1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên

162 465 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 17,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài ký chủ trung gian của sán dây gà Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [11].. Chu kỳ sinh học của sán

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN -

NGUYỄN THỊ NGÂN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

BỆNH SÁN DÂY Ở GÀ THẢ VƯỜN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

THÁI NGUYÊN, 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN - NGUYỄN THỊ NGÂN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

Trang 3

MỤC LỤC

2 Mục tiêu của đề tài

1.1.1 Vị trí của sán dây ký sinh ở gà trong hệ thống phân loại động vật 4

1.1.2 Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam 5

1.1.3 Đặc điểm hình thái, cấu tạo một số loài sán dây ký sinh ở gà 6

1.1.4 Chu kỳ sinh học của sán dây ký sinh ở gà 11

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở gà thả vườn tại

2.3.2 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây gà 35

2.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị bệnh sán dây gà 36

2.4.1 Phương pháp lấy mẫu, xét nghiệm và đánh giá tỷ lệ, cường độ

Trang

Trang 4

2.4.2 Phương pháp mổ khám, thu thập và định loại sán dây, thu thập bệnh

2.4.3 Quy định một số yếu tố liên quan đến các chỉ tiêu nghiên cứu dịch tễ

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu đốt và trứng sán dây ở ngoại cảnh 39

2.4.5 Xác định loài kiến - KCTG của sán dây Raillietina spp., tỷ lệ kiến

nhiễm ấu trùng Cysticercoid, đặc điểm hoạt động của kiến theo mùa vụ 41

2.4.6 Phương pháp nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của bệnh sán dây

2.4.7 Phương pháp xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho gà 44

2.4.8 Phương pháp xác định tác dụng của một số biện pháp phòng bệnh

2.4.9 Thử nghiệm quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh sán dây cho gà thả vườn 46

3.1 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH SÁN DÂY Ở GÀ

3.1.1 Tình hình nhiễm sán dây ở gà thả vườn của tỉnh Thái Nguyên 48

3.1.1.1 Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà thả vườn của tỉnh

3.1.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn của các huyện,

3.1.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây theo tuổi gà 55

3.1.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà theo vùng sinh thái 57

3.1.1.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây theo mùa vụ 60

3.1.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm, phân huỷ đốt và sự tồn tại của trứng sán dây

3.1.2.1 Sự ô nhiễm đốt và trứng sán dây ở nền chuồng, xung quanh

Trang 5

3.1.2.2 Thời gian đốt sán phân huỷ giải phóng trứng sán dây và thời

gian sống của phôi 6 móc trong trứng sán dây trên phân 64

3.1.2.3 Thời gian phân huỷ đốt và thời gian sống của phôi 6 móc trong

3.1.3 Nghiên cứu về kiến - ký chủ trung gian của sán dây Raillietina spp 71

3.1.3.1 Thành phần loài kiến - ký chủ trung gian của sán dây Raillietina spp 71

3.1.3.2 Tỷ lệ nhiễm Cysticercoid của các loài kiến đã phát hiện ở tỉnh

3.1.3.3 Đặc điểm hoạt động của kiến - ký chủ trung gian của sán dây

3.2 NGHIÊN CỨU BỆNH LÝ, LÂM SÀNG CỦA BỆNH SÁN DÂY GÀ 76

3.2.1 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của gà gây nhiễm sán dây Raillietina spp 76

3.2.1.1 Gây nhiễm cho kiến Tetramorium caespitum bằng trứng sán dây

3.2.1.2 Thời gian gà gây nhiễm bắt đầu thải đốt sán dây 77

3.2.1.3 Diễn biến thải đốt sán của gà sau gây nhiễm 78

3.2.1.4 Sự thải đốt sán theo thời gian trong ngày của gà gây nhiễm 79

3.2.1.5 Triệu chứng lâm sàng của gà sau gây nhiễm sán dây 80

3.2.1.6 Kết quả mổ khám gà gây nhiễm sán dây 81

3.2.1.7 Xác định một số chỉ số máu của gà gây nhiễm và gà đối chứng 83

3.2.2 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh sán dây ở các địa

3.2.2.1 Tỷ lệ gà nhiễm sán dây ở các địa phương có triệu chứng lâm sàng 86

3.2.2.2 Sự thải đốt sán theo thời gian trong ngày 87

3.2.2.3 Bệnh tích đại thể ở đường tiêu hóa gà bị bệnh sán dây ở các địa

Trang 6

3.3.1.1 Xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho gà trên diện hẹp 92 3.3.1.2 Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho gà trên diện rộng 96 3.3.1.3 Sử dụng thuốc tẩy sán dây đại trà cho gà 97 3.3.2 Xác định tác dụng của một số biện pháp phòng bệnh sán dây cho gà

3.3.2.1 Xác định tác dụng diệt trứng sán dây gà bằng thuốc sát trùng

3.3.2.2 Xác định tác dụng diệt kiến của một số thuốc diệt côn trùng

trong điều kiện phòng thí nghiệm và ở thực địa 100 3.3.3 Thử nghiệm và đề xuất quy trình phòng trị bệnh sán dây cho gà

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

R : Raillietina SĐS : số đốt sán spp : species plural

t0 : nhiệt độ

TP : thành phố

TX : thị xã

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

B ảng 3.1 Những loài sán dây ký sinh ở gà thả vườn của tỉnh Thái Nguyên 48

B ảng 3.2a Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn của các huyện, thành

(qua xét nghi ệm phân) 50

B ảng 3.2b Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn của các huyện, thành

(qua m ổ khám) 53

B ảng 3.3a Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây theo tuổi gà

(qua xét nghi ệm phân) 55

B ảng 3.3b Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây theo tuổi gà (qua mổ khám) 55

B ảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà theo vùng sinh thái

(qua xét nghi ệm phân) 58

B ảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn theo mùa vụ

(qua xét nghiệm phân) 60

B ảng 3.6 Sự ô nhiễm đốt và trứng sán dây ở nền chuồng, xung quanh chuồng

B ảng 3.7 Thời gian đốt sán trong phân gà phân huỷ giải phóng trứng sán dây 65

B ảng 3.8 Thời gian sống của trứng sán dây trong phân gà 66

B ảng 3.9 Thời gian phân huỷ đốt giải phóng trứng sán dây ở lớp đất bề mặt 68

B ảng 3.10 Thời gian sống của trứng sán dây ở lớp đất bề mặt 70

B ảng 3.11 Loài kiến - ký chủ trung gian của sán dây Raillietina spp ở các

B ảng 3.12 Tỷ lệ mẫu kiến mang ấu trùng Cysticercoid trong cơ thể 73

B ảng 3.13 Đặc điểm hoạt động của kiến - ký chủ trung gian của sán dây gà 75

B ảng 3.14 Gây nhiễm cho kiến Tetramorium caespitum bằng trứng sán dây

B ảng 3.15 Thời gian gà gây nhiễm bắt đầu thải đốt sán dây 77

Trang 9

B ảng 3.16 Diễn biến thải đốt sán của gà sau gây nhiễm 78

B ảng 3.17 Sự thải đốt sán theo thời gian trong ngày của gà gây nhiễm 79

B ảng 3.18 Trạng thái phân của gà sau gây nhiễm sán dây 80

B ảng 3.19 Kết quả mổ khám bệnh tích gà gây nhiễm sán dây 82

B ảng 3.20 Một số chỉ số máu của gà gây nhiễm sán dây và gà đối chứng 83

B ảng 3.21 Công thức bạch cầu của gà gây nhiễm sán dây và gà đối chứng 85

B ảng 3.23 Sự thải đốt sán dây ở các khoảng thời gian trong ngày theo mùa 88

B ảng 3.24 Bệnh tích đại thể và số lượng sán dây ký sinh ở gà bị bệnh 89

B ảng 3.25 Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể của gà bị bệnh sán dây 91

B ảng 3.26a Thử nghiệm thuốc Praziquantel tẩy sán dây cho gà 92

B ảng 3.26b Thử nghiệm thuốc Niclosamide tẩy sán dây cho gà 93

B ảng 3.26c Thử nghiệm thuốc Fenbendazole tẩy sán dây cho gà 94

B ảng 3.27 Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho gà trên diện rộng 96

B ảng 3.28 Sử dụng thuốc Praziquantel tẩy đại trà cho gà nhiễm sán dây 98

B ảng 3.29 Tác dụng của chất sát trùng đối với trứng sán dây 99

B ảng 3.30 Tác dụng diệt kiến của một số thuốc diệt côn trùng 100

B ảng 3.31 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn sau 1,5 và 3 tháng

B ảng 3.32 Khối lượng gà ở lô thí nghiệm và đối chứng 103

B ảng 3.33 Thử nghiệm quy trình phòng bệnh sán dây cho gà ở tỉnh Thái Nguyên 104

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

Bi ểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhiễm sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh Thái Nguyên 54

Bi ểu đồ 3.2 Cường độ nhiễm sán dây/ gà theo lứa tuổi (qua xét nghiệm phân) 56

Bi ểu đồ 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà theo vùng sinh thái 58

Bi ểu đồ 3.4 Tỷ lệ nhiễm sán dây ở gà theo mùa vụ 60

Bi ểu đồ 3.5 Sự ô nhiễm đốt và trứng sán dây ở nền chuồng,

xung quanh chuồng và vườn thả gà 63

Bi ểu đồ 3.6 So sánh một số chỉ số máu của gà gây nhiễm và gà đối chứng 83

Đồ thị 3.1 Tỷ lệ nhiễm sán dây ở gà theo lứa tuổi 56

Trang 11

DANH MỤC CÁC ẢNH

Trang

Ảnh 2 Gà bị bệnh sán dây gày, lông xơ xác, có con chết do sán dây ký sinh

Ảnh 3 Đốt sán dây thải ra ngoài theo phân gà, phân lầy nhầy lẫn máu 128

Ảnh 4 Thu thập mẫu phân, mẫu đất và bố trí các thí nghiệm 128

Ảnh 5 Thời gian đốt sán phân hủy ra trứng và diễn biến của trứng trong điều

Ảnh 6 Chuẩn bị mẫu tìm đốt và soi mẫu tìm trứng sán dây 130

Ảnh 7 Mổ khám gà gây nhiễm sán dây đợt I và đợt II 130

Ảnh 9 Sán dây ký sinh gây xuất huyết, làm chất chứa ở ruột có màu nâu hồng 131

Ảnh 10 Thu thập mẫu sán dây để định loài và thu thập bệnh phẩm ruột non,

Ảnh 11 Phần đầu và phần thân R echinobothrida 132

Ảnh 16 Đỉnh đầu và phần thân Cotugina digonopora 133 Ảnh 17 Các loài kiến – KCTG của sán dây Raillietina spp 134

