1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của gà chọi nuôi tại huyện tân yên - tỉnh bắc giang

73 1,1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 597,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM CÔNG HOẰNG “NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẠI HUYỆN TÂN YÊN - TỈNH BẮC GIANG”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM CÔNG HOẰNG

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ CHỌI NUÔI

TẠI HUYỆN TÂN YÊN - TỈNH BẮC GIANG”

Chuyên ngành: Chăn nuôi – Thú y

Mã số: 60.62.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:

PGS-TS TRẦN THANH VÂN

TS NGUYỄN THỊ THÚY MỴ

THÁI NGUYÊN – 2010

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang

MỞ ĐẦU 1

I Đặt vấn đề 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Bản chất di truyền của tính trạng 4

1.1.2 Đặc điểm về sinh trưởng di truyền và một số tính trạng sản xuất của gia cầm 5

1.1.2.1 Khả năng sinh trưởng 5

1.1.2.2 Tiêu tốn thức ăn 11

1.1.2.3 Khả năng cho thịt 12

1.1.2.4 Sức sống và khả năng kháng bệnh 13

1.1.2.5 Khả năng đẻ trứng 14

1.1.2.6 Tỷ lệ ấp nở 15

1.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt gia cầm 18

1.1.3.1 Những yêu cầu đối với chất lượng thịt 19

1.1.3.2 Các biện pháp cải thiện chất lượng thịt gia cầm 19

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 23

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 2.1 Đối tượng, điạ điểm và thời gian nghiên cứu 34

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 34

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 34

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 34

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 36

2.3.1 Các chỉ tiêu điều tra 36

2.3.1.1 Các chỉ tiêu ề sinh sản 36

2.3.1.2 Các chỉ tiêu về sinh trưởng 36

2.3.1.3 Một số dặc điểm sinh học 37

2.3.2 Các chỉ tiêu khảo sát 37

2.4 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 37

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 41

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42

3.1 Kết quả điều tra về tình hình nuôi gà Chọi tại huyện Tân Yên 42

3.1.1 Kết quả điều tra về số lượng 42

3.1.2 Kết quả điều tra về số lượng hộ chăn nuôi gà Chọi 43

3.1.3 Tỷ lệ gà Chọi trong các hộ tại 3 xã của huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang 44

3.2 Kết quả theo đánh giá về đặc điểm sinh học của gà Chọi 46

3.2.1 Màu sắc lông 46

3.2.2 Kích thước các chiều đo của cơ thể gà Chọi 47

3.3 Kết quả đánh giá về khả năng sinh sản của gà Chọi 48

3.3.1 Một số chỉ tiêu sinh sản của gà mái 48

3.3.2 Thời gian sử dụng gà Chọi 49

3.3.3 Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng 50

3.3.4 Các chỉ tiêu về ấp nở 51

3.4 Các chỉ tiêu khảo sát về sức sản xuất thịt của gà Chọi 52

3.4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà Chọi 52

3.4.2 Sinh trưởng của gà Chọi 53

3.4.2.1 Sinh trưởng tích luỹ 53

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Yên - tỉnh Bắc Giang 56

3.4.3 Khả năng tiêu thụ và chuyển hoá thức ăn 59

3.4.4 Khả năng cho thịt và chất lượng thịt 62

3.4.4.1 Năng suất thịt 62

3.4.4.2 Chất lượng thịt 64

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 66

1 Kết luận 66

2 Đề nghị 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

I Tiếng Việt 68

II Tiếng nước ngoài 71

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang Bảng 3.1 Số lượng gà Chọi tại tại 3 xã huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang

Bảng 3.2 Tình hình chăn nuôi gà Chọi trong nông hộ 43

Bảng 3.3 Tình hình nuôi gà Chọi theo xóm tại 3 xã điều tra 45

Bảng 3.4: Đặc điểm màu sắc lông của gà Chọi trưởng thành 46

Bảng 3.5 Kích thước các chiều đo cơ thể gà Chọi (cm) 47

Bảng 3.6: Một số chỉ tiêu sinh sản của gà mái Chọi 48

Bảng 3.7: Thời gian sử dụng của gà trống, mái Chọi 49

Bảng 3.8: Các chỉ tiêu về chất lượng trứng 50

Bảng 3.9: Các chỉ tiêu ấp nở của gà Chọi 51

Bảng 3.10: Tỷ lệ nuôi sống của gà khảo nghiệm (%) 52

Bảng 3.11 Sinh trưởng tích luỹ của gà Chọi (g) 54

Bảng 3.12 Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối 56

Bảng 3.13: Khả năng tiêu thụ và chuyên hoá thức ăn bổ sung thêm của gà Chọi nuôi thịt (Số liệu nuôi khảo sát) 61

Bảng 3.14: Các chỉ tiêu mổ khảo sát 63

Bảng 3.15: Thành phần hóa học của thịt gà Chọi ở các giai đoạn tuổi nuôi khảo sát (%) 64

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang Hình 3.1: Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà Chọi nuôi

tại huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang 55 Hình 3.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà Chọi

nuôi tại huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang 57 Hình 3.3: Đồ thị sinh trưởng tương đối của gà Chọi nuôi tại huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang 59

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

là 5%/năm và chăn nuôi gà chất lượng cao đang là vấn đề được

nhiều người quan tâm Chăn nuôi gà đ• có những biến chuyển tích cực, đạt được những thành tựu khả quan: tổng đàn tăng lên về số lượng và chất lượng được cải thiện Cùng với sự phát triển của

ngành kinh tế thì nhu cầu tiêu dùng thực phẩm có chất lượng cao của người dân lại càng tăng lên

Hiện nay, xu thế chung của ngành chăn nuôi trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, bên cạnh việc phát triển thâm canh chăn nuôi cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, gìn giữ các giống vật nuôi địa phương nhằm khai thác hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học mang lại tính ổn định bền vững cho phát triển lâu dài Đây là vấn đề cấp

bách, khó khăn, phức tạp mang tính toàn cầu, cần được nhiều ngành quan tâm

ở việt Nam có rất nhiều giống vật nuôi truyền thống có giá trị kinh

tế thấp nên đang bị thu hẹp về không gian phân bố, giảm dần về số lượng và có nguy cơ bị tuyệt chủng ví dụ như: lợn ỉ, gà Hồ, gà Đông Tảo, vịt Kỳ Lừa, gà Mèo Gà Chọi cũng là một trong những giống vật nuôi nói trên, mặc dù xét về ý nghĩa kinh tế của giống gà này thì không lớn, song đây là giống gà được cộng đồng các dân tộc người Việt nuôi từ ngàn đời nay, nó gắn liền với tập quán văn hóa và đời sống tinh thần của các dân tộc người Việt

Bắc Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc với nét đặc trưng là địa hình bị chia cắt bởi các d•y núi tạo ra các thung lũng Dân cư gồm nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống bằng canh tác nông nghiệp và chăn nuôi Cùng với các gia súc, gia cầm khác, con gà đ• được các dân tộc địa phương nuôi dưỡng từ lâu đời với phương thức quảng canh, người dân sử dụng sử dụng thịt và trứng gà rộng r•i, vì đây là nguồn thực phẩm giầu đạm, đặc biệt thịt gà còn được sử dụng trong các nghi thức tết Nguyên đán, đình đám, lễ hội Giống gà Chọi được nuôi nhiều ở Bắc Giang con gà Chọi gắn với tết cổ truyền,hội hoàng hoa thám, các lễ hội đình làng… Với phương thức chăn thả quảng canh, đối với gà con và gà loại thải (không dùng vào việc chọi gà),

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

và chăm sóc có đầu tư với gà nuôi dùng vào việc thi đấu Gà Chọi không những là món ăn đặc sản, mà còn được các dân tộc người Việt nuôi để đem đi chọi trong các lễ hội Đây là giống gà có tầm vóc tương đối lớn từ 3 - 4 kg, gà có chân cao, tốc độ sinh trưởng khá, lông có nhiều màu: xám, vằn đen Đây là một trong những

nguồn gen quý, rất phong phú và có tiềm năng di truyền cao đối với công tác lai tạo, do đó cần được bảo tồn

Trong thực tế các giống gà nội thuần rất ít, do có sự pha tạp một cách tự nhiên, nhưng gà Chọi chủ yếu nuôi với mục đích Chọi nên

gà Chọi là một trong số rất ít các giống gà nội có mức độ thuần Để

có thêm kết quả nghiên cứu về giống gà này, góp phần vào việc xem xét, đánh giá giá trị kinh tế, làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu bảo tồn và lai tạo, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của gà Chọi nuôi tại huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang”

Nhằm phục vụ cho việc bảo tồn quỹ gen và là cơ sở để khai thác tiềm năng di truyền của giống gà địa phương này

2 Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

+ Mục tiêu của đề tài

- Xác định các đặc điểm ngoại hình, một số đặc tính sinh học và tính năng sản xuất của giống gà Chọi tại huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang

- Xác định được cơ cấu, số lượng, sức sống, sinh trưởng, sinh sản, tình hình chăn nuôi gà Chọi trong nông hộ tại huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang

- Xác định ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng sản xuất của gà Chọi nuôi ở nông hộ

- Bảo tồn được quỹ gen và khai thác tiềm năng di truyền lâu dài của gà Chọi(theo hướng văn hoá kết hợp phát triển kinh tế x• ội) + ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các thông tin đầu tiên về giống

gà Chọi tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang

- Các số liệu thu được phục vụ cho công tác giống sau này Mặt khác kết quả của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu phát triển tiếp theo

