VŨ PHẠM THÁI NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DịCH TỄ BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG, ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC CỦA VI KHUẨN PASTEURELLA MULTOCIDA GÂY BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG Ổ LỢN TẠII TỈNH PHÚ THỌ VÀ BIỆN
Trang 1VŨ PHẠM THÁI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DịCH TỄ BỆNH
TỤ HUYẾT TRÙNG, ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC
CỦA VI KHUẨN PASTEURELLA MULTOCIDA GÂY
BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG Ổ LỢN TẠII TỈNH PHÚ
THỌ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM 2009
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ PHẠM THÁI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DịCH TỄ BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG, ĐẶC ĐIỂM SINHVẬT
HỌC CỦA VI KHUẨN PASTEURELLA MULTOCIDA
GÂY BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG Ổ LỢN TẠII TỈNH
PHÚ THỌ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM 2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi
sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã được cảm ơn và các thông tin tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Phạm Thái
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình và trực tiếp của các Thày hướng dẫn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới:
- PGS.TS Nguyễn Quang Tuyên
Xin chân thành cảm ơn giúp đỡ quý báu của tập thể Lãnh đạo và cán bộ Chi cục Thú y tỉnh Phú Thọ, tập thể Lãnh đạo và cán bộ Trạm Thú y các huyện: huyện Lâm Thao, huyện Phù Ninh, Thị xã Phú Thọ và các anh, chị thú
y viên cơ sở, các hộ chăn nuôi thuộc các xã Tứ Xã, Sơn Vi, Hợp Hải, Phú Nham, Gia Thanh, Hạ Giáp, Hà Thạch, Văn Lung và Hà Lộc
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2009
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Phạm Thái
Trang 5KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
% : Tỷ lệ phần trăm
P multocida : Pasteurella multocida
YPC : Yeast extract Peptone L - Cytine
TSA : Trytone soy agar
LT1 : Mẫu nghiên cứu sô 1 tại Lâm Thao PN4 : Mẫu nghiên cứu sô 4 tại Phù Ninh TX10 : Mẫu nghiên cứu sô 10 tại T.X Phú Thọ
Trang 6DANH MỤC ẢNH CỦA LUẬN VĂN
Ảnh 1 Triệu chứng lâm sàng lợn mắc bệnh tụ huyết trùng 94 Ảnh 2 Bệnh tích phổi lợn xung huyết và tụ huyết 94 Ảnh 3 Bệnh tích phổi lợn xung huyết và tụ huyết 95 Ảnh 4 Khuẩn lạc tụ huyết trùng sau khi nuôi cấy 24h ở 370
Ảnh 5 Hình thái vi khuẩn tụ huyết trùng trên kính hiển vi 96 Ảnh 6 Kết quả thử phản ứng lên men đường 96
Ảnh 7 Khả năng mẫn cảm hoặc kháng kháng sinh của các
Trang 7MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ i
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng gia súc 3
1.1.1 Trên thế giới 3
1.1.2 Ở Việt Nam 5
1.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng lợn 6
1.2.1 Nguồn bệnh, đường xâm nhiễm của mầm bệnh và cơ chế gây bệnh tụ huyết trùng 6
1.2.2 Chất chứa và độc tố của vi khuẩn P multocida 8
1.2.3 Tuổi mắc bệnh của gia súc 8
1.2.4 Mùa vụ phát bệnh 9
1.2.5 Vùng phát dịch 10
1.2.6 Hiện tượng mang vi khuẩn P multocida ở đường hô hấp trên của động vật khỏe Nguồn lây lan bệnh tạo các ổ dịch tụ huyết trùng 11
1.2.7 Đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng 13
1.2.8 Đặc điểm nuôi cấy 16
1.2.9 Đặc tính sinh hoá của vi khuẩn P multocida 22
1.2.10 Cấu trúc kháng nguyên P multocida và type huyết thanh 23
1.2.11 Sức đề kháng của vi khuẩn P multocida 27
1.3.Tính gây bệnh của vi khuẩn P multocida 28
1.4 Chẩn đoán bệnh tụ huyết trùng lợn 33
1.5 Biện pháp phòng và trị bệnh tụ huyết trùng 36
Trang 8CHƯƠNG 2: NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Nội dung nghiên cứu 43
2.2 Đối tượng, địa điểm 43
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 43
2.2.2 Địa điểm 43
2.3 Vật liệu 43
2.3.1 Mẫu bệnh phẩm dùng phân lập vi khuẩn 43
2.3.2 Động vật thí nghiệm: Chuột bạch có trọng lượng từ 18 - 20gam/con 44
2.3.3 Giống vi khuẩn: Các chủng P multocida phân lập được để xác định các đặc tính sinh vật, hóa học được đông khô giữ giống 44
2.3.4 Các hệ mồi (Primer): Dùng để xác định serotype vi khuẩn P.multocida bằng phương pháp PCR 44
2.3.5 Các loại đường dùng cho phản ứng lên men đường 44
2.3.6 Máy móc, thiết bị, dụng cụ phòng thí nghiệm 44
2.3.7 Các loại hóa chất dùng cho nghiên cứu 44
2.3.8 Môi trường sử dụng và nuôi cấy vi khuẩn 44
2.4 Phương pháp nghiên cứu 44
2.4.1 Phương pháp điều tra dịch tễ bệnh THT lợn 44
2.4.2 Phương pháp lấy mẫu 44
2.4.3 Phương pháp nuôi cấy, phân lập vi khuẩn 45
2.4.4 Phương pháp xác định một số đặc tính sinh vật, hoá học của vi khuẩn P multocida 47
2.4.5 Phương pháp kiểm tra độc lực của vi khuẩn P multocida phân lập được 47
2.4.6 Phương pháp xác định type kháng nguyên của P multocida 50
2.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 51
Trang 9CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52
3.1 Kết quả điều tra tình hình dịch bệnh tụ huyết trùng lợn tại các huyện nghiên cứu ở tỉnh Phú Thọ 52
3.1.1 Kết quả điều tra bệnh tụ huyết trùng ở lợn tại tỉnh Phú Thọ qua các năm 2006 - 2008 52
3.1.2 Kết quả điều tra số lượng lợn mắc và chết do bệnh tụ huyết trùng tại tỉnh Phú Thọ ở các mùa vụ 56
3.1.3 Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc bệnh tụ huyết trùng ở các lứa tuổi 59
3.1.4 Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc và chết do bệnh tụ huyết trùng ở tỉnh Phú Thọ theo phương thức chăn nuôi 61
3.1.5 Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng tại tỉnh Phú Thọ theo giống lợn 64
3.1.6 Kết quả theo dõi các triệu chứng ở lợn bệnh nghi mắc tụ huyết trùng 66
3.1.7 Kết quả kiểm tra bệnh tích của lợn ốm nghi mắc bệnh tụ huyết trùng 68
3.2 Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella từ bệnh phẩm của lợn chết nghi mắc bệnh tụ huyết trùng 69
3.3 Kết quả phân lập Pasteurella từ dịch ngoáy mũi của lợn khoẻ 70
3.4 Kết quả xác định đặc tính sinh hoá của vi khuẩn Pasteurella phân lập được 72
