1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xây dựng và tổ chức một số chủ đề ngoại khóa phần cơ học vật lý lớp 10, nhằm phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh thpt dân tộc nội trú

114 612 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định hướng đổi mới PPDH được nêu lên trong luật giáo dục 2005, trong đó điều 27.1 nêu rõ " Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể

Trang 1

.

NGUYỄN VIỆT HÙNG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ NGOẠI KHOÁ PHẦN CƠ HỌC VẬT LÝ LỚP 10, NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

.

NGUYỄN VIỆT HÙNG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ NGOẠI KHOÁ PHẦN CƠ HỌC VẬT LÝ LỚP 10, NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ

Chuyên ngành: Lý luận & PP dạy - học bộ môn Vật lý

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Đức Vượng

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010

Học viên

Nguyễn Việt Hùng

Trang 4

Trong quá trình thực hiện luận văn, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cá nhân, tập thể và của các thầy cô giáo trong nhà trường

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Sau Đại học, Khoa VËt Lý cùng toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại trường

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS TrÇn §øc V-îng

đã tận tình chỉ bảo cho em trong quá trình thực hiện luận văn

Em cũng xin chân thành cảm ơn các cơ quan ban ngành, trường THPT D©n Téc Néi Tró tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thu thập tài liệu, khảo sát thực tế vµ thực nghiệm sư phạm để thực hiện luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự góp ý, trao đổi của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các anh chị em học viên để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010

Học viên

Nguyễn Việt Hùng

Trang 5

MỞ ĐẦU……… 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ (DTNT) 1 1 Một số nội dung về lí luận dạy học ở nhà trường phổ thông ……… 6

1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở nhà trường phổ thông… … 6

1.1.2 Các vấn đề chung về hình thức tổ chức dạy học ở nhà trường phổ thông ……… … 9

1.2 Các nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học vật lí ở trường phổ thông… 13 1.2.1 Đặc điểm của môn Vật lí ở trường phổ thông 13

1.2.2 Nhiêm vụ dạy học môn vật lý ở trường phổ thông 14

1.2.3 Một số quan điểm hiện đại về phương pháp dạy học môn vật lý 15

1.3 Định hướng đổi mới PPDH Vật lí ở trường phổ thong 17

1.3.1 Đổi mới phương pháp dạy học như thế nào? 17

1.3.2 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lí ở THPT 18

1.4 Hoạt động ngoại khoá vật lí trong nhà trường phổ thông 22

1.4.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khoá trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học vật lí ở trường THPT 22

1.4.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khoá vật lí

1.4.3 Nội dung ngoại khoá vật lí

23 24 1.4.4 Các hình thức ngoại khoá vật lí 25

1.4.5 Phương pháp dạy học ngoại khóa 26

1.4.6 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa 26

1.5 Tính tích cực của HS trong hoạt động học tập 28

1.5.1 Khái niệm về tính tích cực và tích cực nhận thức trong học tập 28

1.5.2 Những dấu hiệu của tính tích cực nhận thức 28

Trang 6

khoá vật lí 31

1.7 Một số đặc điểm của HS phổ thông DTNT liên quan đến tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập 32

1.8 Sử dụng phương tiện kỹ thuật dạy học trong việc tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí 37

1.8.1 Phương tiện kỹ thuật trong dạy học 37

1.8.2 Những hỗ trợ cơ bản của phương tiện kỹ thuật trong việc tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí

KẾT LUẬN CHƯƠNG II

38 40 CHƯƠNG II: TỔ CHỨC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ NGOẠI KHOÁ PHẦN CƠ HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LỚP 10 CHO HỌC SINH THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ 2.1 Phân tích nội dung kiến thức phần Cơ học trong chương trình vật lí lớp 10 THPT 41

2.1.1 Nội dung chương trình phần Cơ học vật lí lớp 10 THPT 41

2.1.2 Mục tiêu kiến thức phần Cơ học vật lí lớp 10 THPT 42

2.2 Điều tra thực trạng dạy học vật lí phần Cơ học lớp 10 tại các trường THPT Dân tộc nội trú 48

2.2.1 Mục tiêu điều tra 48

2.2.2 Phương pháp điều tra 48

2.2.3 Đối tượng điều tra 48

2.2.4 Kết quả nghiên cứu 49

2.3 Tổ chức dạy học ngoại khoá kiến thức phần Cơ học lớp 10 cho HS THPT Dân tộc nội trú 55

Trang 7

2.3.2 Nội dung của hoạt động ngoại khoá phần Cơ học 56

2.3.2.1 Thiết kế giáo án số 1 56

2.3.2.2 Thiết kế giáo án 2 72

KẾT LUẬN CHƯƠNG II

CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 83 3.1 Mục đích thực nghiệm , 84

3.1.1 Mục đích , 84

3.1.2 Nhiệm vụ TNSP 84

3.2 Đối tượng, cơ sở, thời gian tiến hành thực nghiệm sư phạm 84

3.2.1 Đối tượng 84

3.2.2 Thời gian tiến hành 84

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 84

3.4 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 86

3.4.1 Phân tích, đánh giá giáo án số 1 86

3.4.2 Phân tích, đánh giá giáo án số 2 89

3.4.3 HS Đánh giá về vai trò của hoạt động ngoại khóa vật lí 90

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 92

KẾT LUẬN CHUNG 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 97

Trang 8

Các từ viết tắt Viết đầy đủ

Trang 9

Trang

Bảng 2.1: Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc tổ chức dạy học

ngoại khoá cho HS 51 Bảng 2.2: Đánh giá về nguyên nhân chính gây khó khăn khi tổ chức các

HĐNK 52 Bảng 2.3: Đánh giá về mức độ kiến thức phần cơ học 54 Bảng 2.4: Nhứng khó khăn gặp phải khi học phần cơ học 54 Bảng 2.5: Các hình thức được tổ chức để nâng cao chất lượng học tập phần

cơ học 55

DANH MỤC PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nước ta đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế Quốc tế, việc ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO đã và đang đem lại những thời cơ lớn giúp chúng ta sớm thực hiện được mục tiêu CNH - HĐH đất nước Những thời cơ thuận lợi cũng gắn liền với những thách thức không nhỏ, đòi hỏi Nhà nước phải có những quyết sách kịp thời và đúng đắn Sự phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hoá và khoa học công nghệ luôn đòi hỏi con người phải

có tri thức, điều đó đặt ra cho nền giáo dục nước ta một thách thức không nhỏ Trước yêu cầu đó, tại hội nghị lần thứ hai của BCH TW Đảng khoá VIII

về công tác giáo dục và công nghệ đã chỉ rõ: " Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học cho học sinh"

Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định cần tập trung đầu tư

và tạo ra cho bằng được “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại"

Việt Nam ta là một nhà nước độc lập, thống nhất gồm nhiều dân tộc anh em chung sống Đối với các dân tộc thì tình yêu quê hương, yêu dân tộc, yêu đất nước gắn bó chặt chẽ với nhau là cả một quá trình trong sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng cuộc sống mới Sinh thời, Bác Hồ từng kêu

gọi: “Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc Phải

ra sức làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp”

Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết

22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Chính phủ với các chương trình có

Trang 11

mục tiêu theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế đã tạo điều kiện cho kinh tế -

xã hội các vùng dân tộc và miền núi có một sự phát triển mới phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của từng vùng Quá trình đô thị hoá ở miền núi đã và đang khởi sắc, ở đó cư dân các dân tộc ít người đang tăng lên, đời sống dân trí không ngừng được nâng cao

Song song với sự phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá cũng đã có nhiều tiến bộ rõ rệt Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường dự bị Đại học dân tộc, các lớp riêng cho con em dân tộc ít người, các trường đại học hoặc trung học chuyên nghiệp ở Việt Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ đã đào tạo ra nguồn nhân lực rất quan trọng cho các vùng dân tộc

và miền núi

Để đáp ứng được những yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới toàn diện; Đổi mới về cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp giảng dạy và học theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá Trong hệ thống giáo dục của nước ta hiện nay thì bậc học phổ thông đóng vai trò vô cùng quan trọng Định hướng đổi mới PPDH được nêu lên

trong luật giáo dục (2005), trong đó điều 27.1 nêu rõ " Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động

và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc."

