1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh thpt ở miền núi phía bắc

123 711 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một các bài học khó như vậy, nhưng còn những giáo viên chưa thực sự đầu tư đúng mức, chưa vận dụng lối dạy học tích cực hoá người học, chưa tìm ra biện pháp thích hợp để phát triển nă

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU HÀ

NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC

VỀ VĂN HỌC SỬ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên, năm 2011

Trang 2

NGUYỄN THỊ THU HÀ

NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC

VỀ VĂN HỌC SỬ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN GIA CẦU

Thái Nguyên, năm 2011

Trang 3

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Gia Cầu - Người thầy đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học trường ĐHSP Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn BGH trường phổ thông Vùng Cao Việt Bắc, những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua

Thái Nguyên , ngày 10 tháng 8 năm 2011 Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục i

Danh mục viết tắt trong luận văn iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 10

Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TỰ HỌC VĂN HỌC SỬ Ở THPT 10

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.1.1 Lý thuyết về tự học 10

1.1.2 Lý thuyết dạy học các bài học về lịch sử văn học (VHS) 25

1.2 Cơ sở thực tiễn 34

1.2.1 Chương trình, SGK về văn học sử ở THPT 34

1.2.2 Đặc điểm của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc về việc tiếp nhận tri thức văn học sử 47

Chương 2 NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VỀ VĂN HỌC SỬ CHO HỌC SINH THPT Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC 69

2.1 Biện pháp 1: Giải toả vướng mắc đầu tiên của học sinh miền núi khi tự học các bài viết về văn học sử - vướng mắc về thuật ngữ 69

2.1.1 Những thuật ngữ học sinh vướng mắc: “nhận định”, 69

2.1.2 Biện pháp giải toả: 70

2.1.3 Hiệu quả: 73

2.2 Biện pháp 2: Kích thích hứng thú tự học các bài học VHS trong SGK Ngữ Văn 73

Trang 6

2.2.1 Hứng thú đối với các bài học về văn học sử của học sinh

THPT ở miền núi phía Bắc 74

2.2.2 Kích thích hứng thú tự học đối với các bài học văn học sử của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc 75

2.3 Biện pháp 3: Phát triển năng lực phát hiện và hệ thống hoá các nhận định văn học sử trong SGK 77

2.3.1 Thực tế năng lực phát hiện và hệ thống hoá các nhận định văn học sử trong SGK của học sinhTHPT ở miền núi phía Bắc 77

2.3.2 Cách thức mà luận văn đề xuất để làm phát triển năng lực phát hiện và hệ thống hoá các nhận định về văn học sử trong SGK 79

2.4 Biện pháp 4: Phát triển năng lực tái hiện và chứng minh các nhận định về văn học sử trong SGK 87

2.4.1 Thực tế năng lực tái hiện và chứng minh các nhận định văn học sử của học sinhTHPT ở miền núi phía Bắc 87

2.4.2 Cách thức mà luận văn đề xuất để làm phát triển năng lực tái hiện (nhắc lại) và chứng minh (làm sáng tỏ) một nhận định 88

Chương 3 THIẾT KẾ BÀI HỌC VỀ VĂN HỌC SỬ THEO HƯỚNG CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC 97

3.1 Thiết kế bài học văn học sử “Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 ” – SGK, Ngữ Văn 11, tập 1 (bộ chuẩn) 97

3.1.1 Mục tiêu bài học 97

3.1.2 Định hướng dạy học 97

3.1.3 Tiến trình bài học 98

PHẦN KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11416

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XX đã trôi qua, cả nhân loại bước vào thế kỷ mới Một thế kỷ với những hứa hẹn mới, thách thức mới, đòi hỏi mới, khó khăn mới đang đặt ra nhiều suy nghĩ, trăn trở cho mỗi quốc gia, dân tộc và mỗi cá nhân

Đó là thế kỷ XXI, thế kỷ của “một nền văn minh đầy sáng tạo”, thế kỷ mà

công nghệ thông tin đang đảo lộn đời sống văn hoá và vật chất của mỗi con người Thế kỷ XXI là thế kỷ của văn minh trí tuệ, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh

và khối lượng ngày càng lớn

Trước tình hình đó, để hội nhập với xu thế phát triển chung của thế giới, thời đại, một yêu cầu hết sức cấp bách đặt ra với nền giáo dục nước ta

là: phải liên tục đổi mới, hiện đại hoá nội dung và phương pháp dạy học

Mục đích cuối cùng là để từng cá nhân tự mình có ý thức tạo được một cuộc cách mạng học tập trong bản thân

Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn là một vấn đề đã và đang được quan tâm đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo ở nước

ta Phương pháp là khâu quan trọng quyết định tới sự thành công của quá trình dạy học Xu hướng dạy học phát triển năng lực tự học về Ngữ Văn cho học sinh trung học phổ thông đang trở thành phương châm hành động của giáo viên dạy Ngữ Văn ở miền núi hiện nay

Việc tự học Ngữ Văn ở nhà trường nói chung và tự học về văn học

sử nói riêng là một vấn đề đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học Ngữ Văn cũng như nhiều nhà giáo đã quan tâm

Qua thực tế giảng dạy văn học sử ở Trường PT Vùng Cao Việt Bắc - nơi hội tụ con em dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc, chúng tôi

Trang 9

nhận thấy: VHS là bài học có tính khái quát và tính trừu tượng cao nên có phần khô khan và kém hấp dẫn Là một các bài học khó như vậy, nhưng còn những giáo viên chưa thực sự đầu tư đúng mức, chưa vận dụng lối dạy học tích cực hoá người học, chưa tìm ra biện pháp thích hợp để phát triển năng lực tự học cho học sinh theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học văn học sử Vì vậy dẫn tới tình trạng học sinh thờ ơ với bài giảng, tiếp thu kiến thức một cách thụ động, khó có khả năng chủ động, sáng tạo tiếp nhận kiến thức cho riêng mình Từ đó vô hình chung đã làm mất đi khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh Vậy, một vấn đề đặt ra là, làm thế nào để học sinh không thờ ơ với bài giảng, có hứng thú say mê tìm hiểu? Làm thế nào để học sinh rèn luyện được những thói quen tốt trong học tập?

Vì vậy, vấn đề đặt ra là phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc là một việc làm cần thiết, sát thực, đúng với xu thế đổi mới phương pháp phù hợp với chiến lược “phát huy nội lực của người học” đáp ứng mục tiêu của giáo dục như Nghị quyết II của Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã ghi: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân ”

Vì những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Những biện pháp

phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc”

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tự học trong nhà trường nói chung

Tự học là một vấn đề được các nhà giáo dục nổi tiếng thế giới quan tâm từ rất lâu dưới các phương diện, góc độ khác nhau

Từ những năm TCN, Xôcrát (469-339TCN) đã đưa ra quan niệm rất nổi tiếng: giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính mình Vận

Trang 10

dụng quan điểm này vào dạy học, ông cho rằng cần phải để cho người học

tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người tự học phát hiện thấy sai lầm của mình và tự khắc phục những sai lầm đó

TK XVII,J.A.Cômenxki (1592-1670) đã nghiên cứu vấn đề quan điểm giáo dục: “đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán của người học, hay tìm ra phương pháp cho phép giáo viên giảng ít hơn, học sinh học nhiều hơn Ông đã đề ra một số nguyên tắc dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh: nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học, nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng .” Ngày nay, kế thừa những thành tựu của Cômenxki, lý luận dạy học đã xây dựng được một hệ thống các nguyên tắc dạy học: đảm bảo tính vững chắc của tri thức kĩ năng, kĩ xảo với tính mềm dÎo của tư duy

Trong cuốn “Học tập hợp lý” (Cộng hòa dân chủ Đức trước đây) do R.Retzke chủ biên, các tác giả đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng năng lực tự nghiên cứu cho học sinh mới vào trường Năm 1984, Nxb Thanh niên giới thiệu cuốn “Nghiên cứu học tập như thế nào” của Hebơc Smitman (Cộng hoà dân chủ Đức) Với cuốn sách này, tác giả đã đề cập tới nhiều vấn đề về phương pháp nghiên cứu và tự học như thế nào cho khoa học và đạt hiệu quả cao Cuốn “Tự học như thế nào” của Rubakin, dịch giả là Nguyến Đình Côi , xuất bản 1982 đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” - Cark Rogers- một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mĩ do Cao Đình Quát dịch đã giải đáp cho học sinh câu hỏi học cái gì và học như thế nào? Câu hỏi dạy cái gì và dạy như thế nào cũng được giải đáp Ngoài ra, còn khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học