3.5 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng lợn 80
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
4.1 Kết luận 82
4.2 Đề nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả điều tra bệnh tụ huyết trùng ở lợn tại tỉnh Phú Thọ 53Bảng 3.2: Kết quả điều tra bệnh tụ huyết trùng ở lợn tại tỉnh Phú Thọ
qua các năm 55Bảng 3.3: Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc và chết do bệnh tụ huyết trùng
ở các thời vụ 57Bảng 3.4: Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc và chết bệnh tụ huyết trùng ở
các lứa tuổi 60Bảng 3.5: Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc và chết bệnh tụ huyết trùng ở
tỉnh Phú Thọ theo phương thức chăn nuôi 62Bảng 3.6: Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc và chết bệnh tụ huyết trùng
theo giống lợn 65Bảng 3.7: Kết quả theo dõi các triệu chứng ở lợn bệnh nghi mắc tụ
huyết trùng 67Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra bệnh tích của lợn ốm nghi mắc bệnh tụ huyết
trùng 68
Bảng 3.9: Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella từ bệnh phẩm của lợn
chết nghi mắc bệnh tụ huyết trùng 69
Bảng 3.10: Kết quả phân lập Pasturella từ dịch ngoáy mũi của lợn khoẻ 71
Bảng 3.11: Kết quả kiểm tra đặc tính sinh vật hoá học của vi khuẩn
Pasteurella phân lập được 73
Bảng 3.12: Kết quả kiểm tra khả năng lên men một số loại đường của
các chủng Pasteurella phân lập được 74 Bảng 3.13 Kết quả định type vi khuẩn P multocida bằng phản ứng
PCR 76
Bảng 3.14: Kết quả xác định độc lực của các chủng P multocida phân
lập được 77Bảng 3.15: Kết quả kiểm tra khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh
của các chủng P multocida phân lập được 79
Bảng 3.16: Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng lợn 80
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi của tỉnh Phú Thọ đang có bước phát triển, hiện nay đã hình thành nhiều trang trại chăn nuôi lợn theo hướng hàng hóa bên cạnh những hộ chăn nuôi trước đây Tổng đàn lợn của tỉnh theo ước tính có trên 55 vạn con, tốc độ tăng trung bình 5 - 6% năm Đến nay, cả tỉnh có trên 300 trang trại nuôi lợn nái giống ngoại Đồng thời, tỉnh có nhiều chính sách khuyến khích,
hỗ trợ phát triển chăn nuôi và chăn nuôi lợn đang trở thành ngành chính trong sản xuất nông nghiệp
Tuy vậy, để chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng phát triển cho hiệu quả cao, ngoài công tác giống, thức ăn, quản lý, chăm sóc…thì công tác phòng, chống dịch bệnh cần được đặc biệt coi trọng Trong những năm qua ngành thú y trong cả nước hoạt động mạnh mẽ nên đã hạn chế được nhiều bệnh truyền nhiễm cho vật nuôi và đảm bảo cho chăn nuôi phát triển Với đặc điểm của từng vùng, khu vực, địa phương và nhiều nguyên nhân khác nhau nên vẫn còn một số bệnh truyền nhiễm thường xảy ra ở gia súc, trong đó có bệnh tụ huyết trùng lợn Đây là bệnh gây nguy hiểm không chỉ đối với lợn mà còn đối với nhiều loài gia súc, gia cầm khác, bệnh này xảy ra ở hầu hết các vùng chăn nuôi lợn trên thế giới
Những năm qua, bệnh tụ huyết trùng xảy ra ở đàn lợn nuôi tại tỉnh Phú Thọ theo ước tính hàng năm có tới 25 - 30% tổng đàn lợn nuôi Việc chẩn đoán, phòng chống bệnh này tại tỉnh Phú Thọ còn gặp nhiều khó khăn do có những đặc thù riêng về địa lý, kinh tế xã hội, tập quán chăn nuôi lạc hậu, trình độ dân trí chưa cao Đặc biệt ở những nơi dân tộc ít người sinh sống, việc áp dụng khoa học kỹ thuật và phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi còn hạn chế Chính những nhân tố đó đã tạo nên sự tồn tại, phát sinh nhiều ổ
Trang 12dịch tụ huyết trùng lợn lẻ tẻ ở vật nuôi, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất, chúng tôi đã tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng lợn,
đặc điểm sinh vật học của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng ở lợn nuôi tại tỉnh Phú Thọ và biện pháp phòng trị”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
+ Điều tra tình hình bệnh tụ huyết trùng ở lợn nuôi tại tỉnh Phú Thọ: Xác định tỷ lệ lợn khoẻ mang vi khuẩn THT và tỷ lệ lợn ốm chết do bệnh tụ huyết trùng
+ Phân lập, xác định một số đặc điểm sinh học và type của vi khuẩn
Pasteurella phân lập được
+ Thử nghiệm phác đồ phòng và trị bệnh tụ huyết trùng lợn cho tỉnh Phú Thọ đạt hiệu quả cao
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng lợn tại huyện Lâm Thao, huyện Phù Ninh và Thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ thử nghiệm phác
đồ phòng và trị bệnh tụ huyết trùng lợn cho tỉnh Phú Thọ đạt hiệu quả cao
Trang 13ở thỏ năm 1881; ở lợn do Loeffer phát hiện năm 1886; ở trâu năm 1887 và sau đó đã phát hiện vi khuẩn còn gây bệnh cho nhiều loài động vật khác (Cater, 1959)[51] Pavri và Apte (1976)[79] đã ghi nhận vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh cho hươu, nai, chó, mèo, ngựa, chồn, khỉ…
Năm 1880, Louis Passteur lần đầu tiên phân lập được vi khuẩn gây bệnh từ xác gà chết Sau đó nhiều nhà khoa học cũng phân lập được vi khuẩn gây bệnh tương tự từ các loài động vật khác nhau như: Gaffky (1881) phân lập được vi khuẩn trên thỏ và Kitt (1885) phân lập được vi khuẩn trên bò…
Năm 1887, Trevisan đề nghị đặt tên vi khuẩn là Pasteurella để ghi nhớ
công lao của Louis Pasteur - người đầu tiên xác định vi khuẩn là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trùng
Sau này, người ta đặt tên vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng cho động vật theo tên vật chủ mà chúng thích nghi gây bệnh
Pasteurella suiseptica gây bệnh cho lợn
Pasteurella boviseptica gây bệnh ở trâu, bò
Pasteurella aviseptica gây bệnh ở gà
Trang 14Rosenbush và Merchant (1939) [87] đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn
này là Pasteurella multocida (P multocida) để chỉ khả năng gây bệnh cho
nhiều loài vật của chúng, tên vi khuẩn này đã được công nhận chính thức trên
thế giới và được sử dụng cho đến ngày nay Bệnh do P multocida gây ra
thường ở hai thể chủ yếu là nhiễm trùng máu, xuất huyết Haemorrhagic Septicaemia (HS) và viêm phổi ở bò (Bovine Pneumonia) Thể viêm phổi ở
