nguyên nhân chính gây bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ; các chủng E.coli có thể mang tổ hợp các yếu tố gây bệnh như: LT + STa + STb + K88 +
Hly + (29.29%); LT + Sta + Stb + Hly - (8.33%)
Trang 35Khi nghiên cứu về vai trò gây bệnh của E.coli trong hội chứng tiêu
chảy ở lợn (1 - 60 ngày tuổi), tác giả Trương Quang (2005)[48] đã cho thấy
100% mẫu phân của lợn bị tiêu chảy phân lập được E.coli với số lượng gấp
2,46 - 2,73 lần (ở lợn 1 - 21 ngày tuổi) và 1,88 - 2,1 lần (ở lợn 22 - 60 ngày
tuổi) so với lợn không tiêu chảy Tỷ lệ các chủng E.coli phân lập từ lợn bị tiêu
chảy có độc lực mạnh và các yếu tố gây bệnh cao hơn rất nhiều so với ở lợn không bị tiêu chảy Cụ thể: Yếu tố bám dính: 93,33% so với 33,33%; khả năng dung huyết: 53,33% so với 25,92%; độc tố chịu nhiệt (LT): 90% - 11,11%, cả 2 loại ST + LT: 73,33% so với 1,4%; độc lực mạnh (giết chết 100% chuột): 90% so với 0%
Tìm hiểu nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy lợn con, Hồ Soái và
cs (2005)[49] cho biết 100% mẫu phân lợn tiêu chảy phân lập được E.coli với
số lượng nhiều gấp 2,37 lần (1 - 45 ngày tuổi) và gấp 2,31 lần (45 - 60 ngày
tuổi) so với lợn bình thường không tiêu chảy Độc lực của vi khuẩn E.coli và
Salmonella gây chết chuột từ 50 - 100%, thời gian gây chết 6 - 36 giờ Độc tố
gây bệnh vi khuẩn E.coli gồm: 60% có độc tố STb, tỷ lệ LT, Sta và VT2 là
40%, 20% và 10%, có 2 chủng sinh độc tố EAST1, 2 chủng sản sinh 2 loại độc tố STb và LT, 2 chủng sản sinh 3 loại độc tố STa, STb và LT
Nghiên cứu đặc tính sinh học của vi khuẩn E.coli trong bệnh phân trắng
lợn con ở một số tỉnh phía Bắc, Đặng Xuân Bình và cs (2008)[3] thông báo vi
khuẩn E.coli phân lập được ở hầu hết các mẫu bệnh phẩm lợn con mắc bệnh phân trắng (chiếm 84,7%) Độc tố gây bệnh vi khuẩn E.coli gồm: 46,8% có
độc tố ST, LT (37,5%), ST+LT (16,5%) Sản sinh yếu tố bám dính: F4
(7,8%), F5 (15,6%), F6 (23,4%), F18 (4,68%); các chủng vi khuẩn E.coli có
độc lực mạnh với chuột thí nghiệm
Trang 361.3.2 Những nghiên ở nước ngoài
Theo Smith H W và cs (1967)[102] cho biết nhiều chủng vi khuẩn
E.coli có khả năng sản sinh ra chất kháng khuẩn có tác dụng ức chế hoặc tiêu
diệt các loại vi khuẩn khác, gọi là ColicinV Vì vậy, yếu tố này cũng được coi
là một trong các yếu tố độc lực của vi khuẩn E.coli gây bệnh; đồng thời tác giả
cũng thông báo có hai loại độc tố là thành phần chính của Enterotoxin được tìm
thấy ở các vi khuẩn E.coli gây bệnh Sự khác biệt của hai loại độc tố này là khả
năng chịu nhiệt: Độc tố chịu nhiệt (ST) và độc tố không chịu nhiệt (LT)
Theo Ketyle và cs (1975)[89] để phát triển trong cơ thể vật chủ vi
khuẩn E.coli cần được cung cấp sắt Hầu hết những chủng E.coli gây bệnh
thường có khả năng gây dung huyết Để chiếm dụng sắt của vật chủ, vi khuẩn
E.coli tiết men Heamolyzin phá vỡ hồng cầu, giải phóng sắt trong nhân HEM
-haaemolysin, -haemolysin, nhưng quan trọng nhất là kiểu -haemolysin và
-haemolysin
Theo Fairbrother.J.M (1992)[84] dựa vào các yếu tố gây bệnh người ta
đã phân loại vi khuẩn E.coli thành các loại sau: Enterotoxigenic E.coli (ETEC), Enteropathgenic E.coli (EPEC), Adherence Eteropathogenic E.coli (AEEC) và Verotoxingenic E.coli (VTEC) Trong đó, các chủng vi khuẩn
thuộc nhóm ETEC và VTEC thường gây ra bệnh tiêu chảy cho lợn con sơ sinh và lợn sau cai sữa
Theo thống kê của James P.Nataro và cộng sự (1998)[91] các chủng vi
khuẩn E.coli gây bệnh được chia thành 5 nhóm (bảng 1.1)
Trang 37Bảng 1.1 Các serotype điển hình của vi khuẩn E.coli gây bệnh
ETEC
O6 O8 O11 O15 O20 O25 O27 O78 O128 O148 O149 O159 O173
H16 H9 H27 H11
NM H42, NM H7 H11, H12 H7 H28 H10 H20
NM
EPEC
O55 O86 O111 O119 O125ac O126 O127 O128 O142
H6, NM H34, NM H2, H12, NM H6, NM H21 H27, NM H6, NM H2, H12 H6
EAEC
O3 O15 O44 O86 O77 O111 O127 O?a
H2 H18 H18
NM H18 H21 H2 H10
EIEC