Ảnh 19 Ấu trùng Cysticercoid của sán dây Raillietina spp ở ngày thứ 20 và

ngày thứ 28 trong kiến Tetramorium caespitum 135

Ảnh 20 Theo dõi sự thải đốt sán của gà gây nhiễm sán dây Raillietina spp

Ảnh 21 Lấy máu gà nhiễm sán dây để xét nghiệm máu 136

Trang 12

Ảnh 22 Mổ khám gà gây nhiễm sán dây Raillietina spp và gà đối chứng 136

Ảnh 23 Các biến đổi vi thể chủ yếu ở ruột non có sán dây ký sinh 137

Ảnh 24 Bố trí thí nghiệm thử hiệu lực của thuốc tẩy sán dây 138

Ảnh 26 Tẩy sán dây cho gà trên diện rộng và tẩy đại trà 139

Ảnh 27 Thuốc diệt kiến và thuốc sát trùng chuồng trại, vườn chăn thả 139

Ảnh 28 Thử nghiệm tác dụng diệt trứng sán dây của thuốc sát trùng 140

Ảnh 29 Gà ở lô thí nghiệm và lô đối chứng trước và sau khi thử nghiệm biện

Trang 13

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi thông tin trích dẫn trong luận

án đều được chỉ rõ nguồn gốc

Trang 14

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận án này, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và

bi ết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan - người đã hướng dẫn, chỉ bảo

tôi h ết sức tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án

Trong quá trình th ực hiện đề tài và hoàn thành Luận án, tôi đã nhận được

s ự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực, vật lực của Ban

Giám đốc, Ban Đào tạo Sau Đại học - Đại học Thái Nguyên, Ban Giám hiệu, Khoa

Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, Bộ môn Bệnh động vật, Bộ

môn D ược lý - Vệ sinh an toàn thực phẩm, cùng các thầy cô giáo, các em sinh viên

Khoa Ch ăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên Tôi xin

trân tr ọng cảm ơn tới những sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin trân tr ọng cảm ơn: Chi cục Thú y tỉnh Thái Nguyên, các Trạm Thú y,

Phòng Nông nghi ệp - Phát triển Nông thôn của 9 huyện, thành, thị và các trang

tr ại, hộ chăn nuôi gà thả vườn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân tr ọng cảm ơn: PGS.TS Phạm Ngọc Thạch, PGS.TS Nguyễn

H ữu Nam - Khoa Thú y - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội; TS Bùi Tuấn Việt -

Vi ện Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam; TS Nguyễn Văn Đức, ThS Trần Thị Bính -

Phòng Ký sinh trùng - Vi ện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã giúp đỡ tôi trong

quá trình th ực hiện đề tài

Tôi xin chân thành c ảm ơn các em sinh viên: Nguyễn Thị Thơm, Lê Thị

Thuy ết, Hoàng Vân Thanh, Nguyễn Thị Tuyến, Ngô Thị Chang, Vũ Thị Kim Hương,

Phan Thanh Tùng, V ũ Minh Quân, Vũ Minh Đức, Nguyễn Thị Thùy Dương, Diệp

Th ị Huyền Trang, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Trần Thị Khánh, Nguyễn Thị Huế,

Nguy ễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Thúy Lâm (Khóa 37, 38 - TY, CNTY) đã giúp

tôi th ực hiện đề tài

Tôi xin trân tr ọng cảm ơn Công ty BIO - Pharmachemie đã hỗ trợ tôi về

thu ốc thú y trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi vô cùng bi ết ơn các thành viên trong gia đình và bạn bè đã luôn ở bên

tôi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án

Thái Nguyên, ngày 2 tháng 2 n ăm 2012

NGHIÊN CỨU SINH

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta Nghề nuôi gà đang ngày càng được mở rộng và cải tiến theo xu thế tiếp cận với các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới Trong đó,

gà nuôi thả vườn luôn chiếm một vị trí quan trọng, phát triển ở cả nông thôn, thành thị, vùng ven đô, trung du, miền núi với quy mô ngày càng tăng Thịt gà thả vườn luôn là món ăn ưa thích của nhiều người vì chất lượng thịt cao, thơm, ngon Vì vậy, trong những năm qua và hiện tại, nghề nuôi gà thả vườn đang ngày càng phát triển Song song với sự phát triển của nghề nuôi gà thì dịch bệnh trên đàn gà cũng ngày càng phức tạp Khác với phương thức nuôi nhốt, khi nuôi thả vườn gà thường tìm bới và ăn tạp nên có nhiều cơ hội nhiễm bệnh, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa Nếu gà nhiễm ký sinh trùng với số lượng nhiều có thể gây tắc ruột, thủng ruột và chết Không chỉ vậy, ký sinh trùng còn tiết ra độc tố tác động lên vật chủ, làm vật chủ giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho các bệnh khác phát sinh Bệnh sán dây là một trong những bệnh ký sinh trùng gây tác hại đáng kể cho chăn nuôi gà thả vườn Bệnh được phân bố rộng ở hầu hết các vùng trên thế giới Ở nước ta, bệnh sán dây ở gà thả vườn xảy ra phổ biến ở các vùng địa lý khác nhau,

gà ở vùng núi và trung du thường nhiễm sán dây cao hơn vùng đồng bằng Sán dây

gà cần ký chủ trung gian là các loài kiến, ruồi, bọ cánh cứng Đặc biệt, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài ký chủ trung gian của sán dây gà (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [11])

Khi ký sinh trong ống tiêu hoá, sán dây chiếm đoạt các chất dinh dưỡng của

gà, làm gà gầy yếu, thiếu máu, thể hiện rõ nhất là niêm mạc vàng, nhợt nhạt, mào

và dái tai gà xanh tái Gà thở khó, thường vươn cao cổ để thở Sán gây ra các tác động cơ học trong ruột non của gà: niêm mạc ruột bị tổn thương do các móc bám của sán, viêm ruột thứ phát và xuất huyết, gà tiêu chảy, phân có lẫn máu Gà con bị

Trang 16

nhiễm sán thường thể hiện viêm ruột cấp và chết với tỷ lệ cao Trong quá trình ký sinh, sán dây tiết ra độc tố tác động đến hệ thần kinh, làm cho gà mệt mỏi, ít vận động, ủ rũ Gà con bị bệnh thể cấp tính có thể bỏ ăn, hôn mê, lên cơn động kinh và chết (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2002 [15])

Ở nước ta, trung bình có 68,8 % gà bị nhiễm sán dây, thường thấy các loài

sau: R echinobothrida, R cesticillus, Cotugnia digonopora, Dilipisdoides bauchei

và Davainea proglottina (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996 [7])

Theo số liệu của Trung tâm Tin học và Thống kê (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011) [36], tại thời điểm tháng 4/2011 tổng số gia cầm nước ta có khoảng 293,7 triệu con, tăng 5,87 % cùng kỳ năm 2010 và sản lượng thịt hơi tăng 16,8 % so cùng kỳ năm 2010 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008) [2]

đã định hướng trong chiến lược phát triển chăn nuôi: đàn gia cầm nước ta phấn đấu tăng bình quân 5 %/năm, đến năm 2020 có trên 300 triệu con, trong đó gà nuôi công nghiệp chiếm khoảng 33 % Như vậy, ở thời điểm hiện nay cũng như định hướng đến năm 2020, gà thả vườn vẫn chiếm ưu thế

Thái Nguyên là tỉnh trung du nên có nhiều đồi, núi, bãi chăn thả rộng, rất thuận lợi cho phát triển chăn nuôi gia cầm nói chung và gà thả vườn nói riêng Đàn

gà của tỉnh Thái Nguyên năm 2011 có trên 7.600.000 con (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên, 2011) [24] Kết quả điều tra tại 5 xã phía Tây của thành phố Thái Nguyên cho thấy: gà chủ yếu được nuôi theo phương thức chăn thả

tự do, chiếm 79,34 %; bán chăn thả là 17,56 %; hình thức nuôi nhốt chỉ chiếm 3,10 % (Nguyễn Thị Thuý Mỵ và cs, 2011 [20]) Việc phòng, trị ký sinh trùng cho gà thả vườn nhìn chung chưa được chú ý, hầu hết người chăn nuôi chưa sử dụng thuốc tẩy sán dây cho gà nên năng suất chăn nuôi giảm, hiệu quả kinh tế thấp

Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng ở gà, nhưng các công trình nghiên cứu về sán dây và bệnh do sán dây gây ra còn ít, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về bệnh và quy trình phòng, trị bệnh sán dây ở gà thả vườn

Trang 17

Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi gà ở tỉnh Thái Nguyên,

chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm

sàng và biện pháp phòng, trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh Thái Nguyên”

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Xác định được một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh Thái Nguyên

- Xây dựng được quy trình phòng, trị bệnh sán dây cho gà thả vườn

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm dịch tễ, bệnh

lý, lâm sàng và biện pháp phòng, trị bệnh sán dây cho gà thả vườn ở các huyện, thành của tỉnh Thái Nguyên

- Đã xây dựng được quy trình phòng, trị bệnh sán dây cho gà thả vườn có hiệu quả, khuyến cáo và áp dụng rộng rãi tại các nông hộ, các trang trại chăn nuôi

gà thả vườn

Trang 18

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 SÁN DÂY KÝ SINH Ở GÀ

1.1.1 Vị trí của sán dây ký sinh ở gà trong hệ thống phân loại động vật

Sán dây ký sinh ở gà đều thuộc lớp sán dây - Cestoda Rudolphi, 1808 Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [38], trong giới động vật, lớp sán dây thuộc ngành giun dẹt - Plathelminthes Schnerder, 1873 Ngành Plathelminthes có 8 lớp:

Lớp sán dây gồm hai bộ: bộ Pseudophylidea Carus, 1863 và bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Các loài sán dây ký sinh ở gà đều ở trong

bộ Cyclophyllidea

Theo Nguyễn Thị Kỳ (2003) [10], các loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam theo

hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970) thuộc các phân bộ, họ, giống sau:

Lớp Cestotoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Eucestoda Southwell, 1863

Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900

Phân bộ Davaineata Skrjabin, 1940

Trang 19

Họ Davaineidae Fuhrmann, 1907 Giống Cotugnia Diaare, 1893 Giống Davainea Blanchard, 1891 Giống Raillietina Fuhrmann, 1920