bò thấy tại các nước châu Âu và Bắc Mỹ (Frank, 1989)[62] Bệnh tụ huyết trùng lợn gặp ở khắp các châu lục, xảy ra lẻ tẻ, ít khi thành dịch (Lê Minh Trí
và cs, 1999)[37] Thể nhiễm trùng máu, xuất huyết (HS) thấy ở trâu, bò các nước châu Á và châu Phi (Phan Thanh Phượng, 2000)[29]
Từ năm 1887 đến nay, bệnh THT đã được phát hiện ở nhiều nước trên thế giới, bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho nhiều nước, nhất là ở các nước nhiệt đới nóng ẩm thuộc châu Á, bệnh xảy ra tại các nước Đông Dương, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia Ở Nhật Bản, bệnh được phát hiện vào năm 1923, song không thấy gây thành dịch và không thể hiện dịch tễ Bệnh cũng được phát hiện ở bò rừng Vườn thú quốc gia Mỹ vào các năm 1912, 1922, 1967 và chỉ thấy có một báo cáo cho biết bệnh có ở
bò sữa vào năm 1969 (Cater, 1982)[53] Năm 1984, Tổ chức dịch tễ thế giới OIE (Office International Epizooties) chính thức công bố bệnh THT trâu, bò trên thế giới (FAO, 1991)[61], OIE cũng phân loại bệnh (HS) vào bảng B trong danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở gia súc Theo (De Alwis, 1992a De Alwis, 1992a[57]) bệnh cũng đã sảy ra ở châu Phi và gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn gia súc
Kể từ khi phát hiện đến nay, vi khuẩn P multocida vẫn là nguyên nhân
gây bệnh tụ huyết trùng cho nhiều loài gia súc và gia cầm Tuy có tính thích
nghi gây bệnh trên các loài vật khác nhau, nhưng P multocida đều có đặc tính
cơ bản giống nhau
Trang 151.1.2 Ở Việt Nam
Có nhiều nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng, theo Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958)[2] bệnh tụ huyết trùng trâu, bò được phát hiện đầu tiên vào năm 1868 bởi Condamin ở Bà Rịa, Long Thành, sau đó Gemain (1869) phát hiện bệnh ở Gò Công; Shein (1901) xác định có bệnh này ở Tây Ninh Những năm sau này Nguyễn Vĩnh Phước (1978a)[24], Hoàng Đạo Phấn (1986)[19] đã
nghiên cứu về đặc tính của P multocida và type huyết thanh của chúng
Một số tác giả trong nước đã nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng ở gia súc như: Dương Thế Long (1995)[14] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và vi khuẩn học của bệnh THT trâu, bò ở Sơn La để xác định biện pháp phòng trị thích hợp Võ Văn Hùng (1997)[10] nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học bệnh THT lợn ở Đắk Lắk và biện pháp phòng trị
Trước đây bệnh tụ huyết trùng lợn xảy ra mạnh ở các tỉnh phía Nam và xảy ra lẻ tẻ ở các tỉnh phía Bắc Trong những năm 1970, có 80% số ổ dịch và 84% số gia súc thiệt hại do bệnh tụ huyết trùng thuộc về các tỉnh ở Phía Nam Đến những năm 1990 phân bố địa lý của bệnh nghiêng về các tỉnh phía Bắc,
số địa phương có dịch tụ huyết trùng cũng tăng lên nhiều, hàng năm có 20-25 tỉnh thông báo có bệnh lưu hành (Bùi Quý Huy, 1998)[11]
Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng ở vật nuôi
như: Bùi Văn Dũng (2000)[4] nghiên cứu tình hình bệnh THT và vi khuẩn P
multocida phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu, bò khỏe ở tỉnh Lai Châu; Phan
Thanh Phượng (2000)[26] nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng ở gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống; Cao Văn Hồng (2002)[9] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn tại Đắk Lắk; Hoàng Đăng Huyến (2004)[12] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh THT ở Bắc Giang; Nguyễn Văn Minh (2005)[15] nghiên cứu một số đặc
điểm dịch tễ bệnh THT và xác định tỷ lệ mang trùng Pasteurella ở đàn trâu
Trang 16bò tỉnh Hà Tây; Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2007)[8] nghiên cứu một
số đặc tính của vi khuẩn P multocida phân lập từ trâu, bò, lợn; Đỗ Ngọc
Thúy và cs (2007)[36] đã ứng dụng kỹ thuật PCR để định type các chủng vi
khuẩn P multocida phân lập từ vật nuôi Tuy nhiên việc nghiên cứu vi khuẩn
P multocida gây bệnh ở lợn một cách hệ thống thì vẫn còn chưa đầy đủ
1.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng lợn
Bệnh tụ huyết trùng lợn là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn P multocida
gây ra thường ở thể nhiễm trùng máu, xuất huyết (Haemorrhagic Septicaemia) Bệnh thường phát sinh rải rác, nhưng có khi tạo thành dịch lây lan rộng tại địa phương Hiện nay, bệnh tụ huyết trùng lợn xuất hiện ở hầu hết các địa phương trong cả nước và gây tổn thất đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi
1.2.1 Nguồn bệnh, đường xâm nhiễm của mầm bệnh và cơ chế gây bệnh
tụ huyết trùng
Trong tự nhiên các giống lợn đều mắc bệnh, trong đó lợn sau cai sữa, lợn từ 3 - 6 tháng tuổi hay mắc bệnh nhất Nguồn lây lan bệnh tụ huyết trùng chủ yếu là lợn bị bệnh, mang trùng và thải ra môi trường, do việc giết mổ thịt đem phân tán làm cho dịch lây lan rộng, đặc biệt là quá trình vận chuyển lợn
từ nơi này sang nơi khác Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1970)[23] lợn mắc bệnh cấp tính thì trong máu, dịch bài tiết, các phủ tạng đều có vi khuẩn và bài thải
vi khuẩn ra môi trường ngoài trong thời kỳ nung bệnh Ngoài ra, vi khuẩn
P.multocida còn gặp thường xuyên trong cơ thể lợn khỏe, chúng cư trú ở
niêm mạc đường hô hấp trên, ở hầu bệnh súc, khi gia súc gặp điều kiện không thuận lợi như stress, thời tiết thay đổi, mật độ nuôi nhốt đông, chăm sóc nuôi
dưỡng kém làm sức đề kháng con vật giảm thì vi khuẩn P multocida sẽ tăng
độc lực và gây bệnh Bệnh tụ huyết trùng lan truyền theo hai phương thức trực tiếp và gián tiếp Truyền bệnh trực tiếp do tiếp xúc giữa lợn ốm với lợn khỏe hoặc qua không khí thở ra từ lợn ốm rồi lợn khỏe hít vào, đây là cách
Trang 17truyền bệnh phổ biến trong đàn khi có lợn mắc bệnh tụ huyết trùng Truyền bệnh gián tiếp khi vi khuẩn vào đường tiêu hóa qua thức ăn, nước uống bị nhiễm khuẩn hoặc qua các vết xước ở da, niêm mạc Phương thức truyền bệnh ngang và truyền bệnh dọc đều có thể xảy ra nhưng chưa được chứng minh rõ ràng về cơ chế gây bệnh, nhiều tác giả cho rằng bệnh đường hô hấp