Mặt khác, giáo dục là một hoạt động kết hợp giữa vai trò chủ đạo của người thầy với sự tự giác, tích cực và độc lập tự giáo dục, tự rèn luyện của học sinh nhằm hình thành ý thức, tình cảm và chủ yếu là hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội quy định

Trang 12

Hoạt động ngoại khoá là một hình thức dạy học ngoài giờ lên lớp, nó có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động tự giáo dục, tự rèn luyện của học sinh, nó là phương tiện để phát huy năng lực và tài năng của học sinh, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của các em về các hiện tượng và quá trình vật lí diễn ra trong tự nhiên, cũng như trong các hoạt động lao động sản xuất Hoạt động ngoại khoá có nội dung phong phú, các hình thức giáo dục đa dạng, hấp dẫn, có phạm vi tiến hành rộng rãi, có khả năng kết hợp tốt các lực lượng giáo dục Chính điều này sẽ tạo hứng thú học tập, củng cố kiến thức, rèn luyện khả năng tư duy, ứng xử của người học, thực hiện tốt được mục tiêu giáo dục phổ thông và nhiệm vụ dạy học chung

Thực tiễn ở các trường THPT Dân tộc nội trú hiện nay, hoạt động ngoại khoá môn vật lý nói riêng và các môn học khác nói chung ít được quan tâm và đầu tư đúng mức Trong nhà trường phổ thông hiện nay hình thức dạy học lớp

- bài vẫn được thực hiện một cách phổ biến

Trên thực tế đối với các học sinh THPT Dân tộc nội trú luôn có nhiều điều kiện thuận lợi để tổ chức các hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp Về thời gian, ngoài giờ học chính khoá, học sinh có một buổi tự học ở nhà và có

sự quản lý của giáo viên chủ nhiệm lớp cùng với các giáo viên phụ trách Hơn nữa các em đang ở lứa tuổi ham thích hoạt động, ham thích tìm tòi, khám phá, hoạt động ngoại khoá sẽ là một cơ hội để các em mở rộng kiến thức và được thể hiện mình Những yếu tố trên là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động ngoại khoá nói chung và hoạt động ngoại khoá môn Vật lí nói riêng

Trên cơ sở những lý do đã trình bày ở trên và để nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy học, đồng thời góp phần phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh THPT nói chung và học sinh THPT dân tộc nội trú nói riêng, tôi

đã lựa chọn đề tài " Nghiên cứu xây dựng và tổ chức một số chủ đề ngoại

Trang 13

khoá phần Cơ học vật lý lớp 10, nhằm phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh THPT Dân tộc nội trú"

II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu xây dựng và tổ chức một số hoạt động ngoại khoá vật lý nhằm phát huy tích cực nhận thức cho học sinh THPT Dân tộc nội trú

III KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

Khách thể: Quá trình dạy học một số kiến thức phần Cơ học lớp 10 ở trường THPT Dân tộc nội trú

Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức dạy học ngoại khoá một số chủ đề phần

Cơ học đối với học sinh THPT Dân tộc nội trú, nhằm phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh THPT Dân tộc nội trú

IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu xây dựng và tổ chức buổi hoạt động ngoại khoá hợp lí sẽ góp phần nâng cao tính tích cực nhận thức cho học sinh THPT Dân tộc nội trú

V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học ngoại khoá

Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp việc tổ chức dạy học ngoại khoá bộ môn vật lý tại các trường THPT Dân tộc nội trú

Vận dụng lí luận vào việc tổ chức một số hoạt động ngoại khoá trong chương trình học của học sinh THPT Dân tộc nội trú

Soạn thảo tiến trình dạy học ngoại khoá cho một số đơn vị kiến thức trong phần Cơ học chương trình vật lí lớp 10 THPT

Tổ chức thực hiện, tổng kết và rút ra một số kết luận cần thiết

VI PHẠM VỊ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu xây dựng nội dung chương trình ngoại khoá khi dạy một số kiến thức trong phần Cơ học chương trình vật lý 10 dành cho học sinh THPT Dân tộc nội trú

Trang 14

VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cơ sở lí luận phục vụ đề tài: nghiên cứu các tài liệu về tâm

lí học, giáo dục học, lý luận dạy học vật lý, các tài liệu về tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, điều tra thực tiễn

Tổ chức thực nghiệm sư phạm; thực hiện dạy học ngoại khoá một số nội dung đã chọn và đánh giá mức độ hoàn thành của luận văn so với mục đích nghiên cứu của đề tài

VIII ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận của hoạt động ngoại khoá vật lý tại các trường THPT Dân tộc nội trú

Đề xuất được nội dung và hình thức tổ chức các hoạt động ngoại khoá tại các trường THPT Dân tộc nội trú

Có thể làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động ngoại khoá ở các trường THPT Dân tộc nội trú

IX CẤU TRÚC VÀ NỘI DUNG LUẬN VĂN

Chương I: Cơ sở lí luận tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí ở trường THPT Dân tộc nội trú

Chương II: Tổ chức một số chủ đề ngoại khoá phần cơ học trong chương trình vật lí lớp 10 cho học sinh THPT dân tộc nội trú

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ (DTNT)

1 1 Một số nội dung về lí luận dạy học ở nhà trường phổ thông

1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở nhà trường phổ thông

1.1.1.1 Mục tiêu giáo dục phổ thông

Mục tiêu giáo dục phổ thông đã được cụ thể hoá trong luật giáo dục

(2005), trong đó điều 27.1 nêu rõ " Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp

HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng

cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"

1.1.1.2 Nhiệm vụ của quá trình dạy học [3]

Để đào tạo con người đủ phẩm chất và năng lực thoả mãn yêu cầu xã hội, quá trình dạy học phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

*/ Điều khiển, tổ chức HS nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội - nhân văn, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng

Trong dạy học, phải tổ chức cho người học nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, phù hợp với thực tiễn đất nước về tự nhiên, xã hội, tư duy Những tri thức khoa học phổ thông cơ bản được cung cấp cho người học phải

là những tri thức phản ánh những thành tựu mới nhất của các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hoá phù hợp với chân lý khách quan Trên cơ sở đó hình thành ở người học hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định như: tự học; tự nghiên cứu khoa học ở mức độ thấp; khả năng phân tích, xử lí các tình huống nhằm giúp cho người học không chỉ nắm vững tri thức khoa học mà còn biết vận dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống khác nhau Vì

Trang 16

vậy, trong quá trình dạy học cần xác định các mức độ chiếm lĩnh tri thức của người học ở các trình độ khác nhau từ nhận biết, tái hiện đến tái tạo, tìm tòi và cuối cùng là khả năng kết hợp tất cả các mức độ trên

*/ Tổ chức điều khiển người học hình thành phát triển năng lực và những phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy, độc lập, sáng tạo, phát triển thể lực nâng cao sức khoẻ để phục vụ học tập và lao động

Trong quá trình dạy học, GV cần chú ý phát triển ở HS các năng lực trí tuệ sau: năng lực định hướng đúng vấn đề nghiên cứu trong thực tế; năng lực

tư duy trừu tượng; năng lực di chuyển hành động chí tuệ, dự đoán diễn biến của các hiện tượng; năng lực hoạt động nhận thức độc lập, sáng tạo Bên cạnh việc phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ, quá trình dạy học có nhiệm vụ bồi dưỡng cho HS một số phẩm chất hoạt động trí tuệ cả về bề rộng, chiều sâu, tính độc lập, tính phê phán, tính mềm dẻo, tính năng động và tính khái quát của hoạt động trí tuệ