Ở nước ta, trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết về tự học Tác giả Vũ Quốc Anh có bài viết: “Tạo ra năng lực tự học

Trang 11

sáng tạo của HS THPT” GS Phan Trọng Luận với bài: “Dạy văn để HS tự học văn” Tại Hà Nội năm 1988, một cuộc hội thảo khoa học với tiêu đề

“Nghiên cứu tự học - tự đào tạo” đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều GS đầu ngành Trong cuộc hội thảo này, nội dung các bài viết, các bài phát biểu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học và yêu cầu các cấp ngành phải chăm lo xây dựng phong trào tự học toàn dân Bộ trưởng Bộ giáo dục - đào tạo Nguyễn Thị Bình nói: “Năng lực

tự học - tự đào tạo đều tiềm ẩn trong mỗi người Nếu biết kết hợp quá trình đào tạo ở trường, ở lớp với quan tâm tự học - tự đào tạo thì đó là con đường ngắn nhất để tạo ra “nội lực” cần thiết cho sự phát triển một con người và cho đất nước” Tạp chí giáo dục số 2 năm 1998 đã đặc biệt quan tâm đăng tải một số bài viết tiêu biểu trong hội thảo: “Tự học - chìa khoá vàng của giáo dục” của GS Phan Trọng Luận, “Vì năng lực tự học sáng tạo của HS” của Nguyễn Nghĩa Dân Tiếp theo đó, tạp chí Nghiên cứu giáo dục đã có rất nhiều các bài viết khác như bài của Thạc sĩ Thái Văn Long (Cà Mau)

“Khơi dậy và phát huy năng lực tự học sáng tạo của người học trong Giáo dục - đào tạo”, hay “Vị trí của tự học, tự đào tạo trong quá trình dạy học, giáo dục và đào tạo”

Bên cạnh đó, một số cuốn sách cũng được xuất hiện như “Tôi tự học”

- Nguyễn Duy Cẩn, “Tự học là một nhu cầu của thời đại” - Nguyễn Hiến Lê Những cuốn sách này chủ yếu đúc kết những kinh nghiệm quý báu trong quá trình tự học của một số tác giả Đặc biệt, trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học còn cho ra mắt bạn đọc tạp chí “Tự học” Tạp chí này đã thu hút sự chú ý và sự tham gia luận bàn về vấn đề tự học của nhiều nhà khoa học, giáo sư, nhà giáo Các tác giả đã cung cấp lý thuyết dạy tự học như thế nào, bên cạnh đó có thể hiện thiết kế bài học một số môn Tuy nhiên, các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chung nhất cho mọi môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học

Trang 12

Cuốn “Học và dạy cách học” do GS Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên Nxb ĐHSP, xuất bản 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết một cách có hệ thống về việc học và dạy cách học Cuốn sách thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học

2.2 Tự học trong môn Ngữ Văn

Ngữ Văn là một môn học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi người đọc phải có sự liên tưởng, tưởng tượng và tư duy Vì vậy, trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ Văn cũng là một vấn đề được quan tâm

Cuốn “Áp dụng dạy và học tích cực trong môn học” do nhóm tác giả

GS Trần Bá Hoành, TS Nguyễn Trí , PGS TSKH Cao Đức Tiến, TS Nguyễn Trọng Hoàn biên soạn do Nxb ĐHSP Hà Nội xuất bản đã nói đến một trong những đặc trưng của phương pháp tích cực đó là tự học Các tác giả cũng nhấn mạnh đến nội dung dạy và học tập trung vào HS Ở đó, các tác giả không chỉ quan tâm đến kiến thức, năng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn

Cuốn “Văn học giáo dục thế kỷ XXI” của GS Phan Trọng Luận, Nxb ĐHQGHN, 2002 có một số bài đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp và vấn đề tự học Với bài “Tự học- chuyện cũ mà mới’’, tác giả đã đề cập đến

bí quyết của tự học

Như vậy, đã có rất nhiều những bài viết, những công trình đề cập đến vấn đề tự học môn Ngữ Văn nói riêng Các bài viết đã chỉ ra được mục tiêu, cách thức, biện pháp để dạy tự học Tuy nhiên, các bài viết còn thiên

về mặt lý thuyết mà chưa cụ thể hoá đối với từng môn học, phân môn của nhà trường phổ thông

2.3 Tự học đối với bài học văn học sử

Văn học sử là một bộ phận của môn Ngữ Văn ở trường THPT Các bài học văn học sử chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình SGK

Trang 13

Ngữ Văn vì nó cung cấp những tri thức khái quát về văn học để học sinh có

cơ sở tiếp nhận các tác phẩm văn chương cụ thể Vì vậy, văn học sử cũng nằm trong quỹ đạo của các nhà nghiên cứu về phương pháp, những người quan tâm đến sự đổi mới giáo dục Tuy nhiên là các công trình nghiên cứu

về lĩnh vực này còn rất ít ỏi và khiêm tốn

Vụ giáo dục phổ thông cấp III đã soạn thảo cuốn “Hướng dẫn phát huy tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong dạy và học môn Ngữ Văn” Hướng dẫn không chỉ nêu yêu cầu về việc cải tiến nội dung, phương hướng giảng dạy Văn theo hướng phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của học sinh mà còn yêu cầu rất cụ thể đối với các bài học văn học sử: “chấm dứt việc đọc chậm cho học sinh chép bài, cố gắng khắc phục tình trạng giáo viên nói nhiều, bắt học sinh ghi chép nhiều Thay vào đó, trong một giờ dạy, giáo viên yêu cầu học sinh phải suy nghĩ nhiều, phải nói được nhiều suy nghĩ của mình, phải tìm tòi, phát triển để chủ động tiếp thu bài học”

Là những Giáo sư đầu ngành phương pháp dạy học Văn, họ luôn trăn trở với việc dạy học bộ phận văn học sử như thế nào để đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn, GS Phan Trọng Luận đã viết cuốn: “Mấy vấn đề giảng dạy văn học sử ở trường PT cấp 3” và “Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học” hay cuốn “phương pháp dạy học văn” cũng chỉ dành một chương để nói về văn học sử, hay một phần không nhiều trong cuốn “ Dạy văn dạy cái hay cái đẹp” của Nguyễn Thị Bình Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một số luận văn Th.s cũng đã khai thác đề tài tự học, tự nghiên cứu như

“Những hình thức tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong giờ học văn học sử ở trường THPT” của Đào Văn Phán “Hình thành năng lực

tự học cho HS THPT qua giờ văn học sử” của Lê Khánh Tùng, “Rèn luyện năng lực tự học cho học sinh qua những giờ văn học sử (bài khái quát giai

Trang 14

đoạn văn học) của Nguyễn Thị Bích Hường”, “Hình thành năng lực tự học cho học sinh THPT qua việc dạy các bài văn học học sử về tác gia” của Phạm Thị Minh Thuỷ, “Hình thành thói quen tự học cho HS THPT qua bài học văn học sử (tác gia)” của Vũ Thị Sáu, “Hình thành năng lực tự học tác phẩm văn chương cho học viên trường trung học dạy nghề” của Trần Thị

An, “Dạy học văn học sử theo hướng hình thành và phát triển năng lực tự học ở học sinh lớp 10” của Dương Thuỳ Linh

Như vậy, đã có những luận văn nghiên cứu về rèn luyện năng lực tự học nói chung qua các bài văn học sử cho học sinh THPT và chúng tôi

mạnh dạn chọn đề tài: “Những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc” Chương trình và

SGK THPT đã có sự thay đổi về nhiều mặt Chúng tôi hy vọng những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc mà luận văn đề xuất sẽ giúp cho học sinh có được kĩ năng tự học các bài học văn học sử

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn hướng tới mục đích:

- Khảo sát thực trạng năng lực tự học về VHS của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc

- Trên cở sở đó, luận văn đề xuất những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trong chương trình Ngữ Văn THPT có các loại giờ học: giờ học về lịch sử văn học (VHS), giờ học về tác phẩm văn học (Đọc - hiểu văn bản), giờ học về lý luận văn học Nhưng ở đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu: năng lực tự học về văn học sử của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc học tập tại Trường PT Vùng Cao Việt Bắc - TP Thái Nguyên