ở lợn là kết quả tác động của nhiều yếu tố gây nên, chứ không phải duy nhất
do cảm nhiễm vi khuẩn Vì vậy, bệnh tụ huyết trùng lợn không phải chỉ là kết quả của cảm nhiễm xảy ra đột ngột, mà phải có một quá trình vi khuẩn
có sẵn cư trú ở đường hô hấp sản sinh một lượng lớn, gây tổn thương phổi Kết quả này chỉ xảy ra khi sức đề kháng của vật chủ yếu đi Mặc dù cơ chế sinh bệnh tụ huyết trùng lợn chưa được nghiên cứu đầy đủ, nhưng những
dẫn chứng hiện có đã chỉ ra rằng vi khuẩn P multocida gây bệnh tụ huyết
trùng lợn bằng các yếu tố có sẵn
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978b)[25] vi khuẩn P multocida phân
lập từ bệnh phẩm lợn bị tụ huyết trùng thường có giáp mô mỏng thể hiện dung quang rõ Nhưng khi cấy chuyển nhiều lần trên môi trường nhân tạo giáp mô biến mất, dung quang không rõ thì độc lực cũng giảm Vì vậy, nhiều tác giả cho rằng giáp mô là yếu tố gây bệnh thông qua việc giúp cho vi khuẩn tránh được hiện tượng thực bào và các yếu tố phòng vệ không đặc hiệu của vật chủ Mặt khác, hiện tượng bám dính, cơ chế gây bệnh của vi khuẩn này cũng đã được một số tác giả nghiên cứu như Trigo (1989)[92] đã
xác định được yếu tố bám dính của P multocida type D và A phân lập từ lợn
bị bệnh tụ huyết trùng và chứng minh chúng bám dính trên tế bào nuôi cấy,
nhưng gây bệnh trong tự nhiên thì P multocida type A chỉ bám dính trên tế
bào biểu mô không có nhung mao Vì vậy, mỗi type đều có vị trí bám trên các tổ chức có tế bào biểu mô khác nhau dẫn đến đường xâm nhập, thể bệnh gây ra cũng khác nhau
Trang 181.2.2 Chất chứa và độc tố của vi khuẩn P multocida
Vi khuẩn P multocida thường tồn tại trong cơ thể gia súc khỏe mạnh và
cư trú ở niêm mạc đường hô hấp trên, trong niêm mạc mũi, nước mũi và có khi trong ruột Vì thế, có thể phân lập vi khuẩn này từ vòm khẩu cái và hạch nhân của gia súc khỏe Ở những gia súc này có hiện tượng mang trùng và liên tục thải vi khuẩn ra ngoại cảnh qua đường hô hấp, nguồn vi khuẩn phân lập được bằng cách nuôi cấy các hạch lympho lấy từ lò mổ hay từ các dịch tiết ở mũi, hầu (Omar và cs, 1982)[78] Trong cơ thể con vật bị bệnh ở thể quá cấp tính và
cấp tính vi khuẩn P multocida có nhiều trong máu, tủy xương, gan, lách, phổi,
tim và các chất bài tiết đều có chứa vi khuẩn Mầm bệnh còn có trong các dịch
rỉ, dịch trào ra ở hầu hết các mô và cơ quan do kết quả của nhiễm trùng máu giai đoạn cuối (Carter, 1989 )[55] Trong xác chết, vi khuẩn có thể tồn tại lâu trong tủy xương, do vậy khi gia súc đã chết lâu ngày mà nghi bệnh tụ huyết trùng thì bệnh phẩm tốt nhất là xương ống Con vật mắc bệnh ở thể mãn tính,
vi khuẩn có trong khớp bị viêm, ở gan và lách Ackemann và cs, (1994)[42]
cho rằng hạch nhân là nơi P multocida thường tập trung nhiều nhất, có vai trò
gây bệnh viêm khí quản, viêm phổi, viêm màng phổi
1.2.3 Tuổi mắc bệnh của gia súc
Bệnh tụ huyết trùng xảy ra ở mọi lứa tuổi của gia súc, theo các tác giả thì gia súc non đang bú mẹ ít mắc hơn những con trưởng thành, gia súc sau cai sữa
dễ mắc bệnh hơn gia súc già Các giống lợn đều mắc bệnh THT, bệnh thường xảy ra ở lợn 3 - 6 tháng tuổi Võ Văn Hùng (1997)[10] khi nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng ở Đắk Lắk cho biết lợn ở lứa tuổi 3 - 4 tháng mẫn cảm nhất với bệnh Theo Bùi Quý Huy (1998)[11] lợn dưới 2 tháng tuổi ít mắc bệnh hơn
Ở một số nước châu Á những con vật non dễ cảm nhiễm hơn những con vật trưởng thành (De Alwis, 1999)[58] Cao Văn Hồng (2002)[9] khi nghiên cứu về bệnh THT gia súc ở Đắk Lắk cho biết ở lợn từ 3 -10 tháng tuổi
Trang 19có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất 4,62%, còn lợn trên 10 tháng tuổi có tỷ lệ mắc bệnh thấp, chiếm 2,08%
1.2.4 Mùa vụ phát bệnh
Bệnh tụ huyết trùng ở gia súc phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu Mustafa và cs (1978)[74] khi nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh tụ huyết trùng đã nhận xét, bệnh thường liên quan đến điều kiện khí hậu ẩm ướt
Ở Việt Nam, bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường xảy ra vào các tháng mưa nhiều Nguyễn Vĩnh Phước (1978a)[24], (1978b)[25] cho rằng khi bắt đầu mùa mưa, khí hậu nóng ẩm thì bệnh lây lan và phát thành dịch Đặc biệt là sau những trận mưa đầu mùa mang đến, những thay đổi về sức khỏe do gia súc bị lạnh
Theo Yeo và Mukhtar (1992)[95] khi nghiên cứu dịch tễ học bệnh THT phải quan tâm đến điều kiện thời tiết, khí hậu và địa lý của từng vùng vì những yếu tố này ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của mầm bệnh trong môi trường sinh sống của động vật cảm nhiễm
Carter và De Alwis (1989)[55] nhận xét bệnh THT xảy ra quanh năm song tập trung vào các tháng mưa, ẩm Ở Lào bệnh phát ra từ tháng 5 đến tháng 8; ở Pakistan bệnh xảy ra rải rác quanh năm song thường ở tháng 4 đến tháng 6 hàng năm (FAO, 1991[61]) Ở đảo Java (Indonesia) bệnh xuất hiện vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa (Natalia và cs, 1992)[77], bệnh xảy ra các tháng 8, 9
ở Malaysia (Yeo và Mukhtar, 1992)[95] Ở Campuchia, bệnh xảy ra vào cuối mùa nóng (Kral và cs, 1992)[70]
Ở những vùng ngập lụt sau khi nước rút đi, cỏ bị dính bùn và thối, nên bệnh thường phát sinh vào các tháng có mưa nhiều và chuyển mùa (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987)[31], Dương Thế Long (1995)[14], Nguyễn Xuân Bình (1996)[1], Nguyễn Thiên Thu (1996)[35], Võ Văn Hùng (1997)[10], đều cho rằng vào thời gian mưa, bệnh xảy ra nhiều Bùi Quý Huy (1998)[11] cho biết
