1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên

130 456 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn i ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ---0---ĐỖ THỊ THANH VÂN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH H

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-0 -ĐỖ THỊ THANH VÂN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN CỦA ONG ĐỰC VÀ ONG THỢ APIS CERANA

NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN DUY HOAN

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu

và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ ở một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đƣợc cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ

Đỗ Thị Thanh Vân

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii

LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Sau Đại học

và thầy giáo hướng dẫn tôi đã hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, các thầy cô trong khoa Sau Đại học, khoa Chăn nuôi - thú y, Viện khoa học sự sống, Công ty Ong Trung ương và các ban ngành có liên quan tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Duy Hoan

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, bạn bè đã tạo các điều kiện về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành bản luận văn này

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2010

TÁC GIẢ

Đỗ Thị Thanh Vân

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ vii

DANH MỤC CÁC ẢNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới và ở Việt Nam 4

1.1.1 Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới 4

1.1.2 Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong ở Việt Nam 8

1.2 Một số nghiên cứu về hình thái, cấu tạo cơ thể ong mật trong và ngoài nước 10

1.2.1 Nghiên cứu về hình thái ong mật trên thế giới 10

1.2.1.1 Lịch sử hệ thống học và phân loại ong mật 10

1.2.1.2 Hình thái và phân loại ong mật 10

1.2.1.3 Phân bố và vị trí phân loại của ong Apis cerana 12

1.2.2 Nghiên cứu hình thái ong Apis cerana ở trong nước 12

1.2.3 Đặc điểm hình thái, cấu tạo cơ thể ong Apis cerana 13

1.2.3.1 Hình thái cơ thể 13

1.2.3.2 Các cơ quan bên trong cơ thể ong 14

1.3 Một số đặc điểm sinh vật học của ong nội Apis cerana 15

1.3.1 Ong chúa 16

1.3.2 Ong đực 20

1.3.3 Ong thợ 25

1.3.4 Một số hoạt động chủ yếu của đàn ong 30

1.3.5 Mối quan hệ giữa các đặc điểm sinh học với năng suất, chất lượng mật ong 32

1.4 Cơ sở khoa học của chọn giống ong mật 35

1.4.1 Ong đực đơn bội, ong đực lưỡng bội và vấn đề cận huyết của đàn ong 35

1.4.2 Cơ sở di truyền 36

1.4.3 Kiểm soát giao phối và ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo 37

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv

1.5 Điều kiện tự nhiên và tình hình nuôi ong trên địa bàn thành phố Thái

Nguyên 39

1.5.1 Điều kiện tự nhiên 39

1.5.2 Các cây hoa nguồn mật chính ở thành phố Thái Nguyên 40

1.5.3 Tình hình nuôi ong trên địa bàn thành phố Thái Nguyên 41

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 43

2.2 Nội dung nghiên cứu 43

2.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 44

2.4 Phương pháp xử lý số liệu 47

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48

3.1 Ảnh hưởng của lượng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến sự hình thành ong đực 48

3.1.1 Ảnh hưởng của lượng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến sự hình thành ong đực vụ Xuân - Hè 48

3.1.2 Ảnh hưởng của lượng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến sự hình thành ong đực vụ Thu - Đông 49

3.2 Ảnh hưởng của mùa vụ đến sự hình thành ong đực 52

3.3 Kích thước và thể tích lỗ tổ ong đực 55

3.4 Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong đực 56

3.5 Tỷ lệ nuôi ấu trùng thành công của ong đực 58

3.6 Khối lượng ong đực khi mới nở và trưởng thành 60

3.7 Số lượng tinh trùng của ong đực 62

3.8 Tuổi thọ của ong đực 63

3.9 Kích thước và thể tích lỗ tổ ong thợ 65

3.10 Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong thợ 67

3.11 Khối lượng ong thợ 69

3.12 Thời gian ong thợ đẻ trứng 70

3.13 So sánh một số đặc điểm giữa trứng của ong thợ và trứng của ong chúa 72

3.14 Tuổi thọ của ong thợ 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Kiến nghị 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

I Tài liệu tiếng Việt 79

II Tài liệu tiếng Anh 81

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

A cerana : Apis cerana

A mellifera: Apis mellifera

CNĐVQH : Chăn nuôi Động vật Quý hiếm ĐHNL : Đại học Nông Lâm

cs : Cộng sự PTNT : Phát triển nông thôn

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1.1: Tóm tắt các giai đoạn phát dục của ong A.cerana 27

Bảng 1.2: Sự phân công lao động theo lứa tuổi ong thợ 29

Bảng 3.1a: Ảnh hưởng của lượng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến sự hình thành ong đực vụ Xuân - Hè 48

Bảng 3.1b: Ảnh hưởng của lượng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến sự hình thành ong đực vụ Thu - Đông 50

Bảng 3.2: Ảnh hưởng của mùa vụ đến sự hình thành ong đực 52

Bảng 3.3: Kích thước và thể tích lỗ tổ ong đực 55

Bảng 3.4: Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong đực 57

Bảng 3.5: Tỷ lệ nuôi ấu trùng thành công của ong đực 59

Bảng 3.6: Khối lượng ong đực khi mới nở và trưởng thành 60

Bảng 3.7: Số lượng tinh trùng của ong đực 62

Bảng 3.8: Tuổi thọ của ong đực 64

Bảng 3.9: Kích thước và thể tích lỗ tổ ong thợ 65

Bảng 3.10: Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong thợ 67

Bảng 3.11: Khối lượng ong thợ khi mới nở và trưởng thành 69

Bảng 3.12: Thời gian ong thợ đẻ trứng sau khi tách ong chúa 71

Bảng 3.13: So sánh một số đặc điểm trứng ong thợ và trứng ong chúa 72

Bảng 3.14: Tuổi thọ của ong thợ 74

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

Trang Biểu đồ 3.1: Ảnh hưởng của lượng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến

sự hình thành ong đực 51

Đồ thị 3.1: Ảnh hưởng của mùa vụ đến sự hình thành ong đực 52

Biểu đồ 3.2: Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong đực 57

Biểu đồ 3.3: Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong thợ 68

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

viii

DANH MỤC CÁC ẢNH

Trang

Hình 1.1: Hình thái, cấu tạo cơ thể ong mật 13

Hình 1.2: Các cấp ong trong đàn 16

Hình 1.3: Di trùng ong 19

Hình 1.4: Ong thợ Apis cerana 25

Hình 1.5: Sự phát triển của các cấp ong 28

Hình 2.1: Cấu tạo buồng đếm Newbauer qua kính hiển vi 46

Hình 3.1: Đàn ong thí nghiệm 51

Hình 3.2: Tiến hành đo kích thước và thể tích lỗ tổ ong 56

Hình 3.3: Theo dõi, kiểm tra đàn ong thí nghiệm 60

Hình 3.4: Cân khối lượng ong thí nghiệm 62

Hình 3.5: Phân biệt vít nắp của ong thợ và ong đực 69

Hình 3.6: Phân biệt trứng ong thợ và trứng ong chúa 74

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, trải dài trên 15 vĩ độ nên thảm thực vật rất phong phú và đa dạng, bốn mùa hoa nở Đây là điều kiện tốt để nghề nuôi ong phát triển Chính vì vậy, nghề

nuôi ong đã có từ rất lâu đời ở nước ta

Hiện nay, cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam, trong những năm gần đây nghề nuôi ong có những bước phát triển tiến bộ, đã

và đang trở thành ngành sản xuất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn Việt Nam.

Ong nội Apis cerana là loài ong mật bản địa có ngòi đốt ở Việt Nam,

có thể quản lý, thuần hoá và đem lại giá trị kinh tế cao từ các sản phẩm của chúng như: mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, sáp ong và keo ong Đây là những sản phẩm sinh học độc đáo, có giá trị dinh dưỡng rất cao dùng để bồi dưỡng sức khoẻ cho con người, bài thuốc y học cổ truyền có giá trị chữa bệnh cao, là các nguyên liệu để chế biến các mỹ phẩm cao cấp và nhiều sản phẩm của ngành công nghiệp khác Ong mật ít bệnh hơn các giống vật nuôi khác, kỹ thuật tạo giống nhân đàn đơn giản Thực tế, từ một đàn ong nội địa trong một năm có thể cho từ 2 - 40 kg mật ong, 0,2 - 0,3 kg sữa chúa (Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008) [9]

Ngoài ra, con ong còn có vai trò hết sức quan trọng là thụ phấn chéo cho các cây trồng và cây tự nhiên, nhờ đó mà năng suất và phẩm chất của các cây nông - lâm nghiệp tăng lên rõ rệt, nó cũng góp phần bảo vệ sự đa dạng của các cây trồng tự nhiên, sự bền vững của môi trường sinh thái Giá trị kinh

tế từ hoạt động thụ phấn của ong cho cây trồng cao hơn rất nhiều lần (trên 143

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2 lần) so với giá trị kinh tế từ các sản phẩm mà chúng mang lại (Sivaram V., 2004) [31]

Ở nước ta, 6 tỉnh Việt Bắc được coi là cái nôi để phát triển nghề nuôi ong nội, trong đó Thái Nguyên - Thủ đô gió ngàn Việt Bắc với nghề nuôi ong

đã được chú trọng từ lâu Từ năm 1996 đến nay nhờ các chương trình, dự án phát triển nuôi ong mật, góp phần xoá đói giảm nghèo, các tổ chức trong và ngoài nước: CIDSE (Đức) và CECI (Canada) hay chương trình nâng cao chất lượng đàn ong mật của Cục Khuyến nông - Khuyến lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã góp phần thúc đẩy nghề nuôi ong ở Thái Nguyên Hiệu quả của chương trình này đã đem lại cho Thái Nguyên hơn 1000 đàn ong được nuôi tại các hộ với năng suất 12 - 15kg/thùng (Phùng Đức Hoàn, 2003) [10]