Trang 15

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu đã đề ra, chúng tôi xác định đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ sau:

5.1 Nghiên cứu vấn đề tự học trên bình diện lý thuyết:

+ Vấn đề tự học nói chung

+ Vấn đề tự học Ngữ Văn nói riêng

+ Vấn đề tự học VHS của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc

5.2 Khảo sát thực tế về năng lực tự học các bài VHS của học sinh học sinh THPT ở miền núi phía Bắc

- Hứng thú và nhận thức của học sinh về bài học VHS

- Năng lực tự học các bài học VHS:

+ Khả năng đọc văn bản và dàn ý hoá các bài học văn học sử trong SGK + Khả năng phát hiện và hệ thống hoá các nhận định về VHS mà SGK nêu ra

+ Khả năng tái hiện và chứng minh (làm sáng tỏ) một nhận định + Khả năng làm các bài tập về văn học sử (bài kiểm tra, bài thi)

6 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những vấn đề đã được đặt ra chúng tôi vận dụng cả hai

nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận về vấn đề tự học và tự học VHS Bằng phương pháp này chúng tôi có cơ sở lý luận định hướng cho việc phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc

- Phương pháp thống kê phân loại

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp khảo sát:

Phương pháp khảo sát điều tra được thực hiện bằng hình thức phiếu điều tra nhằm thu thập các thông tin cụ thể về năng lực tự học các bài học

Trang 16

VHS của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc

6.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương I: Cở sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề tự học các bài học văn học sử ở THPT

Chương II: Những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học

sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc

Chương III: Một số thiết kế bài học theo hướng phát triển năng lực

tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TỰ HỌC VĂN HỌC SỬ Ở THPT

1643 - 1727), Gao xơ (Đức, 1777- 1855) Những tấm gương trong nước nhờ tự học mà thành tài như người thầy giáo Chu Văn An, danh y Tuệ Tĩnh, Lương Thế Vinh Gần đây nhất có các nhà trí thức, nhà sư phạm, GS Tạ Quang Bửu, GS Tôn Thất Tùng, GS Nguyễn Cảnh Toàn và biết bao những nhà giáo, nhà nghiên cứu thuộc mọi lĩnh vực cũng đang say sưa tự học để khẳng định mình, để cống hiến trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước

Và dân tộc đã có một tấm gương vĩ đại sáng ngời về tinh thần tự học,

tự nghiên cứu - đó chính là Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam Tinh thần học tập lấy “Tự học làm cốt” của Bác Hồ đã trở thành tư tưởng khái quát, mang tính quy luật Trên con đường đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, chông gai nhưng Bác vẫn luôn vượt qua nó để tự học ở mọi nơi, mọi lúc Người Việt Nam ta từ xưa không chỉ coi trọng lối học từ người thầy

“Không thầy đố mày làm nên”, mà còn rất coi trọng lối học từ bạn “Học thầy không tày học bạn”, đặc biệt còn đề cao cách tự học của mỗi cá nhân

“Đi một ngày đàng học một sàng khôn”, “Học đi đôi với hành”, “Học một

Trang 18

biết mười”, tự học ngay cả trong cuộc sống sinh hoạt “Học ăn, học nói, học gói, học mở ” Vì vậy mà trong xu thế đổi mới giáo dục ở Việt Nam, các giáo sư đầu ngành như Phan Trọng Luận, Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Bá Hoành đã đi tìm những phương pháp dạy học dựa trên cơ sở lấy việc tổ chức hoạt độngtự học của người học làm hoạt động cơ bản Vậy, tự học là

gì ? Tự học sẽ đem lại hiệu quả học tập cho người học như thế nào ?

Có tác giả xem hoạt động tự học như là một hình thức tổ chức dạy học Các tác giả lại chú ý tới hoạt động tự học như là một phương thức tự đào tạo, tự nâng cao trình độ học vấn của người học

Hoạt động tự học có thể diễn ra dưới sự tổ chức, điều khiển trực tiếp của giáo viên như trong các phương pháp dạy học tích cực, cũng có thể diễn ra dưới sự tổ chức, điều khiển gián tiếp của GV như một hình thức tổ chực dạy học trong mối quan hệ với các hình thức tổ chức dạy học khác Hoạt động tự học còn là phương thức đào tạo của con người Vì vậy có nhiều những định nghĩa khác nhau về tự học

Tự học (Self - leaning) là học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao PGS Lê Khánh Bằng cho rằng: “Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học”; lại có ý kiến: “Tự học là hình thức hoạt động cá nhân, do bản thân người học nỗ lực thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập ở trên lớp hay ngoài lớp, có thể diễn ra khi còn đang học, khi đã ra trường và trong suốt cả cuộc đời” (TS Hà Thị Đức)

Hay tác giả Trịnh Quang Từ trong “Những phương hướng tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên các trường quân sự”, (Luận án tiến sĩ, HN, 1995) quan niệm : “Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định”

Trang 19

GS Nguyễn Cảnh Toàn trong “Quá trình dạy tự học”, Nxb GDHN,1997 cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả

có bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, chí tiến thủ, không ngại khổ, ngại khó, kiên trì, nhẫn nại, say

mê khoa học) để chiếm lĩnh một lĩnh vực kiến thức nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thàmh sở hữu của mình” Như vậy, theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn thì tự học là hoạt động diễn ra ngoài giờ lên lớp, không có sự giáp mặt giữa thầy và trò

Và GS Nguyễn Cảnh Toàn đã chính xác hoá các khái niệm:

“Học giáp mặt” là học giáp mặt với thầy, thầy trò nhìn mặt nhau và

có thể trao đổi thông tin bằng lời nói trực tiếp (không qua máy móc) bằng chữ viết, nhìn trực tiếp ngay trên bảng, trên giấy bằng cả ánh mắt, nụ cười, nét mặt, cử chỉ

“Học từ xa” là học không giáp mặt với thầy, mọi thông tin giữa thầy

và trò đều không trực tiếp mà là gián tiếp qua sách vở, tài liệu và các phương tiện kĩ thuật của tin học và viễn thông “Xa” chỉ có nghĩa là không giáp mặt nhau, còn khoảng cách địa lý giữa thầy và trò có thể là nửa vòng trái đất, cũng có thể chỉ vài chục mét

Sở dĩ các tác giả có những quan niệm khác nhau về tự học là do góc

độ nghiên cứu của các tác giả là hoàn toàn khác nhau Song nhìn chung các

tác giả đều quan niệm tự học là học với sự độc lập, tích cực, tự giác ở mức độ cao, đó là quá trình mà trong đó, chủ thể người học tự biến đổi

mình, tự làm phong phú giá trị cho mình bằng các thao tác trí tuệ hoặc chân tay, nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân Tự học có thể diễn ra ở trên lớp hoặc ngoài giờ trên lớp, chẳng hạn như giải bài tập trên

Trang 20

lớp, nảy sinh những thắc mắc khi nghe giáo viên giảng bài, tự sắp xếp những lời giảng của giáo viên theo ý hiểu của mình để ghi vào vở

Theo chúng tôi, tự học là một quá trình, mà người học tự mình

chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thông qua hoạt động trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán ), tự học gắn liền với động cơ tình cảm và ý chí của người học để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong học tập nhằm tích luỹ kiến thức cho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của bản thân người học

Như vậy, cốt lõi của học là tự học Hễ có học là có tự học và không ai

1.1.1.2 Khái niệm năng lực tự học

Hoạt động tự học muốn diễn ra thực sự thì một yêu cầu đặt ra là cần phải hình thành được ở người học năng lực tự học Chỉ khi người học đã có được năng lực tự học cho bản thân thì mới tự mình tiến hành việc học tập một cách tự chủ, độc lập, sáng tạo như đòi hỏi của giáo dục đào tạo ngày nay Vậy “năng lực” là gì ? Theo Từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội, Việt Nam, Hà Nội - 1992): “Năng lực là phẩm chất tâm

lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”

Trang 21

Giáo trình “Tâm lí học đại cương” (Nxb ĐHQGHN, 1998) chia khả

năng thành ba mức độ khác nhau: năng lực, tài năng, thiên tài Nếu năng lực là một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị khả năng hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó, tài năng là mức độ năng lực

cao hơn biểu thi sự hoàn thành một cách sáng tạo một hoạt động nào đó,

thì thiên tài là mức độ cao nhất của năng lực, biểu thị mức kiệt xuất, hoàn

chỉnh nhất của các vĩ nhân trong lịch sử nhân loại

Khi phân loại, người ta chia năng lực ra làm hai loại: năng lực chung

và năng lực riêng biệt

Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động

khác nhau, chẳng hạn những thuộc tính về thể lực, về trí tuệ (quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ ) là những điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có hiệu quả