Trang 20ở miền Bắc bệnh có quanh năm nhưng tập trung vào các tháng mưa nhiều từ tháng 7 đến tháng 9 Ở miền Nam bệnh xảy ra mạnh sau khi mưa và nắng từ tháng 4 đến tháng 10 Từ tháng 7 đến tháng 9 số ở dịch chiếm tới 78% trong tổng số các ổ dịch sảy ra trong năm Đỗ Văn Được (1999)[5] cho biết ở Lạng Sơn bệnh xảy ra mạnh từ tháng 4 đến tháng 8, tháng 9, bệnh xảy ra nhiều đối với gia súc chưa được tiêm phòng vac-xin Bùi Xuân Đồng (2000)[3] nghiên cứu bệnh THT trâu, bò ở Hải Phòng cho thấy bệnh bắt đầu vào tháng 4, đỉnh cao là tháng 6 và tháng 7 Theo Bùi Văn Dũng (2000)[4] cho biết ở Lai Châu bệnh THT xảy ra quanh năm nhưng tập trung vào tháng 3, tháng 4, tháng 7, tháng 8 và vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa Cao Văn Hồng (2002)[9] cho biết mùa dịch THT ở Đắk Lắk từ tháng 5 đến tháng 9, đây là những tháng mưa nhiều Theo Hoàng Đăng Huyến (2004)[12] bệnh THT xảy ra ở Bắc Giang từ tháng 4 đến tháng 9 háng năm, thời gian này đang là mùa mưa Cũng theo Nguyễn Văn Minh (2005)[15] bệnh THT xảy ra rải rác quanh năm nhưng tập trung từ tháng 3 đến tháng 8, vào các tháng đầu mùa mưa đến cuối mùa mưa của vụ hè thu, cao nhất là tháng 5 và tháng 6, đây là những tháng nắng, nhiệt độ, ẩm độ cao và mưa nhiều
1.2.5 Vùng phát dịch
Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958)[2] bệnh thường xảy ra ở những vùng ẩm thấp, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, đặc biệt là vào đầu mùa mưa Điều kiện tự nhiên, khí hậu và phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây lan bệnh Đặc biệt là ở những vùng đất trũng, ẩm thấp, lầy lội, bị ngập lụt, có nhiều ruộng nước, nhiều kênh rạch, bệnh thường xảy ra và lây lan mạnh, làm chết nhiều gia súc
Đoàn Thị Băng Tâm (1987)[31], Nguyễn Ngã (1996)[17] cho biết bệnh này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Theo Võ Văn Hùng (1997)[10] bệnh xảy ra ở vùng có địa hình phức tạp như núi cao, đầm
Trang 21lầy, trình độ dân trí thấp, tập quán chăn nuôi lạc hậu Năm 1990, riêng 3 tỉnh Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Bắc Thái số ổ dịch THT gia súc chiếm 60% và trong đó có tới 70% số gia súc chết so với toàn miến Bắc (Bùi Quý Huy, 1998)[11] Đỗ Văn Được (2003)[5] cho biết ở Lạng Sơn vùng núi đất có độ dốc lớn, nhiệt độ thấp, độ ẩm cao, tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chăn thả tự
do thì tỷ lệ bị nhiễm bệnh và chết cao Theo Hoàng Đăng Huyến (2004)[12] ở Bắc Giang những vùng đồi núi thấp, tỷ lệ mắc bệnh THT và chết cao Nguyễn Văn Minh (2005)[15] thông báo ở Hà Tây tỷ lệ trâu, bò ốm chết vì bệnh THT ở vùng đồi, bán sơn địa cao hơn so với vùng chiêm trũng và vùng đồng bằng
Ở những vùng phương thức chăn nuôi còn chăn thả rông, không có người chăm sóc, không làm chuồng nuôi nhốt, để gia súc ở những nơi bùn lầy, ngập nước không dọn phân thường xuyên, công tác vệ sinh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng gia súc kém thì khả năng xảy ra bệnh cao Ngoài ra trình độ nhận thức của người dân về công tác phòng chống bệnh chưa cao, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc phòng chống dịch bệnh còn nhiều khó khăn thì cũng không tránh khỏi việc dịch bệnh thường xuyên sảy ra
1.2.6 Hiện tượng mang vi khuẩn P multocida ở đường hô hấp trên của
động vật khỏe Nguồn lây lan bệnh tạo các ổ dịch tụ huyết trùng
Từ khi phát bệnh tụ huyết trùng do P multocida gây ra đến nay đã hơn
100 năm, có khá nhiều công trình nghiên cứu về vi khuẩn P multocida, về bệnh học Pasteurellosis và vac-xin tiêm phòng bệnh nhưng vẫn không loại trừ
và thanh toán được bệnh, đặc biệt là những nước nhiệt đới, bệnh tụ huyết trùng vẫn là mối đe dọa cho người chăn nuôi
Hiện tượng mang vi khuẩn P multocida ở động vật sống đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Gupta (1962)[63] đã phân lập được P multocida
type Robert F ở đường hô hấp của lợn khỏe
Trang 22Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1970)[23] trong đàn gà thường xuyên có mầm bệnh tụ huyết trùng, tỷ lệ gà khỏe mang trùng lên tới 20 - 30%, còn đàn
gà không bị bệnh thì không có gà khỏe mang trùng Ảnh hưởng của đàn
gà khỏe mang trùng đến đàn gà nuôi có xảy ra dịch hay không vẫn chưa được
làm rõ và tác giả có nhận xét rằng khi gia súc mang vi trùng P multocida đây cũng chính là nguồn reo rắc mầm bệnh ra môi trường, vi khuẩn Pasteurella
xâm nhập vào các con khỏe gây nên các ổ dịch
Mustafa (1978)[74] đã tiến hành lấy dịch ngoáy mũi trâu, bò để phân
lập P multocida và có nhận xét thường ở nơi không có dịch tụ huyết trùng
trâu bò, thì tỷ lệ trâu bò khỏe mạnh mang trùng là 3%, còn ở nơi có dịch tụ huyết trùng trâu bò tỷ lệ mang trùng là 44,4%
Gupta (1980)[64] nghiên cứu bệnh THT ở Ấn Độ thấy tỷ lệ mang trùng ở trâu bò khỏe trong vùng không có dịch là 0%, ở vùng ít xảy ra dịch là 1,9%, còn
ở vùng dịch hay xảy ra 5 - 6% Ngay ở các vùng có dịch thì tỷ lệ mang trùng ở đàn trâu bò khỏe mạnh cũng giảm dần theo thời gian sau khi dịch chấm dứt
Theo Hiramune (1982)[67] tỷ lệ trâu bò khỏe mang trùng giảm nhanh
từ 22% ở tuần lễ đầu, sau 6 tuần của vụ dịch giảm xuống còn 1,9% và vi khuẩn này có thể tồn tại đến 8 tháng
Nguyễn Vĩnh Phước (1986a)[26] cho biết tỷ lệ mang trùng ở đường
hô hấp trên của trâu bò khỏe ở các tỉnh phía Nam là 5,61% Ở miền Trung Tây Nguyên là 1,0 - 9,4% Tương tự như ở trâu bò, thì có 4,1% tỷ lệ lợn
khỏe mang vi khuẩn Pasteurella Theo Wijewardana (1992)[94] trong các
đàn động vật khoẻ mạnh luôn có một tỷ lệ cá thể mang vi khuẩn
Pasteurella ở đường hô hấp trên
Theo Phan Thanh Phượng (1994)[27] khi gia súc mang vi khuẩn
Pasteurella hoặc nó sẽ gây bệnh cho vật chủ khi vật chủ chịu tác động của các
yếu tố strees làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm
Trang 23Cao Văn Hồng (2002)[9] cho thấy tỷ lệ trâu bò và lợn mang
P.multocida ở đường hô hấp khi điều tra ở Đắk Lắk là 14,79% và 11, 61% và
sau 6 tháng có dịch thì tỷ lệ này lên tới 21,43%
1.2.7 Đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ
huyết trùng
1.2.7.1 Đặc tính chung
Pasteurella multocida gây bệnh bại huyết, xuất huyết cho gia súc,
gia cầm nên thường gọi là bệnh tụ huyết trùng Trước đây, người ta chia
Pasteurella thành nhiều loại, nhiều chủng theo khả năng thích nghi cho các
loài vật, như Pasteurella aviseptica gây bệnh tụ huyết trùng gà, Pasteurella
boviseptica gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò, Pasteurella suiseptica gây bệnh tụ
huyết trùng lợn, Pasteurella equiseptica gây bệnh bại huyết cho ngựa…
