Bệnh được gọi là hội chứng tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây nên và nhiều yếu tố bất lợi khác tác động như sự thay đổi đột ngột của thời tiết, khí hậu, kết hợp với những sai sót trong c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-o0o -
TRẦN TRUNG MỸ
Tên đề tài:
“PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH VAI TRÒ CỦA E.COLI TRONG
HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON DƯỚI 2 THÁNG TUỔI
TẠI MỘT SỐ HUYỆN CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN
(Bộ môn vi trùng - Viện Thú y quốc gia)
2 GS-TS Nguyễn Quang Tuyên
(Viện Khoa học sự sống – ĐHTN)
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin đảm bảo rằng các thông tin, trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Bộ môn Vi trùng - Viện Thú y Quốc gia đã dành nhiều thời gian và công sức giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và tiến hành đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn TS Đỗ Ngọc Thúy phó trưởng Bộ môn Vi trùng - Viện Thú y Quốc gia, GS.TS Nguyễn Quang Tuyên - Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ và tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các cán bộ, công nhân viên chức Bộ môn Vi trùng - Viện Thú y Quốc gia, cán bộ công nhân viên Chi cục Thú y tỉnh Thái Nguyên, cán bộ công nhân viên Trạm Thú y huyện Định Hóa, Phú Lương và Đồng Hỷ đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn này
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
Trần Trung Mỹ
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số biểu hiện bệnh lý và nguyên nhân chủ yếu của hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi 4
1.1.1 Bệnh lý tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi 4
1.1.2 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi 7
1.2 Vai trò của vi khuẩn E coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con 15
1.2.1 Vi khuẩn Escherichia coli (E coli) 15
1.3 Biện pháp phòng trị tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi do vi khuẩn 26
1.3.1 Phòng bệnh 26
1.3.2 Điều trị bệnh 29
Chương 2: NỘI DUNG - NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Nội dung nghiên cứu 34
2.2 Nguyên liệu 35
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 35
2.2.3 Mẫu bệnh phẩm 35
2.2.4 Môi trường, hóa chất, dụng cụ, động vật thí nghiệm 35
2.2.5 Thời gian nghiên cứu 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Phương pháp điều tra dịch tễ học 36
2.3.2 Thu thập mẫu và phân lập vi khuẩn 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sơ sinh đến dưới 2 tháng tuổi tại Thái Nguyên 46
3.1.1 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 46
Trang 53.1.2 Tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo mùa vụ 49
3.1.3 Tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo ph-ơng thức chăn nuôi 53
3.2 Biến động số lượng vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn E coli trong phân lợn con dưới 2 tháng tuổi 55
3.2.1 Biến động số lượng vi khuẩn hiếu khí 56
3.2.2 Biến động số lượng của vi khuẩn E coli 57
3.3 Kết quả phân lập vi khuẩn E coli từ các mẫu bệnh phẩm 59
3.3.1 Kết quả phân lập vi khuẩn E coli từ các mẫu phân 59
3.3.2 Kết quả phân lập vi khuẩn E coli từ các mẫu là phủ tạng 62
3.4 Kết quả giám định một số đặc tính sinh hóa của các chủng vi khuẩn E coli phân lập 63
3.5 Kết quả xác định một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn E coli phân lập 65
3.6 Kết quả xác định các serotyp kháng nguyên O của các chủng vi khuẩn E coli phân lập 66
3.7 Kết quả xác định độc lực của các chủng vi khuẩn E coli phân lập trên chuột bạch 69
3.8 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn E coli phân lập được 71
3.9 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi 74
3.10 Một số biện pháp phòng bệnh 77
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Đề nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, từ viết tắt Ý nghĩa
APEC : Asia-Pacific Economic Cooperation
BHI : Brain Heart Infusion
ColV : Colicin V
Cl perfringens : Clostridium perfringens
CFU : Colony Forming Unit
DHL : Deoxycholate Hydrogensulfide Lactose
DNA : Deoxyribonucleic Acid
E coli : Escherichia coli
EDTA : Ethylene Diamine Tetraacetic Acid
ETEC : Enterotoxigenic Escherichia coli
FAO : Food and Argriculture Oganization
OMPs : Outer Memberance Proteins
PBW : Buffered Pepton Water
PCR : Polymera Chain Reaction
ST : Heat Stable Toxin
VTEC : Verotoxin Producing E coli
WTO : World Trade Organization
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Tiêu chuẩn đánh giá mức độ mẫn cảm và kháng kháng sinh
theo NCCLS (1999) 45 Bảng 3.1 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện 47 Bảng 3.2: Tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy và chết theo mùa vụ 50 Bảng 3.3 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo phương thức
chăn nuôi 53 Bảng 3.4: Số lượng vi khuẩn hiếu khí ở lợn con dưới 2 tháng tuổi 56 Bảng 3.5: Biến động số lượng vi khuẩn E coli trong phân lợn con dưới
2 tháng tuổi 57 Bảng 3.6: Kết quả phân lập vi khuẩn E coli trong phân lợn con dưới 2
tháng tuổi ở 2 trạng thái 59 Bảng 3.7: Kết quả phân lập vi khuẩn E coli từ phủ tạng lợn con dưới 2
tháng tuổi chết do tiêu chảy 62 Bảng 3.8: Đặc tính sinh hóa của một số chủng E coli phân lập được 63 Bảng 3.9: Tỷ lệ các chủng vi khuẩn E coli mang các yếu tố gây bệnh 65 Bảng 3.10: Kết quả xác định serotyp kháng nguyên O của các chủng vi
khuẩn E coli phân lập được từ lợn bệnh 67 Bảng 3.11: Kết quả xác định độc lực trên chuột bạch của một số
chủng E coli phân lập 69 Bảng 3.12: Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các
chủng vi khuẩn E coli 72 Bảng 3.13: Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy
lợn từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi 76
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Quy trình phân lập vi khuẩn đường ruột (Bộ môn Vi trùng - Viện
Thú y Quốc gia) 39 Hình 3.1: Biểu đồ tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện 49 Hình 3.2: Biểu đổ tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy và chết theo mùa vụ 52 Hình 3.3: Biểu đồ tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo phương thức
chăn nuôi 54
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đã từ lâu chăn nuôi là ngành cung cấp thực phẩm chủ yếu phục vụ đời sống con người Cùng với nhu cầu thực phẩm của con người ngày càng cao, chăn nuôi cũng đạt nhiều thành tựu nhằm đáp ứng nhu cầu đó Đặc biệt trong thời kỳ hội nhập APEC, WTO… như hiện nay, ngành chăn nuôi nước ta cũng phải chuyển mình cho phù hợp với yêu cầu của thời đại, trong ngành chăn nuôi, nghề chăn nuôi lợn chiếm vị trí rất quan trọng Theo thống kê của FAO (2006) tổng sản lượng thịt trên toàn thế giới là 232,1 triệu tấn, trong đó thịt lợn là 103 triệu tấn (chiếm gần 44%); thịt bò là 52,9 triệu tấn (chiếm 22,79%) , thịt gà là 48,6 triệu tấn (chiếm 20,93%) Ở nước ta, nghề chăn nuôi lợn đã có
từ lâu đời và ngày càng phát triển, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực như chọn tạo giống, dinh dưỡng, kỹ thuật chăn nuôi quy trình vệ sinh và thú y… Do vậy, năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi lợn không ngừng được nâng cao, số lượng đầu lợn tăng ngày càng nhanh Theo số liệu của Cục thống kê năm 2007, tổng đàn lợn ở Việt Nam năm 2005 đạt 27,434 triệu con, năm 2006 đạt 26,85 triệu con, đã sớm đạt và vượt mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 đạt 25 triệu con
Thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng và nạc hoá đàn lợn cũng như chuyển sang hướng chăn nuôi tập trung, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều dự án, chương trình nhằm cải tạo đàn lợn, tăng dần tỉ lệ đàn nái ngoại
và nái lai trong cơ cấu đàn nhằm đáp ứng nhu cầu sản phẩm có chất lượng cao
ở trong nước, cũng như hướng tới xuất khẩu
Cùng với xu thế của cả nước, tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện các dự án nạc hoá đàn lợn, đưa nái ngoại vào chăn nuôi ở các nông hộ từ những năm 90
Trang 10của thế kỷ XX Đến nay, đã có rất nhiều cơ sở chăn nuôi lợn nái ngoại quy
mô từ 50 - 100 - 150 nái/trại Đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn nuôi lợn của tỉnh Thái Nguyên, góp phần cung cấp thực phẩm với tỷ lệ nạc cao cho người tiêu dùng
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chăn nuôi thì tình hình dịch bệnh cũng đang diễn biến hết sức phức tạp (dịch tai xanh, dịch lở mồm long móng…) hàng năm làm chết nhiều đầu lợn Một trong những bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế, hay gặp và phổ biến ở lợn con dưới 2 tháng tuổi là bệnh tiêu chảy Bệnh được gọi là hội chứng tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây nên và nhiều yếu tố bất lợi khác tác động như sự thay đổi đột ngột của thời tiết, khí hậu, kết hợp với những sai sót trong chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý cùng với điều kiện môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm, vệ sinh kém, tạo điều kiện cho các vi sinh vật gây bệnh phát triển
Hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu và đề cập tới ở nhiều khía cạnh khác nhau Vi
khuẩn E coli là một trong những vi khuẩn thường gây tiêu chảy cho lợn con
dưới 2 tháng tuổi Việc nghiên cứu về vi khuẩn này giúp có được những hiểu biết sâu hơn, từ đó đưa ra các biện pháp phòng và điều trị bệnh bằng các phác
đồ thích hợp và hiệu quả, làm giảm thiểu thiệt hại do bệnh
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Phân lập và xác định vai trò của vi khuẩn E coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi tại một số huyện của tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân lập và xác định một số đặc tính gây bệnh của các chủng vi khuẩn
E coli phân lập được từ các lợn tiêu chảy của lợn con dưới 2 tháng tuổi tại
một số huyện của tỉnh Thái Nguyên, làm cơ sở cho việc tuyển chọn các chủng
Trang 11đủ điều kiện để phục vụ cho việc chế các chế phẩm phòng bệnh và đề xuất biện pháp phòng trị
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Đề tài là một công trình nghiên cứu có hệ thống, lý luận gắn liền với thực tiễn sản xuất;
- Xác định được mối liên quan giữa các yếu tố ngoại cảnh và vai trò của
vi khuẩn E coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi;
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng thời đóng góp thêm tư liệu cho nghiên cứu và giảng dạy, cho cán bộ thú y cơ sở và người chăn nuôi;
- Kết quả nghiên cứu phục vụ cho công tác bào chế các chế phẩm sinh học phòng bệnh và thuốc điều trị hội chứng tiêu chảy có hiệu quả
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số biểu hiện bệnh lý và nguyên nhân chủ yếu của hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi
1.1.1 Bệnh lý tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi
Hậu quả trực tiếp và nặng nề của hiện tượng tiêu chảy là sự mất nước
và mất các chất điện giải của cơ thể, kéo theo hàng loạt các biến đổi bệnh lý (Lê Minh Chí, 1995) [3] Hiện tượng mất nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu không được điều chỉnh Gia súc non dự trữ dịch thể tương đối thấp nên đặc biệt mẫn cảm với sự mất nước Chính vì vậy, biện pháp phòng chống
và bù nước trong điều trị tiêu chảy luôn luôn phải đặt ra (Archie, 2000) [60]
1.1.1.1 Sự mất nước trong tiêu chảy ở gia súc
Ống tiêu hóa là nơi vận chuyển nước và điện giải rất mạnh Lượng nước tiết ra và tái hấp thu ở đây mỗi ngày rất lớn, không kể nước từ thức ăn
và nước uống Trong trường hợp rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy), cơ thể không những không hấp thu được nước do ăn, uống mà còn mất thêm dịch tiết; trong dịch ruột có nhiều muối kiềm, do đó khi mất nước sẽ kéo theo mất các chất điện giải
Cơ thể gia súc, gia cầm đòi hỏi sự cân bằng giữa xuất và nhập nước Hàng ngày cơ thể phải đào thải nhiệt và nhiều chất dưới dạng dung dịch Vì vậy, lượng nước xuất ra khỏi cơ thể tới vài lít trong một ngày đêm qua hơi thở, mồ hôi, nước tiểu và phân Bởi vậy, cơ thể cần được bổ xung một lượng
Trang 13nước tương đương Nếu mất cân bằng sẽ gây tình trạng bệnh lý mất nước hoặc tích nước
Nguyễn Hữu Nam (2002) [25] cho biết khi bị tiêu chảy do khối thức ăn không tiêu ở ruột làm tăng áp lực thẩm thấu gây hút nước vào trong lòng ruột; hoặc khi viêm ruột, ngộ độc thức ăn, dịch nhầy của ruột với nước có thể tăng gấp 80 lần so với bình thường, lượng dung dịch trong ruột tăng lên sẽ kích thích ruột tăng co bóp sinh ra tiêu chảy và mất nước
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2003) [15] cho biết dịch tiêu hoá tiết ra 8 lít mỗi ngày, kèm theo nhiều chất điện giải, phần lớn là đẳng trương (trừ nước bọt) Dịch tiêu hoá sẽ được hấp thu toàn bộ, cùng với lượng nước của thức ăn Khi cần ống tiêu hoá có thể hấp thu 30 lít mỗi ngày Ngược lại, khi bị viêm hoặc ngộ độc ống tiêu hoá có thể “tiết phản ứng” tới 30-40 lít Vì vậy mất nước do ỉa lỏng có thể diễn ra nhanh với lượng nước mất rất lớn Đồng thời với lượng mất dịch ruột, dịch mật, dịch tụy, làm hao hụt nhanh chóng lượng kiềm của cơ thể, gây nhiễm toan rất nặng Từ đó gây rối loạn tuần hoàn, tụt huyết áp, thận không bài tiết, rối loạn chuyển hoá nặng làm cơ thể nhiễm toan
và nhiễm độc nặng
Theo Trần Thị Dân (2006) [4] ảnh hưởng rõ rệt nhất của sinh lý tiêu chảy là mất dịch ngoại bào Mất 15% làm xuất hiện triệu chứng lâm sàng như giảm huyết áp, tim đập nhanh… và mất 30% sẽ gây chết Cung cấp dịch là biện pháp ưu tiên trong điều trị tiêu chảy Dịch cấp nên đẳng trương với huyết tương và chứa đủ K+
, HCO3
để thay thế các phần đã mất, đồng thời nên thêm
Na+ và glucose với lượng phân tử bằng nhau
Theo Nguyễn Quang Tuyên và cs (2007) [57] mất nước xảy ra khi mất cân bằng giữa lượng nước nhập và xuất do cung cấp không đủ hoặc do mất ra ngoài quá nhiều Mất nước mà trọng lượng cơ thể giảm 5% thì các dấu hiệu
Trang 14rối loạn bắt đầu xuất hiện Khi mất 20-25% lượng nước thì rất nguy hiểm vì các rối loạn huyết động và chuyển hoá đều rất nặng và đã hình thành vòng bệnh lý vững chắc
Có thể xảy ra những thay đổi trong huyết tương Tuy nhiên, thể tích huyết tương và hàm lượng của các chất biến dưỡng có thể không phản ánh những thay đổi trong tế bào Giảm thể tích huyết tương làm giảm huyết áp trong động mạch Điều này kích thích co mạch ngoại biên, thiếu máu cục bộ, giảm hoạt động biến dưỡng và giảm thân nhiệt ở mô ngoại biên Do đó, khi gia súc bị tiêu chảy thì khi sờ ngoài da thường lạnh và nhiệt độ trong trực tràng giảm xuống khi con vật gần chết
1.1.1.2 Sự mất cân bằng các chất điện giải trong cơ thể
Các chất điện giải chính trong cơ thể là Na+
, K+ và chúng giữ vai trò cân bằng toan kiềm trong máu và dịch ngoại bào, duy trì áp suất thẩm thấu