Còn năng lực riêng biệt (chuyên biệt, chuyên môn) là sự thể hiện độc

đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao, chẳng hạn năng lực văn học, năng lực thể dục thể thao, năng lực hội hoạ, năng lực âm nhạc

Hai năng lực này luôn có sự bổ sung, hỗ trợ cho nhau Giữa năng lực

và tri thức, kĩ năng, kĩ xảo luôn có sự thống nhất biện chứng (không thể

không đồng nhất chúng với nhau) Một người có năng lực trong một lĩnh vực nào đấy có nghĩa là có tri thức, kĩ năng kĩ xảo nhất định của lĩnh vực này Vấn đề phát hiện, bồi dưỡng năng lực, năng khiếu của mỗi người

là một trong những vấn đề cơ bản của chiến lược giáo dục nhằm nâng cao dân lực, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

Năng lực của mỗi người dựa trên cơ sở tư chất, nhưng điều chủ yếu là năng lực hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con

người dưới sự tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục Vậy người có năng lực tự học là người có khả năng tự mình động não, suy nghĩ, sử

Trang 22

dụng các năng lực trí tuệ, và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất, động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình qua sách vở, qua bạn bè, qua thầy giáo

Nếu nội lực được xem là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân người học thì năng lực tự học được xem là có ý nghĩa quyết định đến quá trình tự học

Trong qúa trình tự học, trò là chủ thể, tự mình chiếm lĩnh tri thức chân lý bằng hành động của chính mình, tự phát triển từ bên trong

Thầy là tác nhân hướng dẫn, tổ chức cho trò tự học Người thầy giỏi

là người dạy cho trò biết tự học Người học giỏi là người biết tự học sáng tạo suốt đời Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã viết trong thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu quá trình tự học, tự đào tạo: “Tự học là tự đào tạo, là một con đường phát triển suốt đời của mỗi người trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó là truyền thống quý báu của người Việt Nam và của dân tộc Việt Nam”

Tuy nhiên - tự học thuộc quá trình cá nhân hoá việc học - tự học rất cần sự đơn thân nổ lực bên trong, một mình ngồi lặng im mà suy nghĩ, nghiền ngẫm, có khi cũng cần sự tương tác với các bạn , trong môi trường xã hội dưới sự hướng dẫn của thầy và sự hợp tác của các bạn - ngoại lực Tác động của thầy và môi trường xã hội sẽ kém hiệu lực nếu không phát huy được năng lực tự học của người học Nói cách khác, quá trình tự học phải kết hợp với quá trình hợp tác của các bạn trong cộng đồng lớp học và qúa trình dạy học của giáo viên Kết hợp quá trình dạy với quá trình tự học là nhằm làm cho “dạy” và “tự học” cộng hưởng với nhau tạo ra chất lượng và hiệu quả cao để đạt mục tiêu đào tạo con người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học

Trang 23

Hệ phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm gọi tắt theo đúng thực chất của nó là hệ phương pháp dạy tự học đã chỉ rõ: người học - chủ thể của hoạt động học, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình Người học không phải được đặt trước những kiến thức có sẵn trong SGK hay bài giảng được chuẩn bị sẵn của thầy mà tự đặt mình trước các tình huống, các vấn đề thực tế của cuộc sống Từ đó, người học

có nhu cầu hay hứng thú phát hiện và giải quyết những vật cản, mâu thuẫn trong nhận thức của mình để tự mình tiến xa “cái chưa biết”, “cái cần khám phá”, “cái mới” Tự đặt mình vào những tình huống học, người học quan sát, suy nghĩ, tự nghiên cứu tra cứu, làm thí nghiệm, đặt giả thiết, đặt vấn

đề để tự mình tìm ra kiến thức, chân lý cùng với cách xử lý tình huống, cách giải quyết vấn đề Tri thức và phương pháp người học đã tự lực khám phá ra không rập khuôn theo một khuôn mẫu sẵn có, đều là tri thức và phương pháp mới

Muốn phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học thì cần rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh Ngày nay, việc dạy phương pháp học được quan tâm ngay từ đầu bậc tiểu học và càng lên cao hơn càng được coi trọng Nói tới phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề dặt ra Nêú rèn luyện cho người học có được kĩ năng phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào tình huống mới, biết tự lực phát hiện và giải quyết những vấn đề gặp phải thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người Học sinh có thể tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống lao động, công tác trong xã hội Vì những lí do trên, ngày nay trong quá trình dạy học người ta nhấn mạnh hoạt động học, tạo ra

sự chuyển biến từ học tập thụ động sang học tập chủ động

Trang 24

Như vậy, phát triển năng lực tự học cho học sinh miền núi phía Bắc

có nghĩa là giúp học có ý thức tự học, dám vượt qua những trở ngại chủ quan và khách quan của môi trường miền núi đồng thời phát triển năng lực nhận thức tích cực, sáng tạo, chủ động cho học sinh, là hình thành cho học sinh khả năng phát huy tới mức cao nhất tính tự lực trong học tập và thể hiện được cá tính sáng tạo riêng của mình, thực hiện tốt nhất những mục đích, nhiệm vụ mà môn học đề ra Nói cách khác, hình thành năng lực tự học cho học sinh chính là hình thành tri thức và kĩ năng tự học cho học sinh Do đó, vai trò của các biện pháp giúp hình thành năng lực tự học có ý nghĩa rất quan trọng

Tự học - là con đường lựa chọn cho mỗi người đứng trước mâu thuẫn giữa hoàn cảnh ngặt nghèo, khắc nghiệt của cuộc sống cá nhân với khát vọng cao đẹp về học vấn

Tự học trở thành chiếc chìa khoá vàng mở cánh cửa của thời đại bùng

nổ thông tin như ngày nay Cho nên, ngành giáo dục hiện đại tiên tiến trên thế giới đều đề cao nỗ lực cá nhân, coi trọng vấn đề tự học, tự mình giáo dục, tự mình phát triển, tự mình điều khiển “Tự học là con đường tự khẳng định, là con đường sống, con đường thành đạt của mỗi con người muốn bước vào lĩnh vực trí tuệ của thời đại mới”

Để hoạt động tự học đạt kết quả như mong muốn , người học cần phải nắm được đặc điểm và bản chất của hoạt động tự học Vậy đặc điểm và bản chất của hoạt động tự học là gì ?

1.1.1.3 Đặc điểm và bản chất của hoạt động tự học

Nghiên cứu về hoạt động tự học ở các góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những đặc điểm sau đây về hoạt động tự học

Trong cuộc sống thường nhật, mỗi cá nhân có thể có những cách học

khác nhau Một trong những cách học thông thường đó là cách học ngẫu

Trang 25

nhiên trong cuộc sống sinh hoạt và lao động Qua trải nghiệm cuộc sống,

ông cha ta đã đúc kết thành kinh nghiệm sống để truyền lại cho thế hệ sau qua câu tục ngữ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” Cách học này giúp người học nắm được tri thức, kĩ năng kĩ xảo, kinh nghiệm thông qua nhiều hoạt động, có thể ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc sống Tuy nhiên, cách học này cũng có những hạn chế nhất định: người học chỉ lĩnh hội tri thức một cách vụn vặt, tự do, không có hệ thống

Khác với cách học ngẫu nhiên là cách học chủ định Đây là cách học

có mục đích và đối tượng Nó được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp nhận tri thức, kĩ năng kĩ xảo và hình thành cả các cách thức chiếm lĩnh chúng Mục đích của hoạt động học là chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội lịch

sử thông qua sự tái tạo của cá nhân người học và vận dụng tri thức đó để cải tạo thực tiễn chính bản thân mình

Đã có những quan niệm về tự học dưới các góc độ khác nhau

Có quan niệm cho rằng: Học tập là biến đổi vững chắc trong hành vi hoặc trong năng lực ứng xử theo một cách nào Sự biến đổi đó là kết quả của thực hành hoặc của hình thức thể nghiệm khác Tác giả Skiner đứng dưới góc độ lý thuyết hành vi quan niệm : Học tập là quá trình lĩnh hội kiến thức mới hoặc kỹ năng mới, sự học tập được xác định dưới những hành động mà học sinh cần phải thực hiện được, cách học là một chuỗi hành động thử và sai Song thực tế, học tập là hoạt động có mục đích và luôn luôn được thúc đẩy bởi một hệ thống những động cơ nhất định

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong “Nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lí luận dạy học” (Nxb GD, ĐHQG Hà Nội -1998), đứng trên quan điểm nghiên cứu cấu trúc hệ thống của quá trình dạy học và mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc đó, đặc biệt là nghiên cứu mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa dạy và học, giữa thầy và trò với nội dung tri thức khái niệm: “Học tập là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khoa học,

Trang 26

trong và bằng cách đó mà hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện” Theo quan niệm trên của tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì học tập là qúa trình bao gồm cả hoạt động tự học

Khi nghiên cứu hoạt động tự học của học sinh Trường dân tộc nội trú dưới góc độ tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp, tác giả Phạm Hồng Quang quan niệm: “Học tập là nhằm tìm kiếm tri thức, kĩ năng kĩ xảo, học theo mục đích, theo một chương trình nào đó Học tập liên quan đến nhận thức, đến tư duy và liên quan đến nghề nghiệp ” Như vậy, quan niệm về học tập của tác giả đã lồng ghép cả khái niệm tự học

Tác giả Lê Khánh Bằng trong cuốn “Cơ sở khoa học của tự học và hướng dẫn tự học”(Nxb GD, Hà Nội - 1998) cho rằng: “Học - về bản chất

là quá trình tiếp thu và xử lý thông tin bằng các hoạt động trí tuệ và chân tay, dựa vào vốn học sinh và vốn đạt được của cá nhân, từ đó mà có được tri thức, kĩ năng, thái độ mới” Theo tác giả, học tập là quá trình bao gồm quá trình tiếp thu và xử lý thông tin, mục đích của việc học tập là nhằm biến đổi nhân cách của người học

Trên đây là những cách hiểu nhiều chiều của các nhà nghiên cứu về học tập Tuy nhiên, tất cả các tác giả đều có quan điểm chung: Học tập là quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin có định hướng, bản chất của học tập

là quá trình tự giác tích cực, độc lập tự tiến hành các thao tác trí tuệ và thể lực Như vậy, hoạt động học là một hoạt động có đối tượng, là hệ thống tri thức và những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với nó Mục đích của hoạt động học là chiếm lĩnh tri thức kĩ năng, kĩ xảo thông qua sự tái tạo của cá nhân

Sự tái tạo này sẽ không thực hiện được nếu bản thân người học chỉ là khách thể thụ động, chịu sự tác động sư phạm của người dạy Muốn học có hiệu quả đòi hỏi người học phải tự tiến hành hoạt động học tập của mình bằng

cả ý chí và năng lực trí tuệ để hướng tới làm thay đổi chính mình Như

Trang 27

vậy, dù học ở góc độ nào thì bản thân nó cũng chứa đựng sự tự học và tính

tự giác, tính tích cực, tính độc lập nhận thức và đó sẽ là quá trình chuẩn bị

về mặt tâm lý cho sự tự học

Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể đi tới khái niệm về học tập:

đó là quá trình người học tự giác, tích cực, độc lập tiếp thu và xử lý thông tin từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện và cho dù trong tình huống nào thì trong bản thân sự học cũng đã chứa đựng sự tự học

Tự học có thể diễn ra ở bất cứ thời gian và địa điểm nào (có thể trên lớp hoặc ngoài giờ trên lớp) Tự học có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên và ngay cả khi không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Khi đã có hệ thống SGK thì việc học có thể diễn ra theo ba cách :

- Có SGK thì người học tự đọc mà hiểu, mà thấm các kiến thức trong sách, qua lao động để hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư duy Đó là

tự học ở mức độ cao Với hình thức tự học này, người học hoàn toàn độc lập hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mình, vai trò chủ thể của người học là nhân tố quan trọng nhất của quá trình chiếm lĩnh tri thức Ngoại lực

ở đây tác động thông qua SGK Dù sao chỉ với SGK thì tác động của ngoại lực cũng bị hạn chế và nội lực phải cố gắng nhiều

- Người học có SGK và có thêm sự hướng dẫn từ xa, bằng tài liệu

hay bằng các phương tiện viễn thông khác ở hình thức tự học này, hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy giúp người học phải có tính tự giác, tích cực cao từ đó tự chiếm lĩnh kiến thức Đó là tự học có hướng dẫn

- Người học có SGK và có sự tổ chức, hướng dẫn trực tiếp của thầy Người thầy định hướng, điều khiển đối với người học Hình thức tự

học này, người học có nhiều thuận lợi hơn so với hai hình thức tự học trên

Đó là học giáp mặt trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn

Trang 28

Với ba cách học trên, chúng ta nhận thấy có thuận lợi đối với người học tăng dần lên từ cách một đến cách ba Cách học thứ nhất, người học sẽ gặp nhiều khó khăn khi tự học, họ dễ rơi vào sự lúng túng, băn khoăn không giải quyết được vấn đề mà mất nhiều thì giờ Nhưng người học có năng lực tự học ở mức độ thứ nhất sẽ có hiệu quả hữu hiệu đó là phát huy nội lực cao và do đó nội lực phát triển mạnh Ở cách thứ ba, cũng có những thuận lợi nhất định nếu giáo viên cảnh giác với việc không làm thay trò (ở những công việc mà trò tự lực làm được và trò không cảnh giác với việc ỷ lại vào thầy)

Tóm lại, tự học là một quá trình, người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thông qua hoạt động trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán ) và cả hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị học tập) Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí của người học để vượt qua mọi trở ngại trong học tập nhằm tích luỹ tri thức cho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của bản thân người học

Từ những phân tích trên, chúng ta thấy tự học có vai trò vô cùng quan trọng Nó là nhân tố tham gia vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người Nhờ tự học mà con người khắc phục được mâu thuẫn giữa

sự vô hạn của học vấn với giới hạn của tuổi học đường, giữa khát vọng về

sự hiểu biết với hoàn cảnh vốn có của bản thân, tạo cho con người khả năng vươn tới đỉnh cao tri thức ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn

Vì vậy, tự học còn là con đường thử thách, rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp của mỗi người trên con đường lập nghiệp bởi quá trình tự học đòi hỏi chủ thể tự học phải vượt qua mọi khó khăn, thử thách, phải sử dụng

ý chí của mình để vượt qua những chướng ngại vật (vật cản) nhằm đạt được mục tiêu học tập đề ra

Trang 29

Trước sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, sự tăng trưởng với tốc độ nhanh và với khối lượng lớn của các lĩnh vực khoa học thì việc học liên tục, học suốt đời lại càng trở nên quan trọng và cần thiết đối với tất cả mọi người Một trong những con đường hữu ích nhất để làm được điều đó là tự học Tự học là kim chỉ nam giúp con người có khả năng thích ứng với xã hội mới trong tương lai Nhưng không phải người nào tự học cũng có kết quả cao, mà để dạy được điều đó thì cần phải có những điều kiện nhất định Vậy những điều kiện đó là gì ?

1.1.1.4 Điều kiện để tự học có hiệu quả

* Điều kiện về thời gian

Thời gian là một nhân tố quan trọng góp phần tạo nên kết quả tự học Muốn tự học đạt hiệu quả cao cần phải có thời gian để tiến hành hoạt động

tự học và đòi hỏi chủ thể tự học phải có kế hoạch sắp xếp thời gian tự học một cách linh hoạt, khoa học Thời gian tự học cho từng môn học phải tương xứng với nội dung thông tin của môn học đó, đồng thời phải cân đối giữa thời gian nghe giảng ở trên lớp với thời gian tự học ở nhà Điều quan trọng là người học phải biết nâng cao hiệu suất thời gian học tập và đảm bảo luân phiên giữa thời gian học tập với thời gian nghỉ ngơi

* Điều kiện về tâm lý

Tâm lý là yếu tố bên trong ảnh hưởng đến kết quả tự học của học sinh

Đó là nhu cầu, động cơ và thái độ học tập tích cực của học sinh Người học muốn hoạt động tự học có kết quả cao thì học phải xác định được động cơ, thái độ học tập đúng, phải có nhu cầu và hứng thú học tập, phải có sự say mê khoa học, phải nhận thức rõ mục đích của hoạt động và ý thức đầy đủ về việc học của mình Bên cạnh đó người học cũng không ngừng hoàn thiện các chức năng tâm lý, nhận thức để tiến hành hoạt động học tập một cách có hiệu quả dưới sự hướng dẫn, điều khiển của thầy như các quá trình cảm giác, tri giác, ghi nhớ, tư duy đặc biệt là quá trình ghi

Trang 30

nhớ và tư duy Bởi lẽ trong quá trình tự học học sinh phải có khả năng tái hiện một cách chính xác, khoa học nội dung tài liệu tự nghiên cứu Đồng thời, phải có khả năng phân tích, so sánh, khái quát hoá hệ thống tri thức trong tài liệu đã nghiên cứu thành một dàn ý hay một bản đề cương tóm tắt

Để hoàn thành nội dung học tập đòi hỏi chủ thể tự học phải có ý chí vượt qua khó khăn, trở ngại trong quá trình tự học nhằm đạt các mục tiêu học tập đã đề ra

Trong các yếu tố của tâm lý có một yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng đó là động cơ học tập Bởi vì động cơ học tập của học sinh được thể hiện rõ ở đối tượng của hoạt động học Động cơ học tập chính là động lực tạo sự say mê học tập, sự khao khát mở rộng tri thức, hiểu biết và ý chí quyết tâm vượt khó để giải quyết các nhiệm vụ học tập Trong thực tế, động cơ học tập luôn gắn liền với nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập vì nhu cầu là nơi khơi nguồn tính tích cực, độc lập, tự giác của học sinh Do vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên muốn hình thành năng lực tự học cho học sinh trước hết cần phải quan tâm đến hình thành động cơ học tập cho học sinh

Khi học sinh đã được hình thành động cơ học tập đúng thì họ cần hình thành cho mình hệ thống kĩ năng tự học như: kĩ năng sắp xếp thời gian, kĩ năng đọc sách, kĩ năng nghiên cứu khoa học, kĩ năng nghe và ghi chép bài trên lớp, kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập Bên cạnh đó, học sinh cũng cần hoàn thiện các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá, trừu tượng hoá và các chức năng nhận thức, đặc biệt là chức năng ghi nhớ

* Điều kiện về cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất là một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển năng lực tự học cho học sinh Điều kiện vật chất tối thiểu cần được đáp ứng

là SGK, sách tham khảo và các tài liệu hướng dẫn tự học

Trang 31

Hoạt động tự học của học sinh có mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động của giáo viên Vì vậy, phương tiện phục vụ cho hoạt động dạy học cũng cần phải đổi mới theo hướng tích cực hoá hoạt động tự học của học sinh như: băng hình, máy vi tính, đèn chiếu và các phương tiện nghe nhìn khác

Địa điểm tự học cũng cần đảm bảo các điều kiện cần thiết về vệ sinh học đường để hoạt động tự học của học sinh có hiệu quả Các điều kiện về

cơ sở vật chất cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày nhằm phục vụ hoạt động tự học cũng cần được đảm bảo

Để thuận lợi trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, học sinh phải tự mình tìm ra thao tác để phù hợp với cá nhân mình Vì vậy, trong quá trình học tập học sinh phải tích cực, tự giác, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức nhằm hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu học tập

Trong quá trình dạy học, người dạy và người học là hai người bạn đồng hành cùng chung một mục đích là hình thành được phương pháp thao tác cho người học và giúp người học chiếm lĩnh tri thức Tác giả Phan Trọng Ngọ trong “Tâm lý học hoạt động và khả năng ứng dụng” (Nxb ĐHQG, HN, 2000) viết: “Dạy học là sự hợp tác giữa người dạy và người học Hoạt động dạy và hoạt động học là hoạt động hợp tác giữa giáo viên

và học sinh Chỉ có như vậy dạy học mới đạt hiệu quả tối ưu với sự phát triển của trẻ em”

Ngày nay, trước sự phát triển của xã hội hiện đại, với sự phát triển như vũ bão của khối lượng tri thức và thông tin khoa học, sự hiện đại hoá của các phương tiện kĩ thuật dạy học đã dặt ra những yêu cầu soạn thảo nội dung dạy học, trong đó không chỉ bao gồm các sự kiện mà chủ yếu là các nguyên tắc, các phương pháp xử lý các thông tin và các sự kiện Điều đó có nghĩa là hoạt động dạy học trong nhà trường cần phải hướng tới dạy cách

Trang 32

học, giúp học sinh tự nghiên cứu, tự khám phá để giải quyết các vấn đề do nhiệm vụ dạy học đặt ra

1.1.2 Lý thuyết dạy học các bài học về lịch sử văn học (VHS)

1.1.2.1 Mục tiêu của bài học VHS

Các bài học VHS nhằm cung cấp những tri thức khoa học về lịch sử văn học cho học sinh để các em có cái nhìn khái quát về cả một nền văn học,

về từng bộ phận văn học, từng thời kỳ và từng tác gia văn học Dự thảo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo có viết : “Trong chương trình THPT hiện nay, môn văn học là sự tiếp tục và nâng cao môn Văn trong chương trình THCS” Là một bộ phận của chương trình Ngữ Văn, VHS tiếp tục thực hiện những mục tiêu bộ môn ở trung học cơ sở với yêu cầu cao hơn

về chất lượng: Tri thức văn học được hệ thống hoá tương đối chặt chẽ Do

đó, cùng với bộ phận Làm văn, tiếng Việt, VHS tạo điều kiện bồi dưỡng sâu sắc hơn cho quan điểm thẩm mĩ và nhân cách xã hội chủ nghĩa

1.1.2.2 Nội dung của bài học VHS

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” thì lịch sử văn học được hiểu như sau: “ Một bộ phận của khoa nghiên cứu văn học có nhiệm vụ nghiên cứu quá khứ của văn học, gồm quy luật sinh thành và phát triển của các hiện tượng và quá trình văn học diễn ra trong điều kiện xã hội - lịch sử nhất định”

Nội dung các bài học về VHS là những nhận định, những đánh giá của các nhà nghiên cứu văn học về lịch sử văn học dân tộc trong cái nhìn bao quát của cả một nền văn học hoặc từng bộ phận, từng thời kỳ văn học, từng tác giả văn học

1.1.2.3 Hình thức của bài học VHS

Các văn bản VHS là những văn bản nghị luận gồm nhiều phần Mỗi phần trình bày một vấn đề bằng hệ thống luận điểm và các luận chứng, luận

cứ để làm rõ từng luận điểm

Trang 33

1.1.2.4 Đặc trưng của các kiểu bài văn học sử

a) Kiểu bài văn học sử có tính tổng quan

Trong chương trình SGK (bộ chuẩn) THPT kiểu bài VHS có tính

tổng quan có một bài, đó là bài “Tổng quan văn học Việt Nam”, SGK Ngữ

Văn 10, tập 1(bộ chuẩn) Khi nghiên cứu bài VHS có tính tổng quan, người học cần nắm được đặc trưng của bài VHS có tính tổng quan Đó là kiểu bài học VHS mang tính khái quát, mang tính lý thuyết cao, nhiều luận điểm trừu tượng nên có thể khó hiểu, khó tiếp thu đối với học sinh Học sinh chủ động vận dụng các kiến thức VHS cụ thể, nhất là các kiến thức mà học sinh

đã biết, đã học từ các lớp dưới để minh hoạ cho các luận điểm khái quát trong bài

Bài “Tổng quan văn học Việt Nam” trước hết là kiểu bài học, trong

đó tri thức VHS mang tính khái quát cao nhất so với toàn bộ tri thức VHS trong chương trình Đó là các tri thức khái quát nhất về lịch trình tiến triển của toàn bộ nền văn học Việt Nam, tri thức khái quát nhất về các bộ phận hợp thành của văn học Vịêt Nam, về khái quát quá trình phát triển của văn học viết Việt Nam, những nội dung biểu hiện con người Việt Nam trong văn học

Xét về chức năng bài học, bài tổng quan không trình bày các giai đoạn, các thời kỳ lịch sử văn học (tránh trùng lặp với ba bài khái quát về ba thời kỳ của văn học viết trong SGK các lớp 10, 11, 12)

Nhiệm vụ của bài Tổng quan là nêu lên một bức tranh văn học chung: Văn học Việt Nam có hai bộ phận là văn học dân gian và văn học viết Trong văn học viết, có hai loại kiểu văn học khác nhau: văn học trung đại và văn học hiện đại

Để tránh trùng lặp nội dung với ba bài khái quát về ba thời kỳ của văn học viết và bài khái quát về văn học dân gian, bài tổng quan chỉ trình bày sự thể hiện con người Việt Nam qua văn học

Trang 34

Một đặc điểm khác là bài này có nhắc đến nhiều hiện tượng văn học (

ví dụ: văn học yêu nước, Cách mạng, Thơ mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn )

b) Kiểu bài khái quát về bộ phận của nền văn học

Khi học bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam”, học sinh hiểu và

nhớ được những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian, những giá trị to lớn của văn học dân gian Vì đây sẽ là cơ sở để học sinh có thái độ trân trọng đối với di sản văn hoá tinh thần của dân tộc, từ đó học tập tốt hơn phần văn học dân gian trong chương trình Đồng thời, học sinh nắm được khái niệm về các thể loại Mục tiêu đặt ra là học sinh có thể nhớ và kể tên các thể loại., biết sơ

bộ phân biệt thể loại này với thể loại khác trong hệ thống

Vì bài này là bài khái quát được viết một các cô đọng Trong mỗi mục và tiểu mục là những nhận xét, nhận định về các vấn đề khác nhau cho nên học sinh tự huy động vốn kiến thức từ THCS để minh họa cho bài học

c) Kiểu bài văn học sử về thời kỳ văn học

Bài Khái quát văn học Việt Nam qua các thời kì là bài VHS vừa có tính khái quát, tổng hợp vừa cung cấp những khái niệm, phạm trù văn học, vừa cung cấp những dẫn chứng về thể loại, tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Kiến thức trong bài VHS mang tính khái quát, tổng hợp, tính tích hợp Những kiến thức mang tính tổng hợp như kiến thức về lịch sử, về tư tưởng, văn hoá có ảnh hưởng qua lại tới văn học Sự kết hợp hữu cơ giữa VHS với lý luận văn học và làm văn tạo nên tính tích hợp của bài VHS

d) Kiểu bài văn học sử tác gia

Bài học VHS về tác gia có một vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự vận động và phát triển của lịch sử văn học Việt Nam Có nhận định rằng:

“Không có tác gia văn học sẽ không có nền văn học với những đỉnh cao Sự xuất hiện của các tác gia và và nghiên cứu về các tác gia góp phần làm sáng

tỏ những quy luật vận động, hình thành và phát triển của nền văn học”

Trang 35

Vậy, tác gia văn học là gì ? Trong chương trình THPT hiện nay học sinh được học những tác gia nào ? Nội dung và bản chất kiến thức của các bài học ấy là gì ?

Tác gia văn học là nhà văn có những sáng tác văn học có giá trị cao,

là đóng góp lớn cho lịch sử văn học dân tộc Có người đã nói: “ Một nền văn học lớn là nền văn học có những nhà văn lớn” Song thế nào là một nhà văn lớn? Có phải chỉ căn cứ vào số lượng tác phẩm của nhà văn mà đánh giá không? Trên thực tế, có nhà văn chỉ nhờ một tác phẩm mà trở nên vĩ đại song lại có nhà văn, nhà thơ được đánh giá cao là do tập hợp các tác phẩm

đồ sộ, phong phú Nhà thơ Xuân Diệu đã từng cho rằng: “Đánh giá một nhà văn cần căn cứ vào cả chất lượng lẫn số lượng sáng tác của nhà văn đó, nói

cụ thể hơn, nhà văn đó phải vừa viết hay vừa viết nhiều ”

Có một điều cần khẳng định là: Nhà văn lớn đương nhiên phải có những tác phẩm lớn đạt đến đỉnh cao của giá trị nghệ thuật và nhân sinh, phải có tư tưởng lớn và tâm hồn lớn, phải là kết tinh của một tài năng lớn

và có đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc

Những nhà văn, nhà thơ được đưa vào chương trình Ngữ Văn THPT

là những nhà văn, nhà thơ ưu tú, hội tụ đầy đủ phẩm chất, năng lực của một tác gia, có phong cách nghệ thuật riêng, có con đường sáng tác và lý tưởng thẩm mĩ đặc trưng cho tư duy nghệ thuật của chính tác giả ấy

Có thể những điều trình bày ở trên là tiêu chí thứ nhất để phân biệt một tác gia văn học

Trong chương trình Ngữ văn THPT (bộ chuẩn) hiện nay, học sinh được học 6 tác gia tiêu biểu Phân bố ở các khối 10, 11, 12 như sau :

Lớp 10 : Nguyễn Trãi (1380 - 1442), Nguyễn Du (1765 - 1820)

Lớp 11 : Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888), Nam Cao (1917 - 1951) Lớp 12 : Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh (1890 - 1969), Tố Hữu (1920 - 2002)

Trang 36

Trong tất cả các bài học về tác gia trong chương trình THPT hiện nay đều bao gồm hai phần chính: Tiểu sử và sự nghiệp văn học Đây là hai nội dung quan trọng không thể không nhắc đến trong bài học tác gia Hai nội dung này có mối quan hệ nội tại gắn bó khăng khít với nhau

Tìm hiểu phần tiểu sử của nhà văn, trước hết là tìm hiểu nhà văn với quan hệ gia đình Xã hội đầu tiên mà nhà văn tiếp xúc gần gũi nhất là từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi bước chân vào ngưỡng cửa của cuộc đời xã hội chính

là gia đình riêng: ông bà, cha mẹ những tập quán, những ấn tượng, những hệ thống tình cảm tư tưởng đầu tiên được hình thành dần dần từng bước

Vì vậy, theo dõi ảnh hưởng của gia đình là theo dõi qúa trình hình thành tâm hồn và cá tính của một nhà văn Điều đó giúp ta hiểu được sâu sắc hơn (cùng với những nhân tố khác) nguồn cảm hứng của nhà văn

Địa vị xã hội của gia đình đã tạo nên những đặc điểm riêng về sinh hoạt vật chất mà nhà văn phải trải qua từ tấm bé Cuộc sống sinh hoạt không khởi ảnh hưởng đến nhận thức của nhà văn về cuộc đời ngay từ thửơ nhỏ Tuy vậy, cũng không nên nhìn nhận mối ảnh hưởng đó một cách máy móc, phiến diện, tách rời khỏi ảnh hưởng của nhiều điều kiện khác nữa Thứ hai là những tình cảm riêng tư của nhà văn Đó cũng là một khía cạnh của thế giới bên trong, nhiều khi góp phần vào cảm hứng sáng tác của nhà văn Tìm hiểu cuộc đời, tình cảm riêng cũng chính là đi vào tâm sự của nhà văn, khám phá ra mối quan hệ tình cảm chủ quan của nhà văn với tình cảm khách quan trong tác phẩm

Nội dung thứ ba cần tìm hiểu trong phần tiểu sử là nhà văn với quê hương: Khái niệm quê hương không phải chỉ là vẻ đẹp của núi sông, cây cỏ

mà còn bao hàm biết bao nhân tố khá phức tạp khác mà con người chịu ảnh hưởng Nó còn là những tập quán tâm lí tình cảm, truyền thống đấu tranh của nhân dân, còn là thế giới thiên nhiên đầu tiên con người được tiếp

Trang 37

xúc Đó là nguồn thực tại mà con người được tiếp xúc đầu tiên , nhiều khi

đã để lại những tình cảm đằm thắm, gắn bó không phai

Nội dung thứ tư cần tìm hiểu trong phần tiểu sử là ảnh hưởng của xã hội đối với nhà văn Có thể nói, những nhân tố lịch sử xã hội đã góp phần xây dựng nên thế giới quan, nhân sinh quan cũng như hững quan điểm về văn học nghệ thuật Gorki đã viết : “Nghệ sĩ là cơ quan thụ cảm đất nước mình, giai cấp mình, là tai, là mắt, là trái tim của giai cấp, nghệ sĩ là tiếng nói của thời đại ”(Tôi đã học viết như thế nào?)