Các loại Pasteurella gây bệnh cho động vật có những đặc tính chung
căn bản giống nhau về mặt hình thái và nuôi cấy, nhưng tác động gây bệnh thay đổi tuỳ theo loài vật, đó là điểm chủ yếu để phân biệt các loại
Pasteurella với nhau
Vấn đề đặt ra là các loại Pasteurella có phải thuộc một giống duy nhất
hay không, những vi khuẩn tụ huyết trùng phân lập từ trâu, bò, lợn, gà có một
số đặc điểm chung của giống Pasteurella và chỉ khác nhau ở chỗ thích nghi đối với một loài vật Pasteurella của gà thì độc đối với gà, nhưng không độc đối với lợn Pasteurella của lợn rất giống loại của gà nhưng chỉ độc đối với lợn Trong thực tế, có thể coi tất cả các chủng Pasteurella đều thuộc một
giống gốc duy nhất, tồn tại và gây bệnh cho các loài vật trong tự nhiên, khác nhau nhiều hay ít tuỳ cơ thể mang nó Trong thiên nhiên cũng có trùng hợp
nhiều loài vật cảm nhiễm đối với một loại Pasteurella không phân biệt nguồn
Trang 24gốc như: Pasteurella của bò có thể gây cho ngựa, lợn Pasteurella của thỏ độc
với thỏ, bồ câu
1.2.7.2 Phân loại vi khuẩn P multocida
Theo Bergey (1974)[47] vi khuẩn P multocida thuộc bộ Eubacteriales, họ
Pavrobacteriacea, tộc Pasteurellaceae, giống Pasteurella, loài multocida
Vi khuẩn P multocida thuộc chi Pasteurella, trong P multocida có nhiều loài và chủng vi khuẩn khác nhau Trước kia trong chi Pasteurella còn
có P haemolytica nhưng loài này được xếp vào chi Mannheimia với tên gọi
Mannheimia haemolytica Trong chi Pasteurella thì các vi khuẩn thuộc P.multocida gây nhiều bệnh nguy hiểm cho gia súc, gia cầm và làm thiệt hại
kinh tế chung cho nghành chăn nuôi
1.2.7.3 Đặc điểm hình thái của P multocida
Theo Smith (1959)[89] vi khuẩn P multocida có sự thay đổi phụ thuộc
vào nguồn gốc của chúng, vi khuẩn phân lập từ bò có kích thước đồng nhất từ 0,5 - 1,2 µ, trong khi đó vi khuẩn phân lập từ lợn có dạng tròn hơn, kích thước 0,8 - 1,0 µ
Vi khuẩn P multocida có dạng cầu trực khuẩn nhỏ, ngắn, hình trứng,
hình cầu hay bầu dục, có kích thước 0,6 - 2,5 x 0,2 - 0,4µ Vi khuẩn có thể đứng riêng lẻ, thành đôi hoặc chuỗi, có giáp mô, không sinh nha bào, không
có lông, không di động và bắt màu lưỡng cực Ở các tiêu bản động vật mới
chết P multocida là vi khuẩn Gram âm, dễ bắt màu với thuốc nhuộm Fucxin hoặc xanh Methylen Tính chất bắt màu lưỡng cực của P multocida có thể
thấy khi nhuộm bằng xanh Methylen và chỉ thấy ở những tiêu bản làm từ máu động vật hay vi khuẩn phân lập từ những bệnh phẩm từ con vật mới chết Vi khuẩn nuôi cấy trong môi trường nhân tạo ít thấy tính chất này, nguyên nhân này là do trong quá trình phân bào, nguyên sinh chất bắt màu lưỡng cực dồn
về hai đầu
Trang 25Theo Carter (1952)[49] trong môi trường nước thịt P multocida mọc
tốt làm đục môi trường có mùi tanh đặc trưng Mùi tanh đặc trưng này thể hiện rõ nhất ở pha phát triển nhanh, khi nuôi cấy vi khuẩn lâu ngày mùi tanh
này sẽ mất dần Cater (1955)[50] cho biết khuẩn lạc của vi khuẩn P.multocida
tập trung ở hai dạng chính là khuẩn lạc có dung quang sắc cầu vồng và khuẩn lạc có dung quang màu xanh Những khuẩn lạc có dung quang màu xanh thường ít hoặc không có giáp mô, độc lực thấp hoặc không có độc lực thuộc dạng R (Rough)
Trong môi trường nuôi cấy, không phát sinh ra quá trình dung giải nguyên sinh chất ở giữa tế bào vi khuẩn nên không thấy vi khuẩn bắt màu xẫm ở hai đầu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001[33] và Nguyễn Quang Tuyên, 2008[40])
Trong mô bào và máu động vật mắc bệnh, các tế bào vi khuẩn thường đồng nhất Trong môi trường nhân tạo, các tế bào vi khuẩn thường đa dạng có thể hình trứng, hình cầu hoặc hình que
P multocida không di động, không tạo nha bào nhưng có giáp mô Vi
khuẩn có giáp mô nuôi lâu ngày trong môi trường nhân tạo thì giáp mô sẽ mất, nếu được cấy chuyển nhiều lần trong môi trường có bổ sung máu thì giáp
mô của nó sẽ được tái tạo Vi khuẩn có giáp mô thường có kích thước lớn hơn
vi khuẩn không có giáp mô
Vi khuẩn bắt màu với 2 loại thuốc nhuộm aniline hòa tan thông thường Tính chất bắt màu lưỡng cực (Bipolar-straining) có thể thấy khi nhuộm bằng xanh Methylen với những tiêu bản làm từ máu, tế bào động vật hay vi khuẩn mới phân lập Vi khuẩn nuôi cấy trong môi trường nhân tạo ít thấy tính chất này Sở dĩ có tính chất lưỡng cực là do tế bào vi khuẩn đang phân chia, nguyên sinh chất của vi khuẩn dung giải về hai đầu
Trang 261.2.8 Đặc điểm nuôi cấy
Pasteurella multocida là loại vi khuẩn sống hiếu khí hay yếm khí tuỳ
tiện, rất dễ nuôi cấy trong các môi trường nhân tạo với độ pH = 7,2 - 7,4, nuôi cấy ở nhiệt độ thích hợp 37 - 38o
C trong tủ ấm
Vi khuẩn P multocida phát triển tốt trong hầu hết các loại môi trường dinh dưỡng thông thường Môi trường dùng để nuôi cấy P multocida có thể
là môi trường đặc, lỏng hoặc bán lỏng
Theo Namioka và Murata (1961a)[75] cho biết môi trường phân lập
P.multocida là môi trường thạch có thêm 5 - 10%huyết thanh thỏ hoặc ngựa Còn môi trường nuôi cấy và thu hoạch kháng nguyên là môi trường YPC thạch Khi giữ giống tươi thì có thể dùng môi trường này đậy nút kín để ở 4o
C giữ được 2 - 3 tuần Để đông khô giữ giống thì dùng môi trường YPC không cho thạch mà thêm Sucrose 1,0 g, sodium glutamic 1,0 g Giống vi khuẩn trong ống đông khô có thể giữ được 10 năm
Nuôi cấy vi khuẩn P multocida trên môi trường thạch máu sẽ ức chế
xuất hiện các biến thể Một số nghiên cứu còn cho thấy có thể thay thành phần máu bằng các chất khác như Haematin, Catalase, Sodium sulfite và một
số chất khác có đặc tính xúc tác phân hủy H2O2 Vi khuẩn P multocida cũng mọc tốt trong môi trường nước thịt, sau 24h làm đục môi trường và canh trùng thuần khiết có mùi tanh đặc trưng, vài ngày sau nước thịt trở nên trong, đáy có cặn nhày, lắc khó tan, trên mặt môi trường có lớp màng mỏng khi lắc lớp màng này vỡ ra Nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn là 37O
C, pH trong khoảng 7,2 - 7,4 Trong môi trường nuôi cấy nếu có thêm huyết thanh hoặc máu thì vi khuẩn sẽ mọc tốt hơn
Peter và cs (1996)[80] sử dụng môi trường dinh dưỡng tối thiểu nuôi