Họ Hymenolepididae (Ariola, 1899) Railliet et Henry, 1909

Giống Dilepidoides Spassky et Spasskaja, 1954 Giống Echinolepis Spassky et Spasskaja, 1954 Giống Orientolepis Spassky et Jurpalova, 1964 Giống Staphylepis Spassky et Oschmarin, 1954

Họ Dilepididae Fuhrmann, 1907 Giống Amoebotaenia (Cohn, 1899)

1.1.2 Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam

Năm 1977, Nguyễn Thị Kỳ (chuyên gia lớn nhất nghiên cứu về sán dây ở Việt Nam) đưa ra danh sách 12 loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam (Phan Thế Việt

và cs (1977) [38] Đến năm 1996, Nguyễn Thị Kỳ đã phát hiện và bổ sung thêm 6 loài sán dây ký sinh ở gà nước ta, đưa tổng số loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam lên 18 loài (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [16] Tuy nhiên, sau một thời gian dài nghiên cứu tu chỉnh phần sán dây trong chương trình động vật chí Việt Nam (1998

- 2003), Nguyễn Thị Kỳ đã bỏ loài Microsomacanthus pavula do không có mẫu

chuẩn và tài liệu thiếu chính xác (Nguyễn Thị Kỳ, 2003) [10] Như vậy, cho tới nay, có 17 loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam, thuộc 1 bộ, 2 phân bộ, 3 họ và 8 giống (Nguyễn Thị Kỳ, 2003) [10], gồm:

3 R (R) echinobothrida (Megnin, 1880) Toàn quốc

4 R (R.) georgiensis Reid et Nugara, 1961 Hải Phòng (1960)

Trang 20

5 R (R.) penetrans (Baczynska, 1914) Hải Phòng (1960)

6 R (R.) penetrans nova Johri, 1934 Hải Phòng (1960)

7 R (R.) peradenica Sawada, 1957 Hải Phòng (1960)

8 R (R.) tetragona (Molin, 1858) Toàn quốc

12 R.(S.) cesticillus (Molin, 1858) Toàn quốc

Dilepidoides Spassky et Spaskaja, 1954

13 Dilepidoides bauchei (Joyeux, 1924) Các tỉnh phía Bắc; Huế (1924)

Echinolepis Spassky et Spaskaja, 1954

14 Echinolepis carioca (Magalhaes, 1898) Toàn quốc

Orientolepis Spassky et Jurpalova, 1964

15 Orientolepis exigua (Yoshida, 1910) Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên

Staphylepis Spassky et Oschmarin, 1954

16 Staphylepis cantaniana (Polonio, 1960) Các tỉnh phía Bắc

Amoebotania Cohn, 1900

17 Amoebotania cuneata (Linstow, 1872) Toàn quốc

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11]; Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân

(2002) [15] cho biết: sán dây thường gặp ở gà gồm những loài chính là:

R tetragona, R echinobothrida, R cesticillus, Cotugnia digonopora, Davainea proglottina Trong đó, có 3 loài nhiễm phổ biến ở gà là: R tetragona,

Trang 21

sinh đẻ của sán dây tăng lên gấp bội Trong cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng chục triệu trứng Ngoài ra, sự hoá đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt khác Đó là do có những đốt sán già lần lượt đứt và thải

ra môi trường bên ngoài mà sự gieo rắc trứng ở đó được thuận lợi hơn, bản thân sán dây thải bỏ đi những đốt già cỗi, đời nó hầu như từng thời được trẻ lại, có sức lực

và năng lượng mới để phát triển những loạt đốt thành thục mới

Phần trước cơ thể có đầu (Scolex), có cơ quan bám, giúp sán dây bám chặt vào thành ruột của vật chủ

Ở một số loài sán dây trên giác bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng Giác bám là đặc trưng của sán dây bậc cao Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài chục đến vài trăm móc Ít khi vòi thiếu móc Kích thước, cấu tạo và

số lượng móc cố định cho mỗi loài

Cổ không phân đốt - là vùng sinh trưởng, từ đó hình thành các đốt mới, số lượng các đốt dao động rất lớn tuỳ loài, từ ba đốt đến vài trăm đốt Các đốt ở phía trước là các đốt non và bé, càng về sau các đốt càng lớn và già

Chiều dài của sán dây ký sinh ở gia cầm từ 1,5 mm - 500 mm Cơ thể màu trắng hoặc màu vàng Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì rồi đến lớp cơ vòng - cơ dọc Phần bên trong chứa đầy nhu mô Nội quan gồm có hệ thần kinh, hệ bài tiết và hệ sinh dục Không có hệ tiêu hoá

Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây chạy dọc cơ thể Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang

Hệ bài tiết của sán dây theo kiểu nguyên đơn thận Gồm 4 ống chính chạy dọc cơ thể: 2 ống mặt lưng, 2 ống mặt bụng và nối với nhau ở phần đầu Ngoài ra,

ở mỗi đốt các ống trái và phải nối với nhau bằng cầu nối ngang

Hầu hết các loài sán dây có hệ sinh dục lưỡng tính Mỗi đốt có một, hai cơ quan sinh dục đực và cái Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: ở các đốt non, cơ quan sinh dục chưa phát triển; sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái Sau khi thụ tinh, hệ sinh dục đực teo dần còn lại

bộ phận sinh dục cái Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung

Trang 22

Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh Số lượng tinh hoàn có thể rất khác nhau từ một đến vài trăm Mỗi tinh hoàn có ống dẫn đổ vào ống dẫn tinh chung, hoặc thẳng, hoặc cong và cuối cùng mở ra ở huyệt sinh dục (bên cạnh lỗ sinh dục cái) Phần cuối ống dẫn tinh là cơ quan giao phối (nang lông gai) chứa gai giao phối phủ các gai nhỏ hoặc vảy Trước gai giao phối, ống dẫn tinh phình rộng tạo thành túi chứa tinh Có thể có túi chứa tinh ngoài (ở ngoài túi giao phối) và túi chứa tinh trong (nằm trong túi giao phối)

Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Mehlis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng) Từ buồng trứng có ống nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ootyp giúp cho việc hình thành trứng

1.1.3.2 Về đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở gà

- Các loài thuộc giống Raillietina Fuhrmann, 1920:

Chuỗi đốt có nhiều đốt Vòi có hai hàng móc dạng búa Bờ của giác bám có vài hàng gai nhỏ Tinh hoàn thường nhiều, nang lông gai nhỏ, thường không đạt tới ống bài tiết bên, rất ít khi cắt ngang ống bài tiết Lỗ sinh dục ở một phía hoặc xen

kẽ không đều Buồng trứng hai thuỳ ở giữa đốt hoặc phần có lỗ Noãn hoàng hình khối, nằm dưới buồng trứng, có túi tinh Mỗi nang trứng chứa từ một đến vài trứng Sán trưởng thành ký sinh ở thú và chim, ấu trùng ký sinh ở côn trùng (Đặng Ngọc Thanh và cs, 2008) [26]

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11], Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [15], Senlik B (2005) [146], Mohammad H R (2011) [109] đã mô tả như sau:

+ Loài R echinobothrida:

Ký sinh ở ruột non của gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim

khác thuộc bộ gà (Gallifomes) Dài 250 mm, rộng 1,2 - 4 mm, trứng: 93 × 74 µm

Đường kính đầu 0,322 - 0,483 mm, vòi dài 0,108 - 0,159 mm

Trang 23

Đầu có 4 giác bám bao gồm từ 8 - 10 dãy móc; vòi của đầu có hai dãy móc khoảng 200 chiếc, dài 0,010 - 0,012 mm Giác bám tròn có đường kính 0,113 - 0,159 mm Bờ giác có nhiều gai nhỏ, có hình dạng và kích thước khác nhau Ở hàng trong cùng gai dài 0,006 mm, hàng gai ngoài cùng dài 0,016 mm Chiều dài của nang lông gai 0,190 - 0,250 mm, đường kính tối đa 0,075 - 0,100 mm Lông gai

có gai nhỏ

Lỗ sinh dục đực đơn tính, nằm ở giữa cạnh sườn đốt sán Có từ 28 - 38 tinh hoàn nằm ở giữa đốt Buồng trứng nhiều thuỳ, noãn hoàng phân thuỳ Trong những đốt già tử cung phân thành 100 - 130 nang trứng, mỗi nang chứa 1 - 12 trứng

Cấu trúc, hình thái của sán dây R echinobothrida ký sinh phổ biến ở gà thả

vườn cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Samad M A và cs, 1986 [143], Radha T và cs, 2006 [132], Lalchhandama K., 2009 [101])

+ Loài R tetragona:

Ký sinh ở ruột non của gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim

khác thuộc bộ gà (Gallifomes) Cơ thể dài 250 mm, rộng 1 - 4 mm Đường kính đầu

0,284 - 0,358 mm, vòi dài 0,051 - 0,058 mm, có 100 móc vòi xếp thành một vòng, móc dài 0,06 - 0,08 mm

Giác bám hình trứng, kích thước 0,169 - 0,175 x 0,073 - 0,076 mm Giác có gai xếp thành 10 hàng trên bờ giác, chiều dài gai từ hàng ngoài vào giữa giảm dần

từ 0,08 - 0,09 mm Nang lông gai hình trứng (0,075 - 0,100 x 0,044 - 0,047 mm),

có 30 - 35 tinh hoàn xếp thành hai nhóm

Các lỗ sinh dục nằm ở tất cả các đốt sán và hơi lệch về phía trước, cạnh sườn các đốt sau Trong những đốt già tử cung phân thành các nang, mỗi nang chứa 4 - 12 trứng Kích thước trứng: 93 x 74 µm, ấu trùng có đường kính 10 - 14 µm

+ Loài R cesticillus:

Ký sinh ở ruột non của gà nhà, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác

thuộc bộ gà Cơ thể dài 90 - 130 mm; rộng 1,5 - 3 mm, trứng có kích thước: 93 x

74 µm Đường kính đầu 0,307 - 0,449 mm Vòi có hình trứng rất đặc trưng, rộng 0,252 - 0,321 mm Trên bờ gần gốc của vòi có hai hàng gai gồm 400 - 500 gai, có chiều dài 0,0012 - 0,0015 mm Giác bám có đường kính 0,075 - 0,099 mm, không có

Trang 24

gai Lỗ sinh dục xen kẽ không đều, nang lông gai 0,172 - 0,188 x 0,072 - 0,088 mm

Có 15 - 20 tinh hoàn xếp ở nửa dưới đốt Tử cung phân ra thành các nang trứng, mỗi nang trứng chứa một trứng

+ Loài R volzi:

Ký sinh ở ruột của gà nhà, gà rừng Sán dài 40 - 60 mm, rộng 2 mm Đầu dài 0,3 mm, rộng 0,045 mm Giác bám có đường kính 0,18 mm, có nhiều gai, phần trên giác có 12 - 14 hàng móc, còn ở phần dưới chỉ có 4 - 6 hàng Gai phần ngoài giác bám lớn hơn phần trong (0,013 và 0,018 mm), vòi nhỏ chiều ngang 0,088 mm, có hai hàng vòng móc gồm 240 móc, dài 0,04 mm Có 30 tinh hoàn ở hai bên và phía dưới tuyến sinh dục cái Nang lông gai dài 0,2 mm, rộng 0,013 mm Buồng trứng 0,20 - 0,24 mm Noãn hoàng rộng 0,1 mm Tử cung chia thành các nang, mỗi nang chứa 8 - 12 trứng

+ Loài R macassarensis:

Ký sinh ở ruột của gà nhà, gà rừng Sán dài 47 - 72 mm, đường kính đầu 0,21 - 0,25 mm Giác bám hình bầu dục, có gai, có kích thước 0,096 - 0,100 x 0,075 - 0,085 mm, gai xếp thành các hàng xoáy trôn ốc đều nhau, mỗi hàng 16 gai, dài 0,005 mm ở hàng ngoài, giảm dần ở các hàng trong

Vòi hình hạt đậu, đường kính 0,075 - 0,090 mm, có hai vòng móc, móc hàng trên dài 0,084 mm, hàng dưới 0,072 mm Kích thước 0,5 - 0,65 x 0,15 - 0,20 mm, chuỗi đốt có chiều rộng lớn hơn chiều dài

Có 20 - 28 tinh hoàn ở hai bên tuyến sinh dục cái, hình tròn hoặc hình bầu dục, kích thước 0,045 - 0,060 x 0,042 - 0,045 mm, ống dẫn tinh rất uốn khúc Nang lông gai hình quả lê, kích thước 0,075 - 0,200 x 0,15 - 0,50 mm, kích thước noãn hoàng 0,033 - 0,100 x 0,075 - 0,150 mm ở giữa và dưới buồng trứng

- Các loài thuộc giống Davainea Blanchard, 1891:

Sán có kích thước nhỏ, chuỗi đốt có ít đốt Trên đầu có 4 giác bám nhỏ Không có cổ Lỗ sinh dục thường xen kẽ, ít khi ở một phía Có từ 4 - 50 tinh hoàn Nang lông gai có kích thước lớn, vượt qua ống bài tiết Mỗi nang trứng có một trứng Ở Việt Nam mới gặp một loài thuộc giống này (Đặng Ngọc Thanh và cs,

2008 [26])

Trang 25

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16], Phạm Sỹ Lăng

và Phan Địch Lân (2002) [15], Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [26] cho biết:

Loài Davainea proglottina: ký sinh ở ruột non của gà nhà, gà tây, gà rừng,

chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà (Gallifomes) Dài 0,5 - 3 mm, rộng

0,18 - 0,6 mm, chỉ có 4 - 9 đốt Đầu nhỏ, dài 0,15 - 0,25 mm, rộng 0,135 - 0,20 mm, vòi có 90 - 95 gai nhỏ, dài 0,065 - 0,075 mm Vòi dài 0,055 mm, rộng 0,060 - 0,085 mm Giác bám nhỏ, kích thước 0,025 - 0,035 mm, có thể tới 0,048 mm Đầu Davainea proglottina có 4 hàng móc Móc có dạng gai, dài 0,0086 - 0,0054 mm Lỗ sinh dục xen kẽ không đều, ở nửa trước đốt sán Túi dương vật dài bằng 2/3 chiều ngang đốt sán Có 12 - 15 tinh hoàn xếp 2 hàng ở nửa sau đốt sán, trứng sán rải rác trong đốt Đường kính trứng 0,035 - 0,04 mm

- Giống Cotugnia Diamare, 1893:

Chuỗi đốt bao gồm những đốt rất ngắn, trừ những đốt cuối cùng Cơ quan sinh dục kép, tuyến sinh dục rất gần mép đốt Tinh hoàn ở vùng giữa đốt, không vượt ra ngoài ống bài tiết bên, hoặc có thể xếp thành hai nhóm Trứng chứa trong các nang nhu mô và mỗi nang chỉ có một trứng, phân bố rải rác trong đốt (Đặng Ngọc Thanh và cs, 2008 [26])

Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16], Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [26]:

Loài Cotugnia digonopora: ký sinh ở ruột của gà Sán dài 22 - 107 mm, rộng 1 - 4 mm, kích thước đầu 0,66 x 1,07 mm Kích thước vòi 1,12 x 1,40 mm Giác bám có kích thước 0,36 x 0,25 mm Cổ ngắn, cơ quan sinh dục kép Có gần

100 tinh hoàn Nang lông gai dài 0,3 mm, hẹp, có gai nhỏ Buồng trứng phân thuỳ Trứng hình bầu dục, kích thước 0,063 x 0,058 mm

1.1.4 Chu kỳ sinh học của sán dây ký sinh ở gà

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11]; Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [15] cho biết:

Sán dây ký sinh ở gà muốn hoàn thành vòng đời cần phải có ký chủ trung gian, do vậy gà chỉ bị nhiễm sán dây khi nuốt phải ký chủ trung gian mang ấu trùng

có sức gây bệnh

Trang 26

Đốt sán rụng theo phân ra

ngoài, trứng sán phân tán, ký chủ

trung gian ăn phải, vỏ trứng bị phân

huỷ ở ruột ký chủ trung gian, phôi 6

móc chui vào cơ thể ký chủ trung

gian tiếp tục phát triển thành ấu trùng

Cysticercoid Gà ăn ký chủ trung

gian có mang ấu trùng này, vào

đường tiêu hoá ký chủ trung gian bị

phân huỷ, ấu trùng dùng giác hút

bám vào niêm mạc ruột phát triển

thành sán dây trưởng thành

Thời gian phát triển ở ký chủ trung gian là 14 - 16 ngày (mùa hè) và 66 ngày (mùa đông) đối với ký chủ trung gian là côn trùng cánh cứng; 20 - 22 ngày với ký chủ trung gian là nhuyễn thể trên cạn

Thời gian hoàn thành vòng đời tuỳ loại sán dây: R tetragona và

R echinobothrida là 19 - 23 ngày; R cesticillus là 11 - 20 ngày; Davainea

proglottina là 12 - 16 ngày

Thời gian từ khi kiến nuốt trứng sán dây đến khi hoàn thành giai đoạn

Cysticercoid là 20 - 24 ngày (Saeed A E M và cs, 2009 [139]) Sau khi gà nuốt

kiến, Cysticercoid được giải phóng bám vào niêm mạc ruột non và phát triển thành

sán dây trưởng thành sau 2 - 3 tuần (Permin A và Hansen J W., 2003 [127])

+ Loài R echinobothrida:

Theo Akhumiam X (1952): vòng đời loài này cần vật chủ trung gian là loài

kiến Pheidole pallidula, ruồi nhà Musca domestica (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và

Phan Địch Lân, 2002 [15]) Các đốt sán già rụng chứa nhiều trứng theo phân ra ngoài Đốt vỡ ra, giải phóng trứng, kiến và ruồi nhà - vật chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, phát triển thành ấu trùng Gà ăn kiến, ruồi có ấu trùng, ấu trùng vào ruột non gà phát triển thành sán trưởng thành

+ Loài R tetragona:

Vòng đời phát triển của R tetragona có sự tham gia của vật chủ trung gian

là một số loài kiến như: Pheidole pallidula và Tetramorium caespitum (Orlov M

Hình 1: Vòng đời của sán dây

Raillietina spp [161]

Trang 27

F., 1975 [23]) Các giai đoạn phát triển của ấu trùng thực hiện trong các loài kiến vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm Gà ăn phải kiến có ấu trùng sẽ nhiễm sán

-+ Loài R cesticillus:

Vòng đời có sự tham gia của vật chủ trung gian là 19 loài bọ hung

(Coleoptere ) thuộc các giống Geotrupes, Carabus, Broscus, Panagatus, Ophnus,

Tenebrria, Aphodius, Plastysm và Orytes Các loài bọ hung ăn phải trứng sán ở môi trường tự nhiên, trứng sán sẽ phát triển qua các giai đoạn trở thành ấu trùng cảm nhiễm Gà ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm sán

+ Loài Davainea proglottina:

Ký chủ trung gian là nhuyễn thể cạn (ốc cạn) Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán chửa rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán Ký chủ trung gian nuốt phải trứng sán, vào đến ruột, ấu trùng 6 móc nở ra, chui vào cơ thể ký chủ

trung gian và phát triển thành ấu trùng gây bệnh Cysticercoid Gà ăn phải vật chủ

trung gian chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm sán

Theo Permin A và Hansen J W (2003) [127]: thời gian phát triển thành

Cysticercoid là 3 tuần (ký chủ trung gian gồm các loài nhuyễn thể trên cạn: Limax,

Cepaea, Agriolimax và Arion), sau khi gà nuốt các ký chủ trung gian có Cysticercoid vào đường tiêu hóa, Cysticercoid được giải phóng, sau 2 tuần phát triển thành sán

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [7]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11]; Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [22]) cho biết: sán dùng giác bám bám sâu vào

Trang 28

niêm mạc ruột gây tổn thương Nếu nhiều sán làm tắc ruột, thủng ruột gây viêm xoang bụng Khi ký sinh, sán còn tiết ra chất độc làm gà bị trúng độc, sán lấy dinh dưỡng làm gà gầy yếu, còi cọc

Theo Dương Công Thuận (2003) [35]: tác động gây bệnh sán đối với gà con nặng hơn gà lớn Cũng tuỳ loài sán, mức độ gây bệnh có khác nhau Bệnh do

Davainea và Raillietina spp thường nặng hơn Bệnh có thể ở thể cấp tính do sán

non gây nên, kéo dài từ 1 - 7 ngày; hoặc ở dạng mãn tính do sán trưởng thành gây nên, kéo dài nhiều ngày

Theo nhiều tác giả, khi gà nhiễm sán dây sẽ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ, làm giảm sức đề kháng của con vật (Padhi B C., 1986 [119], Jansen J và Pandy V S., 1989 [90], Sonajya E B., 1990 [148], Salfina, 1992 [142], Kunjara N

A C và Sangvar A A., 1994 [98], Khalil L F và cs, 1994 [95], Khan R W và cs,

1994 [96], Dougald L R., 2003 [69], Permin A., Hansen J W., 2003 [127], Dube

S và cs, 2010 [70]) Tác hại của sán dây gà gây ra thể hiện qua 4 tác động sau:

Tác động cơ giới: với số lượng lớn sống trong ống tiêu hoá của gà, sán dùng

giác bám bám sâu vào niêm mạc ruột gây tổn thương, viêm ruột và xuất huyết Gà

ỉa lỏng, phân có lẫn máu Gà con bị nhiễm sán thường thể hiện viêm ruột cấp và chết với tỷ lệ cao

Tác động tiết độc tố: trong quá trình ký sinh, sán dây tiết ra độc tố Độc tố là

dịch tiết của các tuyến trong miệng và các chất bài tiết của sán dây, độc tố tác động đến hệ thần kinh, làm cho gà mệt mỏi, ít vận động, thích đứng ủ rũ trong bóng tối

Gà con bị bệnh cấp tính có thể bỏ ăn, hôn mê, lên cơn động kinh và chết

Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng: sán nuôi dưỡng bản thân bằng cách

thẩm thấu dinh dưỡng qua toàn bộ bề mặt cơ thể Do số lượng sán nhiều và tồn tại trong thời gian kéo dài làm gà gầy yếu, còi cọc, chậm lớn, thiếu máu Gà bị nhiễm sán nặng giảm tăng trọng rõ rệt đối với gà nuôi thịt và giảm sản lượng trứng đối với

gà đẻ

Tác động mang trùng: sán bám chặt vào niêm mạc ruột gây tổn thương, phá

vỡ phòng tuyến thượng bì, tạo điều kiện cho vi khuẩn (E.colli, Salmonella…) từ

môi trường xâm nhập gây nên các bệnh ghép với bệnh sán dây

Trang 29

1.2.2 Dịch tễ học của bệnh sán dây gà

Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học các bệnh do sán dây gây ra Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn ít và chưa hệ thống nên chưa phản ánh đầy đủ những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển của bệnh

Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [26] cho biết: Viện Động vật học Peterburg

(1962) đã công bố 9 loài sán dây, trong đó loài R (Paroniella) tinguiana được phát

hiện lần đầu tiên Năm 1968, Bùi Lập, Phạm Văn Khuê, Phan Văn Lục, Đoàn Tuân

phát hiện được gà ở Hà Bắc (cũ) nhiễm 4 loài: Cotugnia digonopora, R tetragona,

R cesticillus, R echinobothrida Năm 1972, Oschmarin và Demshin nghiên cứu mẫu sán dây thu được ở một số động vật nuôi và động vật sống hoang dại tại ven biển vịnh Bắc Bộ, đã phát hiện được 57 loài sán dây, trong đó có 3 loài sán dây ký

sinh ở gà lần đầu tiên gặp ở Việt Nam: R peradenica, R georgiensis, R penetrans

nova. Tỷ lệ nhiễm sán dây của gà nhà là 93,40 %, gà rừng 83 %; phát hiện được 19

loài sán dây ký sinh ở gà nhà (trong đó có 12 loài thuộc họ Davaineidae, 5 loài thuộc họ Hymenolepididae, còn họ Dilepididae chỉ có 2 loài), còn ở gà rừng có 10 loài Có tới 4 loài rất phổ biến ký sinh ở cả gà rừng và gà nhà Loài Dilepidoides

bauchei là loài đặc trưng ký sinh ở gà nhà Việt Nam

Năm 2007, Schou T W và cs [145] đã điều tra tình hình nhiễm giun sán ở

gà nuôi tại Việt Nam, kết quả cho thấy: giống gà khác nhau thì tỷ lệ nhiễm khác nhau, gà Ri (gà địa phương) có tỷ lệ nhiễm sán dây cao hơn gà Lương Phượng (gà nhập nội) Tỷ lệ nhiễm giun sán ở gà Ri tăng dần theo lứa tuổi, còn gà Lương Phượng

không có sự khác biệt rõ ràng Hai loài sán dây nhiễm chủ yếu ở gà là R chinobothrida

và R tetragona

Điều tra tình hình nhiễm R cesticillus trên các giống gà khác nhau tại Đức, Mathhias Gauly (2010) [169] cho biết: gà ISA Brown nhiễm 19 %, gà Lohmann Brown nhiễm 5 %, gà Brown Nick nhiễm 2,48 %, gà Hyline nhiễm 40,3 % Tỷ lệ nhiễm trung bình là 24,8 %

Nghiên cứu về tình hình nhiễm sán dây ở gà thả vườn tại Ấn Độ, kết quả cho

thấy: tại Mysore, gà nhiễm R tetragona là 17 %, R echinobothrida là 4 % (Hemalatha

E A và cs, 1987 [83]); tại Ludhiana, gà nhiễm R tetragona là 63,5 %, R cesticillus là

Trang 30

24,5 %, R echinobothrida là 5,9 % và Cotugnia digonopora là 16,1 % (Tuli J S.,

1989 [156]) Tại Kashmir, trong 478 gà mổ khám có 111 gà nhiễm sán dây

R cesticillus (tỷ lệ nhiễm 23,22 %) (Salam S T và cs, 2010 [141]) Gà nhiễm sán

dây nặng vào mùa mưa (Yadav A K và Tandon V., 1991 [163])

Nghiên cứu của Wilson K I và cs (1994) [160] trên gà thả vườn tại vùng Đông Bắc Arkansas cũng thấy loài sán dây thường gặp là R tetragona (ở gà trống

là 67,2 % và gà mái là 69,2 %)

Mpoame M và Agbede G (1995) [110] đã kiểm tra tình hình nhiễm giun

sán trên 351 gà tại Dschang (phía tây Cameroon), kết quả đã tìm thấy 10 loài giun

sán với tỷ lệ nhiễm trung bình 93,5 % Trong đó, gà nhiễm R tetragona với tỷ lệ

14,5 %; không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giữa gà trống và mái Gà thường nhiễm nặng vào mùa mưa (tháng tư đến tháng 10)

Ergün K và Erol T (1996) [72] đã thông báo, gà thả vườn ở Thổ Nhĩ Kỳ

nhiễm R echinobothrida là 10 % và R tetragona là 6 %; gà nuôi nhốt nhiễm với tỷ

lệ thấp (R echinobothrida là 1 % và R tetragona là 2 %)

Tại Ethiopia, gần như tất cả các trang trại chăn nuôi gà đều nhiễm ký sinh trùng, đặc biệt các trang trại nuôi gà thả vườn thường nhiễm nhiều loại giun, sán

Trong đó, tỷ lệ nhiễm sán dây Raillietina spp khá cao (Alemu S., 1985 [48],

Alamargot J., 1987 [47], Gedion Y., 1991 [77], Teshome M., 1991 [154], Tegene N., 1992 [152], Tadelle D., 1996 [149], Bersabeh T., 1999 [52] Trong đó, 2 loài

sán dây thường gặp ở gà thả vườn tại Ethiopia là R echinobothridia (29,47 %),

R tetragona (26,32 %); đối với gà nuôi bán chăn thả, tỷ lệ nhiễm sán dây thấp hơn:

R cesticillus (7,69 %), R tetragona (1,92 %) (Abebe W và cs, 1997 [46]) Kiểm

tra 267 gà thả vườn tại 4 huyện của vùng Amhara - Ethiopia từ tháng 10 năm 1998 đến tháng 8 năm 1999, Eshetu Y và cs (2001) [73] đã tìm thấy các loài sán dây với

tỷ lệ nhiễm khác nhau: R echinobothrida (25,84 %), R tetragona (45,69 %),

R cesticillus (5,62 %), Davainea proglottina (1,12 %)

Nghiên cứu ngẫu nhiên trên 100 gà thả vườn tại khu vực phía Đông của Gana (Tây Phi), Poulsen J và cs (2000) [130] cho biết: 100 % gà nhiễm giun sán

với tổng số là 18 loài, trong đó có loài R cesticillus (12 %), R echinobothrida (81 %), R tetragona (59 %) Tỷ lệ nhiễm giữa gà trống và gà mái không có sự khác

biệt đáng kể

Trang 31

Tại Goromonzi - Zimbabwe, Permin A và cs (2002) [126] đã kiểm tra giun, sán trên 50 gà con và 50 gà trưởng thành, kết quả 100 % số gà kiểm tra đều nhiễm

giun sán, trong đó: 66 % gà con và 34 % gà trưởng thành nhiễm R echinobothrida,

94 % gà con và 100 % gà trưởng thành nhiễm R tetragona, 50 % gà con và 76 %

gà trưởng thành nhiễm R cesticillus

Magwisha H B và cs, 2002 [106] đã khảo sát trên 100 gà tại vùng nông

thôn ở Morogoro (Tanzania) thấy gà nhiễm 18 loài Nematoda, nhiễm 8 loài

Cestoda ; không nhiễm Trematoda Gà đều nhiễm ít nhất ba loài giun sán khác

nhau Gà đang tăng trưởng (gà choai) có từ 4 - 14 giun sán/cá thể, gà trưởng thành có từ 3 - 12 giun sán/cá thể Gà nhiễm cao ở mùa mưa Tỷ lệ nhiễm sán

dây ở gà đang tăng trưởng và gà trưởng thành: Davainea proglottina (9 %, 2 %);

R tetragona (36 %, 21 %) (P <0,05)

Tại Malaysia, theo Lee C C và Amin B S M (2003) [104]: gà thường

nhiễm 2 loài sán dây: R echinobothrida và R tetragona Abdul W R và cs (2009)

[45] cho biết: có tới 66,7 % gà mái và 73,3 % gà trống nhiễm sán dây Các loài sán

dây đã tìm thấy: R echinobothrida, R tetragona và R cesticillus Trong đó, gà nhiễm chủ yếu 2 loài sán dây R tetragona và R echinobothrida (tỷ lệ nhiễm 2 loài này ở gà là 93,3 %), tỷ lệ gà nhiễm R cesticillus thấp

Irungu L.W và cs (2004) [89] đã mổ khám 456 gà thả vườn tại Kenya, có

414 gà nhiễm giun sán (chiếm 90,78 %) Trong đó, gà nhiễm Raillietina spp là 47,53 %; Cotugnia digonopora 3,6 % Những gà nhiễm sán thường gầy yếu, chậm

lớn Cũng tại Kenya, Mungube E O và cs (2008) [112] cho biết: tỷ lệ nhiễm giun sán là 93,3 % trên 360 gà được chọn ngẫu nhiên từ vùng Yathui - Machakos Trong