O28ac O29 O112ac O124 O136 O143 O144 O152 O159
NM
NM
NM H30, NM
NM
NM
NM
NM H2, NM
EHEC
O26 O55 O111ab O113 O117 O157
H11, H32, NM H7
H8, NM H21 H14 H7
Trang 38- Nhóm EPEC (Enteropathogenic E.coli): Những chủng vi khuẩn E.coli
gây viêm ruột, tiêu chảy ở trẻ em dưới 2 tuổi (Polotsky và cs, 1977)[100]
- Nhóm ETEC (Enterotoxigenic E.coli): Tiết ra 2 loại độc tố ST và LT
Trong đó, LT hoạt hóa men adenyl cyclase trong tế bào ruột làm gia tăng yếu
tố C.AMP (cyclicadenozin 5’ monophosphat) Yếu tố này sẽ kích thích ion Cl-và bicarbonat tách ra khỏi tế bào đồng thời ức chế Na+ bên trong tế bào Hậu quả là gây tiêu chảy mất nước Độc tố ST l: hoạt hóa men Guanyl Cyclase làm tăng yếu tố C.GMC (cyclic guanosin 5’ monophosphat) bên trong tế bào dẫn đến kích thích bài tiết muối và nước gây tiêu chảy Những chủng E.coli có cả 2 loại độc tố LT và ST sẽ gây ra tiêu chảy trầm trọng và kéo dài (Levine, 1987)[93]
- Nhóm EIEC (Enteroinvasine E.coli): Những chủng vi khuẩn E.coli này
bám lên niêm mạc và làm bong tróc gây tiêu chảy lẫn máu (giống Shigella) (DuPont và cs, 1971)[83]
- Nhóm EAEC (Enteroaggregative E.coli): Là nhóm E.coli gây bệnh
nhưng không sản sinh độc tố (Cravioto và cs, 1979)[79]
- Nhóm EHEC: Đại diện vi khuẩn E.coli O157:H7 Vi khuẩn này gây
bệnh trên người với các triệu chứng cấp tính như: Tiêu chảy cấp, xuất huyết đường tiêu hóa, phân có lẫn máu, gây hội chứng ure huyết (HUS), trường hợp nghiêm trọng có thể gây tử vong (Riley và cs, 1983)[101]
1.4 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN CỦA TỈNH BẮC GIANG 1.4.1 Một số đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến bệnh tiêu chảy của lợn
Bắc Giang là tỉnh miền núi, nằm cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh Đến nay, tỉnh Bắc Giang có 9 huyện và 1 thành phố Trong đó có 6 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao (Sơn Động); 229 xã, phường, thị trấn
Trang 39Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng miền núi và trung du có đồng bằng xen kẽ Vùng trung du bao gồm 3 huyện Hiệp Hòa, Yên Dũng, Việt Yên
và thành phố Bắc Giang Vùng miền núi bao gồm 6 huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang Trong đó 1 phần các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Sơn Động là vùng núi cao
Nhiệt độ: theo số liệu thống kê cho thấy nhiệt độ trung bình năm dao động từ 22-23oC, cao nhất vào tháng 6 dao động từ 29-30oC và thấp nhất vào tháng 12 và tháng 1 dao động từ 15-16o
Ẩm độ: ẩm độ trong năm dao động lớn từ 73- 87%, những tháng có độ
ẩm cao là tháng 12,1,2,3,4
Đăc điểm địa hình và khí hậu ở tỉnh Bắc Giang rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật, trong dó có tác động đáng kể đến tình hình dịch bệnh trên đàn lợn và đặc biệt là bệnh tiêu chảy
1.4.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn
Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn ở tỉnh Bắc Giang những năm vừa qua diễn biến hết sức phức tạp đã gây tổn thất khá lớn cho phát triển của ngành chăn nuôi
Tổng hợp các báo cáo dịch tễ của Chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang trong
3 năm (từ 2007-2009)[5] cho thấy dịch bệnh trên đàn lợn có trên 8 loại bệnh thường xuyên xảy ra với số lượng: Năm 2007 toàn tỉnh có 79.430 con lợn bị
ốm, 7.620 con chết; năm 2008 toàn tỉnh có 71.671 con lợn bị ốm, 5.100 con chết; năm 2009: 88.036 con ốm, 5.970 con chết
Trang 40Tỷ lệ bệnh tiêu chảy ở lợn hai năm 2007, 2008 xảy ra phổ biến chiếm tỷ
lệ 60% so với tổng số các ca bệnh thường gặp ở lợn, riêng năm 2009 số lợn mắc bệnh tiêu chảy là 62.151 con / 88.036 con mắc các ca bệnh thông thường (chiếm tỷ lệ 71%)
Qua số liệu thống kê hàng tháng chúng tôi thấy: bệnh tiêu chảy ở lợn
và đặc biệt là bệnh tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi xảy ra quanh năm, xảy ra nhiều vào các tháng 12, 1, 2 và tháng 6, 7, 8