Do đó, khi gia súc bị tiêu chảy, cơ thể mất một lượng lớn các chất điện giải này làm hoạt động của cơ thể bị rối loạn nặng
Theo Lê Văn Tạo (2005) [43], vi khuẩn E coli xâm nhập vào trong lớp
tế bào biểu mô ruột, tại đây vi khuẩn phát triển nhân lên lần thứ nhất làm phá huỷ lớp tế bào gây ra viêm ruột Cũng tại đây, vi khuẩn sản sinh độc tố đường ruột (Enterotoxin) Độc tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối, nước ở ruột làm cho nước và chất điện giải không được hấp thu từ ruột vào cơ thể mà ngược lại được thẩm xuất từ cơ thể vào ruột
+ Rối loạn cân bằng Na+: Na+ là ion chủ yếu ở khu vực ngoại bào, nó liên quan chặt chẽ với các ion Cl-
và HCO3- Vai trò chủ yếu là cân bằng áp suất thẩm thấu và cân bằng acid-bazơ qua cặp đệm bazơ H2CO3/NaHCO3 Khi
bị tiêu chảy thì Na+
huyết tương giảm đi rất nhiều, ngoài ra, nó còn bị giảm khi cung cấp thiếu trong khẩu phần ăn Hậu quả là gây nhược trương gian bào
Trang 15nước sẽ vào tế bào, giảm dự trữ kiềm, giảm khối lượng máu, vỡ hồng cầu và làm giảm huyết áp
+ Rối loạn cân bằng K+: K+ là ion chủ yếu trong khu vực tế bào nhưng ngoài tế bào nó cũng có vai trò quan trọng trong việc duy trì tính chịu kích thích của sợi cơ Cân bằng K+
liên quan chặt chẽ với Na+ huyết tương cũng như ở thận Giảm K+
thường gặp trong cung cấp thiếu hoặc do đào thải quá nhiều như nôn, tiêu chảy Hậu quả của giảm K+
thường rất nguy hiểm, nó có thể làm tim ngừng đập và gây chết gia súc
1.1.2 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi
Tiêu chảy là hội chứng bệnh lý thường xảy ra với lợn con dưới 2 tháng tuổi, đặc biệt là lợn con theo mẹ Đây là quá trình bệnh lý đặc thù của đường tiêu hóa Biểu hiện lâm sàng của hội chứng phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất diễn biến, tùy thuộc độ tuổi mắc bệnh, yếu tố được coi là nguyên nhân chính
mà nó được gọi theo nhiều tên bệnh khác nhau như bệnh lợn con phân trắng, bệnh tiêu chảy sau cai sữa, chứng rối loạn tiêu hóa, chứng khó tiêu…
Theo Radostits và cs (1997) [74]: với bất kỳ cách gọi nào thì tiêu chảy luôn được đánh giá là triệu chứng phổ biến trong các dạng bệnh của đường tiêu hóa, xảy ra ở mọi lúc, ở mọi nơi và đặc biệt là ở gia súc non với biểu hiện triệu chứng là ỉa chảy, mất nước và mất điện giải, suy kiệt, có thể dẫn đến chết do trụy tim mạch
Theo Trương Quang và cs (2007) [37]: tiêu chảy là một hội chứng gây
ra bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có các yếu tố là nguyên nhân nguyên phát hoặc thứ phát Nhưng dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì đều gây hậu quả là viêm nhiễm, tổn thương đường tiêu hóa và cuối cùng là một quá trình nhiễm trùng
Trang 16Trong hội chứng tiêu chảy, bên cạnh những tác động bất lợi của điều kiện ngoại cảnh, của ký sinh trùng, sự không phù hợp của khẩu phần ăn của lợn mẹ cũng như lợn con thì vai trò của các vi khuẩn, virus gây bệnh đường ruột cũng là yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong sự hình thành bệnh
* Rối loạn tiêu hóa do thức ăn
Trong chăn nuôi lợn con dưới 2 tháng tuổi, để tăng cường sức khỏe và khả năng sinh trưởng cho lợn con thì việc thực hiện đúng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng là rất quan trọng Thức ăn cho lợn con là vấn đề rất quan trọng, khi thức ăn kém phẩm chất, thành phần dinh dưỡng không cân đối… đều có thể làm cho lợn con bị tiêu chảy
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6] thức ăn kém phẩm chất, bị ôi thiu, nấm mốc, tạp khuẩn và các chất độc khác, khẩu phần ăn mất cân đối giữa các thành phần protid, glucid, lipid, nguyên tố vi lượng và các vitamin, thay đổi khẩu phần thức ăn đột ngột làm cho khả năng tiết men tiêu hóa của lợn con không đáp ứng kịp và không tiêu hóa được thức ăn, chế độ nghỉ ngơi,
ăn uống không hợp lý hoặc lợn con sau khi sinh ra không được bú sữa mẹ kịp thời, hay sữa mẹ kém phẩm chất do lợn mẹ không được nuôi dưỡng, chăm sóc, khai thác hợp lý cũng gây ra cho lợn con mắc bệnh tiêu chảy
Thức ăn chất lượng kém, ôi thiu, khó tiêu hóa… là nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc Thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể gia súc; đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây ra hội chứng tiêu chảy (Laval A, 1997) [61]
* Rối loạn tiêu hóa do nước uống
Nguồn nước bị ô nhiễm cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy ở gia súc
Nguồn nước dễ bị nhiễm các loại vi khuẩn gây tiêu chảy như E coli và
Trang 17Salmonella do môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm vi khuẩn Bên cạnh đó,
nguồn nước mà bị ô nhiễm trứng một số loài ký sinh trùng đường tiêu hóa
như giun đũa (Ascaris suum), sán dây (Taenia solium)… và khi những ký sinh
trùng này xâm nhập vào đường tiêu hóa của lợn con và hoàn thành vòng đời của chúng thì gây ra hiện tượng tiêu chảy
Ngoài ra, vào mùa đông và đầu mùa xuân, nhiệt độ môi trường thường thấp và khi lợn con uống nước quá lạnh cũng làm ảnh hưởng đến sự tiêu hóa
và có thể dẫn đến tiêu chảy
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [33] lợn con từ 5 ngày tuổi trở lên hàng ngày cần cung cấp lượng nước khoảng 10% so với khối lượng cơ thể Trong chuồng cần có máng hoặc vòi uống tự động dành riêng cho lợn con và nước uống cần đảm bảo sạch sẽ, nếu cho uống nước bằng máng, mỗi ngày nên thay 2 lần Không nên cho lợn con uống nước lạnh có nhiệt độ dưới 150
Theo Trương Lăng (2004) [17] thời tiết, tiểu khí hậu chuồng nuôi, chế
độ ăn uống, vệ sinh chuồng trại, sự điều hòa tốt giữa độ ẩm và nhiệt độ… đều ảnh hưởng đến tỷ lệ cảm nhiễm bệnh
Trần Văn Phùng và cs (2004) [33] cho biết tiểu khí hậu chuồng nuôi khô, ấm, không có gió lùa là quan trọng trước hết để giảm tỷ lệ tiêu chảy Vệ
Trang 18sinh cũng rất quan trọng cho việc làm giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con Tẩy
uế và khử trùng cẩn thận chuồng lợn đẻ sau mỗi lô lợn đẻ cũng giúp cho việc phòng ngừa Nên nhớ rằng nếu chỉ để dính vài gam phân bẩn cũng làm cho quá trình sát trùng không đạt mức độ triệt để và giúp cho một chủng vi khuẩn nào đó hoạt động và nhiễm bệnh cho lứa lợn tiếp theo, đặc biệt quan tâm đến việc sát trùng tẩy uế chuồng trại nếu lợn nuôi trước đó đã bị tiêu chảy
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2007) [18], bệnh phát sinh ở nơi chăn nuôi tập trung, thiếu nơi vận động, nhất là khi chuồng ẩm ướt, khi thời tiết thay đổi đột ngột, tạo ra stress làm giảm sức đề kháng của lợn
* Một số vi sinh vật gây tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi
- Tiêu chảy do vi khuẩn
Trong đường ruột của gia súc nói chung và của lợn con nói riêng có rất nhiều loài vi sinh vật sinh sống Chúng tồn tại dưới dạng cân bằng và có lợi cho cơ thể của vật chủ Dưới một tác động bất lợi nào đó, trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột này bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một và loài nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây ra hiện tượng loạn khuẩn, hấp thu ở ruột bị rối loạn
và hậu quả là lợn con bị tiêu chảy
Nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở lợn con do vi khuẩn, cho đến nay đã
có rất nhiều công trình và các tác giả đã đề cập đến rất nhiều về vai trò của vi
khuẩn E coli
Cũng theo Radostits và cs (1997) [74], E coli gây bệnh cho lợn là các
chủng có kháng nguyên pili và sản sinh độc tố đường ruột đóng vai trò quan trọng và phổ biến trong quá trình tiêu chảy ở lợn