đó, tỷ lệ nhiễm Nematoda là 74,4 %; tỷ lệ nhiễm Cestoda là 68,1 % Trong đó, 2

loài Cestoda nhiễm nặng nhất là R echinobothrida (33,3 %) và Davainea

proglottina (19,4 %), gà trống nhiễm nặng hơn gà mái

Tại Bangladesh, Rabbi A K M A và cs (2006) [131] đã kiểm tra 240 gà, gồm gà thịt, gà đẻ nuôi nhốt và gà thả vườn Kết quả cho thấy, 100 % gà thả vườn nhiễm giun sán, gà đẻ nuôi nhốt nhiễm 48,75 %, gà thịt (broiler) nhiễm 3,75 %

Trong đó, gà thả vườn nhiễm sán dây R tetragona với tỷ lệ 43,75 %

Trang 32

Hassouni T và cs (2006) [81] khi nghiên cứu về tình hình nhiễm giun sán ở

300 gà trưởng thành tại 3 làng thuộc quận Gharb - Morocco từ 2002 - 2005 cho

biết, các loài sán dây đã được tìm thấy là: R echinobothrida (5,7 %), R tetragona (9,3 %), R cesticillus (12 %) Tỷ lệ nhiễm các loài giun sán không có sự khác biệt

Số lượng ký sinh trung bình là 7 giun sán (biến động từ 0 - 168 giun sán/gà)

Một cuộc khảo sát đã được Kurt M và Acici M (2008) [99] thực hiện để xác định và mức độ nhiễm giun sán trong 185 gà từ 9 huyện trong tỉnh Samsun ở miền bắc Thổ Nhĩ Kỳ giữa tháng 7 năm 1999 và tháng 6 năm 2000, đã tìm được 16

loài giun sán, trong đó: Davainea proglottina (23 %), R echinobothrida (13 %),

R cesticillus (12 %), R tetragona (6 %)

Tại Australia, John W (2008) [91] cho biết: gà thả vườn thường nhiễm nhiều

loài sán dây, trong đó loài Davainea proglottina nhiễm phổ biến và gây tác hại

nhiều nhất cho gà

Permin A và cs (1997) [124] đã nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán theo mùa và khí hậu tại 6 làng trong vùng Morogoro, Tanzania trên 600 gà được lựa chọn ngẫu nhiên, kết quả là: tất cả các gà đều nhiễm giun sán với mức độ nhiễm trung bình là 4,8 loài giun sán/gà ở mùa mưa và 5,1 loài giun sán/gà ở mùa khô Tỷ

lệ nhiễm các loài sán dây ở mùa mưa là: R echinobothrida (41,3 %), R tetragona (25,3 %), R cesticillus (8,7 %), ở mùa khô tương ứng là 46,3 %; 21,3 %; 2,7 %

Như vậy, tỷ lệ nhiễm thay đổi theo mùa phụ thuộc tuỳ loài sán dây

Công trình nghiên cứu về biến động nhiễm sán dây theo mùa vụ tại 3 tỉnh phía Bắc Guara cũng đã được Maho A và cs (1999) [107] công bố: gà nhiễm sán dây ở mùa mưa cao hơn mùa khô (25 % ở mùa mưa và 18 % ở mùa khô) Các loài

sán dây tìm thấy gồm: R cesticillus, Cotugnia digonopora và Davainea proglottina

Điều tra tỷ lệ nhiễm sán dây ở gà thả vườn tại Tây Ban Nha, Tomas M L

(2007) [170] cho biết, có 3 loài sán dây nhiễm phổ biến ở gà là: Davainea

proglottina 36 %, R tetragona 2,3 %, R cesticillus 3,5 % Tỷ lệ nhiễm ở mùa

Trang 33

nóng, ẩm cao hơn mùa lạnh, khô Một kết quả nghiên cứu trước đó trên gà Gô tại

Tây Ban Nha cũng cho thấy, tỷ lệ nhiễm Railietina spp rất cao ở mùa nóng ẩm

(Calvete C và cs, 2003 [59])

Kết quả nghiên cứu về tình hình nhiễm giun sán ở gà thả vườn tại Iran của Naem S và Eskandari S (2005) [115], Nabavi R và cs (2007) [114] cho biết: gà nhiễm sán dây ở mùa mưa cao hơn ở mùa khô, lứa tuổi gà càng cao thì tỷ lệ nhiễm sán dây càng nặng Eslami A và cs (2009) [74] đã mổ khám 50 gà mái nuôi thả vườn tại Golestan - Iran, tìm thấy 15 loài giun sán, trong đó có 2 loài sán dây:

R tetragona nhiễm 58 %, R echinobothrida nhiễm 6 % Tỷ lệ gà nhiễm sán dây ở

mùa mưa cao hơn ở mùa khô

Đóng vai trò tàng trữ và truyền ấu trùng sán dây Raillietina spp trong tự

nhiên là một số loài kiến Pheidole spp., Tetramorium spp., ruồi nhà Musca

domestica và các loài bọ hung (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2002 [15]) Trong điều kiện nóng ẩm ở nước ta, các loài kiến, bọ hung và ruồi nhà có thể hoạt động quanh năm, ăn trứng sán và trứng sán nở và phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm Gà ăn phải các vật chủ trung gian có mang ấu trùng sán sẽ bị nhiễm sán

Bệnh do sán dây Raillietina spp gây ra diễn ra quanh năm, nhưng tập trung

vào các tháng có thời tiết nóng và ẩm ướt, từ cuối mùa Xuân đến đầu mùa Thu Thời gian này, điều kiện sinh thái phù hợp cho các loài kiến, bọ hung và ruồi nhà phát triển Đó chính là mùa những loài côn trùng này hoạt động và truyền nhiều loại mầm bệnh, trong đó có ấu trùng sán dây (Orlov F M., 1975 [23]; Phạm Sỹ

Lăng và Phan Địch Lân, 2002 [15], Junker K và Boomker J., 2007 [92])

Ký chủ trung gian của sán dây gà gồm rất nhiều loài, có thể là kiến, ruồi nhà, ốc cạn, giun đất, bọ hung, châu chấu… (Trịnh Văn Thịnh, 1977 [32], Dương Công Thuận, 2003 [35]), vì vậy mà gà thả vườn nhiễm sán dây với tỷ lệ cao và có thể nhiễm một lúc nhiều loài sán dây

Tại Nhật Bản, Sawada I (1953) [144] đã gây nhiễm cho kiến Tetramorium

caespitum thu thập từ 14 trang trại chăn nuôi gà thả vườn bằng đốt sán dây

R echinobothrida, sau đó cho gà Leghorn ăn kiến, kết quả đã có 81 % gà nhiễm sán

Fawzy A A (1984) [75] đã tìm thấy ấu trùng Cysticercoid của loài

Cotugnia digonopora sau khi gây nhiễm thực nghiệm cho bọ cánh cứng

Trang 34

Alphitobius diaperinus 12 - 18 ngày Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu sự phát

triển Cysticercoid của sán dây Cotugnia digonopora trong bọ cánh cứng

Alphitobius diaperinus

Vai trò của một số loài kiến là ký chủ trung gian của sán dây gà cũng được

nghiên cứu tại Sudan Các loài kiến đã xác định được gồm: Pachycondyla

sennarensis , Messor galla và Acantholepis spp với 1 - 40 Cysticercoid trên mỗi

kiến (Mohammed O B và cs, 1988 [108], Đại học Khartoum - Sudan, 2008 [157]) Năm 2001, tại Ấn Độ, Ponnudurai G và Chellappa D J [129] đã xác định được loài kiến Monomorium floricola là ký chủ trung gian của sán dây Cotugnia

digonopora , 60 % số kiến kiểm tra có từ 1 - 5 Cysticercoid /kiến Sau đó, tác giả đã cho kiến Monomorium floricola ăn đốt sán Cotugnia digonopora thành thục, kết quả 21 ngày sau hình thành ấu trùng Cysticercoid trong kiến

Callaghan M G và cs (2003) [57] đã tìm thấy Cysticercoid của 5 loài sán dây Raillietina spp trong kiến Pheidole spp ở trang trại Keith và Glossop tại miền

Nam Australia

Năm 2009, Gordon D M và Whitfield P J [80] đã tìm hiểu mối liên hệ

giữa Cysticercoid của sán dây Hymenolepis diminuta và R cesticillus trong bọ cánh cứng Tribolium confusum

Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển bệnh sán dây ở

gà Mùa Đông, khí hậu khô và lạnh, tỷ lệ và cường độ nhiễm ký sinh trùng thường thấp hơn so với các mùa khác Tuy nhiên, nước ta là nước nhiệt đới, có một mùa nóng ẩm kéo dài và một mùa đông không lạnh lắm, không khô lắm, thích hợp cho

sự phát triển và lây lan của bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh sán dây gà nói riêng (Dương Công Thuận, 2003 [35])

Theo Orlov F M và cs (1975) [23], Permin A và cs (1999) [125], Heinz M (2001) [85], (2008) [84], Leland S S (2004) [105], Zajac A và Gary A C (2006) [165], gà bị nhiễm sán dây nặng thường thấy chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 11, là mùa mưa nhiều, ẩm độ cao, trời nóng thích hợp cho ký chủ trung gian phát triển

Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau nhiệt độ xuống thấp hơn, trời rét, khô hạn nên tỷ

lệ nhiễm thấp hơn Khi gà bị nhiễm sán dây nặng cơ thể gầy yếu, khả năng hấp thụ vitamin kém, từ đó làm giảm sức đề kháng của cơ thể

Trang 35

Gà cảm nhiễm sán dây ở mọi lứa tuổi, gà con dưới ba tháng tuổi đã nhiễm

Raillietina, tỷ lệ 41,07 %, sau đó có chiều hướng tăng dần ở lứa tuổi 3 - 5 tháng (57,1 %) và tăng lên ở lứa tuổi trên 5 tháng (69,9 %) Như vậy, tỷ lệ nhiễm sán dây

tăng dần theo tuổi và gà lớn có nhiều cơ hội tiếp xúc với ký chủ trung gian (Phạm

Văn Khuê và Phan Lục và cs, 1996 [7])

Nghiên cứu về thành phần giun, sán ký sinh ở gà thả vườn và tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi gà tại Pakistan, Abbas H S và cs (1999) [42] thấy rằng, gà nhiễm sán

dây R echinobothrida là 13,12 %; R tetragona là 10,6 %; R cesticillus là 12,8 %

Lứa tuổi càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng nặng

Điều kiện chăn nuôi và môi trường sống của gà cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Gà nuôi theo phương thức công nghiệp (nuôi nhốt), ít có điều kiện tiếp xúc với vật chủ trung gian mang mầm bệnh nên ít nhiễm sán dây

Raillietina spp. Trong điều kiện chăn nuôi thả vườn, gà liên tục tiếp xúc với côn trùng trung gian mang ấu trùng sán dây nên thường nhiễm sán dây với tỷ lệ và cường độ cao (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2002 [15])