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 1

Tổng quan tài liệu

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Bản chất di truyền của tính trạng

Cũng như các giống vật nuôi khác, giống gà được hình thành gắn liền với sự tác động của môi trường sinh thái, điều kiện kinh tế kỹ thuật của x• hội Hay nói cách khác, ngoài các yếu tố di truyền, tác động của con người, thì các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, mùa vụ có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các đặc tính sinh trưởng, phát dục, sinh sản của giống

Tất cả các đặc điểm của giống như: các đặc tính sinh học, ngoại hình, tính năng sản xuất Đều là tính trạng di truyền số lượng và chất lượng Các tính trạng chất lượng được quy định bằng một hay nhiều cặp gen có hiệu ứng lớn, chúng được di truyền tuân theo các định luật của Mendel và ít chịu ảnh hưởng của các điều kiện môi trường; Các tính trạng sản xuất được quy định bằng nhiều cặp gen

có hiệu ứng nhỏ, chúng được di truyền cho đời sau theo các mức độ khác nhau, sự thể hiện của chúng ở đời sau chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh Sự biểu hiện kiểu hình của các tính trạng

số lượng chịu sự tác động rất lớn của yếu tố ngoại cảnh Mối liên hệ này được thể hiện trong biểu thức:

P = G + E

Trong đó:

P: giá trị kiểu hình, là các giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể

G: giá trị kiểu gen

E: sai lệch môi trường

Nói cách khác: Trong những điều kiện môi trường nhất định thì các kiểu gen khác nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau Trái lại, cùng một kiểu gen nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lưc sản xuất khác nhau Nghĩa là các điều kiện môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng có thể phát huy hoặc hạn chế các đặc tính di truyền của vật nuôi Thông qua việc nắm các yếu tố

di truyền, môi trường ngoại cảnh tối thích, bằng các biện pháp khoa học kỹ thuật hợp lý, con người sẽ không chỉ bồi dưỡng duy trì được

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

các đặc tính của một phẩm chất giống mà còn tạo ra các giống mới theo những hướng sản xuất khác nhau

Tốc độ sinh trưởng quyết định sức sản xuất thịt của một giống gà,

nó có tính di truyền tương đối cao thể hiện ở đặc điểm trao đổi chất, kiểu hình của dòng, giống Dòng, giống nào có tốc độ sinh trưởng lớn sẽ cho khả năng sản xuất thịt cao, vỗ béo và giết thịt sớm hơn Tốc độ sinh trưởng được thể hiện ở khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo (dài lườn, rộng ngực, dài đùi ) Để nâng cao năng lực sản xuất thịt của một giống gà nào đó, người ta thường cho lai giữa mái của giống đó với trống của một giống khác có tốc độ sinh

1.1.2 Đặc điểm về sinh trưởng di truyền và một số tính trạng sản xuất của gia cầm

1.1.2.1 Khả năng sinh trưởng

Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do quá trình đồng hoá

và dị hoá của cơ thể, là sự tăng về chiều cao, dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật Đồng thời sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất dinh dưỡng chủ yếu là

protein, nên tốc độ tích luỹ và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng, cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992)[21]

Về mặt sinh học: Sinh trưởng là quá trình tổng hợp protein nên

thường lấy tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng

Theo Johason, 1972 [6] thì cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

của con vật Nhìn từ khía cạnh giải phẫu, sinh lý thì sự sinh trưởng của các mô cơ diễn ra theo sơ đồ sau:

Hệ thống tiêu hoá nội tiết - hệ thống xương - hệ thống cơ bắp - mỡ Thực tế chăn nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu của sự sinh trưởng thì thức ăn dinh dưỡng được dùng tối đa cho

sự phát trển của xương, mô cơ, một phần rất ít lưu giữ cho cấu tạo của mỡ Đến giai đoạn cuối của sự sinh trưởng, nguồn dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ thống cơ xương, nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đ• giảm, càng ngày con vật càng tích luỹ dinh dưỡng để cấu tạo mỡ

Theo Chamber, J.R 1990 [41] thì Mozan (1927) định nghĩa: sinh trưởng là sự tổng hợp quá trình tăng lên của các bộ phận trên cơ thể như thịt da, xương Tuy nhiên có khi tăng khối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự sinh trưởng thực sự phải là tăng các tế bào của mô

cơ tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ thể Tóm lại sinh trưởng phải trải qua 3 quá trình đó là:

- Phân chia để tăng khối lượng tế bào

- Tăng thể tích tế bào

- Tăng thể tích giữa các tế bào

Trong quá trình này thì sự phát triển của tế bào là chính, các đặc tính của các bộ phận trong cơ thể hình thành lên quá trình sinh

trưởng là sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di truyền của đời

trước, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn thiện hay không hoàn thiện còn phụ thuộc vào sự tác động của môi trường

Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ

chiếm nhiều nhất từ: 42 - 45 % khối lượng cơ thể Khối lượng cơ thể của con trống luôn lớn hơn con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và từng loại gia cầm) (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994 [18]

* Các giai đoạn sinh trưởng của gà

Đối với gà, quá trình tích luỹ các chất thông qua quá trình trao đổi chất đó, là sự tăng lên về khối lượng, kích thước tế bào và dịch thể trong mô bào ở giai đoạn phát triển đầu của phôi trên cơ sở tính di truyền Sau khi nở thì sinh trưỏng là do sự lớn dần của các mô, đó là

sự tăng lên về kích thước của tế bào và được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn gà con và giai đoạn trưởng thành

+ Giai đoạn gà con

Giai đoạn này gà sinh trưởng rất nhanh do lượng tế bào tăng nhanh, một số bộ phận của cơ quan nội tạng còn chưa phát triển hoàn chỉnh

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

như các men tiêu hoá trong hệ tiêu hoá, do vậy thức ăn giai đoạn này cần chú ý đến thức ăn dễ tiêu, vì thức ăn giai đoạn này ảnh

hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gà Quá trình thay lông cũng diễn ra trong cùng một giai đoạn này, nó làm thay đổi quá trình trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu, do đó cần chú ý đến hàm lượng của các chất dinh dưỡng và axit amin thiết yếu trong khẩu phần ăn + Giai đoạn trưởng thành

Giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể gà gần như đ• phát triển hoàn thiện, số lượng tế bào tăng chậm chủ yếu là quá trình phát dục Quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng trong giai đoạn này một phần

để duy trì cơ thể, một phần để tích luỹ mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn giai đoạn gà con

+ Khối lượng cơ thể

ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự sinh trưởng của

cơ thể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định được sự sai khác về tỷ lệ sinh trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian ở các độ tuổi Đơn vị tính được bằng g/con hoặc

kg/con

+ Sinh trưởng tuyệt đối

Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39 - 77, 1997) [25] Sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và

ngược lại

+ Sinh trưởng tương đối

Sinh trưởng tương đối được tính bằng tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng (thể tích, kích thước) của cơ thể khi kết thúc quá trình khảo sát so với thời điểm đầu khảo sát (TCVN.40 - 77, 1997) [26]

Gà con non có sinh trưởng tương đối cao sau đó giảm dần theo tuổi Sau giai đoạn trưởng là giai đoạn già cỗi, ở thời kỳ này khối lượng không tăng mà có chiều hướng giảm Nếu vẫn có hiện tượng tăng khối lượng thì đây là do quá trình tích luỹ mỡ Thời kỳ này sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tuổi và điều kiện sống của con vật Thời

kỳ già cỗi được tính từ khi con vật ngừng sinh trưởng, khả năng sinh sản và mọi khả năng khác đều giảm (Lê Huy Liễu và cs, 2004 [13] )

- Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị sinh trưởng của gia súc gia cầm nói chung Theo Chambers J.R,

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1990 [41], đường cong sinh trưởng của gà có 4 đặc điểm chính gồm

4 pha:

• Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc nhanh sau khi nở

• Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao

nhất

• Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn

• Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành

Đồ thị sinh trưởng tích luỹ biểu thị một cách đơn giản nhất về

đường cong sinh trưởng

Đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về

khối lượng mà còn làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác nhau giữa

các dòng, giống, giới tính (Nizetova H.K, Yanck J.H, Nize B.K and

Roubicek J.R, 1991) [50]

Trần Long, 1994 [14] khi nghiên cứu về đường cong sinh trưởng

của các dòng V1, V3, V5 trong giống gà Hybro (HV85) cho thấy

các dòng đều phát triển theo đúng quy luật sinh học Đường cong

sinh trưởng của 3 dòng có sự khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà

trống và gà mái cũng có sự khác nhau: Sinh trưởng cao ở 7 - 8 tuần

tuổi với gà trống và 6 - 7 tuần tuổi đối với gà mái

* Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như: dòng,

giống, tính biệt, tốc độ mọc lông, dinh dưỡng và các điều kiện chăn

nuôi

+ ảnh hưởng của dòng, giống

Theo Chambers J.R, 1990 [41] có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh

trưởng và phát triển của cơ thể, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển

chung, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen thì

ảnh hưởng theo nhóm tính trạng và có gen ảnh hưởng tới một vài

tính trạng riêng lẻ

Goedfrey E.F và Jaap R.G, 1952[46] cùng một số tác giả khác cho

rằng các tính trạng số lượng được quy định bởi ít nhất 15 cặp gen

Theo Jaap R.G và cộng sự, 1969 [48]; Champman A.B, 1995 [43]