cấy chủng sinh độc tố và không sinh độc tố của P multocida Môi trường này
gồm 17 thành phần, trong đó có cystein, glutamic acid, leucine, methionine, muối vô cơ, nicotinamide, pantothenate, thiamine, đường…
Trang 27Trong đó leucine có tác dụng kích thích tăng trưởng và thiamine có thể thay thế bằng adenine (Jablonski và cs, 1996)[69]
Trong các loại môi trường dùng để bảo quản mẫu bệnh phẩm chứa
P.multocida thấy vi khuẩn này có thể duy trì sự sống được trong môi trường
Cary - Blair và L-15 (Leubovitz medium No 15) hơn 15 ngày ở điều kiện nhiệt độ phòng, tuy nhiên sử dụng Cary-Blair làm môi trường vận chuyển (transport medium) thì sẽ tốt hơn, còn môi trường L-15 thích hợp hơn khi bảo quản vi khuẩn này trong phòng thí nghiệm (Eiichi, 1997)[60]
Khi nghiên cứu các dạng khuẩn lạc của P multocida cho thấy chủ yếu
hai dạng là dạng có dung quang màu xanh và dạng có dung quang sắc cầu vồng Những khuẩn lạc có dung quang màu xanh thường không có hoặc ít có giáp mô, vì thế không có độc lực hoặc độc lực thấp Các chủng cường độc
hoặc mới phân lập có dung quang mạnh Khi tiêm truyền các chủng P
multocida qua bồ câu thấy có sự tăng lên của những vi khuẩn tạo khuẩn lạc
dạng S (Smooth)
- Môi trường thạch thường: Sau 24 giờ nuôi cấy P multocida phát triển
thành khuẩn lạc nhỏ long lanh như hạt sương, để lâu ngày thì kích thước khuẩn lạc sẽ lớn hơn Khi cấy chuyển nhiều lần giáp mô bị mất, kích thước khuẩn lạc sẽ nhỏ lại Trên môi trường thạch vi khuẩn phát triển thành 3 dạng khuẩn lạc:
+ Dạng S (Smooth) là dạng thường thấy, khuẩn lạc nhỏ, bóng láng long lanh, mặt vồng, có dung quang sắc cầu vồng, khuẩn lạc có huỳnh quang, có tính kháng nguyên và độc lực cao Vi khuẩn thuộc dạng khuẩn lạc này thường tạo thành lớp giáp mô
+ Dạng R (Rough): Là dạng biến dị, khuẩn lạc thường to dẹt, rìa nhám
xù xì, có dung quang màu xanh lơ, có tính kháng nguyên và độc lực thấp
+ Dạng M (Mucoid): Là dạng biến dị, khuẩn lạc nhày ướt, rìa nhẵn, có kích thước to nhất, dung quang sắc cầu vồng yếu hơn ở dạng S và độc lực thấp
Trang 28Tính biến dạng của vi khuẩn này rất lớn khi nuôi cấy chuyển qua môi trường dinh dưỡng nhiều lần hoặc tiêm qua động vật, từ dạng S chúng có thể chuyển thành dạng M hoặc R và ngược lại
- Trên môi trường thạch máu: Vi khuẩn phát triển mạnh không làm dung huyết, khuẩn lạc phát triển mạnh hình tròn to có kích thước lớn hơn thạch thường, có màu xanh tro nhạt hình giọt sương và có mùi tanh nước rãi khô rất đặc trưng Đặc điểm này dễ nhận ra và được nhiều tác giả công nhận như một đặc điểm để chẩn đoán
- Trên môi trường thạch có bổ xung huyết cầu và huyết thanh: Đây là môi trường đặc biệt dùng để phân lập, giám định và xác định độc lực của vi
khuẩn, ở môi trường này vi khuẩn P multocida phát triển thành khuẩn lạc đặc
biệt có hiện tượng phát dung quang khi quan sát vi khuẩn trên kính hiển vi độ phóng đại 20 lần và góc chiếu sáng phản quang của ánh sáng đèn điện là 45o
Màu sắc phát quang của khuẩn lạc phụ thuộc vào độc lực của vi khuẩn: vi khuẩn có độc lực cao màu xanh lá mạ chiếm 2/3 diện tích khuẩn lạc, còn 1/3 diện tích khuẩn lạc có màu vàng da cam, khuẩn lạc này gọi là Fg (Greenish Fluorescent) Vi khuẩn có độc lực trung bình thì diện tích khuẩn lạc có màu xanh lá mạ ít hơn diện tích màu vàng da cam, khuẩn lạc này gọi là Fo (Orange Fluorescen), còn vi khuẩn có độc lực yếu, khuẩn lạc của chúng không có hiện tượng phát quang, gọi là Nf (Not Fluorescent)
Vi khuẩn P multocida khi mới phân lập từ bệnh phẩm, tổ chức hoại tử bắt
màu lưỡng cực và có giáp mô nếu có dung quang mạnh Các tính chất này sẽ thay đổi cùng với số lần cấy chuyển trên môi trường nhân tạo, nhưng sẽ được phục hồi khi tiêm truyền qua động vật thí nghiệm hoặc động vật mẫn cảm
Một tính chất quan trọng là hình thái và màu sắc cầu vồng của khuẩn
lạc P multocida nhìn qua ánh sáng điện xiên 45o: Khi mới phân lập, khuẩn lạc có cầu vồng mạnh hoặc yếu hay có hình rẻ quạt với màu biến đổi hoặc khuẩn lạc có màu xanh ít hay không màu
Trang 29Màu của khuẩn lạc P multocida thường liên quan đến giáp mô của vi
khuẩn Từ dạng có giáp mô trong canh khuẩn tươi, khuẩn lạc có dung quang, sau vài lần nuôi cấy giáp mô mất dần, khuẩn lạc nhỏ và dung quang kém, khi khuẩn lạc chứa chất nhày thì dung quang càng kém hơn, độc lực của vi khuẩn giảm dần từ dạng S đến dạng R
Sau khi nuôi cấy vi khuẩn P multocida phát triển thành những khuẩn
lạc đặc biệt, có hiện tượng phát huỳnh quang khi quan sát bằng kính hiển vi với ánh sáng đèn điện góc chiếu phản quang là 45o
thấy có 3 loại khuẩn lạc Tùy theo độc lực của vi khuẩn mà màu sắc của khuẩn lạc khác nhau
Loại Fg (Greenish fluorescent): 2/3 khuẩn lạc có màu xanh lơ, 1/3 có màu da cam, khuẩn lạc hình tròn, rìa gọn, mặt vồng và có độc lực cao
Loại Fo (Orange fluorescent): màu xanh lơ ít và vàng da cam nhiều, những khuẩn lạc này độc lực tương đối yếu
Loại Nf (Not fluorescent): khuẩn lạc độc lực yếu nhất, không màu, không có huỳnh quang, khuẩn lạc dạng S, nhỏ, trong
Cách xem huỳnh quang của khuẩn lạc trên chỉ áp dụng cho Pasteurella gây bệnh ở lợn và trâu bò, nhưng không áp dụng cho Pasteurella gây bệnh ở gia cầm Pasteurella aviseptica gây bại huyết, xuất huyết cho gia cầm có độc
lực mạnh nhưng khuẩn lạc của chúng thuộc loại Fo
Hiện tượng phát huỳnh quang của khuẩn lạc xem rõ khi nuôi cấy vi khuẩn trong môi trường thạch trong sáng, khuẩn lạc cách xa nhau sau 24 giờ, nếu để lâu sau 72 giờ thì huỳnh quang sẽ mất đi Vi khuẩn loại Fg có thể biến
dị thành vi khuẩn dạng Fo hay loại Nf, đi đôi với sự biến dị của khuẩn lạc thì độc lực của vi khuẩn cũng phát sinh biến dị
- Môi trường Gelatin: Hình thành khuẩn lạc mịn, hình hạt dọc theo đường cấy chích sâu, không làm gelatin tan chảy
Trang 30- Môi trường huyết thanh đông: Vi khuẩn phát triển thành những khuẩn lạc hình giọt nước nhỏ, trong suốt trên mặt thạch
- Môi trường cho thêm Neomycine 2,5 mg/lit, có tác dụng ngăn chặn sự