Loài ong nội Apis cerana có đặc tính dễ thích nghi, cần cù chăm chỉ,

không đòi hỏi nguồn hoa tập trung nhưng năng suất thấp, tính tụ đàn không cao, dễ bốc bay, tốc độ tăng đàn chậm,…

Con ong là đề tài nghiên cứu của rất nhiều người, trong đó đặc điểm

sinh vật học của ong nội Apis cerana từ lâu đã thu hút được sự chú ý của

nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn Trong quá trình nghiên cứu nhiều vấn đề lý thú về mặt sinh học của loài ong này đã dần dần được hé mở làm căn cứ cho việc từng bước hoàn thiện quy trình kỹ thuật chăn nuôi góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi ong Tuy đã được nghiên cứu song còn rất nhiều vấn đề, đặc biệt là các tập tính sinh học của từng cấp ong trong đàn ong vẫn còn là những câu hỏi còn bỏ ngỏ đối với không chỉ người nuôi ong mà cả với các nhà khoa học của Việt Nam và thế giới Ong mật có đặc tính sống thành xã hội, đàn ong là một đơn vị sinh học hoàn chỉnh bao gồm 3 loại hình ong là ong chúa, ong đực và ong thợ Để duy trì nòi giống, ngoài vai trò của ong chúa phải kể đến sự tham

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3

gia của ong đực để đảm bảo sự tồn tại của cả đàn ong Ong thợ là lực lƣợng lao động trong đàn, sự phát triển hay suy vong của đàn ong một phần cũng do chất lƣợng của lực lƣợng này quyết định

Để bổ sung thêm những hiểu biết còn chƣa đƣợc nghiên cứu đầy đủ về

ong đực và ong thợ, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm

sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ Apis cerana nuôi tại Thái Nguyên”

2 Mục đích của đề tài

Xác định đầy đủ và có hệ thống các thông tin về các đặc điểm sinh học

sinh sản của ong đực và ong thợ Apis cerana làm căn cứ khoa học phục vụ

cho giảng dạy, học tập và xây dựng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả nghề nuôi ong

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài hoàn thành sẽ bổ sung một cách đầy đủ các thông tin về các đặc

điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ Apis cerana nuôi tại Thái

Nguyên

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Giải quyết đƣợc các vấn đề số liệu, thông tin về các đặc điểm sinh học

sinh sản của ong đực và ong thợ Apis cerana nuôi tại Thái Nguyên, nhằm bổ

sung một cách đầy đủ và hoàn thiện về quy trình, kỹ thuật nuôi ong trong nhân dân

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới

Theo Eva Crane (1990) [8] từ xa xưa con người đã biết săn ong lấy mật

để thu được các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của họ và tập quán săn bắt ong rừng vẫn còn duy trì tới ngày nay, việc khai thác mật ong được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau Những tổ ong mà người ta thường

săn lấy mật là thuộc giống ong Apis, mật ong được coi là một sản phẩm quý

hiếm của tự nhiên ban tặng cho con người Từ việc quan sát và khai thác mật ong tự nhiên, dần dần con người đã biết sử dụng đõ để nuôi ong, việc sử dụng

đõ bắt đầu ít nhất từ 4.500 năm nay

Hiểu biết về lịch sử săn ong và nuôi ong của chúng ta đã tăng lên rất nhiều trong mấy thập kỷ qua nhờ kết quả của các công trình nghiên cứu khảo

cổ, ngôn ngữ, qua những văn bản lưu trữ và nhờ giao thông thuận lợi cho phép người ta đi đến khắp nơi trên trái đất Ở miền Đông Tây Ban Nha người

ta đã phát hiện một bức vẽ trên vách đá từ thời kỳ đồ đá trước công nguyên

khoảng 6.000 năm Người Ai Cập đã có nghề nuôi ong Apis mellifera từ

5.000 năm trước công nguyên Vào khoảng năm 2.500 năm trước công nguyên, ở Ai Cập cổ đại đã thực sự hình thành một nghề nuôi ong thịnh vượng Những tư liệu sớm nhất ghi chép về nuôi ong trong đõ được ra đời khoảng 1.500 năm trước công nguyên: đó là một phần của bộ luật Hittile ghi trên những phiến đá sét, tìm thấy ở cao nguyên Anatoli không cây cối, cách

Ai Cập 100 km về phía Bắc Ong Apis mellifera được nuôi trong các đõ bằng

đất nung, gỗ, đất bùn, sành,… Những đõ ong ra đời sớm nhất vào khoảng những năm 2.450 trước công nguyên được thể hiện trong cảnh lấy mật ong, một phần của bức hội họa tại một ngôi đền thờ mặt trời Ai Cập, gần vùng hạ

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5

sông Nil Có 4 bức tranh tương tự đã được phát hiện, mô tả mật ong được cất trong những bình chứa, những trại ong cổ truyền có hàng trăm đõ ong với cảnh lấy mật y như ngày nay còn phổ biến ở Ai Cập và kiểu đõ hình trụ đặt nằm ngang cổ truyền ngày nay vẫn được sử dụng nhiều nơi trên thế giới: Châu Phi, Nam Hy Lạp, các đảo vùng Địa Trung Hải, từ miền Nam Balkan đến Tiểu Á, từ Nam Ấn Độ đến Kasmia, một phần Afghanistan, Nam Thái Lan, Bali - Indonexia (Eva Crane, 1990) [8]

Lịch sử nuôi ong Apis cerana ở châu Á cũng lâu đời như lịch sử nuôi ong Apis mellifera ở châu Âu, như ở Trung Quốc là hơn 3.000 năm, Ấn Độ 2.000 năm (Shahid, 1992; Punchihewa, 1994) (trích Nguyễn Ngọc Vững,

2006) [26] Nghề nuôi ong cổ truyền vẫn được tồn tại ở các nước và hầu như

không thay đổi so với được miêu tả trong các tài liệu cũ Tất cả các loại đõ được làm do con người bắt chước tập tính làm tổ tự nhiên trong các hốc cây, hốc đá Các loại đõ đều giống nhau ở chỗ ong xây các bánh tổ gắn chặt vào phía trên của đõ nên người ta gọi là đõ có bánh tổ cố định Các đõ thường được đặt xung quanh nhà, dưới gốc cây, trên giá đỡ, trong rừng hoặc trên các chãng của các cành cây to

Sự phát triển của các kiểu thùng ong góp phần quan trọng đối với nghề nuôi ong và có thể bắt đầu ở Hy Lạp, từ những mô tả của Georg Wheler (1682) về kiểu đõ có dạng bình hoa lớn sử dụng ở Hy Lạp, có các thanh xà đặt ở phía trên để ong xây bánh tổ, những thanh ngang không gắn chặt vào đõ nên có thể lấy bánh tổ ra được, khoảng cách giữa các tâm của các thanh xà bằng khoảng cách ở bánh tổ tự nhiên Các tác giả đã nghiên cứu và nhận thấy tầm quan trọng của khoảng không gian đều giữa các cầu ong và dựa trên những hiểu biết đó, đã thiết kế ra những thùng ong mới (Eva Crane, 1990) [8]

Năm 1649, William Me ở Anh đã làm thùng ong bằng gỗ nhiều tầng chồng lên nhau nhưng không có xà hay khung cầu Năm 1675 Gedde cũng

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6

sáng tạo ra kiểu thùng tương tự nhưng mỗi tầng có khung cầu để ong gắn bánh tổ F Huber (1792) tạo ra kiểu đõ dạng “quyển sách” F.I Prokopovich (1806), J Dziezion (1848) tạo ra các kiểu đõ có khung cầu cố định gắn vào thành thùng (Eva Crane, 1990) [8]

Kiểu thùng Stewarton do Robin Ker ở Scotland sáng tạo năm 1819 có xà cầu cố định Đến năm 1844, Augustus Munn ở Anh đã làm một kiểu thùng tầng

có khung cầu Năm 1851, giáo sĩ L L Langstroth (Philadelphia, Mỹ) (trích

Nguyễn Ngọc Vững, 2006) [26] đã sáng tạo ra kiểu thùng có khung cầu di động

nhờ phát hiện ra khoảng cách con ong Với kiểu thùng này rất thuận tiện cho

việc nuôi ong, nhờ áp dụng nó mà nghề nuôi ong A mellifera được phát triển

rất nhanh ở châu Âu và Bắc Mỹ, sau đó phát triển tới các châu khác trên thế giới (Eva Crane, 1990) [8] Kiểu thùng này cho phép người nuôi ong kiểm tra tình hình đàn ong, từ đó tác động những biện pháp kỹ thuật một cách dễ dàng, cho phép trao đổi giữa các đàn ong với nhau và giữa người nuôi ong khác Ngày nay, kiểu thùng này vẫn đang được áp dụng phổ biến ở khắp nơi và được cải tiến tuỳ theo yêu cầu của người sử dụng

Năm 1863, Dadant đã xuất bản sách về những cải tiến và sáng kiến của ông, nhờ đó nhiều sáng kiến khác được nảy sinh ra từ nước Mỹ, trong đó quan trọng nhất là sáng kiến làm những tấm sáp in hình lỗ tổ ong hay còn gọi là tầng chân, theo đó là các khung cầu được căng dây thép có gắn tầng chân, có

khả năng chịu được sức văng khi quay mật ở thùng ly tâm (trích Nguyễn Ngọc

Vững, 2006) [26]