Bệnh sán dây gà phân bố rộng Kết quả điều tra ở các thập kỷ 70 và 80 cho thấy, gà ở vùng núi nhiễm sán dây cao hơn ở vùng trung du và đồng bằng: Nghĩa

Lộ 80,7 %; Quảng Ninh 85,0 %; Hà Bắc 73,8 %; Nam Hà 69,4 % (Trịnh Văn Thịnh, 1977 [32]) Tỷ lệ nhiễm cao ở vùng núi là do ở vùng núi thảm thực vật dày

và phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài ký chủ trung gian của sán dây tồn tại và phát triển

Ashnafi H và Eshetu Y (2004) [166] đã nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán ở gà thả vườn tại 3 vùng có địa hình khác nhau ở Ethiopia, kết quả cho thấy: 86,32 % gà nhiễm sán dây Trong đó, tỷ lệ nhiễm ở vùng núi cao (Jedu) là 48,95 %; vùng trung du (Sebeta) là 86,84 %; vùng thấp (Awash - Melka) là 78,42 % Có 6 loài

sán dây đã được tìm thấy, trong đó, gà nhiễm R echinobothrida với tỷ lệ cao nhất (65,3 %), tiếp theo là Hymenolepis cantainana (53,7 %); Amoebotaenia spp (37,4 %);

R tetragona (35,8 %); R cesticillus (19,0 %) và Choanotaenia infundibulum (3,2 %)

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Nhân Lừng và cs (2011) [18] thấy rằng: gà thả vườn nuôi tại Bắc Ninh và Bắc Giang có tỷ lệ nhiễm sán dây khá cao, trong đó gà

Trang 36

nhiễm loài R echinobothrida với tỷ lệ cao nhất (62,01 %), tiếp theo là R tetragona (45,07 %); C digonopora (43,13 %); R cesticillus (11,04 %); Echinolepis carioca (7,99 %); R volzi (1,25%) và thấp nhất là Dilepidoides bauchei (0,90%)

Theo Wetzel (1954), R cesticillus thường thải đốt sán vào khoảng 11 - 16 h (tối đa lúc 15 h) Davainea proglottina vào khoảng 12 - 18 h Việc thải đốt sán

cũng phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi và giờ giấc cho ăn Nếu cho gà ăn 2 lần vào lúc 10 và 16 h thì phân có đốt sán nhiều nhất vào lúc 16 - 18 h Ngược lại, cho

ăn buổi chiều vào lúc 18 h và đêm thì 6 - 10 h sáng hôm sau sẽ ra đốt sán (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [11])

Sức đề kháng của mầm bệnh ở ngoài tự nhiên cũng góp phần vào sự phát triển của bệnh Đốt sán già theo phân gà ra ngoài bị phân huỷ, giải phóng ra nhiều trứng sán Trứng có thể tồn tại trong một thời gian nhất định ở ngoại cảnh

Bệnh sán dây thường quan sát thấy nhiều vào mùa thu: gà bị bệnh thường có hiện tượng gầy yếu và thiếu máu rất nặng, ở nhiều cơ sở chăn nuôi, bệnh này xảy ra mang tính tự phát

Vật ký sinh sống trong điều kiện dinh dưỡng quá đầy đủ, do vậy chúng tăng cường khả năng sinh sản để phát tán và bảo tồn loài Vấn đề phát tán đối với động vật sống tự do rất dễ dàng nhưng đối với động vật ký sinh thì cực kỳ phức tạp và khó khăn Khó khăn chính là ở chỗ phát tán vào cá thể vật chủ mới, thường buộc phải vượt qua nhiều điều kiện không thuận lợi của môi trường Vì vậy, vật ký sinh thường sản sinh ra số lượng lớn trứng, ấu trùng, đảm bảo khả năng tồn tại và phát tán ra môi trường bên ngoài (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [12])

1.2.3 Miễn dịch học bệnh sán dây gà

Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [33] cho rằng, bệnh ký sinh trùng rất phổ biến, đã và đang gây ra nhiều tác hại hơn bất cứ tình trạng nhiễm trùng nào khác, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và các nước đang phát triển Việt Nam là nước khí hậu nhiệt đới, người và động vật luôn nhiễm ký sinh trùng với số lượng, chủng loại nhiều và cường độ nhiễm cao

Cơ thể người và động vật đáp ứng với ký sinh trùng như thế nào? Đó là câu hỏi mà rất nhiều người quan tâm tìm cách trả lời, hy vọng tìm ra những phương

Trang 37

pháp phòng nhiễm ký sinh trùng một cách hữu hiệu Nói một cách tổng quát thì cơ thể có đáp ứng miễn dịch với ký sinh trùng nhưng không mấy hiệu quả, cuộc đấu tranh liên tục xảy ra và đã gây những tổn thương kéo dài, ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể vật chủ (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [12])

Cơ thể vật chủ là môi trường dinh dưỡng tự nhiên của vật ký sinh, vì thế những thay đổi trong môi trường đều có liên quan trực tiếp đến đời sống của vật ký sinh Bản thân vật chủ thường xuyên bị ảnh hưởng trực tiếp của môi trường bên ngoài và thông qua cơ thể vật chủ ảnh hưởng đến vật ký sinh

Ảnh hưởng do hoạt động của vật chủ lên vật ký sinh thể hiện bằng những phản ứng của tế bào và dịch thể có tác dụng làm giảm khả năng sống của sán, nếu tác dụng mạnh hơn thì sẽ triệt tiêu hoặc thải vật ký sinh ra khỏi cơ thể Phản ứng rõ nhất

là phản ứng viêm các mô ngay tại chỗ của vật ký sinh như hiện tượng tạo thành các nang liên kết bao quanh vật ký sinh và tách rời với các mô xung quanh

Khi ấu trùng sán dây vào đường tiêu hoá của gà, sự hoạt động của các men

dạ dày và ruột cũng có tác dụng kìm chế sự phát triển của chúng

Chế độ dinh dưỡng cũng ảnh hưởng tới khả năng miễn dịch của gà đối với sán dây, gà được nuôi dưỡng đảm bảo đủ lượng vitamin, muối khoáng, protit… thì tăng khả năng miễn dịch đối với sán dây Ngược lại, không đủ vitamin và muối khoáng thì giảm sức đề kháng của cơ thể gà đối với sự cảm nhiễm sán dây

Số lượng sán dây nhiều cũng làm giảm đáp ứng miễn dịch của gà bằng bản thân các độc tố mà chúng tiết ra Ngoài ra, sán dây chiếm đoạt dinh dưỡng của gà, dẫn đến tình trạng gà suy dinh dưỡng cũng là một cách gián tiếp làm giảm đáp ứng miễn dịch đối với bệnh sán dây và các bệnh khác

Nguyễn Thị Lê (1998) [17] cho biết: nếu điều kiện môi trường bên ngoài thay đổi như đói, rét, thương tật hoặc những điều kiện bất lợi khác đều ảnh hưởng tới sức khoẻ của vật nuôi, dễ làm suy yếu sức đề kháng của vật chủ và dễ dàng làm cho vật ký sinh xâm nhập, phát triển và gây bệnh cho vật chủ

1.2.4 Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh sán dây

Gà có triệu chứng rõ khi có nhiều sán dây ký sinh Có thể thấy sán lòng thòng ở hậu môn gà, kiểm tra phân có đốt sán Gà bị bệnh sán dây thường có biểu

Trang 38

hiện mệt mỏi, đi lại chậm chạp, ỉa chảy ít một, nhưng đi ỉa luôn và có sán theo ra,

gà khát nước nên thường uống nhiều, xù lông, sã cánh, gầy yếu dần, có khi liệt chân, lên cơn động kinh Nếu nhiễm nặng thì gà bỏ ăn, gầy rạc, kiệt sức rồi chết (Lê Đức Kỷ, 1984 [8], Calnek B W và cs, 1991 [58], Dakkak A và Houadfi M E., 1992 [168], Saif Y M., 2003 [140], Brad R L., 2007 [56], Nguyễn Thị Kim Lan, 2011 [13])

Khi nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán dây gà,

Nguyễn Thất và cs (1975) [30] cho biết: gà con bị nhiễm sán dây Davainea

proglottina thường vào những ngày đầu sau khi được đưa ra sân chơi Triệu chứng lâm sàng biểu hiện sau 15 - 20 ngày kể từ khi nhiễm bệnh Sán dây ký sinh trong ruột gà, nhờ vòi và giác bám, chúng phá huỷ niêm mạc Ngoài ra, những sán này còn tiết độc tố gây trúng độc cho gà

Khi gà nhiễm nhiều sán thường gầy yếu, rối loạn tiêu hoá, kiết lị, có khi táo bón, ăn ít, khát nước, ủ rũ, niêm mạc hơi vàng nhạt, gà đẻ ít hoặc ngừng đẻ Bệnh nặng gà rối loạn tiêu hoá, ăn ít hoặc bỏ ăn, khát nước, hô hấp tăng, kém hoạt động,

ủ rũ, lông xù

Eisa A M (1976) [71] cho biết: gà thả vườn nuôi ở Sudan thường có tỷ lệ nhiễm sán dây cao, những gà nhiễm nặng gầy yếu, lông xơ xác, kém ăn, tỷ lệ đẻ giảm Tại Ấn Độ, theo kết quả nghiên cứu của Bhowmik M K và cs (1982) [53]:

gà nhiễm sán dây R cesticillus tỷ lệ đẻ giảm, thiếu máu, rối loạn tiêu hóa, chất

lượng thịt kém

Tại Bangladesh, Samad M A và cs (1986) [143] đã nghiên cứu và cho biết:

gà nhiễm sán dây R echinobothrida có hàm lượng hemoglobin trong máu giảm,

giảm protein huyết tương, nhưng tăng đáng kể số lượng bạch cầu, nhất là bạch cầu

ái toan Huque Q M E và cs (1990) [87] cũng cho biết: hình thức nuôi gà thả vườn tại Bangladesh rất phổ biến, gà thường nhiễm nhiều loại ký sinh trùng, đặc biệt là sán dây

Theo Nguyễn Xuân Bình và cs (2004) [1], gà từ 2 tháng tuổi trở lên bị nhiễm nhiều Khi bị nhiễm, gà thường biểu hiện chậm lớn, giảm tính thèm ăn, xù lông, còi cọc, tiêu chảy và thiếu máu, niêm mạc xanh xao, nhợt nhạt Ở gà đẻ thấy lông xơ xác và giảm đẻ trứng