Trương Quang và cs (2005) [38] khi nghiên cứu yếu tố gây bệnh, vai
trò của E coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn nuôi gia đình trước và sau khi
Trang 19xuất chuồng cho biết: E coli cũng như nhiều vi khuẩn đường ruột khác sống
thường trực trong đường tiêu hóa nói chung và của lợn nói riêng Trong điều kiện bình thường, giữa chúng với các loại vi khuẩn khác và cơ thể vật chủ ở trạng thái cân bằng, ổn định, cùng tồn tại, có lợi cho cơ thể vật chủ Khi các tác nhân bất lợi hoặc ngay từ ngoại cảnh, hoặc trong đường tiêu hóa tác động thì sức đề kháng của lợn giảm xuống, trạng thái cân bằng trên bị phá vỡ Nhân
cơ hội này, một số vi khuẩn, trong đó có E coli độc nhân lên về số lượng,
tăng lên về độc lực và gây bệnh
Đỗ Ngọc Thúy và cs (2008) [51] khi nghiên cứu về đặc tính của một số
chủng E coli phân lập từ lợn mắc tiêu chảy tại tỉnh Hưng Yên cho biết số
chủng mang kháng nguyên bám dính ở lợn trước cai sữa chiếm tỷ lệ 16,7%, sau cai sữa là 93,8%
Bên cạnh E coli thì vi khuẩn Salmonella cũng là một loại vi khuẩn gây
ra hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [46] cho biết sự xuất hiện của Salmonella
phụ thuộc vào các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Mỗi yếu tố bất lợi làm giảm sức đề kháng của vật nuôi đều phải coi là nguyên nhân tiên phát của sự xuất hiện bệnh
Theo Phan Thanh Phượng (1988) [34] vi khuẩn Salmonella thường
xuyên có trong đường ruột lợn và trong những điều kiện chăn nuôi, quản lý
làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm, chính vi khuẩn Salmonella trở thành
độc và phát triển mạnh mẽ gây nên viêm ruột, ỉa chảy
Theo Radostits và cs (1997) [74] thì Salmonella là vi khuẩn có vai trò
quan trọng trong quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy Hiện nay các nhà khoa
học đã ghi nhận có khoảng 2.200 serotyp Salmonella và chia ra 67 nhóm
huyết thanh dựa vào cấu trúc kháng nguyên O
Trang 20Theo Phan Thanh Phượng và cs (1996) [35] vi khuẩn yếm khí Cl
perfringens là một trong những tác nhân gây bệnh quan trọng trong hội chứng
tiêu chảy của lợn ở lứa tuổi từ 1 - 120 ngày Ở lợn con theo mẹ, tỷ lệ mắc
bệnh có thể đến 100% và tỷ lệ chết là 60% Lượng vi khuẩn Cl perfringens
chứa trong 1g phân lợn tiêu chảy ở lứa tuổi 1 - 60 ngày tuổi dao động từ 106
-
1010 CFU (Colony Forming Unit); số mẫu có chứa lượng vi khuẩn cao (108,
109 , 1010) chiếm tỷ lệ 37 - 45% Ở lợn con từ 60 - 120 ngày tuổi bị tiêu chảy,
số lượng vi khuẩn trong 1g phân ở mức 108
, 109 chiếm tỷ lệ 27,14 - 37,51%
Hồ Văn Nam và cs (1997) [24] khi nghiên cứu biến động nhiễm
Salmonella ở lợn qua các lứa tuổi cho biết: Ở lợn con từ sơ sinh đến 2 tháng
tuổi có tỷ lệ nhiễm Salmonella là 26,02% Lợn 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm
cao nhất 34,03% Sau đó, ở những lợn lớn tuổi hơn tỷ lệ nhiễm lại giảm dần Lợn 5 - 6 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm khuẩn là 16,17%; lợn 9 - 12 tháng tuổi
12,02% Khi bị tiêu chảy, lợn bị bội nhiễm Salmonella khá rõ, vi khuẩn xuất
hiện cả trong máu, tim, thận
Khi nghiên cứu vai trò của Salmonella trong hội chứng tiêu chảy ở lợn, Trương Quang và cs (2007) [37] cho biết Salmonella đóng vai trò
quan trọng trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con Tỷ lệ các chủng
Salmonella có các yếu tố gây bệnh (yếu tố bám dính, thành phần độc tố
thẩm xuất) và có độc lực mạnh phân lập từ lợn con tiêu chảy cao hơn rất nhiều so với lợn không tiêu chảy
Cl perfringens cũng là loài vi khuẩn gây ra bệnh tiêu chảy ở lợn con
Đây là một vi khuẩn yếm khí và cũng thường có trong đường tiêu hóa của lợn
con như E coli và Salmonella
Theo Nguyễn Văn Sửu và cs (2008) [42] khi xác định tỷ lệ tiêu chảy do viêm ruột hoại tử tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên cho biết số
Trang 21lượng vi khuẩn Cl perfringens ở phân lợn con tiêu chảy trung bình là 21,58
triệu trong 1g phân và ở lợn bình thường là 7,98 triệu
Như vậy, ba loại vi khuẩn E coli, Salmonella và Cl perfringens là 3
loại vi khuẩn thường gặp trong hội chứng tiêu chảy ở gia súc nói chung và ở lợn con nói riêng
- Tiêu chảy do virus
Bên cạnh các vi khuẩn thì virus cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn con Vai trò của virus trong hội chứng tiêu chảy của gia súc đã được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm và đã có nhiều công
trình nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của một số virus như Rotavirus, Enterovirus,
Transmissible Gastro Enteritis (TGE) là những nguyên nhân chủ yếu gây
viêm dạ dày - ruột và gây triệu chứng tiêu chảy đặc trưng ở lợn con Cơ chế gây tiêu chảy của các virus này là: chúng xâm nhập vào đường tiêu hóa và gây viêm ruột từ đó gây rối loạn tiêu quá trình tiêu hóa, hấp thu thức ăn và nước của lợn cuối, cùng gây ra hiện tượng ỉa chảy
Theo Đào Trọng Đạt, 1996 [6]) trong số những mầm bệnh thường gặp
ở lợn trước và sau cai sữa bị bệnh tiêu chảy có rất nhiều loại virus: 20,9% lợn
bệnh phân lập được Rotavirus; 11,2% có virus viêm dạ dày ruột truyền nhiễm; 2% có Enterovirus; 0,7% có Parvovirus
Theo Phan Thanh Phượng và cs (2006) [36] khi lợn mắc bệnh dịch tả
cổ điển cũng thường có triệu chứng bỏ ăn, ủ rũ, viêm kết mạc, tiêu chảy và bại liệt, thân nhiệt bình thường Đa số những triệu chứng trên là do nhiễm virus thể có độc lực yếu gây nên
- Tiêu chảy do ký sinh trùng
Ký sinh trùng đường tiêu hóa cũng là một nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy ở gia súc Chúng cướp chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc
tố đầu độc hệ thần kinh… qua đó làm cho sức đề kháng của vật chủ bị giảm
Trang 22xuống nên dễ mắc các bệnh khác Ngoài ra ký sinh trùng trong các cơ quan nội tạng khác như sán lá gan, sán lá tuyến tụy, ký sinh trùng đường máu… cũng có tác động xấu đến sức đề kháng và khả năng tiêu hóa của của gia súc
và gây ra hiện tượng tiêu chảy
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [12], chính phương thức sống ký sinh trong đường tiêu hóa của các loài giun sán đã làm tổn thương niêm mạc ruột, nhờ đó các loại mầm bệnh dễ xâm nhập, gây viêm ruột, gây rối loạn quá trình tiêu hóa hấp thu, kích thích nhu động ruột, gây tiêu chảy và hiện tượng nhiễm trùng
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [13] khi nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở Thái Nguyên đã kết luận cầu trùng và một
số giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa
Khi nghiên cứu về tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [14] đã nhận xét giun sán đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc, giun kết hạt và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy tỷ lệ nhiễm cao hơn và mức độ nặng hơn
Lê Hồng Mận (2004) [21] cho biết lợn bị ngộ độc aflatoxin cấp tính thì
bỏ ăn, tiêu hóa rối loạn, loạng choạng, lúc đầu nhiệt độ tăng, rồi giảm, da
Trang 23vàng, co giật, yếu mệt rồi bị liệt Lợn bị ngộ độc ở thể thứ cấp tính sốt cao đến 41,50C, nôn mửa, tiêu chảy, ở bẹn có kết ban đỏ, cũng co giật rồi liệt và chết
Theo Đậu Ngọc Hào (2007) [10] hàm lượng aflatoxin có thể từ 1000ppb tới vài nghìn ppb Sự có mặt của độc tố nấm trong thức ăn chăn nuôi
đã làm dẫn đến tăng chi phí thức ăn/1kg tăng trọng, giảm trọng lượng thu được do chậm lớn, tỷ lệ ốm và chết do các bệnh đường tiêu hóa và hô hấp
cao, giảm sức đề kháng với các bệnh truyền nhiễm đặc biệt là Salmonella và cầu trùng (Coccidiosis)…
Tống Vũ Thắng và cs (2008) [49] khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ô
nhiễm nấm mốc, E coli, Salmonella, Cl perfringens trong thức ăn hỗn hợp
và tỷ lệ lợn bị tiêu chảy trong mùa khô và mùa mưa ở thành phố Hồ Chí Minh
đã kết luận tỷ lệ lợn bị tiêu chảy mùa khô là 13,96% và mùa mưa là 14,8% Phân tích tương quan chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa ô nhiễm nấm mốc và vi khuẩn trong thức ăn và tỷ lệ lợn bị tiêu chảy là chặt chẽ (R>0,9)
1.2 Vai trò của vi khuẩn E coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con
1.2.1 Vi khuẩn Escherichia coli (E coli)
Trực khuẩn ruột già Escherichia coli trước đây còn có tên là Bacterium
coli commune, Bacillus coli communis do Escherich phân lập năm 1885 từ
phân trẻ em
Những chủng E coli phổ thông về mặt huyết thanh học được chia
thành một số typ, trong đó, một số typ đóng vai trò quan trọng trong việc gây
ra một số bệnh ở động vật và người Việc phân chia vi khuẩn E coli thành các
typ được căn cứ vào cấu trúc kháng nguyên
Lê Văn Tạo (2006) [44] cho biết cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn
E coli gồm kháng nguyên thân O (Somatic), kháng nguyên lông H
(Flagellar), kháng nguyên vỏ K (Capsular) hoặc còn gọi là kháng nguyên OMP (Outer Memberance Protein), và kháng nguyên bám dính F (Fimbriae)
Trang 24Cho đến nay, các nhà khoa học đã xác định được 170 typ kháng nguyên O, 80 typ kháng nguyên H, 56 typ kháng nguyên K và một số kháng nguyên F Kháng nguyên H không quyết định yếu tố độc lực, không có vai trò bám dính, nhưng có tác dụng bảo vệ vi khuẩn đường ruột, tránh sự tiêu diệt của đại thực bào, giúp vi khuẩn sống và nhân lên trong tế bào gan, thận và ngay cả trong đại thực bào (Weinstein và cs, 1984) [78]
1.2.1.1 Một số đặc điểm của vi khuẩn E coli
Bình thường E coli là vi khuẩn cộng sinh, thường trực trong đường ruột gia súc, gia cầm và người E coli là trực khuẩn thuộc họ
Enterobacteriaceae, là vi khuẩn bắt màu Gram âm, 2 đầu tròn, kích thước 2 -
3 x 0,6 m, có lông ở xung quanh nên vi khuẩn có khả năng di động Vi
khuẩn E coli không hình thành nha bào nên sức đề kháng yếu, dễ bị diệt ở
nhiệt độ 550C trong vòng 1 giờ, ở 600C sống được 15 - 30 phút Các chất sát trùng như acid phenic, clorua thủy ngân (HgCl2), formol có thể diệt E coli
trong vòng 5 phút, nhưng vi khuẩn đề kháng mạnh với sự sấy khô (Lê Văn Tạo, 2006) [44]
* Đặc tính nuôi cấy
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [56] thì E coli là trực khuẩn hiếu
khí và yếm khí tùy tiện, có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 15 - 240C và nhiệt độ thích hợp là 370
C, pH thích hợp là 7,4 Vi khuẩn dễ dàng phát triển trên các môi trường nuôi cấy thông thường như:
- Môi trường nước thịt phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn lắng xuống đáy màu tro nhạt, đôi khi hình thành màu xám nhạt Canh trùng mùi phân hôi thối;
- Môi trường thạch thường ở 370C sau 24 giờ hình thành những khuẩn lạc hình tròn ướt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, đường kính 2 - 3mm Để lâu
Trang 25khuẩn lạc phát triển rộng ra và có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng
R (Rough) và M (Mooth);
- Môi trường Endo hình thành khuẩn lạc màu đỏ;
- Môi trường EMB (Eosin Methyl Blue) hình thành khuẩn lạc màu tím đen;
- Môi trường Muler Kauffman không mọc;
- Môi trường gelatin không làm tan chảy gelatin
* Đặc tính sinh hóa
- Đặc tính chuyển hóa đường:
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [48] vi khuẩn E coli lên men
sinh hơi các loại đường fructoza, glucoza, levuloza, galactoza, xyloza,
ramnoza, manitol, mannit, lactoza Trừ andonit và inozit, E coli không lên men, trong khi đó Klebsiella lại lên men các loại đường này Tất cả các E coli
đều lên men đường lactoza nhanh và sinh hơi, đó là một đặc điểm quan trọng,
người ta dựa vào đó để phân biệt E coli và Salmonella Tuy nhiên, một vài chủng E coli không lên men lactoza E coli không lên men dextrin, amidin,
glycogen, xenlobioza
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [56], vi khuẩn E coli còn còn một
số đặc tính sinh hóa như:
- E coli làm sữa đông sau 24 - 37 giờ ở 370C;
- Phản ứng sinh Indol: dương tính;
- Phản ứng sinh H2S: âm tính;
- Phản ứng M.R (Methyl Red): dương tính;
- Phản ứng V.P (Voges Proskauer): âm tính;
- Hoàn nguyên nitrat thành nitrit
1.2.1.2 Các serotyp E coli thường gặp trong tiêu chảy ở lợn con
Trang 26Theo Lê Văn Tạo (2006) [44] bệnh phân trắng lợn con là bệnh truyền
nhiễm có điều kiện nên lây lan không mạnh Các serotyp E coli thường phân
lập được từ bệnh phẩm lợn con bị bệnh phân trắng là O9; O11: O149 Khi đàn
bị bệnh nếu không can thiệp kịp thời tỷ lệ chết cao tới 60 - 90%, đặc biệt lợn
con mắc bệnh vào tuần tuổi đầu Bệnh tiêu chảy lợn con do vi khuẩn E coli
xảy ra ở tất cả các lứa tuổi của lợn, nhưng tỷ lệ mắc bệnh, mức độ trầm trọng
và tỷ lệ chết cao tập trung vào lợn con từ 4 tuần tuổi đến sau cai sữa 1 tháng
Bệnh do các serotyp E coli O8; O141: O147;O149 và O157, trong đó
O149F4thường chiếm tỷ lệ cao
Nguyễn Quang Tuyên (2008) [56] cho biết trong 28 typ huyết thanh E
coli phổ biến, có 8 chủng gây bệnh là O111B4; O86B7; O55B5; O127B8
(Mỹ); O128B12 (Anh); 408 và 145
1.2.1.3 Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E coli
Khi nghiên cứu về một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E coli Đỗ
Ngọc Thúy và cs (2007) [52] cho biết sự có mặt của các gen quy định độc lực
cũng như tổ hợp của các gen khác nhau trên cùng một chủng vi khuẩn E coli
phân lập được từ lợn con sau cai sữa bị tiêu chảy tại tỉnh Phú Thọ đã được khảo sát bằng các phản ứng multiplex PCR Kết quả cho thấy trong số 69/74 chủng (chiếm 93,2%) có sản sinh ít nhất 1 loại độc tố hoặc yếu tố bám dính,
có tới 39 chủng (56,5%) mang cả 2 loại độc tố enterotoxin và verotoxin, 36 chủng (52,2%) không mang kháng nguyên bám dính và 33 chủng (47,8%) có mang kháng nguyên bám dính F4 hoặc F18 Các chủng có độc lực được phân loại thành 7 nhóm tổ hợp các yếu tố gây bệnh, trong đó tổ hợp Sta/LT/VT2e/F18 là phổ biến nhất
* Khả năng bám dính
Khả năng bám dính của vi khuẩn là yếu tố gây bệnh vô cùng quan trọng
để thực hiện bước đầu tiên của quá trình gây bệnh đường ruột, đó là một quá
Trang 27trình liên kết vững chắc giữa bề mặt tế bào vi khuẩn và tế bào vật chủ (Jones
và cs, 1977) [67] Hiện tượng bám dính của vi khuẩn lên bề mặt tế bào vừa mang tính chất hóa học, vừa mang tính chất sinh học và được thực hiện theo 3 bước sau:
Bước 1: Vi khuẩn liên kết từng phần với bề mặt tế bào, thực hiện quá
trình này đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động (Jones và cs, 1983) [68]
Sự liên kết này sẽ tăng lên khi bề mặt vi khuẩn có các ion hóa học hoạt động mạnh, nhờ có ion hóa học này vi khuẩn mới được giữ lại trong lớp dịch nhầy của niêm mạc ruột
Bước 2: Đây là quá trình hấp thụ, nó phụ thuộc vào đặc tính bề mặt của
vi khuẩn và tế bào mà vi khuẩn bám dính Quá trình này thực hiện theo hướng thuận nghịch dưới sự tác động của những lực lượng hỗ trợ khác nhau (Freter
và cs, 1981) [66] Việc chuyển động thẳng tiến của vi khuẩn cũng có thể giúp
vi khuẩn cố định và bám chắc trên bề mặt tế bào tham gia vào sự hấp thụ của quá trình bám dính
Bước 3: Là quá trình tác động tương tác giữa yếu tố bám dính của vi
khuẩn với các điểm tiếp nhận trên bề mặt tế bào Yếu tố bám dính của vi khuẩn có thể tác dụng liên kết với điểm tiếp nhận trên bề mặt tế bào như màng Glycoprotein của tế bào niêm mạc ruột non, tế bào nhung mao, tế bào biểu mô, các vi tế bào trên bề mặt nhung mao (Jones và cs, 1977) [67]
Ở nhiều vi khuẩn Gram âm nói chung và vi khuẩn E coli nói riêng,
ngoài lông ra, còn có những bộ phận khác hình sợi gọi là pili Pili hay fimbriae có bản chất là protein bao phủ trên toàn bộ bề mặt tế bào vi khuẩn Dưới kính hiển vi điện tử, chúng có hình ảnh giống 1 chiếc áo lông bao bọc xung quanh vi khuẩn Pili vi khuẩn đường ruột khác lông ở chỗ nó cứng hơn, không lượn sóng và không liên quan đến chuyển động của vi khuẩn Trước
Trang 28đây, kháng nguyên bám dính được ký hiệu là K (K88, K99), nay đổi là F (K88 = F4; K99 = F5, 987P = F6) Một số kháng nguyên bám dính chính
thường gặp ở các chủng E coli phân lập từ gia súc bị tiêu chảy bao gồm F4, F5, F6, F18 và F41 Riêng đối với giống E coli phân lập từ lợn thì kháng
nguyên fimbriae F4 đóng vai trò quan trọng nhất trong việc bám dính (Orskov
và cs, 1980) [73] Mỗi loại kháng nguyên bám dính có các cấu trúc quyết định kháng nguyên tương xứng, phù hợp với cấu trúc điểm tiếp nhận trên bề mặt tế bào biểu mô nhung mao ruột non của từng loài động vật hoặc từng lứa tuổi
Về khả năng bám dính, theo Lê Văn Tạo (2006) [44] với các yếu tố gây bệnh có được, trước hết, vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non bằng kháng nguyên bám dính F4 (K88) Sau đó, vi khuẩn xâm nhập và cư trú
ở thành ruột non, phát triển nhân lên, sản sinh ra độc tố đường ruột
Phạm Thế Sơn và cs (2008) [40] khi nghiên cứu về đặc tính của vi
khuẩn E coli, Salmonella, Cl perfringens gây bệnh lợn con tiêu chảy ở Hưng Yên và Hà Nội đã có kết luận: số chủng E coli mang kháng nguyên bám dính
F4 (K88) là 78%, F5 (K99) là 22% Số chủng mang F4 ở Hưng Yên là 80%,
Hà Nội là 76%
Đỗ Ngọc Thúy và cs (2008) [51] cho biết một số yếu tố gây bệnh cơ
bản của các chủng vi khuẩn E coli phân lập từ lợn con bị tiêu chảy (1 - 45
ngày) nuôi tại Hưng Yên đã được khảo sát bằng các phản ứng multiplex PCR Kết quả cho thấy 3 loại độc tố là STa, STb, LT và 2 loại yếu tố bám dính là
F4 và F18 đã được phát hiện trong số 46 chủng vi khuẩn E coli phân lập
được từ các lợn trước và sau cai sữa bị tiêu chảy
Đặng Xuân Bình và cs (2008) [2] khi nghiên cứu đặc tính sinh học của
vi khuẩn E coli trong bệnh phân trắng lợn con tại một số tỉnh phía Bắc cho
Trang 29thấy đã phát hiện được các chủng E coli mang yếu tố bám dính F4 chiếm tỷ
lệ 7,8%; yếu tố bám dính F5 chiếm 15,6%; yếu tố bám dính F6 chiếm 23,4%
và F18 chiếm 4,6%
* Khả năng xâm nhập
Sau khi bám dính, vi khuẩn sẽ thực hiện quá trình xâm nhập vào sâu
bên trong các lớp tế bào Tại đây, vi khuẩn E coli nhân lên với tốc độ lớn
đồng thời sản sinh ra độc tố đường ruột, gây phản ứng niêm mạc và đầu độc cơ thể
Theo Giannella và cs (1976) [69] khả năng xâm nhập của vi khuẩn là một khái niệm dùng để chỉ quá trình mà nhờ đó vi khuẩn đường ruột qua được hàng rào bảo vệ của lớp mucosa trên bề mặt niêm mạc để xâm nhập vào tế bào biểu mô (Epithel), đồng thời sản sinh và phát triển trong lớp tế bào này Trong khi đó, những vi khuẩn khác không có khả năng xâm nhập, không thể qua được hàng rào bảo vệ của lớp mucosa hoặc khi qua được lớp hàng rào này sẽ bị bắt bởi tế bào đại thực bào của tổ chức hạ niêm mạc
* Khả năng gây dung huyết
Dung huyết là một trong những yếu tố quan trọng để E coli gây tiêu chảy Đó là do các chủng E coli có khả năng sản sinh ra men Haemolyzin để
phá hủy hồng cầu của vật chủ, giải phóng Fe+++
dùng cho quá trình phát triển của vi khuẩn
Theo Smith (1963) [75] có 4 kiểu dung huyết của E coli, nhưng quan
trọng nhất là kiểu α và β, trong đó, kiểu β gắn với tế bào vi khuẩn, do vậy mà không có tác dụng độc lực
Kiểu α hình thành là do một protein thẩm thấu qua lọc, không được gắn với tế bào vi khuẩn, được giải phóng vào môi trường nuôi cấy ở pha logarit trong chu trình phát triển vi khuẩn và được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn
Trang 30Vũ Bình Minh và cs (1999) [23] khi phân lập vi khuẩn E coli và
Salmonella ở lợn mắc tiêu chảy đã kết luận với 70 mẫu bệnh phẩm lợn mắc
bệnh tiêu chảy lứa tuổi từ 35 ngày đến 4 tháng tuổi nuôi tại các địa điểm khác
nhau vùng lân cận Hà Nội, đã phân lập được 60 chủng E coli (chiếm 85,71%), trong đó có 42 chủng E coli gây dung huyết (chiếm 70%) và 56 chủng Salmonella (chiếm 80%)
Trương Quang và cs (2007) [37] khi nghiên cứu vai trò của E coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn cho biết tỷ lệ chủng E coli phân lập từ lợn bị
tiêu chảy có độc lực mạnh và các yếu tố gây bệnh cao hơn rất nhiều so với lợn không bị tiêu chảy, cụ thể là: yếu tố bám dính 93,33% so với 33,33%; khả năng gây dung huyết 53,33% so với 25,92%
* Khả năng tạo Colicin
Theo Smith và cs (1967) [76] để tạo thuận lợi cho quá trình phát triển của mình trong quá trình tồn tại và phát triển và trở thành vi khuẩn chiếm ưu
thế trong đường ruột cùng với nhiều loại vi khuẩn khác như Salmonella,
Staphylococcus proteus, họ Clostridium, Vibriochorea Vi khuẩn E coli
thường sản sinh ra một loại chất kháng khuẩn có khả năng hạn chế hoặc tiêu diệt các loại vi khuẩn khác gọi là ColV (Colicin V) Vì vậy, yếu tố này cũng
được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn E coli gây bệnh
Khả năng sản sinh ColV của E coli được di truyền bằng Plasmid, ColV Plasmid đã được tìm thấy không chỉ ở vi khuẩn E coli gây bệnh mà còn tìm
thấy ở các loại vi khuẩn đường ruột gây bệnh khác Nhiều tác giả cho rằng ColV là một kháng sinh có hiệu quả, có thể tác dụng với tất cả các loại vi khuẩn đường ruột, trừ vi khuẩn sinh ra nó và hy vọng trong thời gian tới ColV được sử dụng rộng rãi như một loại kháng sinh để ức chế hay tiêu diệt các loại
vi khuẩn đường ruột khác (Virginial và cs, 1991) [77]
Trang 31* Khả năng sản sinh độc tố
Sản sinh độc tố là một đặc điểm gây bệnh của E coli Độc tố sản sinh
ra bao gồm: độc tố đường ruột (Enterotoxin), độc tố tế bào (Verotoxin) và độc
tố thần kinh (Neurotoxin) Độc tố đường ruột tác động vào chu trình adenylat làm thay đổi quy trình trao đổi muối - nước ở ruột gây tiêu chảy Độc tố tế bào phá hủy tế bào, tăng tính thẩm thấu thành mạch, tạo bệnh tích ở các tổ chức, cơ quan và gây thẩm dịch mô bào Độc tố thần kinh phá hủy tế bào thần kinh gây những triệu chứng thần kinh (Lê Văn Tạo, 2006) [44]
+ Độc tố đường ruột - Enterotoxin:
Fairbrother và cs (1992) [64] cho biết độc tố đường ruột do E coli tạo
ra (ETEC) gây tiêu chảy trầm trọng cho lợn sơ sinh từ 1 - 4 ngày tuổi E coli
xâm nhập vào tế bào biểu mô ruột bằng 1 hay nhiều yếu tố bám dính F4 (K88), F5 (K99), F6 (987P) và F41 rồi xâm nhập vào thành ruột Tại đó chúng sản sinh
ra độc tố đường ruột gồm 2 loại:
- Độc tố chịu nhiệt (Heat Stable Toxin = ST): Độc tố này chịu được
nhiệt đọ 1000C trong 15 phút Độc tố ST chia thành 2 nhóm STa và STb dựa trên đặc tính sinh học và khả năng hòa tan trong Methanol
STa là một protein không có tính kháng nguyên, có phân tử lượng gần
2000 Dalton, STa kích thích sản sinh ra cGMP mức cao trong tế bào, ngăn trở
hệ thống chuyển Na+
và Cl-, làm giảm khả năng hấp thu chất điện giải và nước ở ruột STa thường thấy ở ETEC gây bệnh ở lợn dưới 2 tuần tuổi và ít thấy ở lợn lớn
STb là một protein có tính kháng nguyên yếu, có phân tử lượng gần
5000 Dalton, STb kích thích vòng Nucleotit phân tiết dịch độc lập ở ruột, phương thức tác dụng của nó chưa được hiểu rõ STb hoạt động ở ruột non lợn nhưng không hoạt động ở ruột non chuột, bê và bị vô hoạt bởi Trypsin
Trang 32STb tìm thấy ở 75% các chủng vi khuẩn E coli phân lập từ lợn con, 33%
phân lập từ lợn lớn
- Độc tố không chịu nhiệt (Heat Labile Toxin = LT): Độc tố này bị vô
hoạt ở nhiệt độ 60o
C trong vòng 15 phút LT là độc tố phức tạp có phân tử lượng cao, gồm 5 nhóm, trong đó nhóm B có thể gắn với thụ thể trên bề mặt
tế bào biểu mô, còn nhóm A có hoạt tính sinh học cao Nhóm A kích thích sản sinh cAMP ở mức cao trong tế bào, dẫn đến tăng tiết Cl-
, Na+, HCO3- và nước vào trong ruột Sự tiết nước quá mức sẽ dẫn đến sự mất nước và rối loạn trao đổi chất, có thể dẫn đến chết gia súc
LT cũng có 2 nhóm là LT1 và LT2, chỉ có LT1 mới bị trung hòa bởi
Anticholerae toxin LT được sinh ra bởi các chủng E coli ở lợn thuộc nhóm
phụ LT1 LT2 sinh ra bởi ETEC phân lập từ lợn và người LT là một trong những yếu tố quan trọng gây triệu chứng tiêu chảy
+ Độc tố tế bào - Verotoxin:
Theo Clarke và cs (1988) [63]: độc tố tế bào có dạng ức chế tổng hợp protein của tế bào Hela và làm teo tế bào; có dạng dung giải các không bào nội bào, làm chết tế bào Vera, tế bào Hela và tế bào CHO (Chinese Hansten Ovary Cell)
Theo Gyles (1992) [70] đầu tiên người ta nhận thấy E coli chủng
O157: H7 (gây bệnh cho người) sản sinh một loại độc tố gọi là Verotoxin, sau này Verotoxin được gọi là Shiga-like toxin (SLT) do chúng giống như độc tố Shiga cả về cấu trúc không gian, trình tự axit amin và phương thức tác động
Cả 2 nhóm SLTI và SLTII đều có cấu trúc A-B protein, trong đó tiểu phần A
ức chế quá trình sinh tổng hợp protein của tế bào Nhóm SLT có 2 tác dụng: độc tố đường ruột và độc tố tế bào, SLT sản sinh ở ruột, được hấp thụ vào máu, theo máu đến tác động lên những tế bào ở các bộ phận khác Các chủng
Trang 33E coli thuộc nhóm Verotoxin genic E coli gây các chứng tiêu chảy, bại
huyết, hội chứng đi tiểu ra máu, bệnh phù đầu ở lợn con
+ Enteropathrogenic E coli (EPEC):
Các chủng E coli thuộc nhóm EPEC không sản xuất các loại độc tố phổ biến như trên, tuy nhiên các chủng E coli thuộc nhóm này có khả năng
gây tổn thương đặc trưng gọi là attaching/effacing Các chủng EPEC bám trên niêm mạc ruột thông qua protein bề mặt là intimin (Ngeleka và cs, 2003) [72]
+ Enteroaggregative E coli (EaggEC):
Các chủng E coli thuộc nhóm EaggEC có khả năng sản xuất độc tố
EAST1, cũng là loại độc tố chịu nhiệt nhưng có trình tự chuỗi axit amin và đặc tính miễn dịch khác với độc tố Sta Độc tố EAST1 là protein gồm 38 axit amin Độc tố này cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình gây bệnh ở lợn (Ngeleka và cs, 2003) [72]
* Khả năng kháng kháng sinh
Trong chăn nuôi lợn người ta trộn kháng sinh vào thức ăn với liều thấp
để đề phòng bệnh đường ruột và kích thích sinh trưởng Bên cạnh đó việc sử dụng kháng sinh bừa bãi trong điều trị bệnh đã làm cho sự kháng kháng sinh của vi khuẩn ngày một tăng lên Do đó hiệu quả điều trị bệnh giảm đi rất nhiều, thậm chí nhiều loại kháng sinh đã bị vô hiệu hóa đối với vi khuẩn
Theo Falkow và cs (1987) [65] khả năng kháng kháng sinh của vi
khuẩn nói chung và vi khuẩn E coli nói riêng tăng nhanh, lan rộng là do gen
sản sinh yếu tố kháng kháng sinh nằm trong Plasmid R Plasmid này có thể di truyền dọc và di truyền ngang cho tất cả các quần thể vi khuẩn thích hợp
Khi nghiên cứu về khả năng kháng thuốc của vi khuẩn E coli, Phạm Khắc Hiếu (1999) [11] cho biết đã tìm thấy chủng E coli kháng lại 11 loại
kháng sinh, đồng thời chứng minh khả năng di truyền tính kháng thuốc của vi
Trang 34khuẩn E coli và Salmonella qua Plasmid và E coli phân lập từ lợn con ỉa
phân trắng tỷ lệ kháng Sulphonamid lên tới 89,97%
1.3 Biện pháp phòng trị tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi do vi khuẩn
1.3.1.1 Phòng bệnh bằng nuôi dưỡng, quản lý
Nuôi dưỡng lợn mẹ tốt, ổn định, không thay đổi thức ăn đột ngột Chuồng trại vệ sinh sạch sẽ, lợn con có ổ ấm, được sưởi ấm với nhiệt độ thích hợp trong 2 tuần đầu sau khi sinh Cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ, tập ăn sớm cho lợn con và cai sữa sớm
Giảm bớt số lượng vi khuẩn có hại bằng tẩy uế chuồng trại trước khi
đẻ Chuồng khô sạch, không ứ đọng phân, nước Khi cai sữa để đàn lợn con
tại chuồng 1 - 2 tuần để tránh nhiễm các chủng E coli khác (Trương Lăng,
- Chú ý cho lợn con ăn thức ăn bổ sung sớm sau 1 tháng tuổi, trong đó
có bổ sung các loại vi lượng, sulfat sắt, sulfat đồng, sulfat coban… sẽ có tác dụng giảm tỷ lệ lợn con ỉa phân trắng;
- Giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín đáo, ấm về mùa đông và đầu mùa xuân, giữ khô ráo, chống ẩm ướt sẽ làm cho lợn con phòng được bệnh lợn con
Trang 35ỉa phân trắng Hiện nay, một số cơ sở lợn giống đã dùng đèn sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh, ẩm để phòng bệnh phân trắng cho lợn con và đem lại hiệu quả cao
1.3.1.2 Phòng bệnh bằng vacxin và các chế phẩm sinh học
Bên cạnh việc vệ sinh phòng bệnh và thực hiện tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý thì việc sử dụng vacxin cũng có hiệu quả cao trong việc phòng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi
Lê Văn Tạo và cs (1993) [45] vacxin E coli dạng uống chế tạo từ các chủng E coli gây bệnh phân lập từ các địa phương dùng cho lợn uống 3 - 4
lần sau khi đẻ Vacxin có tác dụng phòng bệnh đạt tỷ lệ 70%
Lê Hồng Mận (2004) [21] cho biết: Tiêm vacxin phòng bệnh như sau:
- Tiêm phòng vacxin Vacoli (Cuba) cho lợn nái chửa với liều 2 ml trước khi đẻ 15 ngày, cho lợn con 1ml vào 8 và 14 ngày tuổi;
- Tiêm vacxin Neocolipor (Pháp) cho lợn nái chửa gần đẻ cách nhau 1 -
5 ngày với liều 2 ml/lần để tạo miễn dịch thụ động cho lợn con.Theo Phạm Sỹ
Lăng và cs (2005) [19]) vacxin được chế tạo từ các chủng E coli gây bệnh
phân trắng ở lợn con phân lập ở các địa phương, thuộc các serotyp: O143, O147, O149, O129, O138, O127, O115, O8… vacxin chế dạng vô hoạt dùng tiêm cho lợn mẹ 1 - 2 lần trước khi đẻ Lợn mẹ thu được miễn dịch sẽ truyền miễn dịch cho lợn con (miễn dịch thụ động) qua sữa, nhất là sữa đầu Lợn con
có khả năng chống đỡ với các chủng E coli gây bệnh, hiệu quả đạt tới 60%
Hiện nay, trên thị trường Việt Nam, ngoài vacxin sản xuất trong nước thì vẫn đang lưu hành các vacxin do nước ngoài sản xuất như Neocolipor của hãng Nissan Chemical Industries, Litter Guard LT-C của hãng Embrex INC
sản xuất phòng bệnh tiêu chảy do E coli và Cl perfringens, Rokovac của
Trang 36hãng Bioveta, A.S phòng bệnh do E coli và Rotavirus suis ở lợn, Porciliscoli
của hãng Intervet…
Ngoài ra, có nhiều công trình nghiên cứu cho rằng một số chế phẩm sinh học cũng có tác dụng phòng tiêu chảy ở lợn con và đã được ứng dụng trong thực tế như:
- Phan Thanh Phượng và cs (2006) [36] cho biết Công thú y cổ phần phát triển công nghệ nông thôn RTD đã sản xuất 3 chế phẩm sinh học có tác dụng phòng trị hội chứng tiêu chảy tốt là:
+ Lactovet: Là chế phẩm vi sinh được chế tạo từ chủng vi sinh vật
Lactobacillus acidophylus (LA) (5,5.108) bằng công nghệ lên men sục khí trong môi trường nuôi cấy thích hợp, có công dụng giữ cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, khống chế sự sinh trưởng của các vi sinh có hại, phòng chống tiêu chảy, kích thích tiêu hóa, nâng cao tỷ lệ chuyển hóa, tăng cường sức đề kháng
Cách dùng: trộn 500 g chế phẩm với 100kg thức ăn hỗn hợp, cho ăn trong suốt quá trình nuôi
+ Men tiêu hóa cao cấp USB: Là chế phẩm sinh học được chế từ
chủng Sacharomyces bouladi (SB) Chế phẩm có tác dụng cân bằng hệ vi sinh
vật đường ruột khống chế sự sinh trưởng của các vi sinh có hại, phòng chống tiêu chảy, kích thích tiêu hóa, nâng cao tỷ lệ chuyển hóa và tăng cường sức đề kháng của vật nuôi
Cách dùng: trộn 1 kg chế phẩm với 100 kg thức ăn hỗn hợp, cho ăn trong suốt quá trình nuôi
+ Lactovet soluble: Thành phần chính là tế bào LA (1011), có tác dụng
trị các bệnh tiêu chảy cấp tính do E coli và Salmonella gây ra, hỗ trợ chuyển
hóa thức ăn, tăng cường sức đề kháng, cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột
Trang 37Cách dùng: Dùng ngay khi bị tiêu chảy cấp tính Để trị bệnh thì dùng
50 g cho 50 kg thể trọng, liên tục trong 4 ngày Phòng bệnh dùng 50 g cho
100 kg thể trọng, dùng trong suốt quá trình nuôi
Phạm Thế Sơn và cs (2008) [41] đã thử nghiệm khả năng kháng khuẩn
và phòng trị tiêu chảy ở lợn con 1 - 90 ngày tuổi bằng chế phẩm EM-TK21,
tác giả đi đến kết luận: EM-TK21 có tính kháng khuẩn mạnh đối với E coli,
Salmonella spp, Cl perfringens Trong thực tế, những cơ sở có lợn tiêu chảy
do vi khuẩn đã kháng thuốc, điều trị không khỏi, sử dụng EM-TK21 vẫn có hiệu quả cao
Nguyễn Thị Thanh Hà và cs (2009) [7] khi nghiên cứu bào chế thử nghiệm cao mật bò và ứng dụng trong phòng bệnh phân trắng lợn con đã đi đến kết luận: Việc sử dụng cao mật bò bổ sung cho lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi
là mang lại hiệu quả tốt trong phòng bệnh phân trắng Đây cũng là nguồn nguyên liệu rẻ tiền, dễ kiếm nên rất tiết kiệm, có thế áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi lợn Việc sử dụng cao ở nồng độ 20% là đạt kết quả tốt nhất
1.3.2 Điều trị bệnh
Khi đã phát hiện ra đàn lợn bị tiêu chảy thì phải khẩn trương điều trị với những biện pháp thích hợp, kết hợp với chăn nuôi chăm sóc chu đáo để hiệu quả điều trị bệnh là tốt nhất
1.3.2.1 Nguyên tắc chung
Một số nguyên tắc khi điều trị ỉa chảy ở lợn con như sau:
- Điều trị phải tiến hành sớm ngay khi phát hiện ra bất kỳ cá thể nào trong đàn bị ỉa chảy;
- Loại trừ nguyên nhân gây bệnh ra khỏi cơ thể lợn con, ví dụ như thức
ăn kém phẩm chất, nhiệt độ môi trường không phù hợp, nhiễm khuẩn…;
Trang 38- Sử dụng các thuốc bảo vệ niêm mạc ruột vì khi bị tiêu chảy thì niêm mạc ruột non thường bị hư tổn nên khi sử dụng thuốc bảo vệ niêm mạc sẽ hạn chế mất máu, nhiễm khuẩn, mất nước… ở lợn con;
- Sử dụng các thuốc kháng sinh có phổ tác dụng rộng trong điều trị Đặc biệt, nên thử tính mẫn cảm của vi khuẩn với các loại kháng sinh trước khi lựa chọn loại kháng sinh nào cho điều trị tại cơ sở chăn nuôi;
- Có thể sử dụng một số bài thuốc dân gian, một số loại cây, lá, quả chát trong điều trị lợn con tiêu chảy;
- Sử dụng các thuốc cung cấp chất điện giải, nước cho cơ thể vì khi tiêu chảy thì cơ thể lợn con mất một lượng lớn nước và các chất điện giải
1.3.2.2 Điều trị nguyên nhân gây tiêu chảy
Điều trị nguyên nhân gây bệnh là giải pháp điều trị tốt nhất và mang lại hiệu quả cao Mục đích chính của việc điều trị là nhanh chóng loại trừ nguyên nhân gây bệnh ra khỏi cơ thể lợn con
Tiêu chảy lợn con thường do các trực khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae
mà cụ thể là trực khuẩn E coli và Salmonella Đây là 2 loại vi khuẩn thường có
trong đường tiêu hóa của lợn con Do đó trong điều trị tiêu chảy cần chú ý đến 2 vi khuẩn này Ngoài ra còn một số vi khuẩn khác cũng gây ra hiện tượng tiêu chảy ở
lợn con như vi khuẩn yếm khí Cl perfringens
Tiêu chảy lợn con còn có thể do một số loại ký sinh trùng đường tiêu hóa như giun đũa, cầu trùng… do đó trong chẩn đoán cần chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây bệnh để điều trị đúng và hiệu quả cao
1.3.2.3 Một số loại thuốc thường dùng trong điều trị tiêu chảy
Trong điều trị tiêu chảy, thường sử dụng một số loại thuốc kháng khuẩn
có tác dụng mạnh với vi khuẩn đường ruột Thuốc có thể sử dụng độc lập hoặc sử dụng kết hợp để tăng tác dụng hiệp đồng điều trị
Trang 39Để diệt mầm bệnh trong cơ thể, theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006 [20] thì
có thể dùng phối hợp hay dùng một trong các loại thuốc sau:
- Tetracyclin: Cho uống liều 30mg cho 1kg trọng lượng - chia làm 2 - 3 lần trong ngày;
- Streptomycin sulfat: Tiêm bắp hay dưới da lọ chứa 1gam streptomycin sulfat Tiêm theo liều 30 - 50 mg/kg thể trọng/ngày, chia làm 2 lần trong ngày và liên tục trong 3 - 5 ngày Cho uống theo liều 50 - 100 mg/kg thể trọng/ngày (pha với nước sạch) cho uống trong 5 - 7 ngày;
- Sulfadimethoxin: Tiêm bắp dung dịch 25%, liều tiêm 2 ml/1-2kg thể trọng, chia 2 lần trong ngày, liên tục trong 3 - 5 ngày;
- Sulfathiazol (Thiazomid): Cho uống 50 - 100 mg/kg thể trọng, chia 2 lần trong ngày, liên tục 5 - 7 ngày;
- Neotesol: Một hỗn hợp kháng sinh oxytetracyclin - HCl và neomycin sulfat Thường đóng 25gram/lọ Pha vào nước cho uống hoặc trộn thức ăn liều
60 - 120 mg/kg trọng lượng, chia 2 lần trong ngày, liên tục trong 3 - 5 ngày;
- Trisulfon - Depot: Một hỗn hợp 4 loại sulfamid, thường dùng pha vào nước uống hoặc trộn đều vào thức ăn, liều 50 - 60 mg/kg trọng lượng, chia 2 lần trong ngày, liên tục trong 3 - 5 ngày;
- Dung dịch tiêm Trimethoxazol 24%, tiêm bắp thịt sau khi sinh 24 giờ, liều 0,3 - 0,5 ml/1-2kg thể trọng, liên tục trong 7 ngày
Lê Hồng Mận (2007) [22] cho biết tiêm Tiamulin liều 1 ml/4-6 kg thể trọng/ngày, trong 3 - 4 ngày Trong thực tế điều trị thường phải thay đổi các thuốc cho hợp với nguyên nhân gây bệnh mới chóng khỏi Ví dụ, bệnh do cầu trùng cho uống furazolidon lại khỏi, tiêu chảy có màu và tóe ra nước thì tiêm tiamulin rất tốt
Trang 401.3.2.4 Điều trị mất nước, mất cân bằng điện giải trong hội chứng tiêu chảy
Khi gia súc bị tiêu chảy thì cơ thể mất một lượng lớn nước và điện giải theo phân Do đó trong điều trị tiêu chảy cần bổ sung lại cho cơ thể để đảm bảo hoạt động sinh lý của cơ thể diễn ra bình thường
Điều trị mất nước, mất cân bằng điện giải thường phải kết hợp với điều trị kháng sinh nhằm tăng hiệu quả điều trị kháng sinh và giúp cho con vật mau chóng bình phục
1.3.2.5 Một số thuốc thường dùng trong điều trị mất nước, điện giải
- Thường sử dụng Bisepton với liều 50mg/kg thể trọng, hòa thành dung dịch cho uống
- Điện giải - B.complex (sản phẩm của Công thú y cổ phần thuốc thú y Trung Ương I): Thuốc có tác dụng cân bằng và cung cấp một số chất điện giải cần thiết cho cơ thể như NaCl, KCl, MgSO4, Na2CO3, Calcium gluconate, Ferrous gluconate, Dextrose… trong giải độc, chữa bệnh thiếu vitamin, còi cọc, tiêu chảy… Thuốc đóng gói 100 g dùng cho 100 - 250 kg gia súc/ngày Dùng thuốc phụ thuộc vào trạng thái cơ thể con vật, có thể 1 - 2 ngày hoặc 7 - 10 ngày
- Mineral (sản phẩm của Công thuốc thú y Vemedim Vietnam): Thuốc
bổ sung chất điện giải khi gia súc mất nước (do tiêu chảy, bị thương, nôn mửa…), thời tiết nóng nực kéo dài, chuyển chuồng… Liều dùng là 0,5 - 1 ml pha với một lít nước cho uống Thuốc đóng chai 250 - 500 - 1000 ml
- VIME-C Electrolyte (sản phẩm của Công thuốc thú y Vemedim Vietnam): Thuốc sử dụng khi có hiện tượng mất nước, mất cân bằng điện giải trong tiêu chảy, sốt cao Liều dùng: 1 g hòa tan trong 2 lít nước cho uống Thuốc đóng gói (hộp) 100 - 500 - 1000 g
1.3.2.6 Một số loại cây thuốc thường dùng trong điều trị tiêu chảy