Eva Crane (1990) [8] đã tổng kết tình hình nuôi ong ở châu Âu và trên thế giới như sau: Ở châu Âu, tỷ lệ cây xanh cao hơn các lục địa khác, có truyền thống nuôi ong lâu đời nên nghề nuôi ong ở châu Âu rất tập trung, có mật độ 3,2 đàn/km2, với tổng số 13 - 15 triệu đàn ong đều là giống ong A

mellifera, sản lượng mật là 123 - 165 ngàn tấn, năng suất mật bình quân

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7

11kg/đàn Nước Mỹ có 4,3 triệu đàn ong thuộc loài A mellifera, năng suất

năm 1984 đạt 17kg/đàn, tổng sản lượng 75.000 tấn Canada có gần 700.000

đàn ong thuộc loài A mellifera, sản lượng mật đạt 43.000 tấn, năng suất bình

quân cao nhất trên thế giới 63kg/đàn Ở châu Đại Dương Australia có nghề

nuôi ong A mellifera phát triển với hơn 500.000 đàn ong đạt năng suất 46.5kg/đàn Châu Phi có các chủng ong đều thuộc loài ong A mellifera Bằng

chứng sớm nhất về nghề nuôi ong của nhân loại được phát hiện ở đây 4.500 năm trước Etopia có tới 2,52 triệu đàn, năng suất mật 8,3kg/đàn Kenia có 2,1 triệu đàn, năng suất mật 5,7kg/đàn

Hiện nay, loài ong A mellifera được du nhập vào rất nhiều vùng khác nhau và được những người nuôi ong trên khắp thế giới sử dụng Loài ong A

mellifera châu Âu có ưu thế hơn các loài ong nhiệt đới vì chúng sản xuất mật

tốt hơn, hiền lành dễ chăm sóc quản lý, có sức sinh sản cao, thế đàn lớn, không phản ứng bốc bay với vụ thiếu thức ăn, có màu vàng được nhiều người

ưa chuộng Người ta tính rằng nuôi giống ong châu Âu phải chi phí nhiều hơn giống ong châu Á, tuy nhiên nó lại cho hiệu quả kinh tế cao hơn Chính vì vậy

từ châu Âu chúng được du nhập vào nhiều châu lục khác (trích Nguyễn Thị

Thắm, 2010) [19]

Eva Crane (1990) [8] đã mô tả quá trình nhập ong A mellifera châu Âu vào vùng nhiệt đới châu Á như sau: Ở Trung Quốc ong A mellifera được

nhập lần đầu vào năm 1913 Bảy mươi năm nay ong Ý đã thích nghi và được

sử dụng chính để sản xuất mật hàng hoá ở khu vực Á nhiệt đới Việc nhập

ong A mellifera là một cuộc cách mạng trong nghề nuôi ong ở Trung Quốc,

làm cho Trung Quốc trở thành nước có nghề nuôi ong đứng thứ hai và là nước

xuất khẩu nhiều mật nhất thế giới với hơn 5 triệu đàn ong A mellifera, hàng năm xuất khẩu 160 ngàn tấn mật Thái Lan đã nhập ong A mellifera nuôi tại

Chiềng Mai, nơi đây có cây nhãn là cây nguồn mật chính và cho sản lượng

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8

cao Tại Miến Điện, vùng trồng cây Guizotia absyssinica, cây hướng dương,

ong A mellifera đã được nhập với số lượng lớn để phù hợp với nguồn mật và phấn từ hai loại cây trồng này (trích Nguyễn Thị Thắm, 2010) [19]

1.1.2 Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghề nuôi ong đã được khai thác và nuôi từ lâu đời Ngay

từ thế kỷ thứ VIII, thượng thư phụ trách về nông nghiệp Phạm Lê đã viết tài liệu bằng chữ Hán về kỹ thuật nuôi ong (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999) [3] Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII đã có một số nhận xét về đặc điểm sinh học của đàn ong Trải qua quá trình tích luỹ kinh nghiệm và cải tiến kỹ thuật, nghề nuôi ong Việt Nam đã dần dần được cải tiến từ đơn giản đến hoàn thiện như ngày nay (Lê Quý Đôn, 1973) [7]

Người Việt Nam đã có thói quen đi lấy mật, săn ong từ rất lâu dựa vào kinh nghiệm qua nhiều đời được truyền lại, họ khai thác từ những loại ong

mật khác nhau như: ong ruồi A florea, ong nội A cerana, ong khoái A

dorsata, ong đá A laboriosa Giống ong A cerana rất phổ biến ở tự nhiên, có

ở khắp đất nước, thường làm tổ ở nơi kín như trong hốc cây, hốc đá, trong các hang, đôi khi cả trong các tổ mối Dựa vào những kinh nghiệm thực tế và đặc điểm tự nhiên của ong nội, các kiểu nuôi ong dần được hình thành và không ngừng được cải tiến từ kiểu đõ nằm ngang chuyển sang kiểu đõ đứng rồi đõ đứng có thanh xà di động và cuối cùng là các kiểu thùng cải tiến có khung cầu

di động như ngày nay Khi áp dụng nuôi ong trong thùng cải tiến có khung cầu di động cho phép sử dụng thùng quay và dùng tầng chân nhân tạo gắn vào khung cầu, làm nền để ong xây lên các bánh tổ đã làm năng suất mật tăng lên đáng kể Việc áp dụng những tiến bộ khoa học đã làm cho năng suất mật trung bình 15kg/đàn/năm (Phùng Hữu Chính, 1996; Quách Đại Cương, Nguyễn Huy Du, 1963) [1], [4]

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9

Từ những năm 1960 - 1962 chủng ong A m ligustica (ong Ý) được một

số người Hồng Kông đưa vào miền Nam Việt Nam một số đàn nhưng phát triển kém, phải tiếp tục nhập thêm nhiều lần từ Hồng Kông, Đài Loan, Úc,…

Trong khi ong Ý (A m ligustica) ở một số nước có sức đẻ trứng 1500 - 2000

trứng/ngày đêm thì ong chúa Ý Việt Nam chỉ đạt trung bình năm là 846

trứng/ngày đêm, gần bằng ong Ý ở Thái Lan (963 trứng/ngày đêm) (trích

Nguyễn Ngọc Vững, 2006) [26]

Năm 1977, công ty ong cấp I thuộc Bộ Nông nghiệp đưa 50 đàn ong Ý

ra miền Bắc và tiếp đó năm 1978 trại nghiên cứu ong Đốc Tín cũng đưa 50 đàn ong Ý ra miền Bắc nuôi thí nghiệm nhưng không phát triển được, đến năm 1979 bị chết hoàn toàn Từ năm 1980 - 1985, một số đơn vị sản xuất cũng đưa ong Ý ra Bắc nhưng không duy trì được quanh năm, ký sinh trùng phát triển mạnh, đàn ong bị sa sút phải đưa trở lại miền Nam để phục hồi

Từ sau năm 1985, các đơn vị nuôi ong đã áp dụng các phương pháp chọn lọc, những biện pháp phòng trị ký sinh có hiệu quả nên cho đến nay ong Ý đã được nuôi quanh năm ở nhiều tỉnh của miền Bắc và cho hiệu quả kinh tế cao

Hiện nay Việt Nam đã hình thành những vùng nuôi ong rõ rệt Miền

Bắc có nghề nuôi ong nội A cerana phát triển, thích hợp với điều kiện nguồn hoa phân tán, miền Nam phù hợp với nuôi ong Ý A mellifera với quy mô lớn

do có điều kiện thuận lợi là cây nguồn mật tập trung (trích Nguyễn Ngọc

Vững, 2006) [26], hàng năm nước ta đã cung cấp sản lượng mật lớn cho người

tiêu dùng: Năm 2002, sản lượng mật đạt 14.000 tấn, xuất khẩu mật ong đạt 12.000 tấn Theo Cục chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp &PTNT) năm 2009 cả nước sản xuất được khoảng 18,6 nghìn tấn mật ong, xuất khẩu được hơn 14 nghìn tấn, thu về khoảng 23 triệu USD Hiện nay nước ta xuất khẩu 80 - 85% tổng sản lượng mật ong, và 80% số này là vào thị trường Mỹ Năm 2008 là năm thành công nhất của nước ta từ trước đến nay trong việc xuất khẩu mật

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10

ong vào thị trường Mỹ Theo Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA) năm 2008 nước này nhập khẩu 19.387 tấn mật ong của Việt Nam, tăng 23% so với năm 2007 Thị phần mật ong của Việt Nam tiêu thụ tại Mỹ chiếm khoảng 17% nhập khẩu mật ong của Mỹ, trở thành nước xuất khẩu mật ong lớn nhất vào Mỹ (Chu Khôi, 2010) [11]

1.2 Một số nghiên cứu về hình thái, cấu tạo cơ thể ong mật trong và ngoài nước

1.2.1 Nghiên cứu về hình thái ong mật trên thế giới

1.2.1.1 Lịch sử hệ thống học và phân loại ong mật

Ong mật có ở khắp mọi nơi do giá trị kinh tế và tầm quan trọng của chúng trong văn hoá của con người Chúng xuất hiện ở hầu hết những vùng

mà con người sinh sống Chúng đã gây sự chú ý rất sớm cho các nhà khoa học phân loại Một loài mới được mô tả lặp lại với những phỏng đoán thiếu chính xác như năm 1758 Linné đặt tên cho tất cả các loài ong mật mà ông biết là

Apis mellifera, chỉ 3 năm sau chính ông lại đổi thành tên là Apis mellifica vì mellifera có nghĩa là “lấy mật” còn mellifica có nghĩa là ong “làm mật”, từ đó

thế giới công nhận cả hai tên của ong mật Đến đầu thế kỷ XX, một số nhà khoa học đã xem xét lại và cải thiện cách đặt tên của ong mật trước đây

(Ruttner F., 1988) [30]

1.2.1.2 Hình thái và phân loại ong mật

Đầu những năm 1900, từ việc tìm kiếm giống ong mật có vòi hút dài để

thụ phấn cho cỏ 3 lá đỏ (Trifolium pratense L) (loại cỏ quan trọng cho chăn nuôi

bò sữa) mà người Nga đã đề xuất ra phương pháp nghiên cứu hình thái của ong mật Koshevnikov đã lần đầu tiên tiến hành đo đếm kích thước hình thái ong mật vào năm 1900, tiếp đến là Martynov (1901), Kulagin (1906) Vào thời kỳ đó, trở ngại lớn nhất trong nghiên cứu hình thái về mặt thống kê đó là số mẫu đo đếm Năm 1916, Chochlov đã sử dụng số lượng mẫu ong đảm bảo cho phân tích