Trang 39

Chu Thị Thơm và cs (2006) [34] cho biết: khi gà bị nhiễm sán dây, nhiều con gầy yếu, rối loạn tiêu hoá, kiết lị, có khi táo bón, ăn ít, khát nước, rũ cánh, mệt mỏi, hồng cầu, huyết sắc tố giảm, niêm mạc hơi vàng nhạt, gà đẻ ít hoặc ngừng đẻ

Gà bị nhiễm Raillietina spp có triệu chứng đặc trưng là ỉa chảy, phân lẫn

chất nhờn màu vàng, đôi khi lẫn máu, có cả đốt sán dây, mặc dù vẫn ăn nhưng gà

cứ gầy đi, dấu đầu dưới cánh, không có phản ứng khi bắt Gà xù lông, cánh sã, khát nước, thích uống nước lạnh Khi cảm nhiễm nặng có thể có những cơn động kinh,

gà bỏ ăn, gầy nhanh và chết (Dinev I., 2007 [68])

Tại Zambia, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: gà nhiễm sán dây rất chậm lớn, gà nhẹ cân hơn nhiều so với gà không nhiễm (Phiri I K và cs, 2007 [128]) Kiểm tra máu của 28 gà nhiễm sán dây, Bhure D B và cs (2011) [54] thấy rằng: số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố, thể tích trung bình của hồng cầu giảm; bạch cầu ái toan tăng Gà gầy yếu, tăng trọng chậm, mào, tích nhợt nhạt Một số tác giả khác cũng thống nhất với các tác giả trên khi nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh sán dây: gà chậm lớn, thiếu máu, rối loạn tiêu hoá (Phan Thế Việt, 1977 [37], Msanga J F và Tungaraza R., 1985 [113], Jansen

J và Pandy V S., 1989 [90], He S và cs, 1990 [82], Hussain A và cs, 1990 [88], Fatihu M Y và cs, 1991 [76], Pandy V S và cs, 1992 [123], Wilson K và cs, 1994 [160], Irungu L W và cs, 2004 [89], Junker K và Boomker J., 2007 [92], Waghmare S B và cs, 2009 [159])

1.2.5 Bệnh tích của gà bị bệnh sán dây

Đỗ Hồng Cường và Nguyễn Thị Kim Thành (1999) [3] đã mổ khám 511 con

gà, trong đó có 305 gà Ri và 206 gà Lơgo tại các hộ gia đình thuộc khu vực Hà Nội thấy: sán dây tìm thấy ở đàn gà đều ký sinh nhiều ở phần ruột non, nơi tập trung nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của cơ thể Trên niêm mạc ruột, ở chỗ sán ký sinh xuất hiện điểm xuất huyết Trong lòng ruột chứa đầy chất nhầy, mùi thối

Ở gà chết do bệnh sán dây cấp tính, niêm mạc ruột non sưng và có màu đỏ máu Lúc này chưa phát hiện được sán trưởng thành Trên tiêu bản chất nhày niêm mạc, người ta phát hiện được nhiều đầu sán dây

Trang 40

Theo Lê Hồng Mận và Xuân Giao (2001) [19]: sán dây ký sinh ở gà thường

gặp 5 loài chủ yếu là: R tetragona, R echinobothrida, R cesticillus, Davainea

proglottina, R botini Sán bám vào ruột non nhờ giác bám gây tổn thương thành

ruột, tạo điều kiện cho nhiễm trùng thứ phát (E.coli, Salmonella…) có thể gây xuất

huyết và viêm ruột, tiêu chảy, phân thải ra kèm theo nhiều dịch nhầy Nhiều trường hợp niêm mạc ruột non bị phủ bởi màng nhầy màu vàng, có thể thấy sán nằm cuộn

ở đó

Trong bệnh sán dây R echinobothrida mãn tính, trên niêm mạc ruột thấy có

những chấm đen nhỏ Từ những chấm đen này hình thành các nốt lõm ở trung tâm

to bằng hạt kê Trong chỗ lõm thấy có sán dây dài đến 10 - 15 mm Đôi khi trên các chỗ lõm miệng phễu của niêm mạc ruột non thấy rõ các nút chất vữa màu vàng nâu Trong quá trình bệnh tiến triển, tiếp tục phát hiện được các nốt loét có đường kính

8 - 10 mm Tại các vị trí biến đổi trên niêm mạc ruột, thấy rõ các u hoặc các nốt màu vàng, mặt cắt cứng và vôi hoá nhẹ Trên miếng cắt mô học các u này thường

thấy các đầu gai của sán R echinobothrida được bao bọc bởi khối chất hoại tử

(Samad M A và cs, 1986 [143], Negesse T., 1993 [116], Đỗ Hồng Cường và Nguyễn Thị Kim Thành, 1999 [3])

Khi gà nhiễm sán dây Raillietina spp., bệnh tích giải phẫu ở đường ruột giống

bệnh lao gia cầm Tuy nhiên, trong bệnh lao, các nốt lao không những chỉ có trong ruột mà còn có trong gan và trong lá lách (Đỗ Hồng Cường và Nguyễn Thị Kim Thành, 1999 [3], Ashnafi H và Eshetu Y., 2004 [166], Kumar P R và cs, 2007 [97]) Nguyễn Xuân Bình và cs (2004) [1] khi mổ khám gà bị nhiễm sán dây thấy niêm mạc đường tiêu hoá viêm và xuất huyết điểm (do sán bám vào thành ruột) Trên niêm mạc ruột dễ dàng thấy sán dây

Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh sán dây tới một số chỉ tiêu huyết học của gà tại 3 huyện Thanh Trì, Từ Liêm, Đông Anh - Hà Nội, Nguyễn Thị Kim Thành và

cs (2006) [28] thông báo rằng: các chỉ tiêu huyết học (hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố) của gà ở khu vực Hà Nội có sự thay đổi theo giống và theo tính biệt (trống, mái): số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố của gà bị nhiễm sán

Ngày đăng: 20/12/2014, 23:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Đức Chương, Cao Văn, Từ Quang Hiển, Nguyễn Thị Kim Lan (2003), Giáo trình Dược lý học thú y, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr. 235 - 236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình D"ượ"c lý h"ọ"c thú y
Tác giả: Phạm Đức Chương, Cao Văn, Từ Quang Hiển, Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
2. Phạm Khắc Hiếu (2009), Giáo trình Dược lý học thú y, NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 141 - 143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình D"ượ"c lý h"ọ"c thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
3. Baeder C., Bọhr H., Christ O., Dỹwel D. (2007), Fenbendazole: A new, highly effective anthelmintic, Cellular and Molecular Life Sciences, Volume 30, Number 7, pp. 753-754 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cellular and Molecular Life Sciences
Tác giả: Baeder C., Bọhr H., Christ O., Dỹwel D
Năm: 2007
4. Nurelhuda I. E., Elowni E. E., Hassan T. (1989), “Anthelmintic activity of praziquantel on Raillietina tetragona in chickens”. Faculty of Veterinary Science, University of Khartoum, Sudan. 1: Parasitol Res. 75(8), pp. 655-656 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Anthelmintic activity of praziquantel on Raillietina tetragona in chickens"”". Faculty of Veterinary Science, University of Khartoum, Sudan. 1: "Parasitol Res
Tác giả: Nurelhuda I. E., Elowni E. E., Hassan T
Năm: 1989
5. Okoye J. O. A., Chime A. B. (1988), A case of acute raillietiniasis in guinea fowls, Avian Pathology, 17, pp. 745 - 747 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Avian Pathology
Tác giả: Okoye J. O. A., Chime A. B
Năm: 1988

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí thí nghiệm gây nhiễm sán dây cho gà - nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm gây nhiễm sán dây cho gà (Trang 56)
Đồ thị 3.1. Tỷ lệ nhiễm sán dây ở gà theo lứa tuổi   Bảng 3.3a, 3.3b, biểu đồ 3.2 và đồ thị 3.1 cho thấy: - nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên
th ị 3.1. Tỷ lệ nhiễm sán dây ở gà theo lứa tuổi Bảng 3.3a, 3.3b, biểu đồ 3.2 và đồ thị 3.1 cho thấy: (Trang 70)
Bảng 3.6 cho thấy: - nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.6 cho thấy: (Trang 76)
Bảng 3.10 cho thấy: ở cả 4 lô thí nghiệm, với các loại ẩm độ khác nhau, thời  gian phôi 6 móc trong trứng sán dây bắt đầu chết đều ngắn nhất ở thí nghiệm bố trí  trong mùa Hè, dài nhất với thí nghiệm trong mùa  Đông; thời gian phôi chết hoàn  toàn cũng th - nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10 cho thấy: ở cả 4 lô thí nghiệm, với các loại ẩm độ khác nhau, thời gian phôi 6 móc trong trứng sán dây bắt đầu chết đều ngắn nhất ở thí nghiệm bố trí trong mùa Hè, dài nhất với thí nghiệm trong mùa Đông; thời gian phôi chết hoàn toàn cũng th (Trang 84)
Bảng  3.12  cho  thấy,  trong  120  mẫu  kiến  xét  nghiệm  có  49  mẫu  chứa  ấu  trùng Cysticercoid, chiếm 40,83 % - nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên
ng 3.12 cho thấy, trong 120 mẫu kiến xét nghiệm có 49 mẫu chứa ấu trùng Cysticercoid, chiếm 40,83 % (Trang 87)
Bảng 3.13 cho thấy: - nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.13 cho thấy: (Trang 89)
Bảng 3.14 cho thấy: thời gian bắt đầu có mẫu xuất hiện Cysticercoid  là 28  ngày sau gây nhiễm, thời gian tất cả các mẫu xét nghiệm đều có Cysticercoid là 30  ngày - nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.14 cho thấy: thời gian bắt đầu có mẫu xuất hiện Cysticercoid là 28 ngày sau gây nhiễm, thời gian tất cả các mẫu xét nghiệm đều có Cysticercoid là 30 ngày (Trang 90)
Bảng 3.15 cho thấy: - nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.15 cho thấy: (Trang 91)
Bảng 3.16 cho thấy: - nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.16 cho thấy: (Trang 92)
Bảng 3.17 cho thấy: - nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.17 cho thấy: (Trang 94)
Bảng 3.24 cho thấy: trong 484 gà mổ khám nhiễm sán dây, có 58 gà có bệnh  tích đại thể, chiếm 11,98 % (biến động từ 8,77 % - 16,36 %) - nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.24 cho thấy: trong 484 gà mổ khám nhiễm sán dây, có 58 gà có bệnh tích đại thể, chiếm 11,98 % (biến động từ 8,77 % - 16,36 %) (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm