Trên giác độ cơ quan quản lý Nhà nước, báo cáo đánh giá về những thuận lợi, khó khăn, những mặt được và chưa được của công tác di dân, tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi, chứ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN
- -
TẠ THỊ THU HUYỀN
VẤN ĐỀ DI DÂN VÀ TÁI ĐỊNH CƯ VÙNG LÒNG HỒ THỦY ĐIỆN TRƯỜNG HỢP THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THU HOA
THÁI NGUYÊN – 2011
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới:
PGS.TS Lê Thu Hoa - cô giáo hướng dẫn khoa học, đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Các GS, PGS, TS, các thầy cô giáo ở Khoa sau đại học, Khoa Địa lí đã giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn
Các đồng chí lãnh đạo, cán bộ ở UBND tỉnh Tuyên Quang, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tuyên Quang, Ban Quản lý dự án thủy điện Tuyên Quang, Ban di dân thủy điện Tuyên Quang đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập tài liệu cho luận văn
Những người thân trong gia đình đã động viên, khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi thực hiện và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 7 năm 2011
Học viên
Tạ Thị Thu Huyền
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong 15 năm qua, nhiều công trình thủy điện thủy lợi Quốc gia đã và đang được xây dựng góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu năng lượng và nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của nhân dân, nhằm phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Công tác di dân, tái định cư luôn gắn với việc xây dựng công trình đã và đang là thách thức trong thực hiện các loại công trình này
Tuy nhiên như nhận định của Hội nghị toàn quốc nói chung và của tỉnh Tuyên Quang nói riêng, việc tổ chức di dân tái định cư phần lớn không đạt được mục tiêu đề ra Nhiều người dân trong trường hợp di dân, tái định cư còn sống trong cảnh nghèo nàn, cuộc sống nơi ở mới không phù hợp, cuộc sống còn bấp bênh không ổn định Cơ sở hạ tầng thiếu thốn, chất lượng cuộc sống bị suy giảm… ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân nói riêng và ảnh hưởng đến xã hội nói chung Vì vậy cần thiết phải đánh giá lại chính sách và hoạt động di dân, tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của công cuộc di dân tái định cư của tỉnh và đưa ra giải pháp hợp lí
Xuất phát từ những lí do cấp thiết trên, tôi lựa chọn đề tài“Nghiên cứu vấn đề di dân và tái định cư vùng lòng hồ thủy điện – trường hợp thủy điện Tuyên Quang”
2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục đích
Phân tích và đánh giá thực trạng di dân và tái định cư vùng thủy điện Tuyên Quang thời kì từ 2004đến 2010, làm rõ những thành tựu, tồn tại và nguyên nhân,trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện di dân, tái định cư ổn định và nâng cao chất lượng sống của người dân trong thời gian đến năm 2015
Trang 4hộ dân TĐCdự án thủy điện Tuyên Quang
- Về không gian: Đề tài được thực hiện ở một số điểm TĐCdự án thủy điện Tuyên Quang trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2004 -2010,
đề xuất định hướng và giải pháp cho thời kỳ đến năm 2015
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đã có rất nhiều đề tài, nghiên cứu vần đề di dân, tái định cư như:
- Giải pháp và chính sách về di dân, phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc của TS Ngô Thị Ngọc Anh và Hoàng Thị Tây Ninh (Vụ Gia đình - Ủy ban DSGĐTE)
- Thực trạng di dân, tái định cư thủy điện Sơn La Định hướng và giải pháp ( luận văn thạc sĩ năm 2006 – Nguyễn Văn Hoàng)…
Và còn rất nhiều công trình nghiên cứu của các phóng viên, nhà báo… nghiên cứu về vấn đề di dân và tái định cư tự do hay có tổ chức Vấn đề di dân và tái định cư của tỉnh Tuyên Quang đã được nghiên cứu nhưng ở góc độ khác, đó là những bài báo, tiểu luận của sinh viên trường đại học thủy lợi…
Trang 5Tại Việt Nam đã có một số báo cáo, đề tài nghiên cứu về vấn đề đánh giá
về thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia (chủ yếu là khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội) thông qua số liệu điều tra trên địa bàn một số tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Bắc bộ, Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có báo cáo đánh giá chung về tình hình thực hiện công tác di dân, tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi giai đoạn 1992 - 2006 Trên giác độ cơ quan quản lý Nhà nước, báo cáo đánh giá về những thuận lợi, khó khăn, những mặt được và chưa được của công tác di dân, tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi, chứ chưa đề cập nhiều đến ảnh hưởng của công tác di dân, tái định cư đến cuộc sống của người dân TĐC
Ngoài ra cũng có đề tài nghiên cứu về đời sống của người dân tái định cư trên góc nhìn tác động của chính sách tái định cư với cách đánh giá nghiêng
về mặt đời sống xã hội của người dân Đề tài được nghiên cứu ở một dự án cụ thể là dự án thủy điện Bản Vẽ - Nghệ An
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích, đánh giá được những mặt tích cực và tiêu cực trong quá trình thu hồi đất hiện nay để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia nói chung và công trình thủy điện nói riêng Qua đó đã phản ánh được phần nào cuộc sống của người dân
bị thu hồi đất đang sống tại các khu tái định cư, đời sống của họ đa số còn gặp rất khó khăn về vật chất và tinh thần Mặc dù vậy hiện nay chưa có một nghiên cứu nào đi sâu phân tích, đánh giá một cách toàn diện về đời sống của đối tượng bị thu hồi đất là đồng bào dân tộc thiểu số tại các điểm tái định cư miền núi phía Bắc, đặc biệt là một số lượng lớn người dân phải tái định cư trong Dự án thủy điện Tuyên Quang Về mặt chính sách, các cơ chế về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người dân bị thu hồi đất ở dự án này có thể nói
là tốt nhất so với các dự án cùng loại khác Vì vậy những khuyến nghị, giải pháp được nêu ra sau khi nghiên cứu đề tài sẽ là những kinh nghiệm thiết thực
Trang 6cho việc lập và thực hiện các dự án tái định cư công trình thủy điện khác nói riêng và dự án tái định cư các công trình công cộng nói chung ở nước ta
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống – lãnh thổ
Đây là một trong những quan điểm được sử dụng rộng rãi trong di dân
và TĐC do tính chất tổng thể của đối tượng nghiên cứu theo quan điểm này, khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt nó trong vị trí tương quan với các vấn đề, các yếu tố trong hệ thống cao hơn và trong cấp phân vị thấp hơn Di dân và TĐC tỉnh Tuyên Quang được coi là bộ phận có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống di dân, TĐC của cả nước, nên chúng có mối liên hệ gắn
bó mật thiết với nhau Tuyên Quang là một lãnh thổ có những mối quan hệ qua lại với các hệ thống khác và vận động theo quy luật của toàn hệ thống
4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Vấn đề di dân, TĐC được xêm là một vấn đề có đặc điểm tổng hợp như bất kì vấn đề nào, là một vấn đề được tạo thành bởi các nhân tố: tự nhiên, kinh tế, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại, mật thiết gắn bó với nhau một cách hoàn chỉnh Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá vấn đề di dân, TĐC được nhìn nhận trong mối quan hệ về mặt không gian hay lãnh thổ nhất định
để đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt KT- XH và môi trường Để mang lại hiệu quả đối với vấn đề di dân, TĐC cần tìm hiểu kĩ mối quan hệ giữa các yếu tố trong lãnh thổ
4.1.3 Quan điểm phát triển bền vững
Thủy điện hiện nay là một nmgành kinh tế đem lại hiệu quả kinh tế cao, phục vụ trực tiếp cho đời sống của nhân dân Tuy nhiên để công trình thủy điện xây dựng được thành công, đạt mục đích phải gắn liền với vấn đề di dân
và TĐC, phát triển bền vững Từ đó có những kế hoạch và biện pháp phù hợp
để thực hiện di dân, TĐC có hiệu quả
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lí số liệu, tài liệu
Trang 7Phương pháp này thực hiện nhằm nghiên cứu, xử lí các tài liệu trong phòng, dựa trên co sở các số liệu, tư liệu, tài liệu từ các nguồn khác nhau và
từ thực tế Các tư liệu có thể là những công trình nghiên cứu trước đó, các bài viết, các báo cáo…Phương pháp này giúp tiết kiệm được thời gian, tiền bạc
mà vẫn có được một tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu
Số liệu thống kê là một dạng tài liệu cần thiết trong quá trình thu thập tài liệu Các bảng biểu với những số liệu tương đối cũng như tuyệt đối chính là nguồn tài liệu nói lên thực trạng hoạt động cũng như phát triển của đối tượng
số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài được lấy từ: cục thống kê tỉnh Tuyên Quang, UBND tỉnh Tuyên Quang…
4.2.2 Phương pháp thực địavà điều tra xã hội học
Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm góp phần làm cho kết quả mang tính xác thực, khắc phục hiệu quả những hạn chế của phương pháp thu thập,
xử lí số liệu trong phòng Các hoạt động chính khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát, mô tả, ghi chép, chụp ảnh, phỏng vấn… tại các điểm nghiên cứu; gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan quản lí, các nhà hoạch định chính sách và những người dân tại các điểm TĐC
4.2.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Để kết quả nghiên cứu được thể hiện một cách trực quan, đề tài đã áp dụng phương pháp bản đồ, biểu đồ trên cơ sở phân tích, đánh giá các chỉ tiêu định lượng, định tính Đây là phương pháp quan trọng xác định sự phân bố, mức độ tập trung theo lãnh thổ của đối tượng
5 Nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu và phụ lục nội dung chính của luận văn được chia lam 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn về di dân, tái định cư trong quá
trình xây dựng hồ thủy điện
Chương II: Thực trạng di dân và tái định cư vùng lòng hồ thủy điện
Trang 8Chương III: Định hướng và các giải pháp di dân, tái định cư vùng lòng
hồ thủy điện Tuyên Quang đến năm 2015
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DI DÂN,
TÁI ĐỊNH CƯ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY
DỰNG HỒ THỦY ĐIỆN
1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề di dân
1.1.1 Khái niệmdi dân
Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Với khái niệm này di dân đồng nhất với sự di động dân cư Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định Định nghĩa này được Liên Hợp Quốc sử dụng nhằm khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển theo một khoảng cách nhất định qua một địa giới hành chính, với việc thay đổi nơi cư trú
Sự vận động và phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với các cuộc di chuyển dân cư Trong hầu hết các quốc gia trên thế giới, do sự phân bố dân cư không đồng đều nên Chính phủ mỗi nước đều có những biện pháp khác nhau để phân bố lại dân cư nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sẵn có Tại Việt Nam, trong suốt 4.000 năm lịch sử, trải qua các triều đại khác nhau, đặc biệt là triều đại nhà Nguyễn, đã tổ chức nhiều cuộc di dân về phía Nam để phát triển kinh tế, xã hội và củng cố Nhà nước của mình Từ sau khi giành được chính quyền năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chú ý đặc biệt đến vấn đề phân bố lại lao động và dân cư để phát triển kinh tế - xã hội Do vậy trong bốn thập kỷ qua, di dân đã trở thành một hiện tượng kinh tế -
xã hội quan trọng với quy mô và thành phần ngày càng phức tạp
1.1.2 Một số loại hình di dân
Tại Việt Nam, di dân giữa các vùng hay nội vùng/ nội tỉnh từ năm 1960 đến nay có các hình thức như sau :
a Di dân có tổ chức
Trang 9Là hình thái di chuyển dân cư theo kế hoạch và các chương trình, dự án
do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra, tổ chức và chỉ đạo thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội
b Di dân tự do
Là hình thái di dân mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch
và sự hỗ trợ của nhà nước và các cấp chính quyền
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, sẽ đề cập đến hình thức di dân có
tổ chức và là di dân nội vùng, cụ thể là di dân để thực hiện dự án xây dựng nhà máy thủy điện, phục vụ mục tiêu quốc gia về an ninh năng lượng Di dân có tổ chức gắn liền với quá trình tái định cư không tự nguyện (hay TĐC bắt buộc)
1.1.3 Định nghĩa điểm tái định cư, khu tái định cư và vùng tái định cư
+ Điểm TĐC là điểm dân cư được xây dựng theo quy hoạch bao gồm: đất ở, đất sản xuất, đất chuyên dùng, đất xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng để bố trí dân TĐC
+ Khu TĐC là địa bàn được quy hoạch để bố trí các điểm TĐC, hệ thống cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, vùng sản xuất Trong khu TĐC có
ít nhất một điểm TĐC
+ Vùng TĐC là địa bàn các huyện, thị xã được quy hoạch để tiếp nhận dân TĐC Trong vùng TĐC có ít nhất một khu TĐC
1.1.4 Các hình thức di dân, tái định cư
+ TĐC tập trung: Là hình thức di chuyển các hộ TĐC đến nơi ở mới tạo thành một điểm dân cư mới
Những hộ TĐC theo hình thức tập trung sẽ được cấp nhà, đất ở, đất canh tác cũng như được cung cấp những hỗ trợ cần thiết trong giai đoạn đầu ổn định cuộc sống Điểm TĐC tập trung được nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng, mạng lưới giao thông, các công trình công cộng nhằm đảm bảo điệu kiện tốt nhất cho người dân TĐC
Ưu điểm cơ bản của phương thức này là chủ động trong việc sắp xếp, quy hoạch, thiết kế các điểm dân cư phù hợp với nguyện vọng người dân, có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhanh Tuy nhiên một khó khăn lớn khi
Trang 10thực hiện phương thức di dân tập trung này là việc định hướng sản xuất cho người dân tại nơi ở mới
+ TĐC xen ghép: Là hình thức mà các hộ TĐC được quy hoạch di chuyển đến ở xen ghép với hộ dân sở tại tại một điểm dân cư đã có trước Cái lợi lớn nhất của phương thức di dân này là giữ được tính cộng đồng nhưng đòi hỏi phải có sự thông cảm chia sẻ quyền lợi
Hộ TĐC tự nguyện di chuyển: Đây là những hộ gia đình di chuyển không theo quy hoạch TĐC mà tự thu xếp đến nơi ở mới
+ Di vén: tức là hình thức di chuyển lên cốt địa hình cao hơn mực nước
hồ nhưng vẫn bám lấy vùng lòng hồ
Điểm mạnh của di vén là người dân không phải chuyển đi xa, đồng thời
có thể tận dụng vùng đất bán ngập để sản xuất nông nghiệp bằng các tập đoàn cây ngắn ngày Ngoài ra, người dân vùng di vén có thể chuyển sang làm các nghề như: đánh bắt, nuôi thủy sản; làm dịch vụ trên hồ (du lịch, giao thông, phân phối hàng hóa ) Đặc biệt, còn góp phần quản lý, đảm bảo giữ gìn trật
tự, an ninh xã hội v.v Hạn chế lớn nhất của hình thức di vén là thiếu mặt bằng xây dựng cơ sở hạ tầng, đi lại khó khăn, giao lưu hạn chế vv
1.2 Nội dung công tác di dân, tái định cư
Trong việc xây dựng hồ thủy điện, công tác được quan tâm đầu tiên và quan trọng nhất là công tác di dân và tái định cư cho người dân Để thực hiện được công tác này thành công, Ban chỉ đao, đầu tư phải xây dựng và thực hiện kế hoạch theo sơ đồ như sau:
Sơ đồ 1.1: Nội dung công tác di dân, tái định cư
Trang 111.2.1 Công tác đầu tư xây dựng, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng nơi có
hộ tái định cư
1.2.2.1 San nền
Công tác san nền để xây dựng nhà ở được thực hiện theo quy hoạch nhà ở điểm tái định cư
1.2.2.2 Thủy lợi và giao thông, điện, nước
+ Thủy lợi: Căn cứ vào tình hình cụ thể tại khu tái định cư mà quyết
định xây mới hoặc nâng cấp các công trình thủy lợi theo quy hoạch nhằm khai thác hiệu quả tối đa đất sản xuất nông nghiệp Khi thiết kế quy mô công trình phải xem xét đến việc điều tiết nước cho sản xuất của dân sở tại
- Đối với vùng có khả năng về nguồn nước được nghiên cứu xây dựng hoặc nâng cấp hệ thống thủy lợi như hồ, đập, kênh mương, trạm bơm Hệ thống kênh mương (nếu có) phải xây dựng theo hướng cứng hóa, bảo đảm bền vững, ít chiếm đất và giảm tổn thất nước
- Đối với vùng không có điều kiện xây dựng hệ thống thủy lợi để khai thác nguồn nước mặt thì cần nghiên cứu đầu tư xây dựng hệ thống khai thác nước ngầm và dự trữ nước mưa
hạ tầng
Bồi thường thiệt hại
Hỗ trợ đời sống nhân dân
Ổn định đời sống nhân
dân
Trang 12+ Giao thông nội đồng:
Hệ thống đường giao thông nội đồng được quy hoạch và xây dựng phù hợp với quy hoạch sản xuất chung của vùng
+ Giao thông khu dân cư:
Điểm tái định cư được xây dựng đường nội bộ và đường nối từ điểm tái định cư với đường vào trung tâm xã Hệ thống đường giao thông khu tái định
cư được xây dựng phù hợp với quy hoạch giao thông chung của địa phương,
- Đường nối điểm tái định cư, khu tái định cư với đường vào trung tâm
xã đồng thời là đường nối các xã được xây dựng theo tiêu chuẩn TCVN-4054 với cấp kỹ thuật 20, mặt đá dăm láng nhựa
- Đối với những vùng ven hồ có đường giao thông chính là đường thủy thì được xem xét xây dựng bến đò
+ Cấp, thoát nước sinh hoạt:
Nếu khu tái định cư không có điểm cấp nước chung bằng đường ống thì
cứ 4-5 hộ được đầu tư một giếng khoan kèm theo một máy bơm tay cùng hệ thống bể lắng, bể lọc Nếu việc sử dụng giếng đào đạt tiêu chuẩn về chất lượng thì đầu tư mỗi hộ một giếng đào
Mỗi hộ được xây dựng một bể trữ nước ăn có dung tích từ 2m3
-5m3 tuỳ theo nhân khẩu trong hộ và yêu cầu dự trữ nước ăn, sân bể, rãnh thoát nước
+ Cấp điện cho sinh hoạt và sản xuất:
- Về điện sinh hoạt: đầu tư xây dựng đường dây và trạm biến áp, điện sinh hoạt cấp đến đầu nhà từng hộ tái định cư
Trang 13Đối với công trình công cộng: Phụ tải đầu vào được tính toán trên cơ sở nhu cầu sử dụng điện cụ thể của công trình
Đối với những điểm chưa có điện lưới quốc gia thì sẽ được đầu tư xây dựng hệ thống cấp điện cho từng hộ dân TĐC theo tiêu chuẩn như trên
- Về điện sản xuất: được tính toán trên cơ sở nhu cầu sử dụng điện cho từng hộ TĐC
+ Thoát nước và môi trường:
- Hệ thống thoát nước cho điểm tái định cư được tính chung cho việc thoát nước mưa và nước sinh hoạt bằng hệ thống rãnh hở, bố trí dọc đường giao thông Riêng rãnh thoát nước trong phạm vi khu dân cư là rãnh xây, hở
- Các công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi phải cách ly khu nhà ở, nguồn nước theo quy định
+ Khu nghĩa địa, nghĩa trang:
Tại khu tái định cư được xây dựng mới hoặc mở rộng nghĩa địa, nghĩa trang hiện có phù hợp với quy hoạch của địa phương
1.2.2.3 Xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng khu tái định cư tập
trung tại đô thị
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng khu tái định cư tập trung đô thị thực hiện theo quy hoạch xây dựng đô thị thực hiện theo quy hoạch xây dựng đô thị và quy hoạch khu tái định cư đô thị cấp có thẩm quyền phê duyệt
1.2.2 Bồi thường thiệt hại
1.2.1.1 Thiệt hại về đất đai
Có hai phương thức bồi thườngthiệt hại về đất cho các hộ dân phải di dời:
- Giao đất tại điểm TĐC, khu TĐC tập trung hoặc xen ghép
- Cấp tiền cho các hộ TĐC tự nguyện di chuyển để thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại nơi đến
a Hộ di chuyển đến điểm tái định cư tập trung
Đối với hộ TĐC chuyển đến điểm TĐC ở nông thôn: được bồi thường
Trang 14mặt nước nuôi trồng thuỷ sản và đất chuyên dụng theo quy hoạch điểm TĐC được duyệt và theo quỹ đất của điểm TĐC
Đối với hộ TĐC chuyển đến điểm TĐC ở đô thị: được bồi thường thiệt hại
về đất bằng việc giao đất ở và đất chuyên dụng the quỹ đất của điểm TĐC Trong trường hợp điểm TĐC theo quy hoạch được duyệt có xây nhà chung cư thì các hộ TĐC được bồi thường bằng việc bố trí diện tích nhà ở chung cư tại điểm TĐC đó
b Hộ di chuyển đến điểm tái định cư xen ghép
Đối với hộ đến điểm TĐC xen ghép được bồi thường thiệt hại về đất bằng việc giao đất ở, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản và đất chuyên dụng khác phù hợp với quỹ đất của điểm tái định cư xen ghép nhưng tối thiểu đảm bảo diện tích đất cho mỗi hộ TĐC tương đương với mức trung bình của hộ sở tại
c Hộ tái định cư tự nguyện di chuyển
Hộ TĐC tự nguyện di chuyển sẽ được bồi thường thiệt hại về đất bằng tiền theo giá trị của đất mà hộ đã bị thu hồi
1.2.1.2 Bồi thường thiệt hại tài sản
Việc bồi thường thiệt hại về nhà ở, công trình phụ đối với hộ đến điểm TĐC tập trung và xen ghép các theo hình thức:
- Chủ đầu tư xây dựng và cấp cho hộ TĐC
- Cấp tiền cho hộ TĐC tự tổ chức xây dựng
- Chủ đầu tư cùng hộ TĐC xây dựng
1.2.1.3 Bồi thường thiệt hại về cây trồng, vật nuôi
- Bồi thường kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản vườn cây
- Bồi thường thu nhập từ vườn cây tính bằng thu nhập trung bình một năm của vườn cây nhân với số năm xây dựng cơ bản vườn cây
Sau khi nhận bồi thường hộ tiếp tục được thu hoạch sản phẩm cho đến khi dự án chính thức thu hồi đất để sử dụngquy định
Trang 151.2.3 Công tác hỗ trợ ổn định đời sống kinh tế xã hội cho các hộ TĐC
1.2.3.1 Hỗ trợ lương thực
Mỗi nhân khẩu hợp pháp của hộ TĐC được hỗ trợ lương thực bằng tiền
có giá trị tương đương 30kg gạo/người/tháng trong 02 năm Giá gạo tính theo giá gạo tẻ trung bình tại địa phương ở thời điểm hỗ trợ
- Hộ không phải di chuyển: hộ không bị thu hồi đất ở nhưng bị thu hồi đất sản xuất nếu được giao đất mới thì tuỳ theo diện tích đất bị thu hồi, mỗi nhân khẩu hợp pháp của hộ được hỗ trợ lương thực bằng tiền Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ vào diện tích đất bị thu hồi để quy định cụ thể về mức và thời gian hỗ trợ 1.2.3.2 Hỗ trợ y tế
Hộ tái định cư được hỗ trợ về y tế để phòng, chống dịch bệnh tại nơi mới 1.2.3.3 Hỗ trợ giáo dục
Học sinh phổ thông các cấp thuộc hộ tái định cư được cấp 1 bộ sách giáo khoa theo giá quy định của nhà nước và miễn tiền học trong năm học đầu tiên ở nơi mới; miễn tiền đóng góp xây dựng trường trong 03 năm học liên tục tính từ khi bắt đầu học tập tại nơi ở mới
1.3 Kinh nghiệm về di dân, tái định cư một số nước châu Á và Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm di dân, TĐC một số nước châu Á
Thực tiễn thực hiện chính sách đền bù và tái định cư đối với người dân
bị ảnh hưởng của các dự án phát triển, nhất là dự án thủy điện ở một số nước Châu Á rất đa dạng Yêu cầu cơ bản cần thực hiện trong chính sách này là
Trang 16nhận thức đúng tầm quan trọng của chính sách, trách nhiệm của Nhà nước, chủ dự án và các cấp chính quyền trong việc thực hiện tái định cư Những điều đó nhằm đảm bảo những lợi ích của những người dân bị di chuyển và cả người dân bản địa của các vùng được chuyển đến trong việc đảm bảo những điều kiện môi trường sống, sản xuất và ổn định cuộc sống
Mọi nỗ lực để giảm thiểu bất lợi, có kế hoạch và phương án hợp lý cho tái định cư, xây dựng các chính sách hỗ trợ đồng bộ, phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm cải thiện cách kiếm sống cho toàn bộ những người bị ảnh hưởng để từng bước ổn định cuộc sống,… hiện tại đang là mối quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương nước
ta Do đó, việc tìm hiểu những kinh nghiệm tái định cư, đặc biệt là tái định cư các công trình thủy điện ở một số nước Châu Á có điều kiện tương đồng với Việt Nam là rất cần thiết để rút ra bài học kinh nghiệm, góp phần tổ chức và thực hiện công tác tái định cư các công trình thủy điện ở nước ta được tốt hơn
- Trung Quốc là nước có số người bị di chuyển là khá lớn Từ năm
1980 nước này đãđưa ra nhiều luật và quy định ở các cấp khác nhau về gần như mọi khía cạnh của công tác tái định cư Luật Quản lýđất đai của Trung Quốc năm 1986 và các điều sửa đổi, bổ sung năm 1988 đã làm rõ quyền vềđất vàđảm bảo quyền sử dụng đất thuộc sở hữu Nhà nước Cá nhân không thể mua hay bán quyền sở hữu đất Luật này hướng dẫn các tỉnh, thành phố, quận, huyện và thị trấn chịu trách nhiệm thực hiện chiếm dụng đất và tái định cư, chính thức hóa các thủ tục, tham khảo ý kiến và giải quyết khiếu nại của những người bịảnh hưởng
Trong quá trình cải cách kinh tế, Trung Quốc đã xây dựng rất nhiều công trình thủy lợi, thủy điện lớn, trong đó phải kể đến việc xây dựng đập chắn nước Tam Hiệp Bên cạnh lợi ích mà công trình tạo ra như tăng công suất điện, kiểm soát lũ…, việc xây dựng công trình này cũng có những tác động kinh tế, xã hội trực tiếp và gián tiếp mà điển hình là việc di dời dân bởi xây dựng đập và hồ chứa lớn cần rất nhiều đất Việc di dân có liên quan chặt chẽ tới vấn đề TĐC
Trang 17Từ năm 1950-1990, theo ngân hàng Thế giới, Trung Quốc có tới 10,2 triệu người phải di dời, trong đó riêng dự án đập Tam Hiệp phải di dời tới 1,3 triệu người Dự án này kéo dài 13 năm với hơn 3.000 công nhân tham gia Đây
là công trình bao gồm 3 đập chắn nước lớn bắc qua sông Hoàng Hà, đó là đập Xiaolangdi, đập Shuikou và đập Yantan Trong đó đập Xiaolangdi được xem là đập có số lượng người TĐC lớn nhất và thành công nhất lên tới 180.000 người
Số lượng người TĐC của đập Xiaolangdi được giải quyết trong giai đoạn 1992
- 2012, phần lớn nguồn kinh phí này sẽ được WB tài trợ Mục đích là giải quyết thu nhập và đảm bảo mức sống tối thiểu cho người dân tái định cư thông qua việc xây dựng mới khoảng 10 thị trấn và 276 làng tái định cư Để tạo công ăn việc làm cho người TĐC khi chuyển từ nghề nông sang làm tại các vùng công nghiệp, Chính phủ đã khuyến khích phát triển ngành nghề kinh doanh địa phương Các ngành nghề này sẽ được miễn thuế trong vòng 3 - 5 năm Các doanh nghiệp công nghiệp tại các vùng TĐC được vay vốn với lãi suất ưu đãi Đến nay, theo báo cáo của WB, trong số 2.000 người đầu tiên được di dời thành công thì có tới 60% đã có mức thu nhập cao hơn Tại các vùng TĐC đã hoàn thành có 766 người đã được làm việc trong các nhà máy
Có thể nói, chương trình TĐC Đập Tam Hiệp được xem là chương trình TĐC lớn nhất từ trước đến nay ở Trung Quốc và cũng tốn kém nhất Trong đó ngoài nguồn vốn ngân sách, nguồn tài trợ WB, còn bao gồm vốn vay ngân hàng, vốn huy động từ các doanh nghiệp địa phương và các nguồn khác Những giải pháp đưa ra trong quá trình tổ chức thực hiện TĐC được dựa trên đặc điểm sau: Những khó khăn của vùng TĐC sẽ tăng lên do một tỷ lệ lớn người chuyển cư đa
số là dân làm nông nghiệp; Do phần lớn người chuyển đến vẫn tiếp tục làm nông nghiệp, vì vậy cần chú trọng đa dạng hóa nông nghiệp phù hợp với nguyện vọng của dân; Dân cư vùng tiếp đón thông thường không hợp tác với các kế hoạch TĐC nên phải có các giải pháp tìm kiếm sự hợp tác của dân vùng tiếp đón
Một kinh nghiệm của Tam Hiệp là thông thường các nhà lập kế hoạch
Trang 18triển, vì thế rất cần phải lập các Quỹ phát triển, những quỹ này cần thiết cho mục tiêu phát triển trước khi các hộ dân TĐC có thể có lãi ròng từ sản xuất Để chương trình TĐCthành công, cần có quy hoạch tổng thể về giải phóng mặt bằng, xây dựng các thị trấn, các làng TĐC (trong đó bao gồm cả quy hoạch phát triển ngành nghề) trước khi tiến hành TĐC Tránh tình trạng các khu TĐC xây xong, nhưng dân TĐC không thể ổn định cuộc sống do thiếu các công trình
hạ tầng cơ sở như điện, nước…, thiếu đất sản xuất… Để tạo cuộc sống ổn định cho người dân trong diện TĐC, điều quan trọng là tạo việc làm cho họ tại nơi TĐC Bên cạnh việc cấp tiền bồi thường cho người dân, Trung Quốc đặc biệt chú trọng tới việc tạo công ăn việc làm cho người TĐC thông qua việc quy hoạch lại các ngành nghề, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp thuộc các vùng tiếp nhận dân TĐC, gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp với sản xuất công nghiệp, tạo điều kiện cho người dân TĐC mà phần lớn là nông dân có thể tìm được việc làm phù hợp Một kinh nghiệm rất đáng tham khảo đó là sự phối hợp giữa hỗ trợ của chính quyền sở tại với đóng góp kinh phí của chính những người dân TĐC
- Tại Indonexia, theo quy định số 1/1994 của Bộ trưởng Các vấn đề ruộng đất và cơ quan Đất quốc gia hướng dẫn thực thi Nghị định 55/1993 về Chiếm dụng đất vì sự phát triển lợi ích công cộng Thống đốc mỗi tỉnh sẽ thành lập một Ban Chiếm dụng đất theo từng cấp (I hoặc II) Ban này có quyền kiểm
kê đất đai và các tài sản khác trên đất bị chiếm dụng, kiểm tra tình trạng pháp
lý của đất, thông báo và thương lượng với những người bị ảnh hưởng và cơ quan sử dụng đất, ước tính đền bù, ghi lại và chứng kiến việc trả đền bù
- Tại Philipin, Hiến pháp năm 1997 định ra chính sách cơ bản vềđất đai vàđòi hỏi đền bù công bằng cho đất tư nhân bị Nhà nước xung công Lệnh Hành pháp 1035 (1985) của Chính phủ, hướng dẫn việc thu hồi tài sản tư nhân vì mục đích phát triển, theo đó Chính phủ có thể sử dụng biện pháp mua theo thỏa thuận hoặc trưng dụng Việc đền bù hoa màu bị thiệt hại của người
Trang 19thuêđất, các cộng đồng văn hóa và người dân phải chuyển cư do Bộ Cải cách ruộng đất và các cơ quan chiếm dụng đất tiến hành
- Đối với Thái Lan và Malaixia, cả hai nước này đều không có luật tái định cư, nhưng việc tổ chức, thực hiện công tác di dân, tái định cư trong ngành điện của cả hai nước tỏ ra rất hiệu quả Trong dựán thủy điện Batang
Ai ở Malaixia, các chính sách và kế hoạch di chuyển người bản địa được nghiên cứu và chuẩn bị kỹ càng Cơ quan sản xuất điện ở Thái Lan, khu vực Nhà nước, đã liên tục cải tiến các hoạt động tái định cư ngay từ khi thành lập (năm 1968), chính sách tái định cư cho mỗi dựán đều dựa trên các bài học từ những dựán trước Chiến lược tái định cư của nhà cầm quyền dựa trên cơ sở thương lượng trực tiếp với các cộng đồng bịảnh hưởng vàđền bù trọn gói
Tóm lại, các nguyên tắc chung cần phải tuân thủ khi tổ chức, thực hiện công tác tái định cư nói chung và tái định cư các công trình thủy điện nói riêng được các nước áp dụng là:
- Đền bùđất đai và tài sản bị mất theo giá trị thay thế Đền bù các công trình kiến trúc bao gồm cả chi phí tháo dỡ, vật liệu hư hỏng, vận chuyển đến nơi mới, lắp đặt theo phong tục tập quán văn hóa dân tộc
- Coi trọng đặc biệt việc giải quyết đất sản xuất cho hộ tái định cư trong nông nghiệp Việc chuyển đổi nghề nghiệp chỉ thực hiện khi không thể tìm được đất canh tác Các tổ chức Tài chính như WB, ADB cũng khuyến khích chủ trương
“đất đổi đất” trong các dự án cho vay cũng như các dự án phát triển nói chung
- Các chương trình di dân, tái định cư phải chú trọng việc đầu tư khai hoang, chuyển nhượng hoặc trưng thu đất, đầu tư các công trình thủy lợi, thâm canh đa dạng hóa sản xuất, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp là giải pháp căn bản để phục hồi thu nhập cho hộ gia đình sau tái định cư
Nhận thức việc phục hồi thu nhập cho hộ tái định cư là quá trình trong nhiều năm, Chính phủ Trung Quốc đã lập ra quỹ phục hồi thu nhập sau tái
Trang 20tái định cư Nguồn vốn hỗ trợ cho tái định cưđược trích từ thuế tài nguyên của các công trình thủy điện
1.3.2 Kinh nghiệm di dân, TĐC Việt Nam
Một kinh nghiệm đáng lưu tâm là từ thực tiễn và kết quả công tác tái định cư dựán thủy điện Hòa Bình
Công tác di chuyển và tái định cư người dân vùng lòng hồ sông Đà Hòa Bình là một công việc rất quan trọng trong tiến trình xây dựng nhà máy thủy điện, lại được tiến hành trong những năm đất nước gặp nhiều khó khăn về kinh tế và ở một tỉnh miền núi có nền kinh tế chậm phát triển, cơ
sở hạ tầng chưa phát triển, đời sống nhân dân đa số rất khó khăn Đây là lần đầu tiên tỉnh Hòa Bình phải tổ chức di chuyển dân với số lượng lớn nên chưa có kinh nghiệm và gặp nhiều lúng túng Địa bàn di chuyển và tái định
cư các hộ dân diễn ra trong phạm vi 25 xã, phường ven hồ và sát ven hồ cùng 18 điểm đón nhân dân di chuyển ra ngoài vùng Phương thức di dân, tái định cư được áp dụng là: chuyển đến xen ghép với các điểm dân cư cũ;
tổ chức hình thành những điểm dân cư mới theo quy hoạch trong nội bộ tỉnh; di vén dân tại chỗ lên khu vực cao hơn (hình thức này chiếm gần 50%
số hộ phải di chuyển)
Sau khi di chuyển và tái định cư thực trạng đời sống của đồng bào đa
số còn gặp nhiều khó khăn Phần lớn hộ dân được di vén tại chỗ sống co cụm tạo ra nhiều chòm xóm rải rác dọc 2 bên ven hồ (khoảng 140 điểm), nhiều điểm mật độ dân quáđông, thiếu đất bằng đểở, không cóđất sản xuất, địa hình chia cắt, độ dốc lớn đã làm hàng ngàn hộ dân lâm vào cảnh cực kỳ khó khăn, thu nhập đầu người năm 1990 - 1991 bình quân 70 kg lương thực/người, nạn đói diễn ra triền miên trên diện rộng, vấn đề nước sinh hoạt, phương hướng sản xuất cho dân ven hồđặt ra hết sức nóng bỏng, do đói nghèo nên nạn phá rừng làm nương rẫy rất gay gắt và ngày càng phức tạp trực tiếp đe dọa an toàn của hồ thủy điện
Trang 21Trước tình hình đó, tỉnh Hòa Bình đã tổ chức điều tra cơ bản hiện trạng dân sinh vùng chuyển dân sông Đà và từ đó xác định nhiệm vụ cấp bách là giải quyết những vấn đề tồn đọng sau khi chuyển dân, tiếp tục hình thành và củng cố các điểm dân cư Sau khi đã di chuyển, tập trung xây dựng
cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân nhất là các xã ven hồ
Tóm lại, từ thực tiễn di dân, tái định cư công trình thủy điện Hòa Bình cho thấy di dân và quy hoạch phát triển, tổ chức lại sản xuất phải tiến hành đồng bộ, bảo đảm chính sách thỏa đáng, kịp thời trong đền bù, di dân và tái tạo sản xuất thì người dân tái định cư mới sớm ổn định cuộc sống và phát triển tốt hơn nơi ở cũ
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ thực tế chỉ đạo và tổ chức thực hiện chương trình bố trí dân cư, Việt Nam rút ra những bài học kinh nghiệm:
- Coi trọng công tác tuyên truyền, quán triệt nhận thức vị trí, vai trò của công tác bố trí dân cư đối với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến mọi cấp chính quyền, mọi người dân nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia thực hiện chương trình
- Xây dựng chiến lược dài hạn về bố trí dân cư, nâng cao chất lượng quy hoạch và chất lượng lập dự án đầu tư của từng vùng, từng tỉnh; đồng thời có sự tham gia của người dân từ khi lập quy hoạch đến tổ chức thực hiện quy hoạch
- Có biện pháp huy động lồng ghép nguồn vốn của các chương trình
dự án và các nguồn vốn hợp pháp trên địa bàn để hỗ trợ đầu tư các hộ gia đình
về chỗ ở, dất đai, di chuyển, xây dựng kết cấu hạ tầng khu TĐC Thực hiện đầu tư tập trung đồng bộ, hoàn thành dứt điểm từng dự án Đồng thời chú trọng hỗ trợ công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật giúp các hộ phát triển sản xuất, sớm ổn định đời sống ở khu TĐC
Trang 22- Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp chính quyền trong chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng quy hoạch, kế hoạch, phân bổ đầu tư, giải phóng mặt bằng, giải quyết chính sách đất đai đảm bảo tiến độ đầu tư xây dựng khu TĐC để tổ chức di dân đến theo quy hoạch và kế hoạch
- Thực hiện tốt công tác kiểm tra việc thực hiện các dự án, kịp thời phát hiện, điều chỉnh những bất hợp lí và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền tháo
gỡ những khó khăn vướng mắc về cơ chế, chính sách thực hiện chương trình
1.4 Bài học kinh nghiệm cho di dân và tái định cư vùng lòng hồ thủy điện
Tuyên Quang
Lợi ích của các công trình thủy điện là rất lớn, nhưng cái giá phải trả cũng không nhỏ, một phần do chưa nhận thức đầy đủ "mặt trái" của công trình Nhiều tác động tiêu cực đã xảy ra, trong đó, di dân tái định cư đã trở thành một "vấn đề bức xúc", thậm chí có công trình để lại hậu quả khá nặng
nề vì tính chất phức tạp, nhạy cảm của vấn đề
Nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực có thể xảy ra trong quá trình thực hiện di dân tái định cư, khi xây dựng thủy điện Tuyên Quang cần quan tâm làm tốt những vấn đề sau đây:
Từ trước đến nay, di dân tái định cư được thực hiện trong phạm vi của
dự án xây dựng công trình thủy điện Chính vì vậy, nhiều vấn đề hết sức quan trọng nhưng đã không được quan tâm đúng mức như: Tìm hiểu nguyện vọng của người dân trong việc lựa chọn nơi đến, xác định giá trị tài sản được đền bù, nhu cầu về xây dựng hạ tầng cơ sở (điện, đường, trường, trạm), đặc biệt là định hướng phát triển sản xuất cho người dân tại vùng mà họ sẽ đến lập nghiệp
Sự hình thành hồ chứa đã buộc một bộ phận dân cư phải rời bỏ quê hương, làng bản, mồ mả tổ tiên đến nơi mới gần như hoàn toàn xa lạ Sự phân chia dòng họ, sắc tộc, là điều khó tránh khỏi Không loại trừ khả năng phải thay đổi phương thức sản xuất, tập tục truyền thống, đời sống tâm linh đã được hình thành, phát triển và tồn tại qua nhiều thế hệ Hoàn toàn đúng khi cho rằng, những người dân ở vùng lòng hồ phải làm lại cuộc đời sau khi di chuyển Nhân dân ta có câu: "Ba lần chuyển nhà bằng một lần cháy" Rõ ràng, những điều
Trang 23vừa nêu chưa phải là tất cả những gì đang chờ đợi người dân vùng lòng hồ, nhưng cũng cho thấy tính phức tạp của vấn đề Đại bộ phận người dân vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang là đồng bào các dân tộc, có mức sống còn tương đối thấp so với mặt bằng chung của cả nước Khó khăn đến với họ sẽ càng lớn hơn Vì vậy, muốn đạt được mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường vùng Đông Bắc, một địa bàn trọng yếu của cả nước về kinh tế, đặc biệt
về an ninh quốc phòng thì cần phải đảm bảo mức sống cho người dân ít nhất là bằng hoặc hơn nơi ở cũ Đương nhiên không để người dân tự bươn trải Càng không thể bỏ qua những nghiên cứu về đặc thù, bản sắc truyền thống văn hóa vật chất, phi vật chất của nhân dân các dân tộc địa phương Việc thiếu kiến thức và tri thức về những tác động kinh tế - sinh thái nhân văn vùng hồ cũng sẽ
là trở ngại cho sự phát triển kinh tế vùng tái định cư ven hồ theo phương thức
di vén, một giá trị to lớn về kinh tế, sinh thái nếu biết sử dụng hợp lý
Từ những điều đã trình bày cho thấy, hơn bao giờ hết cần phải có dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng dự kiến di dân tái định cư gắn với quy hoạch phát triển kinh tế của địa phương dựa trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tập tục, truyền thống dân tộc từ đó vạch ra phương hướng sản xuất trước mắt và lâu dài
Đông Bắc là vùng đất rộng, thưa người, địa hình phức tạp, là địa bàn chiến lược trọng yếu Mỗi điểm dân cư ở vùng Đông Bắc đều là một cứ điểm phòng thủ trong trận tuyến quốc phòng toàn dân Sẽ là hợp lý nếu việc di dân tái định cư được thực hiện tại chỗ trong từng huyện, từng tỉnh hoặc giữa các tỉnh trong vùng Đông Bắc Đây chính là sự gắn kết giữa nhiệm vụ kinh tế và quốc phòng trong chiến lược chiến tranh nhân dân của Đảng
Tính hợp lý trong việc kết hợp các phương thức di dân
Cho đến nay, việc di dân nhiều công trình thủy điện đều thực hiện theo
ba phương thức: di vén, di xen ghép và di tập trung Thực tế công tác di dân ở nước ta cho thấy, cả 3 phương thức đều có những điểm mạnh và điểm yếu Việc xác định tỷ lệ hợp lý giữa các phương thức di dân, một mặt tránh được những chi phí không cần thiết, mặt khác còn tận dụng được những tiềm năng
to lớn do hồ thủy điện tạo nên
Trang 24Một trong những vấn đề cần được cảnh báo là tác động của các khu tái định
cư đến môi trường nói chung và đa dạng sinh học nói riêng Bài học của thủy điện
Hòa Bình về hình thức di vén cho thấy, nếu không giải quyết tốt định hướng sản
xuất lâu dài, có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu là nâng cao mức sống cho người
dân thì không phải ai khác mà chính họ sẽ là người góp phần làm bồi lắng lòng hồ
do đốt rừng làm nương rẫy dẫn đến xói mòn đất, được mô tả bằng hình ảnh: cuốc
đất lấp hồ Tất nhiên đây chưa phải là tất cả những hậu quả cần quan tâm
Ngược lại, bài học của thủy điện Hòa Bình và ngay cả thủy điện Yaly
về định hướng phát triển sản xuất bền vững là hết sức quan trọng, có ý nghĩa
quyết định sự thành công hay không thành công của công tác này
Theo phương án bố trí như trên, tỉnh Tuyên Quang là địa bàn chịu ảnh
hưởng lớn nhất từ công trình thủy điện Tuyên Quang Số hộ dân phải di dời
lớn nhất, và thiệt hại về đất ngập cũng là lớn nhất
Chương II: THỰC TRẠNG DI DÂN VÀ TÁI ĐỊNH CƯ
VÙNG LÒNG HỒ THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG
2.1 Giới thiệu chung về Tuyên Quang và công trình thủy điện Tuyên
Quang
2.1.1 Giới thiệu chung về Tuyên Quang
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Tuyên Quang là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Trung du miền núi Bắc Bộ,
có toạ độ địa lý 21030‟ - 22040‟ vĩ độ Bắc và 104053‟ - 105040‟ kinh độ
Đông: Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hà Giang, Phía Đông giáp tỉnh Bắc
Cạn và Thái Nguyên, Phía Đông Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Phía Tây giáp tỉnh
Yên Bái, Phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ
Tổng diện tích tự nhiên 586.800 ha, phân theo địa giới hành chính gồm: Thị xã Tuyên Quang 4.369 ha, huyện Na Hang 147.166 ha, huyện Chiêm Hoá
145.575 ha, huyện Hàm Yên 89.769 ha, huyện Yên Sơn 120.996 ha và huyện
Sơn Dương 78.925 ha
Trang 25Tuyên Quang phần lớn là đồi núi và bị chia cắt nhiều bởi các dãy núi cao, thung lũng và sông suối So với các tỉnh miền núi phía Bắc thì Tuyên Quang có độ cao trung bình không lớn với 3 dạng địa hình đặc trưng: phía Bắc bao gồm toàn bộ huyện Na Hang, vùng cao của huyện Chiêm Hoá và một phần phía Bắc của huyện Yên Sơn Tỉnh Tuyên Quang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc á trung hoà, có hai mùa rõ rệt, mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm
Tuyên Quang có hệ thống sông suối khá dày đặc với mật độ 900m/km2, hình thành lên 3 hệ thống chính: Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc ở độ cao trên 1000 m chảy qua Hà Giang xuống Tuyên Quang; Sông Gâm bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Cao Bằng, Hà Giang và xuống Tuyên Quang.; Sông Phó Đáy bắt nguồn từ núi Tam Tạo (Bắc Thái) chảy qua Yên Sơn xuống Sơn Dương và hợp với sông Lô trên đất Vĩnh Phúc
Trang 26Hình 2 1: Bản đồ hành chính tỉnh Tuyên Quang
Tóm lại, với điều kiện thiên nhiên ƣu đãi đã tạo cho Tuyên Quang tiềm năng để phát triển các sản phẩm nông - lâm sản hàng hoá có lợi thế với quy mô lớn Là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm Bên cạnh
đó tiềm năng khí hậu, đất đai còn cho phép tỉnh phát triển các loại giống cây ăn quả ôn đới, nhiệt đới, á nhiệt đới Đặc biệt Tuyên Quang có lợi thế rất lớn về tiềm năng thuỷ điện, đặc biệt công trình thủy điện Tuyên Quang lớn thứ 3 cả
Trang 27nước với tổng công suất 342 MW được khởi công xây dựng Đây chính là cơ hội tốt nhất để thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển nhanh chóng, tạo ra sự đột biến về tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp kéo theo sự phát triển của kết cấu hạ tầng và dịch vụ Khi đó, Tuyên Quang có nguồn điện lưới quốc gia đi qua là điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế Bên cạnh những thuận lợi trên thì Tuyên Quang hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập Với địa hình cao, dốc, hiểm trở và bị chia cắt mạnh, gây khó khăn cho việc bố trí và phát triển mạng lưới giao thông vận tải, xây dựng
hạ tầng cơ sở và hình thành những vùng sản xuất tập trung quy mô lớn
2.1.1.2 Kinh tế - xã hội
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, những năm gần đây nền kinh tế của Tuyên Quang đã có những chuyển biến tích cực, sản xuất phát triển theo hướng hàng hóa, đã xuất hiện những nhân tố mới tạo đà để tiếp tục đổi mới và phát triển Ngày 02 tháng
7 năm 2010, Tuyên Quang được công nhận là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Tốc độ tăng trưởng chung của tỉnh trong các giai đoạn 2001-2005 và 2006-
2010 là 11,4%/năm và 14%/năm Trong hoạt động của 3 nhóm ngành chính thì ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng 11,4%/năm giai đoạn 2001-2005; ngành dịch vụ tăng trưởng 13,38%/năm, ngành nông – lâm – thủy sản tăng 3,43%/năm Trong giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng của các ngành tương ứng là: 16,1%; 15,9% và 7,9% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần
tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng nông lâm nghiệp trong GDP Dân số năm 2010 toàn tỉnh Tuyên Quang là 702.769 người, trong đó khu vực thành thị 65.685 người (9,3%), khu vực nông thôn là 637.084 người (90,7%) Mật độ dân số bình quân toàn tỉnh là 120 người/km2 Đơn vị hành chính có mật độ dân số cao nhất là thị xã Tuyên Quang 1.266 người/km2 (gấp khoảng 10 lần mật độ dân số chung của tỉnh) thấp nhất toàn tỉnh là huyện Na Hang (46 người/km2
), huyện Chiêm Hoá (90 người/km2)
Trang 28Tỷ lệ tăng dân số bình quân các năm liên tục giảm, năm 1990 là 2,32% xuống còn 1,25% năm 2002 Tuy nhiên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mỗi vùng khác nhau, năm 2002 khu vực thành thị tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,71%, khu vực nông thôn là 1,32% (gần cao hơn gấp đôi so với khu vực thành thị) Theo kết quả tổng điều tra dân số đến 1/4/1999 toàn tỉnh gồm 22 dân tộc, trong đó những dân tộc có dân số chiếm tỷ lệ cao như: Kinh 48,22%, Tày 25,46%, Dao 11,39%, Sán Chay 8,00%, Nùng 1,91%, Hoa 1,00%, H,Mông 2,17%, Sán Dìu 1,63%, còn lại là các dân tộc khác chiếm 0,23%
Hiện nay Tuyên Quang vẫn đang có khoảng cách lớn về cơ sở vật chất
kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí, đời sống dân cư so với các tỉnh khác trong cả nước
2.1.2 Giới thiệu về công trình thủy điện Tuyên Quang
Dự án thủy điện Tuyên Quang là một dự án thủy điện có công suất lớn thứ 3 trong các dự án thủy điện ở nước ta hiện nay Chính phủ đã giao cho Bộ Năng lượng (trước đây) nay là Bộ Công nghiệp tiến hành nghiên cứu tiền khả thi và sau đó đã giao Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (trước đây) nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định Dự án đã có ý kiến chính thức của các Bộ liên quan trực tiếp như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Trang 29Về tiến độ:
- Ngày 22/12/2002 bắt đầu khởi công xây dựng công trình thủy điện Tuyên Quang
- Phát điện tổ máy thứ nhất vào ngày 31/1/2008
- Phát điện tổ máy thứ hai vào ngày 30/5/2008
- Phát điện tổ máy thứ ba vào ngày 15/12/2008
- Hoàn thành công trình vào tháng 4 năm 2009
Địa điểm xây dựng: Công trình chính thuộc địa phận xã huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang Hồ chứa nước thuộc một số xã, huyện trên địa bàn các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn
Mục tiêu đầu tư Dự án thủy điện Tuyên Quang:
- Cung cấp nguồn điện năng để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Góp phần chống lũ về mùa mưa cho đồng bằng sông Hồng và thủ đô
Hà Nội, cắt lũ cho thị xã Tuyên Quang; cung cấp nước về mùa kiệt cho Đồng bằng sông Hồng
- Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc
2.2 Giới thiệu về dự án di dân thủy điện Tuyên Quang
2.2.1 Cơ sở pháp lí quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư dự án thủy
điện Tuyên Quang
- Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đầu tư Dự án thủy điện Tuyên Quang;
- Quyết định số 937/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc Quy định tạm thời về bồi thường, di dân, tái định cư Dự án thủy điện Tuyên Quang;
- Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày 12 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư Dự án thủy điện Tuyên Quang;
Trang 30- Quyết định Số : 675/QĐ-TTg Về việc đổi tên Quyết định và sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 937/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ Quy định tạm thời về bồi thường, tái định cư Dự án thuỷ điện Tuyên Quang;
- Văn bản 259/Cp-NN ngày 11/3/2003 của Thủ tướng chính phủ giao cho UBND các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn về việc làm chủ dự án
di dân, tái định cư dự án thủy điện TuyênQuang trên địa bàn từng tỉnh;
- Văn bản số 1784/CP-Cn ngày 26/11/2004 của Chính phủ về việc thi công đường tránh ngập thủy điện Tuyên Quang
Ngoài ra các Bộ, ngành còn thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do Thủ tướng chính phủ giao cho để giúp hoàn thành đúng tiến độ và đảm bảo mục tiêu của
dự án di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang;
Trên cơ sở nhiệm vụ được Thủ tướng chính phủ giao, UBND tỉnh Tuyên Quang đã ra quyết định thành lập các ban di dân, tái định cư: Ban cấp tỉnh và Ban cấp huyện với nhiệm vụ cụ thể cho từng ban Ban di dân, tái định cư thủy điện Tuyên Quang cấp tỉnh (tiền thân là Ban di dân, tái định cư thủy điện Nà Hang) được thành lập theo quyết định số 103/2002/QĐ-UB ngày 26/4/2002 của UBND tỉnh, là cơ quang trực thuộc UBND tỉnh; Ban di dân, tái định cư các huyện trực thuộc UBND huyện có nhiệm vụ tham mưu cho UBND huyện tổ chức thực hiện công tác di dân, tái định cư thủy điện Tuyên Quang trên địa bàn huyện
Các văn bản quy phạm pháp luật do UBND tỉnh ban hành tập trung vào các nội dung: cụ thể hóa các quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư: Quyết định số 309/QĐ-UBND ngày 07/8/2007 quy định về đơn giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thủy điện Tuyên Quang
2.2.2 Mục tiêu, nhiệm vụ di dân tái định cư dự án thủy điện Tuyên Quang
2.2.2.1 Mục tiêu
Di dân TĐC dự án thủy điện Tuyên Quang phải tạo được các điều kiện để đồng bào TĐC sớm ổn định chỗ ở và có đời sống tốt hơn nơi ở cũ, trên cơ sở
Trang 31khai thác tiềm năng về tài nguyên và sức lao động, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn nơi ở cũ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái 2.2.2.2 Nhiệm vụ
Tổ chức thực hiện bồi thường, di chuyển và TĐC cho hộ gia đình và cá nhân thuộc đối tượng di dân tái định cư; bồi thường di chuyển và xây dựng lại kết cấu
hạ tầng và công trình kiến trúc - văn hóa xã hội của các tổ chức, đơn vị trong mặt bằng thi công và vùng ngập của hồ chứa Dự án thủy điện Tuyên Quang
2.2.3 Phương án quy hoạch di dân tái định cư
Do quy mô và tính chất phức tạp của công tác điều tra, lập quy hoạch tổng thể di dânTĐCthuỷ điện Tuyên Quang vượt quá khả năng các cơ quan chuyên môn của tỉnh nên UBND tỉnh đã giao Ban Di dân, TĐCthuỷ điện Tuyên Quang (Ban Di dân tỉnh) phối hợp với Viện Quy hoạch nông nghiệp,
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn để cùng triển khai thực hiện theo trình tự quy định của nhà nước
Từ cuối năm 2003 đến đầu năm 2005 tiến hành khảo sát, xây dựng phương án TĐC Từ đầu năm 2005 đến cuối năm 2006 các Bộ, ngành trung ương cho ý kiến, tỉnh và đơn vị tư vấn tiếp thu, hiệu chỉnh Tháng 01 năm
2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày
12 tháng 01 năm 2007 phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang, với những nội dung cơ bản sau:
2.2.3.1 Về thiệt hại và số dân phải di chuyển đến năm 2010
- Về đất đai: tổng diện tích đất đai bị ngập 6.187,8 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 3.435 ha chiếm 62%
- Về tài sản của hộ phải di chuyển: Tổng số có 4.139 căn nhà phải di chuyển với diện tích 323.757 m2, trong đó: Nhà sàn: 1.246 nhà, với diện tích
Trang 32134.626 m2; Nhà trệt: 2.893 nhà, với diện tích 189.131 m2 cùng toàn bộ vật kiến trúc kèm theo nhà Ngoài ra còn thiệt hại về cây trồng, vật nuôi trên đất thu hồi
- Mồ mả phải di chuyển là 6.016 mộ
- Thiệt hại về công trình kết cấu hạ tầng: Theo kết quả điều tra hệ thống
hạ tầng vùng lòng hồ bị thiệt hại gồm: 114,3 km đường giao thông; 31,405
km kênh mương kiên cố; 60 phai đập; 01 hồ chứa; 148 km đường dây điện từ 0,4 đến 35 KV; 20 trạm biến áp; 01 trạm thuỷ điện; 11 công trình cấp nước tập trung; 47 giếng đào lắp máy bơm tay; 130 lu nước 02m3; 39.429 m2 nhà trụ sở, trường học, trạm y tế, bưu điện bị ngập Ngoài ra còn nhiều điểm khoáng sản, các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh cũng bị ngập
Có 4.139 hộ, 20.138 khẩu phải di chuyển TĐC thuộc 88 thôn, bản, tổ dân phố chiếm 29,5% so với tổng số 298 thôn, bản của toàn huyện Na Hang, trong đó:
- Có 04 xã phải di chuyển 100% số bản khỏi địa bàn xã là: Xuân Tân (13 thôn), Thúy Loa (12 thôn), Xuân Tiến (11 thôn) và Vĩnh Yên (07 thôn)
- Có 01 xã có 08/ 09 thôn phải di chuyển là xã Trùng Khánh
- Có 06 xã, 01 thị trấn bị ảnh hưởng, có một phần dân số phải di chuyển là: Xã Sơn Phú ,Đà Vị, Yên Hoa, Khau Tinh, Khuôn Hà, Phúc Yên và thị trấn
Na Hang
Nhân dân trong vùng ngập và vùng bị ảnh hưởng bởi dự án thuỷ điện chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 89,8% gồm: Tày 54,8%, Dao: 29,2%, H‟Mông: 5,8%, còn lại dân tộc Kinh là 10,2% Nghề nghiệp chủ yếu
là sản xuất nông nghiệp (chiếm 92%)
- Theo kết quả phân loại hộ giàu nghèo đến cuối năm 2003 của toàn huyện Na Hang, trong đó có 11 xã vùng lòng hồ thì: Hộ giàu chiếm 1,2%, hộ khá chiếm 10,4%, hộ trung bình: 80,3% và hộ nghèo chiếm 11,35% cao gấp 1,74 lần bình quân chung toàn tỉnh (6,54%)
2.2.3.2 Phương án bố trí tái định cư
Trang 33Phương án bố trí TĐCđược xây dựng trên cơ sở điều tra, đánh giá tổng thể về kinh tế - xã hội, về đất đai trên toàn tỉnh; căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010
- Về định hướng bố trí TĐCcủa tỉnh: TĐCtrong tỉnh là chính, hình thức tái định cư vừa tập trung vừa xen ghép Bố trí vào các vùng có tiềm năng về đất đai để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp Sử dụng nguồn lực đầu tư cho TĐCđồng thời góp phần tạo nên động lực mới để phát triển Kinh tế - Xã hội đảm bảo an ninh quốc phòng ở từng địa phương và toàn tỉnh
- Về tiêu chí lựa chọn vùng TĐC: Có đủ đất ở và đất sản xuất cho dân TĐCtheo quyết định 937/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nguồn đất để bố trí cho dân TĐCchủ yếu là chuyển nhượng lại của các hộ dân sở tại, nơi khó khăn về quỹ đất sản xuất thì khai hoang, cải tạo đất Có đủ nguồn nước đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân và được sự nhất trí cao của các cấp chính quyền và nhân dân địa phương
Từ định hướng và tiêu chí TĐCđã nêu trên, phương án TĐCcụ thể được xác định như sau:
Trong tổng 4.139 hộ, với 20.138 khẩu phải di chuyển thì số dân phải bố trí TĐClà 4.099 hộ, với 19.980 khẩu được bố trí ở 36 khu, với 125 điểm TĐC; trong đó: hộ nông nghiệp là 3.742 hộ, 18.668 khẩu; hộ phi nông nghiệp là 357
hộ, 1.312 khẩu Các hộ di chuyển được bố trí TĐCtại các huyện: Na Hang là 08 khu, 31 điểm TĐCvới 1.396 hộ, 6.349 khẩu; Chiêm Hoá là 10 khu, 33 điểm TĐCvới 807 hộ, 4.197 khẩu; Hàm Yên là 04 khu, 28 điểm TĐC với 481 hộ, 2.377 khẩu; Yên Sơn là 14 khu, 33 điểm TĐCvới 1.415 hộ, 7.057 khẩu
Còn lại 40 hộ, 158 khẩu tự di chuyển nên không phải bố trí TĐC
Tổng kinh phí thực hiện
Tổng kinh phí theo Quy hoạch tổng thể di dân, TĐCcho tỉnh Tuyên Quang được duyệt tại Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày 12 tháng 01 năm
2007 của Thủ tướng Chính phủ là 1.756,428 tỷ đồng, trong đó TĐClà
Trang 341.419,616 tỷ đồng; phục hồi ven hồ 239,788 tỷ đồng; chi phí khác 40,207 tỷ đồng; dự phòng là 56,817 tỷ đồng
2.3 Tổng quan về tình hình kinh tế xã hội khu vực di dân
2.3.1 Đặc điểm tự nhiên vùng dân cư chịu ảnh hưởng của dự án thuỷ
điện Tuyên Quang
đã đƣợc xây dựng lên làm cho Na Hang ngày càng sầm uất
Trang 35Na Hang mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa có một mùa đông lạnh, khô hanh và ít mưa, có nhiều sương muối; mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều nhiệt độ trung bình năm 26OC, cao nhất là 40O
C, lượng mưa trung bình: 1800 mm/năm
2.3.2 Tình hình KT-XH dân cư khu vực chịu ảnh hưởngdự án thủy
điện Tuyên Quang
- Dân số: hiện nay huyện Na Hang có 59.295 người (2008), mật độ dân số:
Là huyện tập trung nhiều dân tộc nên có rất nhiều phong tục tập quán khác nhau, nhiều lễ hội, văn hóa rất phong phú: hội lồng tồng, hội ném kòn, hội đồng…
- Người dân nơi đây sống chủ yếu bằng nghề nông và chăn nuôi gia súc, gia cầm, trông bồng, dệt vải, trồng khoai môn, đậu tương giống mới trên đất đồi dốc và trên đất một vụ lúa
Trang 362.4.1 Giải phóng mặt bằng, xây dựng nơi ở mới
2.4.1.1 San nền
Ban di dân tỉnh Tuyên Quang đã huy động công nhân viên chức, cán bộ các ban ngành trong tỉnh đến các điểm, khu TĐC san mặt bằng, đổ nền,… cho các hộ TĐC trước khi họ chuyển đến
2.4.1.2 Xây dựng nhà ở
Hiện nay trong toàn tỉnh đã triển khai xây dựng 36 khu, 125 điểm tái định cư cho 4.099 hộ
- Bình quân mỗi hộ có diện tích đất ở từ 200m2 đến 400m2
- Do đặc trưng vùng, miền, tại tỉnh Tuyên Quang các hộ đã di chuyển tái định cư chủ yếu là các hộ đồng bào dân tộc, ở nhà sàn Căn cứ chính sách bồi thường, hỗ trợ của Thủ tướng Chính phủ, UBND Tỉnh đã qui định cụ thể mức bồi thường, hỗ trợ làm nhà và công trình phụ cho các hộ TĐC cụ thể:
+ Hộ độc thân: 30 triệu đồng + 05 triệu đồng xây dựng công trình phụ + Hộ có từ 2 đến 4 khẩu: 50 triệu đồng/hộ + 08 triệu đồng xây dựng công trình phụ
+ Hộ có từ 4 khẩu trở lên: Cứ tăng một khẩu được cộng thêm 10 triệu đồng
2.4.2 Xây dựng các công trình công cộng
a Xây dựng công trình giao thông
Đến tháng 4 năm 2010, tỉnh đã đầu tư xây dựng mới và nâng cấp được 35,3 km đường cấp kỹ thuật 20, đạt 40% khối lượng dự án; 214,9 km đường giao thông nông thôn loại A, đạt 73,5% khối lượng dự án; 65 km đượng giao thông nông thôn loại B, đạt 41% khối lượng dự án; 5,5 km đường nội khu đô thị, đạt 30% khối lượng dự án; 14 tràn liên hợp, đạt 20% khối lượng dự án, 16 cầu bê tông, cốt thép, đạt 22,8% khối lượng dự án
b Xây dựng công trình thủy lợi
Tại quyết định số 08/QĐ-TTg, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt, hệ thống công trình thủy lợi gồm: 116 công trình trạm bơm, đập dâng và hồ chứa
Trang 37nước, 143,4 km kênh xây, 10,1 km đường ống hệ thống nước sinh hoạt có 445 công trình tự chảy, khoan bơm dẫn và giếng đào
Đến nay các hạng mục công trình thủy lợi đã được đầu tư xây dựng, nhưng mức độ đầu tư cong hạn chế: khối lượng công trình đầu tư đạt khoảng 56,5% so với khối lượng trong Quyết định 08/QĐ-TTG: 02 trạm bơm điện;
04 đập dâng; 02 hồ chứa; 109,8 km kênh mương; nâng cấp 41 đập dâng
c Xây dựng công trình cấp, thoát nước
Công trình cấp nước sinh hoạt: đến nay hầu hết các công trình cấp nước sinh hoạt đã được đầu tư: 59 công trình cấp nước tập trung hệ tự chảy; 29 công trình cấp nước tập trung hệ khoan bơm dẫn; 04 công trình nối mạng cấp nước đô thị; 244 giếng đào, so với khối lượng trong quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đạt khoảng 74%
Công trình thoát nước khu TĐC: toàn bộ mặt bằng tại 125 điểm TĐC đều được xây dựng hệ thống rãnh thoát nước kiên cố với tổng chiều dài 79,5 km
e Xây dựng các công trình công cộng khác
Công trình kiến trúc công cộng đầu tư gồm: 30 trường THPT, THCS và tiểu học; 10.189,3 m3 nhà lớp học mầm non và nhà văn hóa thôn bản, đạt 54,7% khối lượng dự án; 02 trụ sở UBND xã với diện tích 470 m3; 03 trạm y
tế xã; 46 khu nghĩa địa; 03 chợ nông thôn
2.4.3 Giao đất ở, đất sản xuất cho hộ tái định cư
Trang 38- Đối với đất sản xuất :
Mỗi khẩu sản xuất nông nghiệp được cấp, giao đất từ 400 m2
– 500
m2/khẩu đất 2 vụ lúa hoặc từ 700 m2
– 800 m2/khẩu đất 1 vụ lúa hoặc 1.000
m2– 1200 m2/khẩu đất trồng màu Đối với đất lâm nghiệphộ TĐC được xem xét cấp đất tuỳ theo quỹ đất thực tế của từng khu TĐC
2.4.4 Công tác hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ đời sống kinh tế - xã hội của
người dân
- Hỗ trợ di chuyển : hộ TĐC di chuyển trong xã được hỗ trợ 1 triệu đồng/hộ, ngoài xã 2 triệu đồng/hộ, ngoài huyện 3 triệu đồng/hộ ; di chuyển ngoài tỉnh 5 triệu đồng/hộ
- Hỗ trợ đời sống : mỗi nhân khẩu được hỗ trợ lương thực bằng tiền có giá trị tương đương với 30 kg gạo/người/tháng x 12 tháng, giá gạo được tính theo thời điểm hỗ trợ khi hộ di chuyển Ngoài ra nếu đất được giao hoàn toàn
là đất khai hoang thì mỗi khẩu được hỗ trợ thêm 20 kg gạo/người/tháng x 12 tháng giá gạo được tính theo thời điểm hỗ trợ
- Hỗ trợ về y tế : cấp 1 lần với mức 100.000 đồng/hộ
- Hỗ trợ về giáo dục : học sinh phổ thông các cấp được cáp 1 bộ sách giáo khoa, không thu tiền năm học đầu tiên và được miễn các khoản đóng góp trong 3 năm tính từ khi bắt đầu học tại trường nơi ở mới
- Hỗ trợ sử dụng điện sinh hoạt : hỗ trợ trong 3 tháng, mức hỗ trợ 10.000 đồng/người/tháng
Trang 39- Hỗ trợ về phát triển sản xuất, chuyển đổi nghề : mỗi hộ TĐC được hỗ trợ về trồng trọt, chăn nuôi, hỗ trợ về khuyến nông theo quy định và được khuyến khích nếu di chuyển đúng tiến độ với mức hỗ trợ là 4.000.000 đồng/hộ ; các lao động nông nghiệp, lao động chuyển nghề mới được hỗ trợ chi phí đào tạo chuyển đổi nghề
2.5 Kết quả di dân đến các khu tái định cư đã quy hoạch
Thực hiện thành công di chuyển toàn bộ 4.099 hộ, 19.980 khẩu vùng lòng hồ và mặt bằng công trường đến các khu (điểm) TĐC đúng tiến độ và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người và tài sản trong suốt quá trình thực hiện dự án
Tất cả các hộ dân TĐCtrên địa bàn tỉnh đều được bố trí đủ diện tích đất
ở theo quy định, bình quân mỗi hộ được giao 298,9 m2 Đất sản xuất nông nghiệp được giao đảm bảo đầy đủ diện tích, bình quân diện tích đất quy về 2
vụ lúa được giao cho hộ TĐC là 447 m2/khẩu
Việc hỗ trợ phát triển sản xuất đối với hộ TĐC được thực hiện có hiệu quả
2.6 Kết quả khảo sát, đánh giá
2.6.1 Các khu tái định cư huyện Yên Sơn
Yên Sơn có diện tích 1.134,26 km2 , là huyện nằm ở trung tâm tỉnh Tuyên Quang Phía bắc giáp Hàm Yên, Chiêm Hóa ; phía nam giáp Sơn Dương ; phía tây giáp Phú Thọ, Yên Bái ; phía đông giáp Thái Nguyên
Huyện Yên Sơn có 31 xã, thị trấn Để nhà máy thủy điện Tuyên Quang được xây dựng và hoạt động đúng tiến độ, công tác di dân, tái định cư hoàn thành kịp thời, từ tháng 5 năm 2004 huyện tiếp nhận 1.147 hộ, 5.290 khẩu, xây dựng 12 khu TĐC với 30 điểm TĐC
Hình 2 3: Bản đồ hành chính huyện Yên Sơn
Trang 40Để nghiên cứu tình hình di dân và tái định cư Dự án thủy điện Tuyên Quang, tôi tiến hành điều tra tại hai điểm thuộc khu tái định cư huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang là điểm tái định cư xóm 2 - xã Kim Phú - khu tái định cư huyện Yên Sơn và điểm tái định cư xóm 8 – xã An Khang – huyện Yên Sơn
2.6.2 Khái quát về 2 điểm tái định cư 2 và điểm TĐC xóm 8 huyện Yên Sơn
2.6.2.1 Điểm TĐC xóm 2, xã Kim Phú huyện Yên Sơn
Xã Kim Phú có 5 điểm tái định cư là: xóm 2, xóm 5, xóm 9, xóm 16, xóm 18; trong đó xóm 2 là điểm tái định cư đầu tiên ở xã, nằm cách trung tâm
xã khoảng 1 km, dân trong xóm được chuyển từ thôn Nà Mường, xã Vĩnh Yên, huyện Na Hang đến xóm 2 xã Kim Phú, huyện Yên Sơn từ tháng 6/2004 Đường đến xóm phần lớn đã được đổ bê tông nên khá thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu của người dân trong vùng Mô hình di dân TĐC đến điểm xóm 2 (di dân ngoại huyện) được tỉnh Tuyên Quang tiến hành theo phương thức: Dân
tự tháo dỡ nhà cũ chuyển về dựng lại nơi ở mới, vừa di chuyển vừa đầu tư kết cấu hạ tầng xóm 2 có 108 hộ dân với 447 nhân khẩu
Hình 2 4: Vị trí xã Kim Phú