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11

thống kê về hình thái Sau đó Michailov (1924, 1926) và Alpatov (1925, 1929)

đã đưa thêm các yếu tố môi trường vào xem xét cùng với hình thái Năm 1964 -

1965, Dupraw là người đầu tiên giới thiệu phương pháp phân tích hình thái đa biến Số lượng biến mà ông sử dụng là 15 biến (chỉ tiêu) của 373 cá thể ong thợ

từ châu Âu, châu Phi và châu Á (Hepburn H.R and Radloff S.E., 1998) (trích

Phạm Hồng Thái, 2008) [18]

Sau này Ruttner F (1988) [30] đưa ra số lượng chỉ tiêu “chuẩn” cho phân tích hình thái là 38 chỉ tiêu (theo tiêu chuẩn quốc tế) Bằng phương pháp phân tích đa biến đó các nhà khoa học ngành ong đã xác định được các dạng sinh thái khác nhau của một loài ong mật

Dựa trên đặc điểm hình thái và phân bố địa lý loài ong nội được chia

thành 4 phân loài: A cerana indica Fabricius 1798, A cerana cerana Fabricius

1793, A cerana himalaya Maa 1944 và A cerana japonic Radoszkowski 1877 (Ruttner F., 1988) [30] Còn Heburn H.R.et al (2001) chia ong nội thành 33

phân loài khác nhau Trong đó có 9 phân loài có tên và 24 phân loài chưa được

đặt tên: A cerana cerana Fabricius 1793, A cerana indica Fabricius 1798, A

cerana japonica Radoszkowski 1877, A cerana javana Enderlein 1906, A cerana himalaya Maa 1944, A cerana skorikovi Maa 1944, A cerana abaensis

Yun and Kuang 1982, A cerana hainanensis Yun and Kuang 1982 và A

cerana philipina Skorikovi 1929 Radloff S.E và cs, (2005), thu thập 58 đàn

ong mật A cerana vùng phía tây dãy Himalaya với 27 chỉ tiêu hình thái được

xử lí thống kê bằng phương pháp phân tích đa biến đã xác định được khu vực

này có 2 nhóm là: Hindu Kush - Kashmir và Himachal Pradesh (trích Phạm

Hồng Thái, 2008) [18]

Tóm lại: Ong nội Apis cerana Fabricius 1793 là một trong 9 loài ong mật

có ngòi đốt của thế giới (Sheppard W.S and Smith D.R., 2000) và đến nay xác định được có tới 33 phân loài trong đó có 9 phân loài đã được đặt tên (Hepburn

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12

H.L và cs, 2001; Kuang B.Y và Ken T., 1996; Peng Y.S và cs, 1989) (trích

Phạm Hồng Thái, 2008) [18]

1.2.1.3 Phân bố và vị trí phân loại của ong Apis cerana

Apis cerana là ong bản địa ở nhiều vùng rộng lớn của Châu Á, trải dài

từ Iran ở phía Tây đến Nhật Bản ở phía Đông, từ vùng Viễn Đông trên bờ Thái Bình Dương của Nga chiếm phần lớn ở phía Bắc đến miền cực nam của lục địa ở phía Nam (Eva Crane, 1990) [8]

Loài ong nội này có vị trí trong hệ thống phân loại như sau:

- Chi (giống) (Apis),

- Loài (Apis Cerana)

1.2.2 Nghiên cứu hình thái ong Apis cerana ở trong nước

Chỉ có một số công trình nghiên cứu về hình thái của ong nội tại các địa phương khác nhau của Việt Nam được công bố bởi Lê Đình Thái, Nguyễn Văn Niệm (1980) [17] và Nguyễn Văn Niệm (1991) [13] Các tác giả trên đã

kết luận rằng ong mật Apis cerana Fabricius ở miền Bắc và miền Trung có

kích thước cơ thể lớn hơn ở miền Nam

Một số nhà khoa học ngành ong ở trong nước đã mặc nhiên công nhận

có hai phân loài ong nội ở Việt Nam: A c cerana (miền Bắc) và A c indica

(miền Nam)

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13

Đầu Ngực

Cánh Bụng

Chân

Đốt bụng

Chân sau

Chân giữa Chân trước

1.2.3 Đặc điểm hình thái, cấu tạo cơ thể ong Apis cerana

Hình 1.1: Hình thái, cấu tạo cơ thể ong mật

1.2.3.1 Hình thái cơ thể

Theo các tác giả Nguyễn Văn Niệm (1991) [13]; Lê Đình Thái, Nguyễn Văn Niệm (1980) [17] thì cơ thể ong mật gồm 3 phần nối với nhau bởi các khớp động là phần đầu, ngực, bụng Cơ thể ong được bao bọc bằng lớp vỏ kitin, chính lớp vỏ kitin là bộ xương ngoài, là chỗ dựa cho các cơ quan bên trong và bảo vệ cơ thể ong tránh những tác động bất lợi từ bên ngoài

* Phần đầu ong:

Đầu ong có cấu tạo hình hộp, trên đầu có hai mắt kép, số mắt kép ở ong đực là 6.000 mắt nhỏ ghép lại còn ở ong chúa và ở ong thợ chỉ có 4.000 Đỉnh đầu có 3 mắt đơn phân bố theo dạng hình tam giác

Ở phần trước đầu ong có một đôi râu, râu ong chia làm nhiều đốt: râu ong đực chia làm 13 đốt, ong chúa và ong thợ là 11 đốt Râu là cơ quan cảm giác rất nhạy bén

Miệng và vòi ong có đặc điểm (với chức năng cắn, nghiền, hút) khác với nhiều loại côn trùng khác, ong dùng hàm trên để cắn các vật cứng khi mở

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14

rộng cửa tổ, cắn nắp lỗ tổ chứa mật, vít nắp, nghiền phấn hoa Vòi hút của ong đặc trưng cho từng giống ong dùng để hút mật hoa, nước siro Mỗi giống ong khác nhau có chiều dài vòi hút khác nhau

* Phần ngực ong:

Ngực ong gồm 3 đốt: đốt ngực trước, đốt ngực giữa và đốt ngực sau Phần ngực của ong mang các cơ quan vận động là cánh và chân ong Trong phần ngực thì đốt ngực giữa giữ vai trò quan trọng nhất, các đốt ngực được chia làm nửa lưng và nửa bụng Nửa lưng có 2 đôi cánh: đôi cánh trước lớn hơn đôi cánh sau Khi ong bay, cánh trước ghép lại với cánh sau thông qua hệ thống móc cánh Nửa bụng của phần ngực ong mật có 3 đôi chân gắn vào 3 đốt ngực tương ứng

* Phần bụng ong:

Bụng ong mật có 6 đốt và nối với phần ngực qua đốt chuyển tiếp, mỗi đốt gồm 2 nửa: nửa lưng và nửa bụng các đốt bụng nối với nhau bằng màng kitin mỏng, đàn hồi Nhờ các màng mỏng này mà ong có thể thay đổi thể tích bụng Hai bên mỗi bên đốt bụng có lỗ thở, ở phần bụng có 4 đốt bụng cuối cùng có các cơ quan tiết sáp, cuối bụng là ngòi đốt Riêng ong đực không có

bộ phận ngòi đốt, ong chúa trưởng thành thì bộ phận ngòi đốt làm chức năng như một máng đẻ trứng và là phương tiện chiến đấu với các ong chúa khác Giữa đốt bụng 5 và 6 của ong mật có tuyến Nasônôp (nhà bác học người Nga N.V Nasônôp phát hiện) tiết vị hương đặc trưng cho mỗi đàn ong, ở ong chúa tuyến Nasônôp phát triển và tiết ra mùi đặc trưng của ong chúa gọi là “chất chúa” “Chất chúa” điều khiển đàn ong hoạt động bình thường (Ngô Đắc Thắng, 2000) [21]

1.2.3.2 Các cơ quan bên trong cơ thể ong

* Cơ quan tiêu hoá: Ong mật thuộc vào các côn trùng dinh dưỡng chuyên tính, cơ quan tiêu hoá của ong còn là nơi dự trữ tạm thời mật hoa khi

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ở phần ngực, 6 đôi lỗ thở ở phần bụng

* Cơ quan tuần hoàn: Hệ thống tuần hoàn của ong là một hệ thống hở, tim ong gồm 5 ngăn, hai bên sườn của mỗi ngăn tim có các cửa để cho máu từ ngoài vào

* Cơ quan thần kinh: Cơ quan thần kinh của ong phát triển rất cao, bảo đảm mối liên hệ thường xuyên của đàn ong với môi trường xung quanh, đồng thời điều khiển mọi hoạt động thống nhất trong cơ thể con ong Cơ quan thần kinh chia làm 3 phần: thần kinh trung ương, thần kinh ngoại biên, thần kinh thực vật

* Cơ quan sinh dục: Ong mật cũng như các côn trùng khác đều thuộc nhóm động vật phân tính, nghĩa là cơ quan sinh dục đực và cái ở trong các cá thể khác nhau, cơ quan sinh dục của ong chúa gồm 2 buồng trứng hình quả lê, mỗi buồng trứng có rất nhiều ống trứng nằm song song với nhau Cơ quan sinh dục của ong thợ về cấu tạo giống của ong chúa nhưng không được phát triển hoàn chỉnh, hai buồng trứng của ong thợ dạng vải và kém phát triển Cơ quan sinh dục của ong đực gồm 2 dịch hoàn, ống dẫn tinh, tuyến phụ và bộ phận giao phối

1.3 Một số đặc điểm sinh vật học của ong nội Apis cerana

Tổ ong được cấu tạo bởi nhiều bánh tổ xếp song song với nhau theo hướng đi vào của cửa tổ và vuông góc với mặt đất Giữa các bánh tổ có một khoảng trống thích hợp để làm lối đi lại của ong Bánh tổ ong có nhiều lỗ tổ hình lục giác đều được xây bằng bằng những vảy sáp do tuyến sáp ong thợ

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Cơ thể ong chúa lớn, cánh ngắn, bụng thon dài cân đối, bên trong chứa hai buồng trứng phát triển, lƣng - ngực rộng, toàn thân màu đen hoặc nâu đen, khối lƣợng cơ thể lớn (chúa tơ nặng khoảng 150g, ong chúa đẻ nặng khoảng

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17 200g) Khối lượng cơ thể ong chúa lúc mới nở tỷ lệ thuận với số lượng và chiều dài ống trứng Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng ong chúa mới nở Các giống khác nhau thì chỉ tiêu này cũng khác nhau (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999; Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008; Ngô Đắc Thắng, 2002) [3], [9], [22]

Cơ quan sinh sản của ong chúa bao gồm 2 buồng trứng, 2 ống dẫn trứng, ống phóng trứng, túi trữ tinh và âm đạo

Sau khi nở từ trứng đã thụ tinh, ấu trùng chúa được ong thợ nuôi dưỡng liên tục và dư thừa bằng một loại thức ăn đặc biệt (sữa chúa), ấu trùng lớn lên rất nhanh và mầm mống buồng trứng trong ấu trùng cũng đã phát triển rất mạnh Thời gian phát dục từ trứng đến khi trưởng thành của ong chúa là 16 ngày: Giai đoạn trứng: 3 ngày; Giai đoạn ấu trùng: 5 ngày; Giai đoạn nhộng:

8 ngày

Ong chúa mới nở cơ thể to, mập mạp nhưng sau 2 - 3 ngày ong chúa bị ong thợ hạn chế khẩu phần thức ăn để cơ thể giảm bớt khổi lượng, cơ thể thon thả lại để chuẩn bị cho những chuyến bay giao phối Khi ong chúa nở được 1

- 2 ngày được ong thợ rèn luyện hệ cơ bằng cách rung lưng, lắc cánh, đuổi cho ong chúa chạy nhiều lần Từ 3 - 5 ngày ong chúa tập bay định hướng cửa

tổ, mỗi lần bay 3 - 5 phút vào lúc 3 - 5 giờ chiều lúc nắng đẹp, lặng gió Từ 5

- 8 ngày ong chúa bay đi giao phối với ong đực, số lần bay từ 1 - 3 lần, mỗi lần bay 20 - 25 phút vào buổi chiều (khoảng 3 giờ) lúc trời nắng đẹp, không

có gió (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999; Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008; Ngô Đắc Thắng, 2002) [3], [9], [22]

Ong chúa bay giao phối với khoảng 15 - 30 ong đực trên không trung Việc giao phối với nhiều ong đực đảm bảo cho ong chúa nhận được nhiều tinh trùng từ nhiều nguồn gốc khác nhau, tránh được hiện tượng cận huyết Sau những chuyến bay giao phối thành công, ong chúa về tổ mang theo dấu hiệu

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18

giao phối là ở cuối bụng có mầu trắng nâu hình sợi Tinh trùng được dự trữ trong túi tinh và dùng dần cho đến khi ong chúa chết Sau khi giao phối thành công ong chúa bắt đầu đẻ, việc đẻ ra trứng thụ tinh hay không thụ tinh phụ thuộc vào kích thước lỗ tổ Ong chúa dùng chân trước để đo miệng lỗ tổ Nếu miệng lỗ tổ rộng ong chúa đẻ trứng vào đó nhưng không có phản xạ mở van túi tinh (nở ra ong đực), còn miệng lỗ tổ hẹp thì phản xạ mở van túi tinh được thực hiện và trứng được thụ tinh (nở ra ong thợ)

Một ong chúa Apis cerana tốt trong một đàn ong mạnh (6 - 7 cầu và

thức ăn dư thừa) thì ong chúa đẻ từ 700 - 900 trứng trong 24 giờ, còn nếu cũng là ong chúa đó nhưng được giới thiệu vào 1 đàn 3 - 4 cầu, thức ăn thiếu thì ong chúa chỉ đẻ 300 - 400 trứng trong 24 giờ Do vậy việc thường xuyên nuôi những đàn ong mạnh thì tốc độ tăng đàn cũng nhanh (Phùng Hữu Chính,

Vũ Văn Luyện, 1999; Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008; Ngô Đắc Thắng, 2002) [3], [9], [22]

Bên cạnh nhiệm vụ duy trì nòi giống thì ong chúa còn có nhiệm vụ duy trì sự ổn định và phát triển của cả đàn ong do ong chúa tiết ra một chất đặc biệt gọi “chất chúa” mà khoa học gọi là Feromol Một con ong chúa có thể tiết ra 30 loại Feromol khác nhau phù hợp với từng mục đích khác nhau Ví dụ:

- Feromol kìm hãm sự phát triển của buồng trứng ong thợ

- Feromol hấp dẫn ong đực đến điển “hội tụ” để giao phối

- Feromol kích thích ong thợ tích lũy thức ăn

- Feromol ngăn cản băn năng xây mũ chúa của ong thợ

Khi ong chúa còn sung sức, Feromol tiết ra nhiều Ong thợ khi chải chuốt cho ong chúa, mớm cho ong chúa ăn đồng thời Feromol được truyền từ ong chúa sang ong thợ và ong thợ đi lại cọ sát nhau, mùi chúa được tỏa ra khắp thùng Đó chính là tín hiệu báo cho cả đàn nhận ra sự có mặt của ong chúa

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19 Ong chúa càng già thì Feromol càng giảm Đàn ong mất chúa thì Feromol không còn nữa dẫn đến ong thợ sẽ xây mũ chúa cấp tạo

Tuổi thọ của ong chúa khoảng 2 - 3 năm nhƣng chúa đẻ trứng tốt và tiết nhiều Feromol để ổn định đàn tốt nhất là trong vòng 6 - 9 tháng đầu Khi chúa già sức đẻ giảm, đẻ nhiều trứng không thụ tinh (nở ra ong đực) và Feromol cũng giảm Do vậy cần phải thay chúa hàng năm (Nguyễn Duy Hoan và cs,

2008 ) [9]

Hình 1.3: Di trùng ong

* Nguồn gốc ra đời của ong chúa

Theo các tác giả Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện (1999) [3]; Ngô Đắc Thắng (2002) [22] thì ong chúa ra đời từ 3 nguồn gốc: Chúa chia đàn, chúa thay thế và chúa cấp tạo

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

20

- Chúa chia đàn tự nhiên: Trong điều kiện ngoại cảnh thời tiết thuận

lợi, nguồn thức ăn phong phú và điều kiện chủ quan (đàn ong mạnh tới mức

dư thừa lực lượng ong thợ lao động, ong thợ quá đông, đàn ong chật trội, nóng bức, nhiều ong non…) thì đàn ong sẽ có kế hoạch chia đàn Chúng xây

từ 3 - 30 mũ chúa ở phía dưới và rìa mép bánh tổ để chia đàn Chất lượng chúa trong trường hợp này rất tốt do có quá trình chuẩn bị trong điều kiện ngoại cảnh tốt, thời tiết thuận lợi và nguồn thức ăn trong tự nhiên phong phú

- Chúa thay thế: Trong trường hợp ong chúa bị dị tật, bị què hoặc ong

chúa đã quá già yếu, không duy trì và đảm nhiệm tốt được công việc của mình nữa thì ong thợ sẽ tiến hành xây từ 1 - 3 mũ chúa để thay thế tự nhiên chúa

cũ Trong trường hợp này chất lượng ong chúa cũng tốt vì đàn ong chủ động bồi dục ong chúa Khi thay thế thì chúa cũ vẫn song song tồn tại với chúa mới Ong chúa mới trưởng thành (giao phối và đẻ trứng) thì ong thợ sẽ loại thải ong chúa cũ

- Chúa cấp tạo: Khi đàn ong mất chúa đột ngột, trong tổ vẫn còn trứng

và ấu trùng, ong thợ sẽ khẩn cấp chọn những ấu trùng ong thợ dưới 3 ngày tuổi để nuôi dưỡng thành chúa, chúng sẽ cơi nới rộng những lỗ tổ đó ra và bón đầy sữa chúa vào để bồi dục thành chúa gọi là chúa cấp tạo Chúa ra đời trong hoàn cảnh này chất lượng kém vì đàn ong không chủ động bồi dục ong chúa và có thể gặp điều kiện ngoại cảnh bất lợi

1.3.2 Ong đực

Ong đực là ong sinh ra từ trứng không thụ tinh (n = 16) Chức năng của ong đực là giao phối với chúa tơ nhằm duy trì nòi giống Trong điều kiện bình

thường ong đực chỉ được sinh ra từ các đàn ong mạnh, có xu hướng chia đàn

Ong đực có kích thước cơ thể lớn hơn ong chúa nhưng bụng ngắn hơn,

cơ thể màu đen, có nhiều lông dài, đốt bụng cuối bằng và không có ngòi đốt, ong đực không có răng (Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008 ) [9]

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21

1.3.2.1 Cơ quan sinh sản của ong đực

Cơ quan sinh sản của ong đực bao gồm đôi tinh hoàn, 2 ống dẫn tinh, túi trữ tinh, tuyến nhày và cơ quan giao cấu Tinh hoàn hình hạt đậu, trong

mỗi một tinh hoàn ong A mellifera có 200 ống nhỏ dạng sợi là ống sinh tinh

Các tinh trùng được sinh ra từ các ống này Từ tinh hoàn có ống dẫn tinh hẹp uốn khúc đi ra Khi thành thục tinh trùng sẽ đi qua ống dẫn tinh vào túi đựng tinh và giữ lại ở đó cho đến khi giao phối mới sử dụng

Cơ quan giao cấu của ong đực gồm ống phóng tinh, cổ và gốc dương vật có hai đôi sừng Khi giao phối tinh trùng từ trong túi đựng tinh đi qua tuyến nhày vào ống phóng tinh và được phóng qua dương vật Trong túi trữ

tinh của một ong đực trưởng thành A mellifera có 1mm3

và khi ấu trùng được 3 - 5 ngày tuổi là 24,9% Sau 3 ngày, tuổi ấu trùng ong đực được ăn thêm mật và phấn hoa Giai đoạn ấu trùng ong đực kéo dài 7 ngày nên tiêu tốn thức ăn gấp hai lần ấu trùng ong thợ và kích thước của nó cũng tăng lên nhiều hơn Tuy nhiên tỉ lệ chết của ấu trùng ong đực ở giai đoạn

ấu trùng cao hơn tỉ lệ chết của ong thợ rất nhiều Theo Woyke, 1977:

Tỉ lệ chết ấu trùng Ong thợ Ong đực

Mùa xuân 11% 13%

Mùa hè 19% 25%

Mùa thu 33% 47%

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

22

Sau 7 ngày, ong nuôi dưỡng ngừng cho ăn và vít nắp lỗ tổ lại Lỗ tổ ong đực thường nằm ở các góc phía dưới của bánh tổ Nắp vít lỗ tổ ong đực nhô cao hơn so với nắp vít của ong thợ Sau khi vít nắp lỗ tổ được 2 - 3 ngày

trên nắp vít lỗ tổ ong đực A cerana xuất hiện một lỗ thủng nhỏ ở chính giữa

do ong thợ lấy hết sáp đi (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999; Ngô Đắc Thắng, 2002) [3], [22]

Thời gian phát dục của ong đực Apis cerana từ trứng đến trưởng thành

là 23 ngày Các giai đoạn phát dục của ong đực dài hơn so với ong chúa và ong thợ

1.3.2.3 Ong đực trưởng thành và sự bay giao phối

Theo các tác giả Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện (1999) [3]; Ngô Đắc Thắng (2002) [22] cho biết: Sau khi nở ong đực thường đậu trên các cầu bánh tổ có ấu trùng, nơi đó có nhiệt độ cao 350C để thúc đẩy sự hình thành tinh tử Suốt 3 - 4 ngày đầu tiên nó không tự lấy thức ăn được mà được ong thợ nuôi dưỡng bằng phấn hoa và mật ong Dần dần nó có thể tự lấy thức ăn trong các lỗ tổ không vít nắp Ong đực dành 70 - 80% thời gian để nghỉ ngơi hoàn toàn, thời gian còn lại bò đi đây đó trong tổ Khi được 6 - 10 ngày tuổi ong đực thực hiện những chuyến bay đầu tiên để bài tiết và định hướng vị trí

tổ Ở tuổi 12 - 14 ngày ong đực thành thục về mặt sinh dục và sẽ bay đi giao phối vào tuổi 15 - 18 ngày (Hejtmnamek, 1962)

Ong đực A mellifera bắt đầu tập bay định hướng ở tuổi trẻ hơn ong A

cerana Ong đực của cả hai loài A mellifera và A cerana thường bay ra khỏi

tổ từ 12 - 18h và nhiều nhất vào lúc 14 - 16h Trung bình một chuyến bay kéo dài 20 - 25 phút Ong đực thường bay cách tổ 1 - 3km đôi khi đến 6km Tầm bay của ong đực cao hơn tầm bay của ong thợ Người ta thấy ong đực bay đến những địa điểm nhất định, mà ở đó có nhiều ong đực khác gọi là "điểm hội tụ ong đực" Ở điểm này có từ vài chục đến vài trăm con và có khi tới vài nghìn

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

23

ong đực thành thục và chưa thành thục về mặt sinh dục Điểm hội tụ ong đực thường cách xa tổ 700 - 800m cho đến 2000m Nó thường ở vị trí cố định từ năm này qua năm khác

1.3.2.4 Sự giao phối giữa ong đực và ong chúa

Khi ong chúa tơ bay tới điểm hội tụ ong đực rất nhiều ong đực bay theo

nó giống như một cái đuôi sao chổi ở sau ong chúa Một trong số ong đực đuổi kịp ong chúa, dùng chân trước và chân giữa ôm lấy lưng còn chân sau

ôm lấy bụng của ong chúa Tiếp theo nó cong bụng lộn cơ quan giao cấu vào buồng ngòi đốt đã mở của ong chúa, rồi nó trở nên tê liệt, chân rời ra và cánh không vẫy nữa, cuối cùng nó lật về phía sau Ong chúa tiếp tục bay mang theo ong đực bị tê liệt Lúc này tinh trùng sẽ đi vào ống dẫn trứng chung và đôi ống dẫn trứng đơn Sau đó ong đực rời ra nhưng để lại các nút hình thành từ phần còn lại của dương vật và chất nhày của ong đực đông lại khi gặp không khí, ngăn không để tinh dịch thoát ra Chỉ vài giây sau con ong đực khác lại bám vào ong chúa để giao phối như con ong đực trước và tất nhiên nó phải gạt bỏ chất nhầy do con ong đực trước để lại Các con ong đực sau khi giao phối thì bị chết

Khi thấy lượng tinh trùng đã đủ, ong chúa bay về tổ với dấu hiệu do ong đực để lại gọi là "dấu hiệu giao phối" Nó tự bỏ dấu hiệu giao phối trong vòng 3 - 5 phút bằng cách bò trên bánh tổ để thành lỗ tổ gạt vào dấu hiệu giao phối làm nó tụt ra Đôi khi ong thợ giúp chúa loại bỏ dấu hiệu giao phối này (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999; Ngô Đắc Thắng, 2002) [3], [22]

Từ 10 - 20 ngày từ khi nở là thời kỳ sung sức nhất của ong đực, đây là thời điểm tốt nhất để ong đực giao phối với chúa tơ Trong điều kiện phải thay thế chúa gấp mà không kịp sản sinh ong đực thì đàn ong sẽ chăm sóc nuôi dưỡng những con “ong đực lưu” (ong đực tồn tại trong đàn quá lứa) một cách tốt nhất để có thể giao phối được, ong đực 1 lần phóng tinh được 0,035 ml

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

24 tinh dịch và chứa trong đó 1,2 triệu tinh trùng (Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008) [9]

Khi hết mùa giao phối và vào mùa khó khăn về thức ăn thì ong đực sẽ

bị ong thợ đuổi ra khỏi tổ, bỏ mặc cho ong đực chết đói và rét, vì ngoài nhiệm

vụ duy trì nòi giống ra, ong đực không biết làm việc gì cả Ong đực sống được khoảng vài tháng đến 1 năm (Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008) [8]

1.3.2.5 Feromol của ong đực

Feromol là chất có hoạt tính hóa học được những con ong trong đàn dùng

để thông tin cho nhau Từ tuyến hàm trên, ong đực tiết ra ngoài không khí (ở vùng hội tụ ong đực) một loại feromol có tác dụng hấp dẫn ong đực của đàn khác đến tập trung và hấp dẫn ong chúa bay đến giao phối Còn feromol do nhộng ong đực tiết ra để hấp dẫn ong thợ trưởng thành bâu đến cho nhộng ăn và

ủ ấm (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999; Ngô Đắc Thắng, 2002) [3], [22]

1.3.2.5 Nguồn gốc ra đời của ong đực

Theo tác giả Eva Crane (1990) [8] và Ngô Đắc Thắng (2002) [22] thì ong đực được ra đời theo 3 nguồn gốc: (1) Vào mùa sinh sản chia đàn, đàn ong phát triển mạnh có nhu cầu chia đàn tự nhiên thì đàn ong sẽ bồi dục ong đực (2) Ong chúa quá già, tinh dịch dự trữ hết cho nên khi đẻ toàn trứng không thụ tinh (nở ra ong đực, n = 16) (3) Đàn ong mất chúa lâu ngày, xuất hiện hiện tượng ong thợ đẻ trứng, ong thợ đẻ ra toàn trứng không thụ tinh và

nở ra toàn ong đực còi

Ong đực không đóng góp gì vào hoạt động xã hội của đàn ong như nuôi

ấu trùng, sản xuất mật mà chúng còn tiêu thụ một số thức ăn Nhưng sự có mặt của ong đực trong đàn ong với số lượng vài trăm con là để đảm bảo sự gặp gỡ giữa ong chúa với ong đực và cho giao phối đạt kết quả cao (Eva Crane, 1990) [8]

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

25

1.3.3 Ong thợ

Về bản chất, ong thợ cũng là cũng là con ong cái vì nó được nở ra từ trứng thụ tinh, nhưng do trong giai đoạn ấu trùng chúng chỉ được ong thợ nuôi bằng “sữa ong thợ” 3 ngày đầu với số lượng hạn chế Sau đó chúng được nuôi bằng hỗn hợp mật - phấn hoa Cho nên buồng trứng phát triển không hoàn thiện và chúng không có khả năng giao phối với ong đực

Cơ thể ong thợ nhỏ hơn ong chúa, thân có màu nâu đen, bụng nhọn có những vạch khoanh màu vàng xen kẽ và có ngòi đốt Số lượng ong thợ trong đàn biến động theo mùa: Mùa xuân trong đàn mạnh có 20.000 con, mùa hè có

đến 80.000 con và mùa thu là 30.000 con (trích Nguyễn Ngọc Vững, 2006)

[26]

Tuổi thọ của ong thợ phụ thuộc vào thời gian nở và các loại công việc

mà ong thợ phải làm Bình thường ong thợ nở vào tháng 3 sống tới 35 ngày, nở vào tháng 6 sống 30 ngày và nở vào tháng 9, tháng 10 thì sống suốt cả mùa đông Tuổi thọ của ong thợ dài hơn hay ngắn hơn chủ yếu là ở giai đoạn ong thợ sống trong tổ Việc ong thợ phải nuôi nhiều ấu trùng trong giai đoạn đầu sẽ

làm giảm tuổi thọ (trích Nguyễn Ngọc Vững, 2006) [26]

Hình 1.4: Ong thợ Apis cerana

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

26

1.3.3.1 Cơ quan sinh sản của ong thợ

Theo các tác giả Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện (1999) [3] và Ngô Đắc Thắng (2002) [22]: Cơ quan sinh sản của ong thợ cũng giống như cơ quan sinh sản của ong chúa nhưng kém phát triển hơn Buồng trứng của ong

thợ có dạng dài mỏng trong suốt, mỗi buồng trứng của ong thợ A mellifera

có 1 - 12 ống trứng, ở ong A cerana số lượng ống trứng nhiều gấp đôi còn ở ong A dorsata là 45 - 60 (Alpatov, 1938)

1.3.3.2 Các giai đoạn phát triển từ trứng đến ong trưởng thành

Cũng như các côn trùng khác trong bộ cánh màng, ong mật thuộc loại biến thái hoàn toàn, vòng đời của nó trải qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành

* Trứng ong: Có hình dạng hơi cong, có đầu to nhỏ khác nhau, đầu nhỏ dính xuống đáy lỗ tổ sau phát triển thành bụng ong, trứng ong dài 1,71 mm và rộng 0,406 mm (Koenizer, 1992) Giai đoạn trứng kéo dài khoảng 3 ngày, trong thời gian đó ở trong trứng xảy ra sự phân chia tế bào mạnh mẽ và có sự phát triển của phôi thai Trong 3 ngày đó kích thước của trứng giảm dần (Woyke, 1992), đồng thời vị trí của trứng cũng thay đổi:

- Ngày đầu tiên trứng ở tư thế đứng (gần 900)

- Ngày thứ hai trứng ở tư thế nghiêng (gần 450)

- Ngày thứ ba trứng nằm ngang và nở thành ấu trùng

Nhìn vào tư thế của trứng người nuôi ong có thể biết được tình hình ong chúa trong đàn còn hay mất thông qua quan sát trứng một ngày tuổi Và theo chiều nghiêng của trứng người nuôi ong có thể biết được trứng đó đẻ vào ngày nào

* Ấu trùng ong: Ấu trùng mới nở có màu trắng xanh, hình lưỡi liềm, càng lớn ấu trùng có hình vành khuyên, cơ thể bao gồm phần đầu và 13 đốt phân biệt rõ Ruột giữa chiếm phần lớn cơ thể và không thông với ruột sau Vì

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

27

vậy trong suốt giai đoạn ấu trùng nó không bài tiết ra phân làm bẩn thức ăn Trong 3 ngày đầu ấu trùng ong thợ được ăn sữa ong chúa sau đó phải ăn lương ong (mật + phấn) Trong giai đoạn này lượng thức ăn tiêu tốn rất lớn,

ấu trùng được ong thợ bón liên tục khoảng 1.000 - 1.300 lần/ngày, trong 5 ngày ăn hết 20g thức ăn Do vậy ấu trùng lớn rất nhanh, giai đoạn này kéo dài

5 ngày và qua 4 lần lột xác, đến cuối ngày thứ 5 ong thợ vít nắp ấu trùng lại Khác với ấu trùng ong chúa, ấu trùng ong thợ nằm trong lỗ tổ không được ăn nữa Khi đã phát triển đầy đủ thì ấu trùng tiết ra các sợi tơ để làm kén và trong quá trình kéo kén ấu trùng lộn một số vòng (trên 30 vòng) Cuối cùng, ấu trùng ong thợ nằm dọc theo lỗ tổ, đầu hướng ra phía ngoài Trước khi hóa nhộng, cặn bã đã tích lũy ở ruột giữa được thải ra ngoài đọng lại ở đáy lỗ tổ, sau khi ong nở được ong thợ khác đến dọn

* Nhộng ong: Thuộc loại nhộng trần, đầu tiên (tiền nhộng 1 - 2 ngày) nhộng có màu trắng, sau biến thành màu trắng sữa rồi thành màu hồng nhạt

Ở giai đoạn này nhộng nhìn bề ngoài giống như ấu trùng nhưng bên trong lớp

da của nhộng đang hình thành rõ các chân, phần đầu và các cơ quan Quá trình hình thành và phát triển các phần, các cơ quan đó được diễn ra dần dần ở trong lỗ vít nắp, trước khi nở ra khỏi lỗ vít nhộng lột xác lần nữa để thành ong trưởng thành (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999; Eva Crane, 1990; Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008; Ngô Đắc Thắng, 2002) [3], [8], [9], [22]

Bảng 1.1: Tóm tắt các giai đoạn phát dục của ong A.cerana

Giai đoạn

Cấp ong

Trứng (ngày)

Ấu trùng (ngày)

Nhộng (ngày)

Tổng số (ngày)

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

28

Hình 1.5: Sự phát triển của các cấp ong

1.3.3.3 Feromol của ong thợ

Ong thợ có hai loại Feromol là feromol báo động và feromol đánh dấu

- Feromol báo động gồm hai thành phần là isopentyl - axetat do cơ quan đốt tiết ra và heptanol - 2 được tiết từ tuyến hàm trên Các chất trên có tác dụng đánh dấu mục tiêu và báo động cho ong thợ khác biết tình hình uy hiếp của đàn và kích thích chúng xông ra đốt kẻ thù để bảo vệ tổ Số lượng

isopentyl - axetat được sản xuất ra trong một lần đốt đo được ở ong A cerana

là 1µg

- Feromol đánh dấu có hai loại: Một loại ở các đốt bàn chân của ong thợ có tiết ra một loại feromol (ít nhất có 11 thành phần) để lại trên hoa khi nó lấy phấn hoặc mật, chất này có tác dụng hấp dẫn các ong thợ khác đến đó thu hoạch Loại thứ hai ở giữa đốt bụng 6 - 7 của ong thợ, đó là tuyến Nasonov Tuyến này tiết ra loại feromol có tác dụng giúp cho các ong thợ nhanh chóng xác định được nơi ở mới, tập hợp ong khi chia đàn, định hướng của cửa tổ cho ong non tập bay và cùng với feromol ở đốt bàn chân để lại trên các bông hoa nhằm chỉ vị trí của nguồn thức ăn cho các con ong khác cùng đàn đến lấy mật

và phấn được nhanh chóng

1.3.3.4 Sự phân công lao động theo lứa tuổi của ong thợ

Các nhà khoa học đã nghiên cứu thực nghiệm và đã khám phá ra rằng trong cả cuộc đời mỗi con ong thợ đều phải nếm trải các công việc trong đàn

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1 - 2 ngày Cơ thể ong thợ non yếu Dọn vệ sinh lỗ tổ, đánh bóng lỗ tổ

để ong chúa đẻ trứng

3 - 5 ngày Cơ thể ăn hỗn hợp mật

- phấn hoa, tuyến sữa bắt đầu phát triển

Nuôi ấu trùng ong thợ và ong đực

từ 4 - 5 ngày bằng hỗn hợp mật - phấn

5 - 8 ngày Tuyến sữa phát triển

mạnh

Tiết sữa để nuôi ấu trùng ong thợ

và ong đực 1 - 3 ngày tuổi, ấu trùng ong chúa và ong chúa đẻ

8 - 12 ngày Tuyến sữa teo, tuyến

sáp bắt đầu phát triển, tuyến nước bọt phát triển mạnh

Ong thợ bắt đầu bay định hướng

tổ, tiếp nhận và chế biến mật hoa thành mật ong Tiết nước bọt để nhào trộn phấn hoa thành lương ong

12 - 18 ngày Tuyến sáp phát triển

mạnh, tuyến nọc phát triển đầy đủ

Tiết sáp xây tổ, vít nắp lỗ mật chín,

lỗ ấu trùng chuẩn bị hóa nhộng, bịt vít các khe hở thùng và bảo vệ tổ

19 - 44 ngày Hệ cơ phát triển mạnh Ong đi thu hoạch mật - phấn và lấy

nước ở ngoài môi trường (ngoài tổ)

45 - 60 ngày Ong thợ chuyển sang

giai đoạn lão hóa (già)

Ong yếu nên không tham gia vào việc thu hoạch mà chỉ làm các việc như lấy nước, quạt gió, bảo vệ tổ

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

30

Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào ong cũng có sự phân công chặt chẽ như vậy, nó chỉ mang tính chất tương đối vì còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên thay đổi (Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008) [9]

1.3.3.5 Ong thợ đẻ trứng

Theo tác giả Eva Crane (1990) [8]: Khi đàn ong bị mất chúa và trong đàn ong không có trứng, cũng không có ấu trùng non tuổi, nghĩa là không còn khả năng sản sinh một chúa mới và không có feromol ong chúa thì buồng trứng của một số ong thợ sẽ phát triển rồi chúng đẻ trứng Những trứng đó là

trứng không thụ tinh, đơn bội thể, nở ra toàn ong đực Ong thợ A cerana bắt

đầu đẻ trứng trong vòng 1 tuần Ong thợ đẻ trứng vào lỗ tổ ong thợ nhưng không đẻ đều đặn từng quả vào một lỗ tổ Có thể có mấy con ong thợ đẻ trứng vào cùng một lỗ tổ Đàn ong đã có ong thợ đẻ trứng thì khó tiếp nhận ong chúa mới nếu ta giới thiệu chúa mới vào Có thể vì những con ong thợ đẻ trứng cũng đã sản sinh ra feromol Khi tất cả ong thợ của đàn ong có ong thợ

Theo Lindauer (1957) và Atwat + Goyal thì ong Apis cerana có các điệu múa như sau:

- Múa vòng tròn thì nguồn thức ăn cách tổ từ 0,5 - 7m

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

31

- Múa hình lưỡi liềm thì nguồn thức ăn cách tổ trên 8m

- Múa hình số 8 và chuyển động lắc lư thì nguồn thức ăn xa trên 50m Nếu nguồn hoa ở xa thì ong trinh sát múa chậm và độ lắc lư càng lớn

Bình thường ong A cerana bay kiếm thức ăn trong vòng bán kính 1 - 1,5km

Thu hoạch mật: Theo sự chỉ dẫn của ong trinh sát, ong thợ bay tới nguồn hoa dùng ngòi để hút mật vào diều chứa mật Khi mang mật về ong không trực tiếp đổ mật vào lỗ tổ mà phải chuyển cho 2 - 3 ong thợ khác rồi

bay đi chuyển tiếp Theo Park (1982) thì đối với ong A cerana, nếu thời tiết

tốt chúng đi trung bình 5 - 7 chuyến, mỗi chuyến 30 - 45 phút và thu được 30mg mật hoa Nếu nhiều hoa nở cùng lúc thì ong thích lấy mật loại hoa nở

tập trung có tỷ lệ đường cao hơn Ong A cerana thu hoạch hiệu quả

Thu hoạch phấn: Khi thu hoạch phấn ong dùng vòi và hàm trên để liếm hoặc cắn rách bao phấn hoặc lăn mình trên bao phấn để phấn dính vào các long tơ trên cơ thể Sau đó chúng dùng hai đôi chân trước chải phấn rồi chuyển xuống "giỏ phấn" ở đôi chân sau Tất cả các thao tác trên diễn ra rất

nhanh và ở trên không trung Theo Naim và Bisht (1979) thì ong A cerana lấy được 8 - 9mg/chuyến, ong A melifera lấy 12 - 30mg/chuyến Thời gian chủ yếu là 8 - 11h sáng Ở Thái Nguyên ong A cerana lấy phấn hoa càng cua

chủ yếu từ 16 - 18h Khi lấy được phấn mang về tổ ong thợ phải nhờ một số ong thợ khác gỡ phấn ra khỏi "giỏ" và đi tiếp chuyến nữa Bình thường ong đi

từ 6 - 47 chuyến trong một ngày tùy theo điều kiện thời tiết và nguồn hoa Thời gian lấy đầy "giỏ phấn" từ 6 - 10 phút, có khi tới 3h (Nguyễn Duy Hoan

và cs, 2008) [9]

* Hoạt động lấy nước: Ong thợ lấy nước để làm loãng mật, nhào trộn

lương ong và làm mát bánh tổ hoặc làm tăng độ ẩm ở khu vực nuôi ấu trùng khi trời khô hanh Trong đàn ong không có dự trữ nước mà chỉ khi nào cần chúng mới đi lấy Vào tháng 6 - tháng 8, một con ong có thể đi từ 50 - 100

Ngày đăng: 20/12/2014, 23:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phùng Hữu Chính (1996), Nghiên cứu một số giải pháp kĩ thuật để nâng cao năng suất và phẩm chất giống ong nội Apis cerana ở miền Bắc Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ khoa học nông nghiệp, trường đại học nông nghiệp 1 Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp kĩ thuật để nâng cao năng suất và phẩm chất giống ong nội Apis cerana ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Phùng Hữu Chính
Năm: 1996
2. Phùng Hữu Chính (2008), Cẩm nang nuôi ong, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nuôi ong
Tác giả: Phùng Hữu Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2008
3. Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện (1999), Kĩ thuật nuôi ong nội địa Apis cerana ở Việt Nam, Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ thuật nuôi ong nội địa Apis cerana ở Việt Nam
Tác giả: Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1999
4. Quách Đại Cương, Nguyễn Huy Du (1963), Nuôi ong theo phương pháp khoa học, Nhà in Vĩnh Hƣng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi ong theo phương pháp khoa học
Tác giả: Quách Đại Cương, Nguyễn Huy Du
Nhà XB: Nhà in Vĩnh Hƣng
Năm: 1963
5. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2007), Niên giám thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2007)
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2007
6. Phạm Xuân Dũng (2002), Một số thành tựu khoa học ngành ong, Hội thảo khoa học toàn quốc ngành ong - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thành tựu khoa học ngành ong
Tác giả: Phạm Xuân Dũng
Năm: 2002
7. Lê Quý Đôn (1973), Vân đài loại ngữ, tập III (Tạ Quang Phát dịch), tủ sách cổ văn của uỷ ban dịch thuật - phủ quốc vụ khanh, tr. 306 - 308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân đài loại ngữ
Tác giả: Lê Quý Đôn
Năm: 1973
8. Eva Crane (1990), Con ong và nghề nuôi ong (Trần Công Tá dịch), Oxford Heinemann News (UK) - giấy phép xuất bản tiếng việt số 283/CXB 1990, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ong và nghề nuôi ong
Tác giả: Eva Crane
Năm: 1990
9. Nguyễn Duy Hoan, Phùng Đức Hoàn, Ngô Nhật Thắng (2008), Giáo trình kĩ thuật nuôi ong mật, Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kĩ thuật nuôi ong mật
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Phùng Đức Hoàn, Ngô Nhật Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
10. Phùng Đức Hoàn (2003), Nghiên cứu sự hình thành mũ chúa tự nhiên và ảnh hưởng của việc thay chúa đến một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của giống ong nội (Apis cerana) nuôi tại Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự hình thành mũ chúa tự nhiên và ảnh hưởng của việc thay chúa đến một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của giống ong nội (Apis cerana) nuôi tại Thái Nguyên
Tác giả: Phùng Đức Hoàn
Năm: 2003
11. Chu Khôi (2010), Ngành ong khai mở thị trường mới, http://vneconomy.vn, ngày 1/2/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành ong khai mở thị trường mới
Tác giả: Chu Khôi
Nhà XB: vneconomy.vn
Năm: 2010
12. Nguyễn Thị Nga (2008), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên và nhân tạo đến tỷ lệ nước trong mật ong nội Apis cerana, Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên và nhân tạo đến tỷ lệ nước trong mật ong nội Apis cerana
Tác giả: Nguyễn Thị Nga
Năm: 2008
13. Nguyễn Văn Niệm (1991), “Một số dẫn liệu về hình thái ong nội miền Nam Việt Nam”, Tuyển tập báo cáo hội nghị côn trùng lần thứ nhất, trang 20 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dẫn liệu về hình thái ong nội miền Nam Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Văn Niệm
Năm: 1991
14. Nguyễn Khánh Quắc (2007), Nuôi ong mật, Bài giảng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi ong mật
Tác giả: Nguyễn Khánh Quắc
Năm: 2007
15. Hà Văn Quê (2002), Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đàn ong mật nuôi tại các hộ gia đình ở tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đàn ong mật nuôi tại các hộ gia đình ở tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Hà Văn Quê
Năm: 2002
16. Rémy Chauvin (1968), Sinh học ong mật - tập 1, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học ong mật
Tác giả: Rémy Chauvin
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 1968
17. Lê Đình Thái, Nguyễn Văn Niệm (1980), Một số dẫn liệu về hình thái của ong mật vùng Lạc Thủy, Hà Sơn Bình, Như Xuân - Thanh Hóa, Báo cáo tại hội nghị KHKT ngành ong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dẫn liệu về hình thái của ong mật vùng Lạc Thủy, Hà Sơn Bình, Như Xuân - Thanh Hóa
Tác giả: Lê Đình Thái, Nguyễn Văn Niệm
Năm: 1980
19. Nguyễn Thị Thắm (2010), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong chúa Apis cerana nuôi tại Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong chúa Apis cerana nuôi tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Thắm
Năm: 2010
20. Ngô Đắc Thắng (1996), Kĩ thuật nuôi ong thợ, Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ thuật nuôi ong thợ
Tác giả: Ngô Đắc Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1996
21. Ngô Đắc Thắng (2000), Kinh tế - kĩ thuật nuôi ong nội, Nhà xuất bản Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế - kĩ thuật nuôi ong nội
Tác giả: Ngô Đắc Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Hóa
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Hình thái, cấu tạo cơ thể ong mật - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Hình 1.1 Hình thái, cấu tạo cơ thể ong mật (Trang 22)
Hình 1.2: Các cấp ong trong đàn - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Hình 1.2 Các cấp ong trong đàn (Trang 25)
Hình 1.3: Di trùng ong - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Hình 1.3 Di trùng ong (Trang 28)
Hình 1.4: Ong thợ Apis cerana - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Hình 1.4 Ong thợ Apis cerana (Trang 34)
Hình 1.5: Sự phát triển của các cấp ong - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Hình 1.5 Sự phát triển của các cấp ong (Trang 37)
Hình 3.1: Đàn ong thí nghiệm - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Hình 3.1 Đàn ong thí nghiệm (Trang 60)
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của mùa vụ đến sự hình thành ong đực - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mùa vụ đến sự hình thành ong đực (Trang 61)
Hình 3.2: Tiến hành đo kích thước và thể tích lỗ tổ ong - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Hình 3.2 Tiến hành đo kích thước và thể tích lỗ tổ ong (Trang 65)
Bảng 3.4: Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong đực - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.4 Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong đực (Trang 66)
Hình 3.3: Theo dõi, kiểm tra đàn ong thí nghiệm  3.6. Khối lượng ong đực khi mới nở và trưởng thành - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Hình 3.3 Theo dõi, kiểm tra đàn ong thí nghiệm 3.6. Khối lượng ong đực khi mới nở và trưởng thành (Trang 69)
Bảng 3.6: Khối lượng ong đực khi mới nở và trưởng thành - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.6 Khối lượng ong đực khi mới nở và trưởng thành (Trang 69)
Hình 3.4: Cân khối lƣợng ong thí nghiệm  3.7. Số lƣợng tinh trùng của ong đực - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Hình 3.4 Cân khối lƣợng ong thí nghiệm 3.7. Số lƣợng tinh trùng của ong đực (Trang 71)
Hình 3.5: Phân biệt vít nắp của ong thợ và ong đực  3.11. Khối lƣợng ong thợ - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Hình 3.5 Phân biệt vít nắp của ong thợ và ong đực 3.11. Khối lƣợng ong thợ (Trang 78)
Bảng 3.11: Khối lượng ong thợ khi mới nở và trưởng thành - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.11 Khối lượng ong thợ khi mới nở và trưởng thành (Trang 78)
Hình 3.6: Phân biệt trứng ong thợ và trứng ong chúa - nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực và ong thợ apis cerana nuôi tại thái nguyên
Hình 3.6 Phân biệt trứng ong thợ và trứng ong chúa (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w