đều cho rằng kiểu di truyền về khối lượng cơ thể, phải do nhiều gen

quy định và ít nhất phải do một gen liên kết với giới tính

Cook và cộng sự, 1956 [44] đ• xác định được hệ số di truyền tại 6

tuần tuổi về khối lượng là 0,50; hệ số di truyền khối lượng cơ thể

theo Godman và Godgry (1956) là 0,43, ở 10 tuần tuổi theo Cook

tính được là 0,5 và ở 6 tuần tuổi là 0,4

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Phùng Đức Tiến, 1996 [34] cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh trưởng từ 0,4 - 0,5 Các tài liệu của Chambers J.R, 1984 [42]; Siegel

Kết quả nghiên cứu 3 giống AA, Avian và BE88 nuôi tại Thái

Nguyên của Nguyễn Thị Thuý Mỵ, 1997 [22] cho thấy: khối lượng

cơ thể của 3 giống khác nhau ở 49 ngày tuổi lần lượt là: 2501,09g; 2423,28g và 2305,14g

+ ảnh hưởng của tính biệt

Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể còn ảnh hưởng bởi tính biệt, gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái Những sai khác này được biểu hiện về mặt cường độ sinh

trưởng, được quy định không phải do hoocmon sinh dục mà do các gen liên kết với giới tính

Theo Jull M.A, 1923 [49] cho biết gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái từ 24 - 32% Các tác giả cho rằng sự sai khác này

do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống hoạt động mạnh hơn gà mái North M.O, 1990 [52], đ• rút ra kết luận: lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái là 1%, tuổi càng tăng thì sự khác nhau càng lớn, ở 2 tuần tuổi hơn 5 %, 3 tuần tuổi hơn 11%, 5 tuần tuổi hơn 17%, 6 tuần tuổi hơn 20%, 7 tuần tuổi hơn 23%, 8 tuần tuổi hơn 27%

+ ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến từng mô khác nhau, gây nên sự biến đổi trong quá trình phát triển của mô này đối với mô khác, dinh dưỡng còn ảnh hưởng đến biến động di truyền về sinh trưởng

Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1993 [16], để phát huy khả năng sinh trưởng cần cung cấp thức ăn với đầy đủ các chất dinh dưỡng và được cân bằng protein, các axit amin với năng lượng, ngoài ra những năm gần đây trong thức ăn hỗn hợp chúng ta đ• bổ

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sung một số các chế phẩm hoá học không mang ý nghĩa về dinh dưỡng, nhưng nó có tác dụng kích thích về sinh trưởng và làm tăng chất lượng thịt

Lê Hồng Mận và cộng sự, 1993 [20] xác định được nhu cầu dinh dưỡng về protein nuôi gà Broiler cho năng suất cao, thì ngoài năng lượng/Protein (ME/CP) trong khẩu phần thức ăn cũng là vấn đề rất quan trọng cần được quan tâm

Dinh dưỡng của gia cầm gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần đều

có tầm quan trọng và ý nghĩa riêng của nó

ở gà Broiler, một phần năng lượng để duy trì, một phần để tăng khối lượng, cá thể có tốc độ tăng trưởng nhanh thì sẽ cần ít năng lượng

để duy trì hơn, tiêu tốn thức ăn ít hơn Tăng khối lượng nhanh do cơ thể đồng hoá tốt, trao đổi chất được tăng cường làm cho việc sử dụng thức ăn có hiệu quả tốt hơn Theo Chambers J.R và cộng sự,

1984 [42] thì mối tương quan giữa khối lượng của gà Broiler với lượng thức ăn tiêu tốn từ 0,5 - 0,9 Gà có tốc độ tăng khối lượng cao thì yêu cầu thức ăn có tỷ lệ protein cao hơn (Paudman J.A và cộng

sự, 1970 [53]; (Pym R.A.E và cộng sự, 1978 [54]) Dinh dưỡng không chỉ cần thiết cho quá trình sinh trưởng mà còn cần thiết để thể hiện khả năng di truyền của sinh trưởng

Meller David Soares, Josepbb J.R, 1981 [23] đ• xác định được sự ảnh hưởng của hàm lượng Chorocid, Sulfat và lượng Natri, Phot pho trong chế độ dinh dưỡng đến sinh trưởng của gà

1.1.2.2 Tiêu tốn thức ăn

Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng phản ánh khả năng

chuyển hoá thức ăn để sinh trưởng, hay nói cách khác tiêu tốn thức

ăn /kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Để đạt được một khối lượng cơ thể nào đó, với cơ thể sinh trưởng chậm sẽ mất thời gian dài hơn, năng lượng dành cho duy trì cao hơn dẫn đến thức ăn tiêu tốn nhiều hơn so với cơ thể có tốc độ tăng khối lượng nhanh Khi sinh trưởng nhanh thì quá trình trao đổi chất của cơ thể tốt hơn, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn do

đó tiêu tốn thức ăn giảm

Chambers J.R và cộng sự, 1984 [42] đ• xác định hệ số tương quan

di truyền giữa tăng khối lượng của cơ thể với tiêu tốn thức ăn, hệ số tương quan này thường rất cao từ: 0,5- 0,9 còn tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là thấp và âm (từ -0,2 đến -0,8)

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng còn phụ thuộc vào độ tuổi, đối với gà thịt thì giai đoạn đầu tiêu tốn thức ăn thấp hơn giai đoạn sau

Năng suất thịt biểu hiện bằng tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ các bộ phận,

thường được tính bằng tỷ lệ thịt xẻ, thịt đùi, thịt ngực và tỷ lệ mỡ bụng

Theo Ricard F.H và Rouvier, 1967 [55] ta thấy mối tương quan giữa khối lượng sống và khối lượng thịt xẻ là rất cao, thường là 0,9; còn giữa khối lượng sống và khối lượng mỡ bụng thấp hơn thường từ: 0,2- 0,5

Các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau Chambers J.R, 1990 [41] cho biết giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền về năng suất thịt xẻ, hay năng suất thịt đùi, thịt

ngực (phần thịt ăn được không có xương) Ngoài ra năng suất thịt còn phụ thuộc vào tính biệt và chế độ dinh dưỡng

* Chất lượng thịt

Thịt gia cầm có tính ngon miệng và mùi vị hấp dẫn, điều này liên quan đến đặc điểm sinh thái của tổ chức cơ và tính chất lý học của

nó như độ mềm, độ ướt Những sợi cơ của thịt gà rất mỏng và các

tổ chức liên kết giữa chúng nhỏ hơn thịt một số loài gia súc khác Theo Chambers J.R, 1990 [41] thì tốc độ sinh trưởng có tương quan

âm với tỷ lệ mỡ (-0,32) và khoáng tổng số (- 0,14) Chất lượng thịt phụ thuộc vào thành phần hoá học của thịt và có sự khác nhau giữa các dòng, giống, cùng một chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng, cùng một lứa tuổi và cùng một giống thì không có sự khác nhau về thành phần hoá học của thịt Prias (1984) đ• xác định được hệ số di truyền

về tỷ lệ thịt xẻ như: Độ ẩm là 0,38; protein là 0,47; mỡ là 0,48 và khoáng là 0,25 (dẫn Theo Chambers J.R, 1990 [41])

Ngoài ra việc đánh giá chất lượng thịt còn dựa theo độ béo, tròn của thân hình, mùi vị, độ ngọt, độ mềm và cứng của thịt Các khuyết tật như lở loét da, có chứa u và tổn thương, g•y lườn , cũng ảnh hưởng đến chất lượng thịt

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.1.2.4 Sức sống và khả năng kháng bệnh

Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm là yếu tố quan trọng giúp cho chăn nuôi đạt hiệu quả Tổn thất do dịch bệnh ở gia cầm là rất lớn nên cần phải có những biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa để giảm bớt tổn thất đó Khi đàn gà bị mắc bệnh tỷ lệ chết tăng cao, dễ lây nhiễm và mắc các bệnh khác, nhất là các bệnh truyền nhiễm Để điều trị và đề phòng các loại dịch bệnh phải cần rất nhiều kinh phí

để mua vacxin tiêm phòng, thuốc kháng sinh để chữa bệnh, cùng hàng loạt các biện pháp thú y khác

Marco A.S và cộng sự (1992) (dẫn Theo Hoàng Toàn Thắng, 1996 [31] cho biết: sức sống thể hiện ở thể chất và xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ở động vật có thể chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh

Theo Ngô Giản Luyện, 1994 [18] thì mối liên quan giữa chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu đối với sức sống và sản lượng trứng được Kotris và cộng sự tại viện thú y Matxcơva (1988) xác định: Số

lượng bạch cầu trong máu gà Hybro liên quan đến sức sống và sản lượng trứng, những gà mái có số lượng bạch cầu cao giai đoạn 60 -

110 ngày thì tương ứng với sức sống và sản lượng trứng cao

Theo Gavano J.S, 1990 [47] hệ số di truyền tỷ lệ chết ở gia cầm là 0,07; hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 0,25 Robertson và

Lerner, 1949 [56] xác định hệ số di truyền tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh thấp, phụ thuộc vào dòng, giống Giới tính và phụ thuộc nhiều nhất vào yếu tố nuôi dưỡng

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo thành (Ngô Giản Luyện, 1994) [18]

Số lượng tế bào trứng của gia cầm là rất lớn, Theo Hull (1978) [51] thì số lượng tế bào trứng của gà mái có thể lên tới hàng triệu Tuy nhiên mặc dù số lượng tế bào trứng lớn, nhưng trên thực tế, sức đẻ trứng thấp hơn nhiều so với số lượng tế bào trứng trong buồng

trứng

Người ta thường xác định số lượng trứng sau một chu kỳ đẻ trứng sinh học hoặc sau một năm đẻ trứng Chu kỳ đẻ trứng sinh học được tính từ khi đẻ quá trứng đầu tiên tới khi ngừng đẻ thay lông - đó là chu kỳ thứ nhất, chu kỳ thứ hai tính từ khi gia cầm bắt đầu đẻ lại (sau khi thay lông) tới khi ngừng đẻ và thay lông lần thứ hai Qua nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian hình thành trứng trong ống dẫn trứng dao động trong khoảng từ 23,5 - 24 giờ (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, 1998) [9]

Nếu gà mái có thời gian hình thành trứng trong ống dẫn trứng dưới

24 giờ thì có thể đẻ trứng liên tục đều đặn Trong trường hợp này, quá trình rụng trứng diễn ra sau khi đẻ trứng khoảng nửa giờ thì gà

đẻ sẽ không liên tục

Sức đẻ trứng phụ thuộc và liên quan trực tiếp với giống, dòng gia cầm, sự phát triển của cá thể, tuổi, độ béo, trạng thái sức khoẻ, thể trạng, sự thay đổi lông, tính ấp bóng, độ thành thục, cường độ và sức bền đẻ trứng, chu kỳ và nhịp độ đẻ trứng Đồng thời phụ thuộc vào các đặc trưng di truyền và chọn giống, thức ăn dinh dưỡng, nhiệt độ và các yếu tố tiểu khí hậu khác

Giống, dòng ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp như: Giống gà Leghorn có sản lượng 250 - 270 trứng /mái/năm, trong khi

đó gà Ri chỉ có 90 - 110 trứng/mái/năm Những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao sản hơn những dòng chưa chọn lọc kỹ

Ngoài ra các yếu tố khác như nhiệt độ, ánh sáng, cũng ảnh hưởng nhiều đến sản lượng trứng

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Từ trước đến nay các công trình nghiên cứu đều đi đến kết luận: gia cầm lai do sự phối hợp giữa nhiều dòng đ• xuất hiện ưu thế lai về sản lượng trứng khối lượng trứng, thời gian của chu trình đẻ trứng,

tỷ lệ có phôi, tỷ lệ nở, tỷ lệ nuôi sống với dòng thuần

1.1.2.6 Tỷ lệ ấp nở

Chất lượng trứng ấp ảnh hưởng rất lớn đến các chỉ tiêu tỷ lệ nở Một đàn giống gia cầm được nở ra từ những quả trứng có chất lượng không cao do các yếu tố như di truyền, ngoại cảnh không thuận lợi gây nên thì khó có thể là một đàn gia cầm khoẻ mạnh Vậy để nâng cao chất lượng trứng ấp và tỷ lệ ấp nở cần phải tác động đến các yếu

tố như:

* Chọn giống nhằm nâng cao tỷ lệ ấp nở

Chọn giống là biện pháp có nhiều hy vọng để cải tiến chất lượng trứng ấp Mục đích của nó là nâng cao tỷ lệ ấp nở của trứng gà tỷ lệ

gà con loại I Điều này còn có thể đạt được bằng cách chọn lọc trực tiếp trên cơ sở tính đến sản lượng trứng và năng suất thịt của đàn bố

mẹ

Một trong những chỉ tiêu chọn giống quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ

nở là khối lượng trứng

Theo Nguyễn Thanh Sơn (1993) thì ảnh hưởng của khối lượng

trứng ấp đến các chỉ tiêu ấp nở như sau:

Khối lượng trứng (g) Trứng có phôi(%) Trứng loại (%) Gà loại II (%) Tỷ lệ nở/

Ngoài khối lượng, các chỉ tiêu hình thái của trứng, độ biến dạng của

vỏ trứng ở các mức độ khác nhau đều có ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở

là chất lượng gà con

* Chăm sóc đàn gà bố mẹ

Chăm sóc nuôi dưỡng tối ưu cho đàn gà bố mẹ có ý nghĩa rất lớn trong việc cải thiện chất lượng trứng và nâng cao tỷ lệ ấp nở của

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trứng ấp Qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm người ta đ• xác định được rằng việc giảm tỷ lệ nở trong khoảng 25 % trường hợp liên quan tới sự khiếm khuyết trong chăm sóc nuôi dưỡng, trên 25 % phụ thuộc vào điều kiện bảo quản trứng, trên 7,5% do vi phạm chế

độ ấp và trên 5% do yếu tố di truyền Còn lại 37,5% trường hợp liên quan tới sự tổng hợp của nhiều yếu tố

Thường thì khi trong thức ăn của đàn gà bố mẹ thiếu một số chất cần thiết thì sẽ dẫn tới hậu quả chết phôi cao, tỷ lệ ấp nở thấp Điều

dễ nhận thấy nhất là khi trong khẩu phần thiếu Vitamin nhóm B, thiếu chất khoáng đa lượng và vi lượng thì không những sản xuất trứng bị giảm mà cả tỷ lệ ấp nở cũng giảm theo Cho đàn bố mẹ ăn đầy đủ số lượng và chất lượng thức ăn còn phải kết hợp với các điều kiện chăm sóc chu đáo không riêng với gà mái mà phải đối với cả

gà trống Tỷ lệ trống mái trong các giai đoạn độ tuổi cần được duy trì và bố trí hợp lý Khi đàn gà bố mẹ khoẻ mạnh, thì mới có được

tỷ lệ ấp nở cao, gà con nở ra mới khoẻ mạnh tức là trong các điều kiện được đảm bảo

Vì vậy trong quá trình nuôi dưỡng chăm sóc đàn bố mẹ cần định kỳ kiểm tra chất lượng tinh dịch của gà trống để kịp thời có biện pháp

xử lý thích hợp

Nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến chất lượng trứng ấp, ở nước ta vào mùa hè nhiệt độ không khí cao không những làm giảm năng suất mà còn làm giảm cả chất lượng ấp trứng Để khắc phục ảnh hưởng bất lợi đó, cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau

Trước tiên là điều chỉnh hàm lượng dinh dưỡng trong khẩu phần Nhiều tác giả đ• khuyến cáo rằng trong những ngày nhiệt độ thời tiết nóng bức cần tăng tỷ lệ protein thô trong khẩu phần từ 2 - 3% so với những ngày nhiệt độ bình thường Vì trong những ngày nhiệt độ cao, lượng thức ăn tiêu thụ của gia cầm bị giảm xuống, trong khi đó gia cầm lại tiêu tốn năng lượng đáng kể để thải nhiệt do đó năng lượng cho nhu cầu duy trì và sản xuất càng thiếu

* Điều kiện thu nhặt và vận chuyển trứng

Chất lượng trứng ấp còn phụ thuộc vào sự thu nhặt và vận chuyển trứng đến cơ sở ấp Thu nhặt và vận chuyển trứng sau khi đẻ ra là khâu cần được lưu ý vì trứng là một vật thể sống, tần suất thu nhặt

có ảnh hưởng lớn đến chất lượng trứng ấp, nếu như trứng khi đẻ ra lưu lại trong ổ lâu thì sự nhiễm bẩn và gây dập vỡ sẽ cao Qua kết quả khảo sát cho thấy trên 1cm2 vỏ trứng bẩn chứa tới 60 - 110

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ngàn vi khuẩn, trong đó trực khuẩn đường ruột chỉ biến động từ 0 -

15 Cho nên chế độ thu nhặt trứng cần phải phù hợp với đặc điểm sinh học của các loại gia cầm khác nhau

Hầu hết các cơ sở chăn nuôi gia cầm ở nước ta, việc vân chuyển trứng ấp từ chuồng đến nơi bảo quản thường được sử dụng xe kéo, hoặc xe vận tải nhỏ, chưa có xe chuyên dụng Vì vậy cần lưu ý là mức độ xóc của xe cũng có ảnh hưởng, làm giảm chất lượng trứng,

do xóc tạo chấn động gây cho buồng trứng bị lệch vị trí

Vận chuyển trứng khi đi xa cần phải bao gói cẩn thận, có thể dùng khay chuyên dụng để trứng cho vào lồng nhựa hoặc hộp giấy

coston Trứng được vận chuyển đến nơi nhận cần được dỡ ra và để trứng cố định từ 10 - 12 giờ trong phòng có nhiệt độ thích hợp,

không khí thoáng mát

* Điều kiện bảo quản trứng

Ngoài đảm bảo sự tối ưu các thông số về nhiệt độ, ẩm độ, trao đổi khí trong quá trình bảo quản trứng, người ta còn đưa ra nhiều biện pháp khác nhau tác động đến trứng trước khi đưa trứng vào ấp nhằm nâng cao chất lượng ấp nở của gia cầm

1.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt gia cầm

Mức sống của con người càng cao thì nhu cầu tiêu thụ thịt càng lớn

và những sản phẩm thịt chất lượng cao (ít mỡ giàu protein) đòi hỏi ngày càng nhiều Thịt gia cầm là một trong những loại thịt có thể đáp ứng được yêu cầu này Nâng cao năng suất thịt và cải thiện chất lượng thịt là mục tiêu phấn đấu không ngừng của các nhà chăn nuôi

1.1.3.1 Những yêu cầu đối với chất lượng thịt

Khi gia cầm còn sống, cần đặc biệt chú ý đến sức khoẻ của chúng, tốc độ mọc lông, thời điểm thay lông đều ảnh hưởng đến chất lượng thịt Gia cầm mọc lông muộn đặc biệt là lông lưng, các chân lông ở dưới da làm giảm chất lượng thịt Sự biến dạng của xương ngực, xương chân và xương chậu đều làm cho chất lượng thịt không đạt yêu cầu Mỗi nước có sự đánh giá gia cầm sống khác nhau, chủ yếu người ta xét đến cấu trúc thân, khối lượng, phát triển của bộ lông Sự phát triển của cơ ngực và cơ dưới đùi có ý nghĩa lớn không chỉ đến số lượng mà cả đến chất lượng thịt

Sau khi giết thịt, việc đánh giá chất lượng thịt dựa vào các chỉ tiêu: Lườn không được nhô ra, hướng của lườn song song với trục của thân Da phải nhẵn, không rách, không có lông măng Thịt tươi, ngon, mịn, sáng, hàm lượng mỡ không quá cao Sự hao hụt nhiều

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hay ít sau khi mổ, sau khi bảo quản và sau khi chế biến phản ánh chất lượng thịt tốt hay không tốt Trong thịt có chứa hàm lượng

nước nhất định, điều đó sẽ làm tăng sự ngon miệng của thịt Các công trình nghiên cứu đ• chứng minh là độ ngon miệng phụ thuộc vào hàm lượng tuyệt đối của nước trong thịt Thịt có hàm lượng nước tuyệt đối cao do khả năng giữ nước kém nên mất nhiều nước làm giảm giá trị

Ngược lại, thịt có hàm lượng nước tuyệt đối thấp có khả năng giữ nước cao, thì loại thịt này chất lượng cao ăn ngon hơn

1.1.3.2 Các biện pháp cải thiện chất lượng thịt gia cầm

Để cải thiện chất lượng thịt gia cầm người ta d• sử dụng nhiều biện pháp khác nhau như: việc nghiên cứu chọn lọc lai tạo để tạo ra được các giống mới có chất lượng thịt cao, đặc điểm của các giống gia cầm quý hiếm, việc áp dụng phương thức chăn nuôi, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc, phương thức giết mổ và bảo quản, tất cả đều có tác động đến chất lượng thịt gia cầm

- Giống gia cầm: Đây là yếu tố rất quan trọng liên quan chặt chẽ đến chất lượng thịt, thông qua việc chọn lọc, nhân thuần qua nhiều thế

hệ, các nhà khoa học đ• chọn ra các giống gia cầm có chất lượng thịt có đặc thù riêng

Trong các loại gia cầm thì thịt gà và thịt gà tây có chất lượng dinh dưỡng tốt như: Thịt gà và thịt gà tây màu trắng (thịt thuỷ cầm có màu đỏ), cơ trắng có giá trị sinh học cao hơn cơ đỏ vì trong đó

không chỉ chứa nhiều protein, mà tỷ lệ giữa protein toàn phần và không toàn phần cũng như giữa các aixit amin đều tốt hơn Phần lớn các nhà nghiên cứu đều công nhận rằng: Các giống gia cầm địa

phương chăn nuôi tự nhiên như: Gà Ri, Gà thịt đen, Vịt cỏ, Ngỗng cỏ đều có chất lượng thịt tốt hơn so với các giống mới do con người tạo ra thông qua lai tạo Giữa chất lượng thịt và năng suất thịt

có mối quan hệ nghịch, thường các giống có năng suất cao thì cho chất lượng thịt kém Để giải quyết vấn đề này các nhà tạo giống đ• cho lai tạo giống gia cầm địa phương, có chất lượng thịt cao so với các giống cao sản, vừa giữ được chất lượng thịt vừa nâng cao năng suất chăn nuôi Ngoài yếu tố giống, vấn đề chăm sóc, quản lý nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng tới chất lượng thịt Rudlf và Frodshe đ•

nghiên cứu ảnh hưởng của các hàm lượng ngô khác nhau trong thức

ăn hỗn hợp đến kết quả vỗ béo vịt thấy rằng: Ngô có ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng cơ thể vịt khi vỗ béo Những lô được ăn thức ăn

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hỗn hợp có chứa 50% ngô trong khẩu phần sẽ có tỷ lệ lipit và vật chất khô cao hơn các lô có ít tỷ lệ ngô trong khẩu phần (nhỏ hơn 50% tỷ lệ ngô) Trong khi đó tỷ lệ pritein thì không thay đổi giữa các lô Ngoài ra ăn ngô còn nảh hưởng đến tỷ lệ mỡ bụng, nhưng ưu điểm của ngô là làm cho màu da và màu chân của gia cầm vàng hơn (dẫn theo Nguyễn Duy Hoan và cộng sự (1999)[10]

Thường thịt gà và thịt vịt có mùi khó chịu khi bảo quản lâu và trong thức ăn có chứa nhiều bột cá (lớn hơn 8%) Tuy nhiên mùi tanh cũng có ảnh hưởng không giống nhau trong các đàn và trong từng

cá thể Thức ăn có chứa nhiều Caroten làm cho da của da cầm trở lên vàng hơn

Vấn đề dinh dưỡng protein và năng lượng cho gia cầm, mối liên hệ của nó tới chất lượng thịt đ• thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả trong và ngoài nước, người ta đ• tìm thấy sự thay đổi đáng kể chất lượng dinh dưỡng và độ ngon miệng của thịt khi có sự thay đổi thành phần thức ăn hỗn hợp bằng việc bổ sung các axit amin tổng hợp Sử dụng năng lượng cho gia cầm liên quan chặt chẽ đến nhiệt

độ môi trường Trong điều kiện nhiệt độ môi trường cao năng suất

và chất lượng thịt gà broiler phụ thuộc một phần vào hàm lượng các chất dinh dưỡng trong khẩu phần Khẩu phần với hàm lượng năng lượng quá cao có thể sẽ ảnh hưởng đến quá trình điều hoà thân

nhiệt, hậu quả không tránh khỏi là giảm sự thích ứng của cơ thể với môi trường đặc biệt là môi trường có cả nhiệt độ và ẩm độ cao Gần đây, một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm là: chất lượng thịt gia cầm “Sạch’’ Điều này trước tiên phải được hiểu

là trong thịt gia cầm không tồn dư các loại kháng sinh và các loại kích thích tăng trọng Một số nhà khoa học khuyên rằng không nên

sử dụng kháng sinh trong thời gian nuôi gà broiler, đặc biệt không nên sử dụng kích thích tăng khả năng sinh trưởng và phát triển của gia cầm Hạn chế đến mức thấp nhất sử dụng kháng sinh Đối với kháng sinh, để tránh sự tồn dư trong thịt không nên sử dụng trước khi giết thịt 2 tuần và đúng liều quy định

Ngoài thức ăn thì các vấn đề khác như: phương thức nuôi, chăm sóc quản lý cũng có liên quan đến chất lượng thịt Gà nuôi chăn thả có chất lượng thịt tốt hơn, hàm lượng mỡ trong thịt ít hơn và có độ chắc cao hơn so với gà nuôi nhốt Vấn đề nuôi chăn thả không phải chỉ do gà vận động nhiều làm giảm tỷ lệ mỡ, thớ thịt chắc chắn mà còn liên quan đến việc gà có thể kiếm được các loại thức ăn đa dạng

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ở môi trường, gà được tiếp xúc với môi trường hoàn toàn tự nhiên

sẽ làm chất lượng thịt ngày càng tăng lên

Vấn đề chăm sóc quản lý mà cụ thể là cách đối xử với con vật trước lúc giết cũng có ảnh hưởng đến chất lượng thịt Một số tác giả

khẳng định rằng nếu làm cho con vật mệt mỏi quá mức khiến thịt trở nên nhạt nhẽo và làm tăng khả năng xâm nhập của vi sinh vật qua các màng ruột

Vận chuyển gia súc cũng liên quan đến chất lượng thịt Richter đ• xác định rằng: Các gia súc lớn sau một thời gian vận chuyển dài ngày có ít nước trong thịt hơn 0,5% so với các con vật chỉ bị vận chuyển trong một thời gian ngắn Do lượng glycogen dự trữ bị giảm

đi trong quá trình vận chuyển để giải phóng năng lượng và axit

lactic trong thịt cũng giảm theo, dần dần độ pH trong thịt cũng tăng lên làm giảm gía trị của thịt Các quá trình hoá học này không

những ảnh hưởng đến hình thức bên ngoài của thịt xẻ mà còn ảnh hưởng tới khả năng kết hợp của nước (dẫn theo Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn và Đoàn Xuân Trúc, 1999 [10]) + Vấn đề an toàn thực phẩm: ngày càng trở nên quan trọng, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ ngày càng có nhiều loại hoá chất vi sinh vật, thuốc và chất kháng sinh được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm

Trước đây người ta quan tâm về an toàn hầu như tập trung về những

vi sinh vật gây bệnh, vì thịt là môi trường rất tốt cho vi sinh vật hoạt động và phát triển Tuy nhiên vi khuẩn gây độc cho lương thực và thực phẩm không phát triển được trong nhiệt độ lạnh (dưới 400) Hơn nữa vi khuẩn phân huỷ có trong thịt tươi không gây bệnh cho gia cầm nhưng vẫn phát triển được trong nhiệt độ lạnh và nói chung vẫn làm cho lương thực và thực phẩm giảm giá trị Như vậy, vi

khuẩn phân huỷ có trong thịt tươi thường làm cho thịt thay đổi trước khi những vi sinh vật gây bệnh này đạt tới số lượng đủ để trở thành

có hại Một trong những vi khuẩn gây bệnh thường có trong thịt tươi

là Salmonella, đây là loại rất dễ bị diệt khi nấu chín

Những loại sản phẩm thịt gà đ• qua chế biến cũng đem lại mối quan tâm khác về an toàn thực phẩm, bởi hầu hết các sản phẩm đó được

xử lý bằng muối, Natri hoặc đ• được xử lý qua nhiệt độ, nếu

không khống chế được nhiệt độ trong thời gian bảo quản thì các tác nhân gây bệnh vẫn có cơ hội để hoạt động và phát triển trở lại,

những sản phẩm không qua xử lý nhiệt hoặc nấu chín và đóng gói

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trong bao bì thì bảo quản ở nhiệt độ lạnh là vô cùng quan trọng để đảm bảo an toàn thực phẩm

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trong phát triển chăn nuôi thì chăn nuôi gia cầm có rất nhiều thuận lợi hơn các loại gia súc khác Theo Bessei (1987) [5] thì một con gà mái nặng 3kg một năm có thể sản xuất ra 300kg thịt Cùng với

những tiến bộ về di truyền, ngành chăn nuôi gia cầm đ• có những bước tiến vượt bậc Nhờ đó mà các kết quả nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật được áp dụng và sản xuất mà năng suất và chất lượng thịt ở các nước trên thế giới không ngừng tăng lên

Để đảm bảo về mặt chất lượng thịt, hiện nay các nước trên thế giới đang chú ý đến thịt gà sạch, chất lượng cao nuôi theo công thức bán công nghiệp và thả vườn (Free - range Chicken hay còn gọi là

Farmyard) Gà được sử dụng thức ăn đặc biệt để sản phẩm thịt

không còn tồn dư những chất bất lợi cho sức khoẻ người tiêu dùng Nước ta thường hay gọi là gà nông trại hay gà thả vườn chất lượng cao, nhiều nước gọi là gà Label Rouge

Theo tiêu chuẩn của Châu Âu, có 3 điều kiện cơ bản mang tính chất bắt buộc đối với gà “Label Rouge’’ đó là:

- Sử dụng tổ hợp lai gà lông màu có tốc độ sinh trưởng chậm

- Phải được nuôi thả tự do ngoài ruộng đồng

- Chỉ được sử dụng thức ăn có nguồn gốc thực vật, không được bổ sung mỡ hoặc sản phẩm có nguồn gốc động vật, không sử dụng chất kích thích tăng trọng, kháng sinh và các nguyên liệu có tồn dư như thuốc trừ sâu, hoá chất, kháng sinh

Ngoài ra, gà chất lượng cao có những đặc điểm nổi bật khác như:

- Khả năng thích nghi cao, kháng bệnh tốt, ít bị ảnh hưởng với các Streess nên tỷ lệ nuôi sống cao

- Khả năng cho thịt tốt Do có tốc độ sinh trưỏng chậm hơn so với loại gà công nghiệp (Broiler) nên thường nuôi kéo dài tới 180 - 200 ngày, do vậy khi giết mổ, gà đ• thành thục hơn lại được vận động nhiều nên thịt gà chắc, ít mỡ, hương vị hấp dẫn, ngon hơn so với gà công nghiệp

Thịt gà Label Rouge thuộc loại thịt sạch và chất lượng cao hơn so với các loại thịt gà khác

Một đặc điểm rất quan trọng khác: Giá thịt gà “Label Rouge”

thường cao hơn so với thịt gà công nghiệp (Broiler)

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

* Chăn nuôi gà chất lượng cao ở Nhật Bản

- Theo tài liệu của Turo Komai (dẫn theo Đoàn Xuân Trúc, 1999) [36] thịt gà chất lượng cao nay chiếm tới 16% thị trường thịt gà ở Nhật và đang tăng trưởng ở mức 10% hàng năm

- Nhật cũng là nước nhập khẩu nhiều thịt gà Năm 1996 nhập tới 547.000 tấn sau (Liên Bang Nga và Hồng Kông); chủ yếu nhập từ

Mỹ, Trung Quốc, Brazin, Thái Lan

Là một quốc gia phát triển cao, mức thu nhập GDP bình quân đầu người cao nhất thế giới 34.630 USD/ người (1994) và 40.940

USD/người (1996) Đời sống người dân Nhật rất cao nên nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng và đòi hỏi về thực phẩm có chất lượng cao, sạch, tươi và mang hương vị tự nhiên ngày càng tăng

Xu hướng tiêu dùng thịt gà của người Nhật là giảm dần thịt gà dò (Broiler) nuôi công nghiệp, do thịt nh•o, hương vị kém hấp dẫn, còn tồn dư thuốc trong thịt và tăng dần thịt gà chất lượng cao Năm

1997 sản lượng thịt gà chất lượng cao của Nhật là 224 ngàn tấn (đ•

mổ sẵn) tăng 11% so với năm 1996 và chiếm 16% tổng số lượng thịt

gà tiêu thụ Thịt gà chất lượng cao một phần nhỏ được dùng ở các nhà hàng cao cấp, còn chủ yếu là được “nấu tại nhà” vì người tiêu dùng muốn sử dụng loại thịt tươi, ngon, an toàn, hương vị tự nhiên hơn

Năm 1995, tổng số gà nuôi lấy thịt ở Nhật là gần 611,85 triệu con, trong đó gà chất lượng cao là 129,85 triệu con (bằng 22,2%) Gà chất lượng cao được nuôi trong thời gian dài hơn

* Vấn đề bảo tồn các ngồn gen vật nuôi quý hiếm

Việc bảo vệ các loại thú nuôi đ• được các nhà khoa học của nhiều quốc gia chú ý và đ• có nhiều hoạt động tích cực nhằm bảo vệ các loại động vật hoang quý hiếm khỏi sự tuyệt chủng Nhiều khu bảo tồn quy mô lớn đ• được thiết lập ở nhiều vùng sinh thái khác nhau tại nhiều quốc gia trên các châu lục, nhiều loài thú có nguy cơ tuyệt chủng đ• được bảo hộ, nhiều loài đ• bị biến mất trong hoang d•

được khôi phục và đưa trở lại môi trường của chúng Hiệp định về cấm buôn bán động vật quý hiếm đ• được ký kết, sách đỏ (Red

book) đ• được xuất bản do Uỷ ban về các loài thú sống sót (Species survival commission của IUNC)

Sự tăng nhanh về dân số dẫn đến nhu cầu về thực phẩm cũng tăng, các thành tựu về công tác giống dần lấn át trong chăn nuôi động vật nông nghiệp, những nhà nghiên cứu về chăn nuôi phần lớn chỉ

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

giành sự quan tâm cho một số giống, loài cải tiến có giá trị kinh tế cao, vô tình đ• l•ng quên những giống địa phương giá trị kinh tế thấp đây là nguyên nhân dẫn đến một số giống vật nuôi truyền

thống của một số địa phương đ• dần biến mất và có nguy cơ tuyệt chủng

Từ những năm 1970 chương trình bảo vệ các giống vật nuôi quý hiếm được bắt đầu tại nước Anh với sự ra đời của tổ chức RBST (Rare Breeds Survival Trust) Theo Lê Viết Ly, 1994 [19] cho biết:

Tổ chức này hỗ trợ tài chính cho các công viên nuôi các loại động vật hiếm Sau đó là hoạt động của Hội chăn nuôi Châu Âu Qua điều tra đ• thống kê được 240 giống gia súc có nguy cơ biến mất Tài nguyên về các giống gia cầm đ• được tiến hành điều tra sau đó tại Canada

Từ giữa năm 1980 trở lại đây ngày càng có nhiều nhà khoa học, các

tổ chức quan tâm và hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn nguồn gen vật nuôi Nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ ra đời ở các nước, các khu vực dẫn đến sự ra đời của tổ chức quốc tế các giống hiếm RBI (Rare Breeds International) liên kết bảo tồn nguồn gen vật nuôi các Quốc gia Hàng loạt Hội thảo Quốc tế về bảo tồn giống động vật được tổ chức ở nhiều nơi, thống nhất chương trình hành động và đặt

ra mục tiêu nhiệm vụ cho chương trình bảo tồn nguồn gen động vật Mặt trái của sự phát triển nền sản xuất công nghiệp của thế kỷ XX đ• lộ rõ, nhân loại có những bước đi, những hoạt động tích cực

nhằm hạn chế sự suy thoái, huỷ hoại môi trường do nền sản xuất công nghiệp gây ra Như vậy việc ra đời RBI, việc thiết lập ngân hàng di truyền động vật ở Hanover cho các nước Châu Âu, ngân hàng tư liệu tại Rome cho khu vực các nước đang phát triển do FAO thành lập và nhiều hoạt động khác Bên cạnh đó khuynh hướng

muốn trở lại thiên nhiên, một bầu không khí trong lành không ô nhiễm, nước uống sạch, da sạch, thịt sạch đang là mục đích phấn đấu của các Quốc gia trên thế giới Vấn đề thịt sạch được hiểu là không có các chất tồn dư có hại cho sức khoẻ con người

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

* Tình hình phát triển chăn nuôi gà ở nước ta

Nghề chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đ• có từ lâu đời nhưng thường với quy mô nhỏ, mỗi gia đình chỉ nuôi vài con đến vài chục con chăn thả tự do Bên cạnh những giống gia cầm truyền thống như gà

Ri, được nuôi ở khắp mọi miền do dễ nuôi, sức chống chịu bệnh tật

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cao, khả năng kiếm mồi tốt, chịu kham khổ, thịt thơm ngon ở một

số vùng còn khá nhiều giống gà khác nhau như: gà Đông Tảo, gà Mía, gà Tàu Vàng, gà Tre gà Hồ, gà ác

Ngày nay, nhiều hộ gia đình đ• xác định nghề chăn nuôi gà làm nghề chính để kiếm sống và làm giàu, nhiều hộ đ• mạnh dạn đầu tư xây dựng thành các khu trang trại với quy mô khá lớn có từ: 3.000 - 5.000 con, một số gia đình còn nuôi gia cầm giống bố mẹ và có trạm ấp nhân tạo để nhân giống

Khi có các bộ giống gà với các dòng thuần chủng và ông bà cao sản được tiếp tục nhập vào nước ta như: Hybro HV85 (1985), Goldline

54 (1990), BE (1993) thì hệ thống giống gà công nghiệp nước ta đ• vươn lên ngang tầm với các nước trong khu vực

Thời kỳ những năm 1991- 1996 là giai đoạn nước ta phát triển chăn nuôi gà công nghiệp có hiệu quả nhất, ở thời kỳ này có nhiều giống

gà cao sản trên thế giới cũng đ• được nhập vào nước ta như: giống

gà thịt Hubbard, Arbor Acres (AA), Avian ở miền Nam và gà AA, ISA, Lohmann, Ross ở miền Bắc; các giống chuyên trứng, chuyên thịt cao sản nay đ• tạo bước nhảy vọt về các chỉ tiêu năng suất trong chăn nuôi gà công nghiệp

Việc không ngừng nghiên cứu lựa chọn các tổ hợp lai tối ưu giữa các giống trong điều kiện nước ta, đặc biệt là việc nghiên cứu xác định tiêu chuẩn dinh dưỡng và phương pháp cho ăn đối với các giống gà nhập nội đ• đạt được những tiến bộ kỹ thuật có giá thị khoa học và thực tiễn

Hiện nay nước ta chăn nuôi gà với các giống địa phương vẫn chiếm

tỷ lệ khá cao (trên 70%), các giống này chăn nuôi theo phương thức thả vườn cũng không ngừng phát triển và hiệu quả cũng ngày càng tăng vì cũng đ• được đầu tư để bảo tồn quỹ gen nhằm chọn lọc để nâng cao năng suất, việc sử dụng kết hợp thức ăn công nghiệp với thức ăn tự chế biến đảm bảo các nhu cầu về dinh dưỡng và vệ sinh thú y, sử dụng vacxin phòng bệnh đ• được người dân quan tâm nên đ• nâng cao đáng kể hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi hộ gia đình Theo số liệu thống kê năm 1997, đàn gà nước ta phân bố không đều tập trung chủ yếu ở phía bắc (chiếm 60%), trong đó chủ yếu vùng núi và trung du phía Bắc (27,5%), vùng đồng bằng sông Hồng

(24,7%) Đàn gà phía nam (chiếm 34%) tập trung chủ yếu ở đồng băng sông Cửu Long (15,6%) (Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc, 1999) [10]

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

* Tình hình phát triển chăn nuôi gà thả vườn ở nước ta

Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta ngày càng phát triển với tốc độ phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, có tới trên 70% là gà nuôi tự nhiên, chủ yếu là các giống địa phương có hương vị thơm ngon như: gà Ri, gà Mía, gà Tre, gà Hồ,

gà Đông Tảo, gà ác, gà Đen

Chăn nuôi gà thả vườn mang tính tận dụng, quy mô nhỏ, tuy nhiên nếu giải quyết được vấn đề tiêu thụ sản phẩm ổn định thì tiềm năng phát triển chăn nuôi gà thả vườn chất lượng cao sẽ có điều kiện phát triển

* Tình hình nghiên cứu và bảo tồn nguồn gen các giống gà trong

nước

Chúng ta tự hào rằng nước ta đ• có ngành chăn nuôi phát triển rất sớm, lại là một trong những cái nôi thuần hoá gia súc đầu tiên Trải qua hàng ngàn năm dưới tác động của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, các giống gia súc gia cầm đ• thích nghi với điều kiện sinh thái, chúng có các đặc điểm di truyền quý giá đó là tận dụng thức ăn thô nghèo dinh dưỡng, tính chống chịu các bệnh tật tốt, một số

giống có khả năng sinh sản cao và chất lượng thịt ngon, có giá trị dược liệu

Với chương trình Quốc gia bảo tồn nguồn gen động vật nuôi Việt Nam, chúng ta đ• thu thập được số liệu về giống vật nuôi truyền thống được nuôi ở các vùng miền, trong đó có nhiều giống gia cầm

số liệu đ• được đưa vào danh sách mục các giống Quốc gia và Quốc

tế cụ thể như:

Giống gà Ri: Địa bàn phân bố rộng khắp cả nước, đặc biệt là đồng bằng Bắc bộ, miền Đông Nam Bộ, đây là giống gà có tầm vóc nhỏ, tăng khối lượng chậm; Gà mái có màu vàng rơm, chân vàng, đầu nhỏ, mào đơn; Gà trống có màu đỏ tía, cánh và đuôi có lông đen, dáng chắc khoẻ, mào đơn ở tuổi trưởng thành con trống nặng từ: 1,5 - 2 kg, con mái nặng từ 1,1- 1,6 kg; sản lượng trứng từ: 70- 90 quả/mái/năm, khối lượng trứng từ 45 - 50g; Gà Ri đẻ quả trứng đầu tiên lúc 113 ngày tuổi lúc khối lượng mái 1.058, tỷ lệ đẻ bình quân

từ 19 - 32 tuần tuổi là 36,69% đạt 36,34 quả/mái; ở 18 tuần tuổi gà trống nặng 1.675,56g, gà mái nặng 1.247,33g

Theo tác giả Hoài Tao cho biết: Chất lượng trứng gà Ri như sau:

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Khối lượng trứng: 45,41g; Lòng đỏ: 15,48g; Tỷ lệ lòng đỏ: 34,09%;

Tỷ lệ lòng trắng 57,39% Đơn vị Haugh; 95,14; Chỉ số lòng đỏ 0,43 + 0,03; Chỉ số lòng trắng 0,096 + 0,03

Giống gà Hồ: Phân bố chủ yếu tại địa bàn Thuận Thành - Bắc Ninh, đây là giống người địa phương thường nuôi theo hướng làm cảnh,

có đặc điểm ngoại hình: Tầm vóc to, con trống nặng từ 4 - 5 kg, con mái nặng từ 3 - 4 kg, chân có 3 hàng vảy màu trắng, mào nụ, lá tai

đỏ, da dày màu vàng đỏ, lông có nhiều màu: đất thô, xám, đỏ thẫm Sản lượng trứng từ 40 - 50 quả/mái/năm, khối lượng trứng từ 55 - 60g Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, 1998 [19] cho biết: Khối lượng gà Hồ trưởng thành (24 - 36 tuần tuổi) trống 4.570 + 121,12g; mái 3.250 + 164,58g, gà mái đẻ 3 - 4 lứa, mỗi lứa 10 - 15 trứng, sản lượng trứng 40 - 60 quả/mái/năm, tỷ lệ nở /tổng trứng ấp

60 ngày tuổi 85 - 90% Sản lượng Trứng: 52 - 58g/quả, tuổi đẻ quả trứng đầu: 210 - 215 ngày, tỷ lệ có phôi: 80 - 90%, tỷ lệ nở/ tổng trứng ấp: 60 - 70% Theo Bùi Đức Lũng, Trần Long, 1994 [15]: trong điều kiện nuôi nhốt, ăn tự do gà Mía có tỷ lệ nuôi sống rất cao: 97 - 98%, khối lượng trưởng thành lúc 24 tuần tuổi: mái 2778g, trống 3675g, cao gấp 1,5 lần gà Tam Hoàng và 2 lần so với gà Ri Điểm uốn sinh trưởng xảy ra lúc 14 tuần tuổi khi gà trống đạt

2175g, mái 1840g, tiêu tốn thức ăn đến 15 tuần tuổi: Trống 2,63 kg/kg tăng trọng, mái 2,7 kg/kg tăng trọng Tuổi đẻ quả trứng đầu:

174 ngày Sản lượng trứng 6 tháng đẻ đầu đạt 55 quả/ mái, tỷ lệ phôi /trứng ấp đạt 91,5%, nở/phôi 90,81%, nở/ tổng trứng ấp 83,12% Giống gà Đông Tảo: Có nguồn gốc ở Khoái Châu - Hải Dương Bùi Đức Lũng, Trần Long, 1994 [15] cho biết: Gà trống chủ yếu là màu đen và màu mận chín, ở chân và đuôi lông đen có ánh xanh, lông tơ phía trong có màu trắng Mái màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt, phần lớn có màu nâu đậm ở đầu, cổ cánh và đuôi, mào khép kém phát

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

triển Khối lượng trưởng thành: Trống 3,8 - 4 kg, mai 3 - 3,5 kg Khối lượng bình quân trống mái lúc 60 ngày tuổi đạt 1.700 -

1.800g/con, lúc 140 ngày (trưởng thành) trống 3.200 - 3.400g/con, mái 2.300 - 3.000g/con, tỷ lệ nuôi sống lúc 60 ngày tuổi là 80 -

90%, Tuổi đẻ trứng đầu: 200 - 215 ngày, tỷ lệ trứng có phôi 85 - 90%, tỷ lệ trứng nở/trứng ấp 60 - 70 %, cùng với gà Mía, gà Đông Tảo hiện nay đang được đưa vào chương trình nuôi giữ giống và có tác động các biện pháp khoa học kỹ thuật di truyền giống nhằm chọn lọc nhân thuần phát triển số lượng

Giống gà ác Việt Nam: Đây là một giống gà có tầm vóc nhỏ bé được nuôi lâu đời ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, hiện nay đ• được

di thực ra miền Trung và miền Bắc, gà ác thường được sử dụng như một vị thuốc bổ (hầm với thuốc bắc) Kết quả nghiên cứu của các tác giả: Trần Công Xuân và cộng sự (1997) [40] cho biết: Đặc điểm ngoại hình của gà ác như sau: tầm vóc nhỏ, lông xước tơ màu trắng tuyền như da, thịt xương, mỏ và chân đen, con trống có mào cờ nhỏ,

đỏ nhạt tích màu xanh, chân có lông và có 5 ngón (ngũ chảo) một số

ít không có lông chân và chỉ có bốn ngón Sức sống từ 1-56 ngày tuổi, tỷ lệ nuôi sống 88,4% sau đó ổn định Sinh trưởng gá ác có khối lượng nhỏ, lúc 16 tuần tuổi con trống đạt 724,62g, con mái đạt 565,05g Chất lượng thịt các loại axit amin trong thịt gà ác cao hơn

gà Ri Sinh sản tuổi đẻ trứng đầu của quần thể là121 ngày tuổi, cá thể là 113 ngày Sản lượng trứng đẻ trong năm đầu từ 23 - 38 tuần tuổi, ở quần thể 91,29 quả, cá thể là 95,3 quả, trứng có khối lượng nhỏ 29,56g, tỷ lệ phôi 94,5%, tỷ lệ nở bằng máy ấp 63,655%, ấp tự nhiên 80-90%

Ngoài ra các giống gà nội khác cũng đ• được điều tra nghiên cứu và

có kế hoạch khôi phục và phát triển số lượng như gà hồ, gà tre, gà Mía

Đặc điểm chung của các giống gà địa phương mà các tác giả đều có nhận định chung đó là: Sự thích nghi cao với điều kiện địa phương, chịu kham khổ, sử dụng tốt thức ăn nghèo dinh dưỡng, khả năng kiếm ăn tốt, tuy nhiên đặc điển nổi bật chưa được chọn lọc định hướng, do quá trình chăn thả quảng canh nên thường bị pha tạp

nhiều, sức khoẻ kém, sản lượng trứng/mái/năm thấp 140-150

quả/năm, sinh trưởng chậm Do những yếu kém về tính trạng sản xuất nên hiện nay đang bị thu hẹp về địa bàn và số lượng đầu con Các giống gà địa phương đặc biệt thích hợp với chăn thả bán thâm

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

canh và quảng canh Các giống gà nội cần sớm được quy hoạch, tác động khoa học kỹ thuật để chọn lọc để nâng cao sức sản xuất

Vài nét về giống gà Chọi

Màu sắc của lông, da: Nhìn chung màu sắc lông của gà Chọi đa dạng, có thể thuần màu hay đa màu trên một cá thể Thông thường màu sắc lông phụ thuộc vào màu lông của con trống là chính, màu lông giống con trống chiếm tỉ lệ 50 - 60%

* Màu lông

+ Gà có lông đen tuyền, gọi là gà ô, loại này chiếm tỉ lệ cao nhất

+ Gà có lông đen, lông m• màu đỏ gọi là gà Tía

+ Gà có màu lông xám tro gọi là gà Xám

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Gà có màu lông giống lông chim ó gọi là gà ó

+ Gà có màu lông trắng toàn thân, gọi là gà Nhạn

+ Gà có lông 5 màu (đỏ, đen, vàng, trắng, xám), gọi là gà Ngũ sắc

Ngoài ra, còn có một số có màu lông pha tạp như gà đen có chấm trắng

* Màu mỏ: Màu mỏ cũng có màu sắc đa dạng, thường thấy mỏ có màu trắng ngà, màu vàng, màu đen, màu xanh lợt (xanh đọt chuối)

* Màu chân: Lớp biểu bì hoá sừng (vảy) ở bàn chân và các ngón chân gà Chọi cũng có màu sắc không giống nhau giữa các cá thể Thậm chí, cùng một cá thể song màu sắc hai chân lại khác nhau

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Thường thấy gà hai chân đen, vàng, xanh lợt, trắng, vàng đốm nâu, một chân vàng một chân đen hoặc trắng Màu sắc cựa gà thường giống màu chân, song có con có hai cựa với hai màu khác nhau mặc

dù hai chân lại cùng màu

* Màu da: Phần da đầu, cổ, ức, đùi và hông có màu đỏ và dày Các phần khác như: lưng, nách, cánh lại có màu vàng hoặc trắng và da mỏng

Tầm vóc: Gà Chọi có tầm vóc to lớn, chân cao, xương ống chân to, ngón dài và khoẻ, bàn chân (ống chân) gà trưởng thành có con dài tới 15 cm, song thường thấy loại 10 - 13 cm Ngực rộng với cơ ngực nổi rõ Đùi to, dài và cơ phát triển Tuy nhiên bụng lại rất gọn,

khoảng cách giữa hai mỏm xương chậu hẹp (1.5 - 3.0 cm ở gà

trống) Phao câu và lông đuôi phát triển (lông đuôi có thể dài tới 30 cm) Khối lượng cơ thể trưởng thành của gà trống có thể đạt 5.0 kg, song thường gặp loại gà nặng từ 3.5 - 4.5 kg Khối lượng cơ thể trưởng thành của gà mái đạt 3.5 - 4.0 kg Tuy nhiên, trong quá trình nuôi dưỡng, gà ch?i cú ớt lụng, lụng to, dài, c?ng và dũn (r?t d? góy) Cỏc ph?n d?u, c?, ng?c, dựi r?t thua lụng nhung hai cỏnh cú b? lụng phỏt tri?n, giỳp gà cú kh? nang c?t cao mỡnh d? tung dũn

dỏ

- M?t gà g?n gàng, thu?ng khụng cú tớch,con mái tai ớt phỏt tri?n, con trống tai phát triển nhưng đồi với những con dung để chọi (đá gà) người ta thương cắt bớt tai của nó đi

- Mỏ nh? và th?p, cú 3 lo?i m?ng (lỏ, dõu, c?c) Theo những người chơi gà chuyên nghiệp thì mồm gà Chọi được chia ra mồm thường, mồm lẹ nhưng yếu; mỏ quắp, mồm nhanh kém bắt, dễ tuột, mồm tốt nhất vững vàng mỏ độc quắp chắc

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- M?t thu?ng nh? và sõu, mớ m?t d?y, màu m?t da d?ng: m?t bụng (màu den pha tr?ng), m?t h?t cau (màu nõu cú tia phỏt t? d?ng t? ra xung quanh), cú con m?t màu d?ng thau ho?c m?t den, xanh Trong vài năm trở lại đây thịt gà Chọi được rất nhiều người thích ăn, nhất

là thịt gà Chọi nấu lẩu ăn với rau ngải cứu Do thịt gà Chọi thơm ngon, chắc thịt, giàu dinh dưỡng, tỷ lệ thịt nạc cao, vậy có thể nói thịt gà Chọi có cả giá chị về dinh dưỡng và giá trị về kinh tế Song các chỉ tiêu sản xuất của gà Chọi chưa được một cơ quan hay đơn vị nghiên cứu nào khảo sát, theo dõi Những đặc điểm sau tạo thể hiện đặc tính chọi của giống gà này cổ vươn cao, chân dài, ngực nở, mỏ qoắp, mặt nì

Chương 2

đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng, điạ điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là gà Chọi nuôi tại hộ gia đình trên địa bàn huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

+ Địa điểm: Một số hộ gia đình nuôi gà Chọi trong địa bàn huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang

+ Thời gian: Từ 15 tháng 10 năm 2008 đến 30 tháng 12 năm 2009 2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra đánh giá về số lượng, cơ cấu, khả năng sản xuất của gà Chọi nuôi tại nông hộ, khả năng sinh trưởng, khả năng sinh sản

- Xác định năng suất và chất lượng thịt gà Chọi tại 120, 140, 160 ngày tuổi nuôi trong nông hộ

- Xác định khả năng sinh sản của gà Chọi nuôi trong nông hộ

- Khảo sát đánh giá chất lượng trứng của gà Chọi

- Nuôi khảo sát để đánh giá khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà Chọi khi có sự tác động của các biện pháp kỹ thuật

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

* Điều tra:

Điều tra thông qua phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi, quan sát, chụp ảnh đặc điểm ngoại hình của gà Chọi

Ngày đăng: 20/12/2014, 23:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Tình hình nuôi gàChọitheo xóm tại 3 x• điều tra - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của gà chọi nuôi tại huyện tân yên - tỉnh bắc giang
Bảng 3.3. Tình hình nuôi gàChọitheo xóm tại 3 x• điều tra (Trang 45)
Bảng 3.11. Sinh trưởng tích luỹ của gà Chọi (g) - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của gà chọi nuôi tại huyện tân yên - tỉnh bắc giang
Bảng 3.11. Sinh trưởng tích luỹ của gà Chọi (g) (Trang 54)
Hình 3.1: Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà Chọi nuôi tại - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của gà chọi nuôi tại huyện tân yên - tỉnh bắc giang
Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà Chọi nuôi tại (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w