Trong mỗi bài học tác gia văn học, phần sự nghiệp văn học của tác gia được xem là phần kiến thức rất cơ bản, trọng tâm Sự nghiệp văn học là yếu tố quan trọng tạo nên vị trí, vai trò của tác gia trong lịch sử văn học dân tộc Nhà văn sễ không thể trở thành tác gia nếu như không có một sự nghiệp sáng tác văn học phong phú, không tạo được dấu ấn phong cách, không làm nên một điểm nhấn quan trọng cho hành trình văn học dân tộc

Một nhà văn được giới thiệu với tư cách là một tác gia văn học thì nhà văn đó phải có thành tựu văn học lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử văn học nghệ thuật Thành tựu ấy được đánh giá bằng toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn và những tác phẩm ấy là sự kết tinh tư duy nghệ thuật của nhà văn Thành tựu văn học là phần quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn, đó là hệ thống tác phẩm mà nhà văn sáng tác bao gồm cả số lượng, chất lượng và ý nghĩa của tác phẩm

Mục tiêu tìm hiểu cuộc đời của một tác giả văn học là để góp phần giải thích những đặc điểm sáng tác của nhà văn ấy Do đó, bài học thường

cố gắng liên hệ trong chừng mực có thể giữa những sự kiện của tiểu sử tác giả với đặc điểm sáng tác của ông chứ không kể một cách “vô tình” các sự kiện tiểu sử

Nói đến đặc điểm sáng tác của tác giả nhằm mục đích để học sinh hiểu được sự thống nhất giữa các sáng tác

Trang 38

Một nhà văn có thực sự trở thành một tác gia văn học hay không, không chỉ dựa vào những thành tựu sáng tác của nhà văn mà xét đến cùng

là phải tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của tác gia ấy bởi vì tầm cỡ một tác gia bao giờ cũng phải được đánh giá dựa vào tầm cỡ tư tưởng của tác gia Vậy

tư tưởng nghệ thuật của nhà văn là gì ? Tư tưởng nghệ thuật của nhà văn là

tư tưởng có tính nghệ thuật cao được rút ra từ chính sáng tác của nhà văn Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Tư tưởng bao trùm cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chi phối về căn bản toàn bộ sự nghiệp, thế giới nghệ thuật của nhà văn ấy, chi phối cả về tính thống nhất, tính hệ thống hay nói đúng hơn là tính chỉnh thể ( ) Tư tưởng nghệ thuật phải là cái riêng của mỗi nhà văn, nó là chỗ phân biệt có bản giữa nhà văn này với nhà văn khác” Tư tưởng nghệ thuật vốn là một hình thái tinh thần rất cụ thể Nó nảy sinh do mối quan hệ giữa trí tuệ, tâm hồn người sáng tác với hiện thực khách quan, do đó, bao giờ nó cũng gồm hai mặt thống nhất là chủ thể và khách thể

Cùng với tư tưởng nghệ thuật của nhà văn thì phong cách nghệ thuật của tác gia là một nội dung không thể thiểu trong sự nghiệp sáng tác của tác gia Một tác gia không thể không có cho mình một phong cách nghệ thuật riêng Cái đọng lại sâu lắng nhất, cái “hồn” của một bài văn học sử về tác gia là chỉ ra được phong cách nghệ thuật của tác gia đó Đó như là cốt lõi của bài học về tác gia văn học

Vậy phong cách nghệ thuật là gì ? Giáo sư Phan Trọng Luận đã trình bày rất rõ quan điểm về phong cách nghệ thuật của nhà văn, Giáo sư cho rằng : “Phong cách của nhà văn là một phạm trù văn học nghệ thuật hằng

có trong lịch sử Cùng trong một phương pháp sáng tác nhưng có rất nhiều phong cách khác nhau Những yếu tố thế giới quan, phương pháp sáng tác

có tác dụng quyết định đối với phong cách nhưng vẫn chưa đủ để giải thích phong cách vì vấn đề phong cách lại còn lệ thuộc vào những nhân tố khác

Trang 39

nữa như nhận thức chủ quan mức độ, đặc điểm riêng biệt về sự cảm thụ của nhà văn trước thực tại Cùng một giai cấp, cùng một thời đại, cùng điều kiện tâm sinh lý, tuỳ theo năng khiếu riêng mà mỗi người có những phản ứng tình cảm khác nhau ”

Cũng xoay quanh phong cách nghệ thuật, Cuốn “Văn học dẫn luận”, Abramovits có viết : Mỗi một nhà văn đều một đặc điểm riêng của mình,

họ có kinh nghiệm sống riêng của mình, có một thế giới quan nhất định, có một trình độ hiểu biết nhất định về đời sống, và tất cả những cái đó quyết định tính đặc thù của nhà văn biểu hiện trong sáng tác của họ Đặc điểm về

tư tưởng nghệ thuật của nhà văn biểu hiện ở những đặc điểm về đề tài, ý nghĩ tư tưởng, kết cấu và ngôn ngữ tác phẩm, gọi là phong cách

Lại có ý kiến cho rằng: Phong cách vốn là một phạm trù thẩm mĩ chỉ

sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc

Tóm lại, phong cách là quy luật thống nhất của các yếu tố trong chỉnh thể nghệ thuật, là biểu hiện của tính nghệ thuật Không phải nhà văn nào cũng có phong cách nghệ thuật, mà chỉ có những nhà văn có bản lĩnh,

có tài năng mới có phong cách độc đáo riêng Nét riêng ấy được thể hiện trên tác phẩm và lặp đi lặp lại trong nhiều sáng tác văn học Nhưng phong cách nghệ thuật không phải là một hiện tượng ổn định mà luôn vận động và phát triển

Với những nội dung tri thức cần đạt khi tự học bài học văn học sử tác gia thì đặt ra không ít khó khăn cho HS trong quá trình học tập, tìm hiểu

Bài tác giả ở chương trình cơ bản chỉ được dạy trong một tiết, khi lượng thông tin về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả lại khá phong phú Nêú các em bằng lòng vơí những điều trình bày trên lớp thì kiến thức của

Trang 40

các em sẽ trở nên nghèo nàn Vì vậy ,để mở rộng hểu biết của mình về tác giả thì buộc các em phải tự tìm tòi thêm tài liệu về tác giả

Ở phần tiểu sử tác giả, các mốc thời gian thường gắn liền với các sự kiện là cách trình bày cơ bản Qua đó HS nắm được quê hương, gia đình, những biến cố trong cuộc đời tác giả đó là cơ sở cho việc hình thành nhân sinh quan, thế giới quan của nhà văn Do đó, mà các em HS nhất là các thế

hệ sau, các em chỉ biết được về cuộc đời tác gia qua các mốc thời gian, sự kiện cơ bản mà SGK và SGV trình bày Những hiểu biết của các em về tiểu

sử tác gia rất dễ rơi vào sự thiếu hệ thống, rời rạc, khô cứng, công thức, không logic Sau khi học xong phần tiểu sử tác giả thì vẫn chỉ thấy nhà văn, nhà thơ mình vừa tiếp xúc chỉ tựa một cái xác không hồn, nghĩa là chân dung nhà văn không hề “sống ” trong suy nghĩ, tư duy, tình cảm của các

em Giả sử như có nắm chắc các mốc thời gian, sự kiện về tác giả thì các

em không biết làm thế nào để những hiểu biết ấy làm sống dậy chân dung một con người Đó là một yêu cầu đòi hỏi đối với người GV Không ai

“bắt” các em có được năng lực ấy mà GV có thể giúp các em hình thành năng lực ấy bằng sự nỗ lực không ngừng suy nghĩ, tìm hiểu bổ xung cho vốn tri thức của mình một chân dung con người sống động, có hồn

Ở phần sự nghiệp văn học cũng đặt ra không ít khó khăn cho các em trong quá trình tự học Nội dung bài học sẽ dễ rơi vào liệt kê một loạt các tác phẩm một cách cơ học mà không chỉ ra được nội dung tư tưởng chủ đạo toát lên từ tác phẩm để làm sáng tỏ cho các nhận định trong SGK Một mặt

là do thời gian có hạn, mặt khác có những tác phẩm các em đã biết , đã học, song cũng không ít tác phẩm các em chưa từng tiếp xúc làm quen mà mới chỉ biết lần đầu, làm sao có thể thấy được nội dung, tư tưởng chủ đạo ? Hiểu biết có hạn thì ngay ở phần thành tựu văn học thì khi học những phần kiến thức có tính trừu tượng, khái quát đã được nâng cao hơn thì các em cò lúng túng mơ hồ thậm chí rơi vào học vẹt, học sơ sài cũng là điều dễ hiểu

Ngày đăng: 20/12/2014, 23:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w