Như vậy, trong quá trình dạy học các phẩm chất của hoạt động trí tuệ nói riêng và trí tuệ nói chung không ngừng phát triển và hoàn thiện Ngược lại, sự phát triển trí tuệ trong chừng mực nhất định cũng ảnh hưởng trở lại đối với chất lượng quá trình dạy học Như vậy, giữa dạy học và phát triển trí tuệ

có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì vậy dạy học cần đi trước và thúc đẩy sự phát triển của người học Muốn thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của người học thì việc dạy học phải đảm bảo tính vừa sức với người học, các nhiệm vụ dạy học

phải tương thích với “vùng phát triển gần nhất” tạo điều kiện đòi hỏi người

học phải không ngừng vươn lên với sự nỗ lực cao nhất

Để phát triển trí tuệ cho HS cần chú ý tới các điều kiện sau: nắm được đặc điểm của đối tượng, đặc biệt là trình độ nhận thức của đối tượng; lựa chọn nội dung dạy học một cách khoa học và hợp lí; có phương pháp dạy học thích hợp nhằm phát huy trí thông minh của HS Bên cạnh phát triển trí tuệ, quá

Trang 17

trình dạy học có nhiệm vụ chăm lo phát triển thể lực cho HS, giúp các em có sức khoẻ để học tập và tham gia các hoạt động khác

*/ Tổ chức điều khiển người học, hình thành phát triển thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất của người công dân, người lao động có bản lĩnh và bản nghĩa cộng đồng

Để hình thành thế giới quan khoa học cho HS, quá trình dạy học có nhiệm vụ tổ chức, điều khiển HS nắm vững hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy Hình thành ở HS niềm tin về tính chân thực và hiệu quả của kiến thức, hình thành thái độ lành mạnh với thực tiễn, hình thành quan điểm sống tích cực Trong quá trình dạy học, GV cần giáo dục cho HS lí tưởng, những phẩm chất, nhân cách của con người mà xã hội đặt ra: yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có lòng thương người, có lòng tự trọng cao, có ý thức pháp luật

Giữa các nhiệm vụ dạy học có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau cùng thực hiện mục tiêu của quá trình dạy học Nhờ nắm vững kỹ năng,

kỹ xảo mà năng lực tư duy sáng tạo của con người không ngừng được phát triển, sự phát triển của tư duy sẽ kèm theo sự phát triển của thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất đạo đức của con người từ đó hình thành con người mới đáp ứng yêu cầu của xã hội

1.1.1.3 Nguyên tắc dạy học [3]

Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tính chất xuất phát để chỉ đạo việc xác định nội dung, phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, nhiệm vụ dạy học và với những tính quy luật của quá trình dạy học

Hệ thống các nguyên tắc dạy học bao gồm:

Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học

Trang 18

Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với đời sống

Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học

Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của HS và vai trò chủ đạo của GV trong quá trình dạy học

Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển

tư duy lí thuyết

Nguyên tắc đảm bảo tính vững trắc và sự phát triển năng lực nhận thức của HS

Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt và tính tập thể trong quá trình dạy học

Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học

Nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học

1.1.2 Các vấn đề chung về hình thức tổ chức dạy học ở nhà trường phổ thông

Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt động của GV và HS trong quá trình dạy học, ở thời gian và địa điểm nhất định với những phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học

Hình thức dạy học khác nhau chủ yếu tuỳ theo mối quan hệ giữa việc dạy học có tính tập thể hay tính cá nhân, mức độ tính tự lực hoạt động nhận thức của HS, sự chỉ đạo chuyên biệt của GV đối với hoạt động học tập của

HS, chế độ làm việc, thành phần HS, địa điểm và thời gian học tập

Trong thực tế dạy học, người ta phân biệt ba dạng tổ chức dạy học: dạng toàn lớp; dạng nhóm; dạng cá nhân

1.1.2.1 Các dạng tổ chức dạy học cơ bản [13]

*/ Dạng toàn lớp: Là dạng trong đó, mỗi HS đồng thời hoàn thành những nhiệm vụ nhận thức chung

Trang 19

Ưu điểm: GV có thể lãnh đạo mọi HS, tích cực điều khiển việc lĩnh hội

tri thức, việc ôn tập và củng cố tri thức cho toàn lớp

Hạn chế: GV khó chú ý đến đặc điểm cá nhân, đặc biệt là đến tốc độ

hoạt động và trình độ hoạt động nhận thức của mỗi HS

*/ Dạng nhóm: Là dạng trong đó, từng nhóm HS cùng giải quyết những nhiệm vụ nhận thức thống nhất Các em có thể cùng thảo luận các nhiệm vụ nhận thức, vạch ra con đường giải quyết các nhiệm vụ đó, cuối cùng đạt kết quả chung

Ưu điểm: GV có thể chú ý tới những nhu cầu riêng của từng nhóm HS,

có thể mở ra khả năng rộng rãi để HS hợp tác hoạt động với nhau cũng như kiểm tra lẫn nhau

Ưu điểm: Phù hợp với mức độ cao nhất những đặc điểm cá nhân HS về

trình độ nhận thức, tốc độ nhận thức, tốc độ làm việc Dạng này tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân phát huy hết tiềm năng của mình, rèn luyện năng lực nhận thức độc lập Mặt khác, đối với GV về mặt giảng dạy có thể cá biệt hoá cao độ trong việc đưa ra nhiệm vụ nhận thức, kiểm tra và đánh giá kết quả của HS

Hạn chế: Dễ làm mất nhiều thời gian, đòi hỏi GV mất nhiều công sức,

không có tác động qua lại, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân HS

Trang 20

Tóm lại, mỗi dạng tổ chức dạy học đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Thực tiễn dạy học đã khẳng định rằng, muốn phát huy cao độ những tác dụng của chúng, GV cần khéo léo sử dụng phối hợp các dạng tổ chức dạy học một cách hiệu quả Các dạng tổ chức dạy học này được thực hiện thông qua các hình thức dạy học cụ thể

1.1.2.2 Các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông [13]

Để thực hiện được những nhiệm vụ dạy học ở trường phổ thông, hoạt động dạy học được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Đối với thực tiễn dạy học ở nước ta, quá trình dạy học được thực hiện bởi nhiều hình thức, có thể kể đến một số hình thức sau:

* Hình thức lớp - bài: đây là hình thức dạy học cơ bản, là hình thức GV

lên lớp trình bày nội dung kiến thức của một tiết, cùng trình độ nhận thức Do

đó hình thức này có thể sử dụng để đào tạo hàng loạt HS đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục như yêu cầu đào tạo công nhân lao động Hình thức này đảm bảo truyền tải đến người học những tri thức cơ bản, những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết phục vụ cho đời sống cũng như lao động sản xuất

Tuy nhiên, hình thức này vấp phải nhược điểm là không có đủ thời gian

để HS nắm vững ngay tri thức, GV không có đủ điều kiện để chú ý đầy đủ đến đặc điểm nhận thức của từng HS, không có điều kiện để mở rộng tri thức vượt qua ngoài nội dung, phạm vi chương trình

* Hình thức học ở nhà: Với hình thức này HS có thể làm được rất nhiều

công việc như học bài, làm bài, làm thí nghiệm, đọc sách tham khảo, chuẩn bị bài mới

Hình thức này có ý nghĩa quan trọng, nó giúp HS mở rộng, đào sâu, hệ thống hoá và khái quát hoá những điều đã học ở trên lớp, hoàn thiện vốn hiểu biết Ngoài ra nó còn giúp HS rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng những tri thức đã biết vào các tình huống kể cả tình huống mới nảy sinh trong cuộc

Trang 21

sống, trong lao động, sản xuất Hình thức tự học ở nhà còn giúp HS bước đầu nắm bắt tri thức mới bằng cách đọc trước SGK, làm trước thí nghiệm theo chỉ dẫn của GV

Tuy nhiên hình thức này đòi hỏi tính tự giác, tự lực rất cao của HS và đòi hỏi GV phải có những biện pháp phù hợp mới đem lại hiệu quả cao

* Hình thức hoạt động ngoại khoá

Với hình thức này, HS có thể tham quan học tập, tổ chức thảo luận theo chuyên đề, tổ chức các buổi dạ hội theo các chủ đề kiến thức

Đối với hình thức này HS có thể mở rộng, đào sâu tri thức, phát triển nghề nghiệp trong tương lai Ngoài ra, tham quan, ngoại khoá hay thảo luận một chuyên đề nào đó cũng giúp HS phát triển óc quan sát, trí tò mò khoa học, bồi dưỡng HS phương pháp quan sát và phương pháp phân tích, tổng hợp những tài liệu thu được Ngoài ra, HS còn được rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành, sử dụng các kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

Trước khi tham gia hoạt động ngoại khoá HS kiểm tra những kiến thức

đã học, kết hợp với những tài liệu có liên quan đến hoạt động ngoại khoá do

GV cung cấp, do đó HS có thể mở rộng kiến thức của mình cả về lí thuyết lẫn thực tế Như vậy hoạt động ngoại khoá cũng góp phần làm tư duy của HS phát triển, khả năng phân tích, và giải quyết vấn đề được nâng lên, rèn luyện khả năng lập luận cho HS

Hoạt động ngoại khoá không chỉ là một hình thức dạy học mà còn là hoạt động vui chơi bổ ích, lành mạnh Do vậy HS sẽ hăng hái tham gia, tạo tình cảm, hứng thú với môn học

Hoạt động ngoại khoá được tổ chức trên cơ sở tự nguyện của HS nên việc thu hút các em tích cực tham gia cũng là một vấn đề đáng quan tâm Hoạt động ngoại khoá đòi hỏi sự nỗ lực nhiệt tình tham gia của GV và HS đòi hỏi

Trang 22

GV phải bỏ nhiều công sức trong việc tìm chủ đề và nội dung cho hoạt động này Hoạt động ngoại khoá cần sự phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và cả ngoài xã hội trong việc tổ chức hoạt động cũng như sự hỗ trợ về kinh phí

* Hình thức giúp đỡ riêng: Trong quá trình dạy học tất yếu sẽ có sự

phân hoá về trình độ nhận thức và sẽ xuất hiện hai loại HS: Yếu - kém, khá - giỏi mà việc dạy học được tiến hành trên cơ sở chung không thoả mãn những

HS này

Tóm lại, mỗi một hình thức dạy học đều có những ưu nhược điểm nhất định, để hoạt động dạy học đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu về đổi mới giáo dục của nước ta hiện nay đòi hỏi người GV phải biết kết hợp các hình thức dạy học, lựa chọn các hình thức dạy học sao cho phù hợp với mục đích, mục tiêu đã đặt ra đối với từng cấp học, môn học

1.2 Các nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học vật lí ở trường phổ thông

1.2.1 Đặc điểm của môn Vật lí ở trường phổ thông [11]

Vật lí học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản nhất của vật chất, cho nên những kiến thức vật lí là cơ sở của nhiều ngành khoa học tự nhiên, nhất là của hoá học và sinh học

Vật lí ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm Đó là phương pháp nhận thức có hiệu quả trên con đường đi tìm chân lí khách quan Phương pháp thực nghiệm xuất xứ từ vật lí học nhưng ngày nay cũng được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học tự nhiên khác

Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nên nhiều kiến thức vật lí có liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản của triết học, tạo điều kiện phát triển thế giới quan khoa học ở HS

Vật lí học là cơ sở lí thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị dùng trong đời sống và sản xuất

Trang 23

Vật lí học là một môn khoa học chính xác, đòi hỏi vừa phải có kĩ năng quan sát tinh tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải

có tư duy logic chặt chẽ, biện chứng, vừa phải trao đổi thảo luận để khẳng định chân lí

1.2.2 nhiệm vụ dạy học môn vật lý ở trường phổ thông [11]

hiện đại của vật lý học Bao gồm: các hiện tượng, các khái niệm, các định luật vật lý, các thuyết vật lý chính, các TN vật lý cơ bản, một số kiến thức về lịch

sử vật lý, các tư tưởng và phương pháp nghiên cứu , các ứng dụng của vật lý trong kĩ thuật và công nghệ

Phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của HS, bồi dưỡng phương pháp học tập, lòng ham thích nghiên cứu khoa học và ý thức tích cực chủ động trong qua trình chiếm lĩnh, xây dựng, vận dụng tri thức vật lý cho HS; rèn luyện cho họ có khả năng thực hành tự lập, năng động và sáng tạo trong học tập, lao động sản xuất, thích ứng với sự phát triển của thời đại

Hình thành thế giới quan duy vật biện chứng cho HS, làm cho họ hiểu

rõ thế giới tự nhiên là vật chất, vật chất luôn ở trong trạng thái vận động và vận động theo quy luật Củng cố lòng tin ở khoa học vô thần, ở khả năng nhận biết ngày càng chính xác và đầy đủ các quy luật tự nhiên của con người

Góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục môi trường cho HS, làm cho họ nắm được những nguyên lý cơ bản về các quá trình sản xuất của các ngành chủ yếu, nắm được cấu tạo và hoạt động cũng như kỹ năng sử dụng các dụng cụ Vật lý đơn giản, các máy móc đơn giản, kỹ năng đo lường Rèn luyện cho HS phương pháp thực nghiệm khoa học, biết tổ chức công tác thực hành, biết xử lý các số liệu thực nghiệm, có kỹ năng sử dụng các bảng hằng

số, các đồ thị, tính toán đơn giản về Vật lý

Trang 24

*/ Các phương pháp nhận thức phổ biến dùng trong vật lí:

Những nhiệm vụ trên không tách rời nhau mà luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ nhau, góp phần đào tạo ta những con người phát triển hài hoà, toàn diện Ví dụ: kiến thức mà HS thu nhận được chỉ có thể sâu sắc, vững chắc khi họ có trình

độ tư duy phát triển Muốn có kiến thức vững chắc, HS không phải chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động, máy móc mà phải tích cực tự lực hoạt động, tham gia vào quá trình xây dựng và vận dụng kiến thức Ngược lại, HS chỉ có thể phát triển trí thông minh, sáng tạo khi có một vốn kiến thức vững chắc, thường xuyên vận dụng chúng để giải quyết những nhiệm vụ mới, vừa củng cố vừa mở rộng và phát hiện ra những chỗ chưa hoàn chỉnh của chúng để tiếp tục sáng tạo ra những kiến thức mới, bổ sung hoàn chỉnh thêm vốn kiến thức của mình Mặt khác, không

có trình độ tư duy phát triển thì khó có thể thực hiện được sự khái quát hoá cao, do

đó khó có thể có thế giới quan khoa học vững chắc

Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm, trong đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lí thuyết để đạt được

sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn Bởi vậy, việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành thí nghiệm sẽ hỗ trợ rất tốt cho việc phát hiện những đặc tính, quy luật của tự nhiên cũng như kiểm tra tính đúng đắn của các kiến thức lí thuyết Những ứng dụng trong kĩ thuật của vật lí không những phục vụ cho nhu cầu đời sống và sản xuất mà còn phục vụ cho chính công việc nghiên cứu vật lí học, nâng cao khả năng hoạt động của chính người nghiên cứu, học tập vật lí

1.2.3 Một số quan điểm hiện đại về phương pháp dạy học môn vật lý [19]

*/ Tăng cường việc tập trung vào các hoạt động nhận thức đa dạng của

HS trong giờ dạy vật lý như:

Việc giảng dạy mỗi đề tài xuất phát từ những kinh nghiệm, vốn hiểu biết đã có của HS nhằm khơi dậy hứng thú, đáp ứng nhu cầu nhận thức của HS trên cơ sở đó chính xác hoá và hệ thống hoá các kiến thức đó

Trang 25

Tổ chức cho HS tranh luận, trao đổi nhóm để họ tự bày tỏ suy nghĩ riêng; phát hiện và nêu ra vấn đề cần tìm hiểu, đề xuất các cách giải quyết bao gồm cả thiết lập và tiến hành TN

Tăng cường và vận dụng mọi khả năng để HS tự tiến hành TN vật lý đơn giản bằng thiết bị và vật liệu sẵn có trong phòng TN hoặc do HS tự tìm kiếm hay do GV tự làm

*/ Tăng cường các phương pháp tìm tòi nghiên cứu, phát hiện vấn đề

và cách giải quyết vấn đề

Đối với HS phổ thông cần tạo ra các tình huống có vấn đề để các em phát hiện ra vấn đề thắc mắc (hoài nghi), tự phát biểu ý kiến và suy nghĩ của mình Cần tổ chức cho HS thảo luận theo nhóm để tìm cách giải quyết vấn đề

*/ Coi trọng phương pháp thực nghiệm, phương pháp đặc trưng của bộ môn vật lý

Các TN vật lý vừa có vai trò cung cấp thông tin, vừa có tác dụng giải quyết vấn đề Đặc biệt có tác dụng khuyến khích hứng thú học tập và rèn luyện kỹ năng thực hành cho HS Sử dụng TN trong vật lý là cách có hiệu quả nhất giúp cho HS hình thành biểu tượng, khái niệm vật lý, định luật vật

lý tốt hơn

*/ Chú ý hình thức và phương pháp học tập theo nhóm

Việc học tập theo nhóm tạo điều kiện cho HS trao đổi thông tin, kết quả quan sát, đề xuất thắc mắc và vấn đề phát hiện, lắng nghe ý kiến người khác trong trao đổi thảo luận, tranh luận, khả năng phân tích, phê phán, bảo vệ ý kiến và suy nghĩ riêng của mình

*/ Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Khuyến khích sử dung các phương tiện hiện đại trong dạy học, chỉ sử dụng TN ảo đúng lúc, đúng chỗ, đúng chức năng của nó

Trang 26

1.3 Định hướng đổi mới PPDH Vật lí ở trường phổ thông

1.3.1 Đổi mới phương pháp dạy học như thế nào [14]

PPDH có nghĩa là con đường để đạt được mục đích Theo đó, PPDH là con đường để đạt được mục đích dạy học

PPDH là cách thức hành động của GV và HS trong quá trình dạy học Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra những hình thức cụ thể Cách thức

và hình thức không tách nhau một cách độc lập PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và HS trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học PPDH là những hình thức và cách thức, thông qua đó GV và HS lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện dạy học cụ thể

Việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông nên được thực hiện theo các yêu cầu sau:

Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập tích cực của HS

Dạy học kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác; giữa hình thức học cá nhân với hình thức học theo nhóm, theo lớp

Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa GV và HS, giữa HS và HS Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống

Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu; tạo niềm vui, hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập của HS

Dạy học chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, TBDH được trang bị hoặc do các GV tự làm

Dạy học chú trọng đến việc đa dạng nội dung, các hình thức, cách thức đánh giá và tăng cường hiệu quả việc đánh giá

Trang 27

1.3.2 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lí ở THPT [26]

*/ Sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS

Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ nhận vai trò của các PPDH truyền thống Ở một mức độ nào đó, ta phải xem xét các phương pháp này theo quan điểm mới, theo hướng tích cực hoá hoạt động của HS

Muốn vậy, GV phải kích thích được óc tò mò khoa học, ham hiểu biết của HS bằng cách tạo ra những tình huống có vấn đề Đó thường là những câu hỏi thú vị gây hứng thú học tập, tạo nhu cầu nhận thức và có thể nghiên cứu được đối với HS

Trong dạy học truyền thống, GV thường hay sử dụng kết hợp nhiều PPDH thuộc các nhóm khác nhau một cách linh hoạt Ví dụ: giảng giải kết hợp với minh hoạ, xem thí nghiệm biểu diễn kết hợp với vấn đáp…

Như vậy, đổi mới PPDH không phải là phủ định hoàn toàn các PPDH truyền thống, mà sử dụng chúng theo tinh thần mới: phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

*/ Chuyển từ phương pháp nặng về sự diễn giảng của GV sang phương pháp nặng về tổ chức cho HS hoạt động để tự lực chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng

Theo PPDH truyền thống, GV là người truyền thụ kiến thức, còn HS là người tiếp thu kiến thức Ở đây, GV chủ yếu sử dụng phương pháp giảng giải kết hợp minh họa, việc sử dụng TBDH hạn chế dẫn đến tình trạng dạy học

theo kiểu “đọc - chép” Theo phương pháp mới, GV giao cho HS đọc, nghiền

ngẫm SGK, rồi sau đó đặt câu hỏi để kiểm tra sự lĩnh hội kiến thức của các

em Thông qua cách trả lời, trình bày, báo cáo mà HS được rèn luyện những

kỹ năng và tố chất cần thiết cho mình

Trang 28

Theo quan niệm mới về dạy học, vai trò chủ yếu của GV là tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động học tập của HS, giúp HS đạt được mục tiêu dạy học

GV không thuyết trình liên miên, giảng giải mọi vấn đề mà chủ động tạo điều kiện rèn luyện óc độc lập suy nghĩ và tư duy sáng tạo của HS bằng cách: tăng cường sử dụng PPDH “vấn đáp tìm tòi”; tăng cường hoạt động độc lập của HS bằng cách tạo ra các cuộc tranh luận; Trao nhiệm vụ học tập ngày càng nặng dần cho HS chuyển dần từ dạy học truyền thụ kiến thức sang dạy học giải quyết vấn đề

Việc đổi mới phương pháp dạy học của GV đòi hỏi HS phải đổi mới phương pháp học tập Đây là một tất yếu đòi hỏi người học phải nỗ lực, chủ động, sáng tạo trong các hoạt động nhận thức của mình Như vậy, trọng tâm đánh giá tiết dạy phải đặt vào hoạt động của HS trong tiết dạy đó

*/ Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hoà với học tập hợp tác

Các hình thức tổ chức học tập cá nhân, theo nhóm nhỏ và theo lớp là các hình thức vẫn được áp dụng theo PPDH truyền thống Theo PPDH dạy học mới, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức học tập cơ bản, có hiệu quả nhất nhưng HS phải có tinh thần học tập một cách tự giác, chủ động

Học tập hợp tác là hình thức học tập bổ trợ có tác dụng rèn luyện người học tinh thần hợp tác lao động, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm với công việc chung Phối hợp chặt chẽ những nỗ lực cá nhân trong tự học với việc học tập hợp tác trong nhóm

Dạy học theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ của mỗi HS trong quá trình tự lực dành lấy kiến thức mới Một trong những hình thức tăng cường hoạt động học tập của HS trên lớp là sử dụng phiếu học tập cho từng HS

Trang 29

Tuy nhiên, trong học tập, không phải bất kỳ một nhiệm vụ học tập nào cũng có thể được hoàn thành bởi những hoạt động thuần tuý cá nhân Có những câu hỏi, những vấn đề đạt ra khó và phức tạp, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các cá nhân mới có thể hoàn thành nhiệm vụ Thông qua sự hợp tác tìm tòi, nghiên cứu, thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ; qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Đó là sự vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và cả lớp

Cũng thông qua hoạt động nhóm để giáo dục cho HS tinh thần, trách nhiệm và thói quen trong lao động hợp tác theo sự phân công có kế hoạch của nhóm; biết cách lắng nghe ý kiến người khác tranh luận, ứng xử và cộng tác trong nhóm Sự hợp tác trong lao động và trong nghiên cứu là một đặc trưng quan trọng của người lao động trong xã hội mới

Như vậy, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức hoạt động chủ yếu giúp HS phát triển các năng lực của mỗi cá nhân

*/ Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học

Trong xã hội hiện đại, sự bùng nổ thông tin đòi hỏi mỗi cá nhân phải nỗ lực học tập biết cách cập nhật thông tin

Việc tự của HS là hoạt động rất cần thiết Ở đây, người GV cần phải bồi dưỡng cho HS khả năng thu thập thông tin, huấn luyện cho HS cách nắm bắt nội dung chính của tài liệu học tập, đồng thời giao bài tập về nhà cho HS,

có thể tính toán cân đối giữa nội dung học tập trên lớp và nội dung cần tìm hiểu ở nhà GV cần phải quan tâm đến phương pháp học của HS, từng bước hình thành năng lực tự học để các em có thể tự bổ sung kiến thức và học thường xuyên suốt đời

*/ Coi trọng việc rèn luyện kỹ năng ngang tầm với truyền thụ kiến thức Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS

Trang 30

Việc rèn luyện kỹ năng là một trong những yêu cầu rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách HS Hiện nay, rất ít GV chú ý đến lĩnh vực này cho

HS Trên lớp GV cố gắng truyền đạt kiến thức mà không chú ý đến việc rèn luyện tư duy, rèn luyện kỹ năng cho HS Đổi mới PPDH cũng như kiểm tra, đánh giá coi trọng những kỹ năng, năng lực thực hành của HS GV cần phải tính toán đưa các kỹ năng vào hoạt động học tập thích hợp của HS theo một chiến lược đã được hoạch định, chuẩn bị từ trước

Đổi mới PPDH phải đi đôi với đổi mới đánh giá kết quả học tập của

HS Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS phải căn cứ vào mục tiêu của môn học và phải phối hợp kiểm tra bằng trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan, tạo điều kiện để HS tự đánh giá kết quả học tập của mình

*/ Tăng cường sử dụng thiết bị dạy học, chú trọng các thí nghiệm, ứng dụng CNTT trong dạy học vật lí

Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm Các khái niệm, định luật đều gắn với thực tế Do vậy, vai trò của thí nghiệm vật lí giúp rèn luyện cho HS các kỹ năng thực hành như quan sát, sử dụng dụng cụ thí nghiệm….đồng thời rèn luyện óc suy đoán, tư duy lí luận, tư duy vật lí là hết sức quan trọng

Xác định được tầm quan trọng của CNTT, Đảng và nhà nước đã chỉ đạo ngành giáo dục đào tạo sớm đưa CNTT vào các nhà trường Những năm gần đây, CNTT trong nhà trường đã được quan tâm Mục tiêu của việc học tin học trong nhà trường, mối quan hệ giữa tin học với tư cách là một môn học với việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã dần dần được xác đinh rõ ràng qua các cấp học

Sử dụng CNTT để dạy học, PPDH cũng thay đổi GV là người hướng dẫn HS học tập chứ không đơn thuần là người phát thông tin đến HS GV cũng phải học tập thường xuyên để nâng cao trình độ về CNTT, sử dụng có

Trang 31

hiệu quả CNTT trong học tập HS có thế lấy thông tin từ nhiều nguồn phong phú khác nhau như; sách, internet, CD-ROM…lúc này HS phải biết cách đánh giá và lựa chọn thông tin, không còn chỉ đơn thuần nhận thông tin một cách thụ động vì nguồn thông tin vô cùng phong phú

Như vậy, việc sử dụng CNTT trong dạy học sẽ góp phần đổi mới PPDH trên các mặt sau đây: thực hiện học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, tăng cường tự học trong quá trình dạy học, sử dụng luân chuyển những hình thức dạy học đa dạng, hình thành và sử dụng công nghệ dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

Để nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong trường THPT, một trong các giải pháp là: nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí, GV và HS

về việc đưa ứng dụng CNTT trong quản lí giáo dục và dạy học bồi dưỡng GV các bộ môn về CNTT để họ có thể tổ chức tốt ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Mọi công nghệ sẽ chẳng có tác dụng gì nếu người GV không phát huy

và sáng tạo nó, chỉ có GV mới đem lại sự kỳ diệu, hiệu quả

1.4 Hoạt động ngoại khoá vật lí trong nhà trường phổ thông [5],[16],[21]

1.4.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khoá trong hệ thống các hình thức

tổ chức dạy học vật lí ở trường THPT

Hoạt động ngoại khóa là một trong bốn hình thức dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay Ngoại khóa vật lí nói riêng và hoạt động ngoại khóa nói chung có vai trò vô cùng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trên tất cả các mặt

Về giáo dục nhận thức: Hoạt động ngoại khóa giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức đã học trên lớp, ngoài ra giúp HS vận dụng kiến thức

đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống đặt ra, tạo điều kiện để học đi đôi với hành, lí luận đi đôi với thực tiễn

Trang 32

Về rèn luyện kỹ năng: Hoạt động ngoại khóa rèn luyện cho HS kỹ năng

tổ chức, kỹ năng điều khiển, kỹ năng là việc theo nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sử dụng và làm thí nghiệm,

Về giáo dục tinh thần thái độ: Hoạt động ngoại khóa tạo hứng thú học tập, khơi dậy lòng ham hiểu biết, lôi cuốn HS tự giác tham gia vào các hoạt động tìm tòi tri thức, phát huy tính tích cực nhận thức của HS

1.4.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khoá vật lí

Hoạt động ngoại khóa nói chung và ngoại khóa vật lí nói riêng có một

số đặc điểm cơ bản sau:

Việc tổ chức ngoại khóa dựa trên tính tự nguyện tham gia của HS dưới

sự hướng dẫn của GV

Số lượng HS tham gia không hạn chế, có thể theo nhóm nhỏ hoặc quy

mô từng lớp học, từng khối khối học…

Nội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với nội dung học tập trong chương trình nội khóa, phù hợp với trình độ và đặc điểm của các đối tượng tham gia

Không tổ chức kiểm tra - đánh giá kết quả hoạt động ngoại khóa như ở trên lớp học Việc đánh giá kết quả hoạt động ngoại khóa thông qua sản phẩm

mà HS có được như: tính tích cực, tự lực nhận thức của HS; kết quả đánh giá công khai, không cho điểm nhưng có những hình thức động viên khích lệ kịp thời như biểu dương, tặng phần thưởng

Để hoạt động ngoại khóa đạt kết quả tốt đẹp đòi hỏi phải có sự tổ chức chặt chẽ, tỉ mỉ của GV, sự giúp đỡ của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, của hội cha mẹ HS và của các tổ chức ngoài xã hội Bên cạnh đó nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa phải đa dạng, mềm dẻo, hấp dẫn để lôi cuốn được nhiều HS tham gia

Trang 33

1.4.3 Nội dung ngoại khoá vật lí

Nội dung ngoại khóa về vật lý phải bổ sung kiến thức lí thuyết, kĩ năng thực hành, giới thiệu những ứng dụng của vật lí vào khoa học kĩ thuật và đời sống, làm tăng hứng thú đối với môn học, rèn luyện khả năng phân tích và giải quyết vấn đề của HS Ngoại khoá vật lí giúp HS hiểu rõ hơn các hiện tượng vật lí, thấy được vai trò to lớn của vật lí trong thực tế đời sống, trong sản xuất và khoa học công nghệ Việc tham gia hoạt động ngoại khoá sẽ giúp

HS mạnh dạn hơn, tư duy logic chặt chẽ hơn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Vật lí

Nội dung của ngoại khoá vật lí có thể là những kiến thức nằm trong phạm vi chương trình vật lí THPT, hoạt động gắn với chương trình nội khoá nhằm mục đích giúp học HS nắm chắc hơn kiến thức và các kĩ năng cơ bản Ngoại khoá vật lí cũng có thể là những kiến thức mở rộng vượt ra ngoài nội dung chương trình nội khóa, giúp HS tăng hiểu biết, phát huy năng lực sáng tạo của bản thân

Theo phân phối chương trình vật lí ở trường THPT, từ lớp 10 đến lớp

12 học sinh lần lượt được học: Cơ học - Nhiệt học - Điện học - Quang học - Dao động và sóng - Vật lí hạt nhân - Từ vi mô đến vĩ mô Đó cũng là những nội dung cơ bản của ngoại khoá vật lí và theo cách phân bố thời gian ở trên, hoạt động ngoại khoá có thể tiến hành ứng với từng phần hoặc tổng hợp các phần của chương trình Mỗi phần nói trên lại gồm nhiều phần nhỏ, tổ chức thành các chuyên đề ngoại khoá Ví dụ: Phần cơ học gồm một số chuyên đề: Chuyển động, các định luật Niutơn, các lực cơ học, cân bằng của vật rắn, các định luật bảo toàn

Mặt khác, trong chương trình vật lí THPT hiện nay, một số nội dung chưa có điều kiện đưa vào chương trình hoặc chưa có điều kiện tìm hiểu kĩ như: Thiên văn học, vật lí hiện đại, các ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật -

Trang 34

công nghệ, nội dung giáo dục kĩ thuật tổng hợp, giáo dục môi trường Ngoại khoá vật lí là một biện pháp đưa các nội dung này vào chương trình, bổ sung kiến thức, giúp học sinh tăng hiểu biết, yêu thích bộ môn Ví dụ: Những vấn

đề của thiên văn học như: Cấu trúc của hệ mặt trời, bốn mùa, thời gian, lịch, nhật thực, nguyệt thực là những tri thức rất cần thiết cho học sinh mà chưa được đưa vào giảng dạy

Việc lựa chọn nội dung để tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí, đòi hỏi

GV phải dựa vào các yếu tố, đó là: vai trò của hoạt động ngoại khóa vật lí; xuất phát từ đặc điểm nội dung ngoại khoá vật lí và những vấn đề mà giờ học nội khóa chưa đáp ứng được do điều kiện về thời gian, về phương tiện dạy học Nội dung ngoại khóa phải hấp dẫn để thu hút được đông đảo HS tự nguyện tham gia

+ Tổ chức câu lạc bộ khoa học; dạ hội khoa học

+ Tổ chức thảo luận về một số chuyên đề vật lí

Tổ chức hoạt động ngoại khóa ở nhà: Ôn luyện những kiến thức cơ bản; tham gia thiết kế, chế tạo các dụng cụ thí nghiệm đơn giản, tiến hành các thí nghiệm trên các dụng cụ đã chế tạo được

Tổ chức ngoại khóa ở ngoài nhà trường: Thăm quan các công trình kỹ thuật có ứng dụng các công nghệ liên quan đến kiến thức vật lí như: thăm quan các xưởng sản xuất, các khu công nghiệp; các nhà máy thủy điện

Trang 35

1.4.5 Phương pháp dạy học ngoại khóa vật lí

Phương pháp dạy học ngoại khóa vật lí thường có tính mềm dẻo, không cứng nhắc, tùy thuộc vào nội dung ngoại khóa, trình độ của GV và của HS Tuy nhiên phương pháp dạy học ngoại khóa vật lí phải dựa trên các định hướng của chiến lược dạy học nói chung và tuân theo các nguyên tắc sau:

Cần phải lập kế hoạch ngoại khóa hết sức chi tiết ngay từ sớm, đủ để các nhóm có thời gian chuẩn bị

Tổ chức ngoại khóa cần dựa trên tính tự nguyện, hứng thú của HS đảm bảo HS yêu thích công việc của mình và phát huy được sự sáng tạo của họ

Đảm bảo tính nghiêm túc, nhẹ nhàng, nhưng không tùy tiện Nhóm ngoại khóa cần phải có tổ chức chặt chẽ, có kế hoạch làm việc cụ thể để trách tình trạng nhàm chán, không hứng thú Vì vậy đòi hỏi mỗi nhóm ngoại khóa cần có một nhóm trưởng với tư cách là hạt nhân của nhóm

1.4.6 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí

Hiện nay, chưa có nhiều tài liệu nói rõ về quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa Qua nghiên cứu và tổng hợp tài liệu tôi nhận thấy quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí có thể diễn ra theo các bước sau:

Bước 1: Lựa chọn chủ đề ngoại khóa

Dựa vào vai trò của hoạt động ngoại khóa, căn cứ vào nội dung chương trình và thực tế dạy học nội khóa của bộ môn Xuất phát từ nhu cầu nhận thức của HS và điều kiện thực tế của nhà trường, GV lựa chọn và xác định

chủ đề của hoạt động ngoại khóa cần tổ chức

Bước 2: Lập kế hoạch ngoại khóa

Khi lập kế hoạch cho hoạt động ngoại khóa, GV cần tập chung vào một

số vấn đề cơ bản sau:

+ Xác định rõ mục tiêu của hoạt động ngoại khóa, gồm có: mục tiêu về kiến thức; mục tiêu về kỹ năng; mục tiêu về thái độ, tình cảm

Trang 36

+ Dự kiến hình thức tổ chức

+ Xây dựng chương trình ngoại khóa ở dạng những nhiệm vụ cụ thể

- Thời gian, địa điểm, thời lượng tiến hành

- Đối tượng tham gia

- Ban tổ chức: Cơ cấu - số lượng - chức năng - nhiệm vụ

- Cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện phục vụ buổi ngoại khoá

- Dự kiến những công việc cần sự ủng hộ của các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường

+ Tiến trình thực hiện:

- Danh mục các khâu trong quá trình tiến hành: Nêu cụ thể các khâu

của tiến trình thực hiện (chi tiết từng phần một)

- Nội dung, phương pháp tiến hành, phương tiện hoạt động

- Thời gian cho từng nội dung: Dự kiến thời gian bắt đầu và kết thúc cho từng phần

Bước 3: Tiến hành ngoại khóa

Đối với các hoạt động có quy mô lớn, đông HS tham gia như ở các khối lớp thì GV là người tổ chức, điều khiển hoạt động Đặc biệt GV phải đóng vai trò là trọng tài để tổ chức cho HS thảo luận, tranh luận rộng rãi những nội dung của buổi ngoại khóa

Đối với những hoạt động có quy mô nhỏ như tổ, nhóm hoặc từng lớp thì nên để HS hoàn toàn tự chủ trong việc tổ chức và thực hiện các hoạt động ngoại khóa GV có vai trò giám sát và là cố vấn trong các tình huống HS gặp khó khăn

Mỗi giai đoạn hoạt động ngoại khóa cần thực hiện theo thời gian đã dự kiến để thúc đẩy HS quyết tâm và cố gắng trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao

Trang 37

Bước 4: Tổng kết, rút kinh nghiệm và khen thưởng

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động ngoại khóa phải dựa vào cả quá trình diễn ra hoạt động, GV đánh giá hiệu quả thông qua sự hứng thú, tính tích cực nhận thức, những nội dung kiến thức, kỹ năng, tình cảm thái độ mà HS có được

Sau mỗi lần tổ chức hoạt động ngoại khóa GV phải đánh giá, rút kinh nghiệm, điều chỉnh nội dung, hình thức và phương pháp hướng dẫn để những buổi ngoại khóa sau đạt kết quả cao hơn

1.5 Tính tích cực của HS trong hoạt động học tập

1.5.1 Khái niệm về tính tích cực và tích cực nhận thức trong học tập [8]

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội, khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên cho sự tồn tại và phát triển của xã hội mà còn chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội, sáng tạo ra nền văn hóa ở mỗi thời đại

Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập - nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động

Tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của HS đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức

Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập Học tập là một trường hợp riêng của sự nhận thức, vì thế nói tới học tập tích cực thực chất là nói tới tích cực nhận thức

1.5.2 Những dấu hiệu của tính tích cực nhận thức [8]

Chúng ta có thể nhận biết được tính tích cực trong HĐNT của HS dựa vào nhiều dấu hiệu khác nhau Những dấu hiệu đó có thể phân chia thành các nhóm như sau:

Trang 38

*/Những dấu hiệu bên ngoài thông qua thái độ, hành vi và hứng thú

Hứng thú nhận thức là thái độ, là sự lựa chọn của cá nhân về đối tượng nhận thức, trong đó cá nhân không chỉ dừng lại ở những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng, mà hướng vào các đặc tính bên trong của sự vật hiện tượng muốn nhận thức Hứng thú nhận thức là động cơ quan trọng của quá trình nhận thức và thường biểu lộ dưới dạng tính tò mò, lòng khao khát cái mới Như vậy, nhờ có hứng thú nhận thức mà HĐNT diễn ra thuận lợi hơn

và hiệu quả hơn

Nhu cầu, hứng thú nhận thức được biểu hiện bằng các dấu hiệu cụ thể sau:

HS khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về những vấn đề

đã nêu ra

HS hay nêu thắc mắc, đòi giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình bày chưa đủ rõ Việc đặt câu hỏi của các em thể hiện lòng ham muốn hiểu biết nhiều hơn, sâu sắc hơn về những đối tượng mà các em đang tiếp xúc

HS mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi của bài học Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng cần nhận thức

Hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập: ghi chép cẩn thận, đầy đủ, cử chỉ khẩn trương khi thực hiện các hành động tư duy Thái

độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học: tiếc rẻ, cố làm cho xong, hay vội gấp sách vở, chờ được lệnh ra chơi

*/ Những dấu hiệu bên trong

Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thao tác

tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức

Trang 39

Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được nhằm giải quyết các tình huống và bài tập khác nhau, đặc biệt là xử lí các tình huống mới

Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát

Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý mình

Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức, biết tìm ra các cách giải quyết khác nhau và lựa chọn cách giải quyết hay nhất

Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức như sự nỗ lực của bản thân, khắc phục những khó khăn để thực hiện đến cùng nhiệm vụ được giao

*/ Thông qua kết quả học tập

Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tính tích cực nhận thức Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả học tập tốt

1.5.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của HS [30]

Phát huy tính tích cực nhận thức của HS liên quan đến nhiều yếu tố Trong đó, các yếu tố như: động cơ và hứng thú học tập, năng lực và ý chí cá nhân, không khí dạy học trong lớp đóng một vai trò quan trọng Do vậy, để phát huy được tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS chúng ta cần

có những biện pháp sư phạm thích hợp Trên cơ sở lí luận và thực tiễn đã nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS:

Vận dụng và phối hợp các phương pháp dạy học một cách có hiệu quả, đặc biệt là các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp thực nghiệm,

Trang 40

phương pháp nhóm Có như vậy mới khuyến khích tính tích cực của HS trong học tập

Tạo ra và duy trì không khí dạy học trong lớp nhằm tạo môi trường thuận lợi Trong môi trường đó tâm lí HS thoải mái nên HS dễ dàng bộc lộ những hiểu biết của mình và tham gia tích cực vào quá trình dạy học

Khởi động tư duy gây hứng thú học tập cho HS HS càng hứng thú học tập bao nhiêu thì việc thu nhận kiến thức của các em càng chủ động tích cực

và chắc chắn bấy nhiêu Những vấn đề cần nhận thức nên được làm bộc lộ một cách đột ngột, bất ngờ nhằm gây ra xung đột tâm lí ở HS từ đó gây được

sự tò mò, kích thích tính hiếu kì của HS

Sử dụng nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau như: cá nhân, nhóm, tập thể lớp, học trong các buổi ngoại khóa, tham quan, hay học trong phòng thí nghiệm, ở vườn trường Các hình thức dạy học khác nhau sẽ tạo điều kiện cho HS phát biểu, trao đổi kiến thức, rèn luyện kỹ năng qua đó giúp HS phát triển toàn diện và tăng cường tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS

Kiểm tra, đánh giá cũng là một động lực quan trọng tác động đến tính tích cực trong học tập của HS Do vây, cần có những đổi mới trong hình thức cũng như nội dung kiểm tra, đánh giá HS như: sử dụng phiếu học tập để củng

cố các kiến thức và kĩ năng vừa học trong bài, tạo điều kiện cho HS đánh giá kết quả học tập lẫn nhau bằng cách sửa bài tập trên lớp, sử dụng phối hợp hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận

1.6 Phát huy tính tích cực nhận thức của HS trong hoạt động ngoại khoá vật lí [9]

Hoạt động ngoại khoá dựa trên tinh thần tự nguyện của từng HS là một biện pháp kích thích thái độ học tập tích cực của họ Qua hoạt động ngoại

Ngày đăng: 20/12/2014, 23:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ giáo dục và Đào tạo, vụ giáo dục trung học, Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông, NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
[2]. Tô Văn Bình (2007), Phân tích chương trình vật lí phổ thông, Giáo trình đào tạo thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chương trình vật lí phổ thông
Tác giả: Tô Văn Bình
Năm: 2007
[3]. Nguyễn Ngọc Bảo - Hà Thị Đức (2001), Hoạt động dạy học ở trường THCS, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động dạy học ở trường THCS
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo - Hà Thị Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
[4]. Trương Đức Cường (2007), Nghiên cứu xây dựng và tổ chức một số chủ đề ngoại khoá phần điện học lớp 12 THPT nhằm góp phần giáo dục KTTH cho học sinh, Luận Văn thạc sỹ khoa học giáo dục, ĐHSPTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng và tổ chức một số chủ đề ngoại khoá phần điện học lớp 12 THPT nhằm góp phần giáo dục KTTH cho học sinh
Tác giả: Trương Đức Cường
Năm: 2007
[6]. Đào Thị Hà (2007), Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại khóa về "Lực Ma Sát" vật lí lớp 10 THPT nhằm phát huy tính tích cực và bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh, Luận Văn thạc sỹ khoa học giáo dục, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lực Ma Sát
Tác giả: Đào Thị Hà
Năm: 2007
[7]. Mai Thị Vân Hải (2008), Nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại khoá phần “Quang học” với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh THPT, Luận Văn thạc sỹ khoa học giáo dục, ĐHSPTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại khoá phần "“Quang học” với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh THPT
Tác giả: Mai Thị Vân Hải
Năm: 2008
[8]. Trần Bá Hoành (2003), Lí luận cơ bản về dạy và học tích cực, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận cơ bản về dạy và học tích cực
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2003
[9]. Trần Bá Hoành, Nguyễn Văn Đoàn, Ngô Quang Sơn, (2003); Áp dụng dạy học tích cực trong môn Vật lí, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng dạy học tích cực trong môn Vật lí
Nhà XB: Nxb ĐHSP
[10]. Nguyễn Văn Khải (chủ biên) (1999), Những vấn đề cơ bản của lí luận dạy học vật lí, Giáo trình, Trường ĐHSPTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của lí luận dạy học vật lí
Tác giả: Nguyễn Văn Khải (chủ biên)
Năm: 1999
[11]. Nguyễn Văn Khải (chủ biên), Nguyễn Duy Chiến, Phạm Thị Mai (2008), Lý luận dạy học vật lí ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Khải (chủ biên), Nguyễn Duy Chiến, Phạm Thị Mai
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[12]. Đỗ Thị Minh (2000), Nghiên cứu việc tổ chức một số buổi học ngoại khóa về phần Quang học cho học sinh lớp 8 THCS miền núi, Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu việc tổ chức một số buổi học ngoại khóa về phần Quang học cho học sinh lớp 8 THCS miền núi
Tác giả: Đỗ Thị Minh
Năm: 2000
[14]. Hoàng Đức Nhuận (1994), Những vấn đề cơ bản trong đổi mới PPDH, Tạp trí NCGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong đổi mới PPDH
Tác giả: Hoàng Đức Nhuận
Năm: 1994
[15]. Phạm Hồng Quang (2003), Tổ chức dạy học cho HS dân tộc miền núi, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học cho HS dân tộc miền núi
Tác giả: Phạm Hồng Quang
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2003
[17]. Phạm Xuân Quế (2007), Giáo trình sử dụng máy tính trong dạy học Vật lí, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sử dụng máy tính trong dạy học Vật lí
Tác giả: Phạm Xuân Quế
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2007
[18]. Nguyễn Quang Riệu (1995), Vũ trụ - phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ trụ - phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại
Tác giả: Nguyễn Quang Riệu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
[19]. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng (1999), Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lí, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lí
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1999
[20]. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế (2002), Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2002
[21]. Hà Nhật Thăng (2003), Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông
Tác giả: Hà Nhật Thăng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
[22]. Nguyễn Thị Tính (2005), Hoạt động ngoài giờ lên lớp, Tài liệu bồi dưỡng cho GVTHPT, ĐHSPTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động ngoài giờ lên lớp
Tác giả: Nguyễn Thị Tính
Năm: 2005
[24]. Phạm Hữu Tòng (1996), Hình thành kiến thức kĩ năng phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kiến thức kĩ năng phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w