phát triển của P pseudotubeculosis và cho phép P multocida phát triển Trên
môi trường thạch huyết cầu tố và huyết thanh vi khuẩn mọc tốt hơn (Nguyễn Vĩnh Phước, 1964)[22] Trong môi trường nước thịt Hottinger hoặc Martin sau khi nuôi cấy 24 giờ, vi khuẩn phát triển làm môi trường đục nhẹ, khi lắc nhẹ có vẩn như sương mù sau đó mất, nếu để quá 24 giờ dưới đáy có lắng cặn nhày và bên trên có màng mỏng (Cater, 1967)[52] Theo Rhoades và cs
(1992)[82] hình thái kích thước của P multocida thường thay đổi trong quá
trình nuôi cấy, nếu nuôi cấy trong những điều kiện không thuận lợi hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường thì tế bào vi khuẩn sẽ có kích thước nhỏ lại
và có hình thái đa dạng Thomson và cs (1992)[90] cho biết môi trường Bactotryptose ở 15oC và 37oC trong vài tháng vi khuẩn vẫn còn sinh độc tố
Một số chủng P multocida còn có pili trên bề mặt, vai trò của những cấu trúc
này trong việc bám dính đã được nghiên cứu, đa phần các vi khuẩn
P.multocida gây bệnh viêm teo mũi lợn có pili (chiếm 60 - 80%), tuy nhiên
khi cấy các vi khuẩn này ở invitro thì số lượng vi khuẩn có pili giảm đi rất nhiều, chỉ còn từ 3 - 5% (Richard và Emilio, 1995)[83]
Theo Hoàng Đạo Phấn (1996)[20] để giữ giống P.multocida tươi cần
cấy chuyển vi khuẩn qua thạch máu vì vi khuẩn mới được phân lập mọc tốt trong các môi trường nuôi cấy thông thường nhưng khi nuôi cấy chuyển tiếp
sẽ mọc yếu, vì vậy phải cho thêm hồng cầu vào môi trường nuôi cấy Nếu
phân lập trong bệnh phẩm thì P multocida thường có hình trứng, hình cầu,
trực khuẩn hoặc hình thành chuỗi ngắn Nuôi cấy trong môi trường nhân tạo
trước 24 giờ, P multocida có dạng cầu khuẩn đứng riêng rẽ hay thành đôi
Trang 31Ngoài ra, hình thái của P multocida còn thay đổi tùy theo sự hình
thành giáp mô, kích thước của vi khuẩn có giáp mô thường lớn hơn vi khuẩn không có giáp mô Vi khuẩn thoái hóa nhanh sau khi phân lập và nuôi giữ trên môi trường dinh dưỡng, khi nuôi cấy trên môi trường thạch thường ở
37oC sau 24 giờ P mutocida phát triển thành khuẩn lạc nhỏ long lanh như hạt
sương, hơi lồi ở giữa, để lâu khuẩn lạc to màu trắng đục
Môi trường nuôi cấy vi khuẩn P multocida để làm vac-xin người ta
thường sử dụng môi trường cơ bản có thêm Saccarore, peptone và chất chiết
men bia Môi trường Hottinger cũng tốt cho P multocida phát triển Nuôi cấy
có sục khí (aeration) có thể làm tăng sinh khối vi khuẩn lên gấp 20 lần so với nuôi cấy tĩnh Sục khí bằng hỗn hợp khí có tỷ lệ CO2 và O2 khác nhau cũng tác dụng như sục khí bằng không khí thông thường, nhưng nếu sục khí bằng oxy nguyên chất sẽ ức chế sự phát triển của vi khuẩn Nuôi cấy động trên máy lắc vi khuẩn cần 12 giờ để đạt đến pha dừng, còn nuôi cấy sục khí khuấy đảo liên tục trong fermentor bằng công nghệ lên men hiện đại thì chỉ cần 5 giờ đã đạt mức phát triển tối đa Trong môi trường Hottinger có bổ xung thêm
đường, tụy đệm thì vi khuẩn P multocida chủng P52 phát triển mạnh và có
thể đạt tới nồng độ 50 tỷ CFU/ml (Trần Đình Từ và cs, 2000)[38]
Nếu nuôi cấy tĩnh P multocida sẽ phát triển theo 4 pha phát triển chậm
(pha thích nghi) kéo dài từ khi nuôi cấy đến giờ thứ 8, pha phát triển (pha logrit) bắt đầu từ giờ thứ 8 đến 14, pha cân bằng bắt đầu từ giờ 14 đến giờ 19, sau đó là pha suy tàn
Trong môi trường giàu chất dinh dưỡng, các gen liên quan tới quá trình trao đổi chất của vi khuẩn hoạt động mạnh (Shivachandra và cs, 2006)[88]
Một số phòng thí nghiệm đã thử nghiệm nuôi cấy P multocida trong
nhiều loại môi trường có thêm một số chất, kết quả thu được rất đáng khích lệ,
Trang 32tuy nhiên chất lượng vi khuẩn (kháng nguyên) nuôi cấy trong các môi trường khác nhau thì có thể khác nhau Nồng độ vi khuẩn trong một số môi trường rất cao nhưng hoạt tính huyết thanh học của vi khuẩn có thể bị thay đổi
1.2.9 Đặc tính sinh hoá của vi khuẩn P multocida
Có nhiều công trình nghiên cứu về đặc tính sinh hóa của P multocida, trong môi trường đường: Vi khuẩn P multocida lên men nhưng không sinh hơi
đường glucoza, saccaroza, mannit, sorbit, xyloza Lên men bất thường: mannoza, galactoza, levuloza và không lên men lactoza, arabinoza, salixin, dunxit, adonit Khả năng lên men saccaroza, không lên men lactoza là rất quan
trọng để kiểm nghiệm và phân biệt P multocida với các vi khuẩn khác như vi khuẩn Salmonella (không lên men saccaroza), vi khuẩn E.coli (lên men lactoza)
Theo Lignieres (1900)[72] đã nghiên cứu thấy rằng P multocida không
làm tan chảy Gelatin, không phân giải đường lactose và sinh Indol Tác giả đã
Rosenbusch và Merchant (1939)[87] đã nghiên cứu sự lên men đường
xyloes, arabinose và dunxit của P multocida và cũng chia làm 3 nhóm:
+ Nhóm 1: Gồm các chủng P multocida phân lập từ gia cầm, có khả năng lên men đường arabinoza, dunxit, không lên men xyloza
+ Nhóm 2: Gồm các chủng P multocida phân lập từ động vật có vú, có
khả năng lên men đường xyloza, không lên men arabinoza và dunxit
Trang 33+ Nhóm 3: Gồm tất cả các chủng P multocida có khả năng lên men
xyloza, arabinose và dunxit
Lassen (1975)[71] cũng đưa ra một tiêu chuẩn về tính chất sinh vật hóa
học của P multocida để nhận biết nhanh vi khuẩn khi sử dụng bộ môi trường
3 ống nghiệm gồm Hajna tube, Manitol - motilytif và Urea-indol
Ở Việt Nam nhiều tác giả nghiên cứu đặc tính sinh vật, hóa học của
P.multocda như Nguyễn Vĩnh Phước (1964)[22], Nguyễn Xuân Bình
(1996)[1], Hoàng Đạo Phấn (1996)[20] và Nguyễn Quang Tuyên (2008)[40]
Để phân biệt, xác định P multocida trong chẩn đoán và phân lập bảo tồn gen
sinh vật, dựa trên sự khác nhau về tính chất sinh vật, hóa học người ta đã lập bảng phân biệt các nhóm vi khuẩn trong tự nhiên, từ đó ứng dụng vào việc
phân lập, chẩn đoán phân biệt P multocida với các loài vi khuẩn khác có
nguồn gốc từ các loài động vật khác nhau
1.2.10 Cấu trúc kháng nguyên P multocida và type huyết thanh
Lignieres (1900)[98] khi nghiên cứu đặc tính kháng nguyên của
P.multocida đã khẳng định các chủng P multocida phân lập từ các loài vật
mắc bệnh khác nhau có đặc tính huyết thanh không đồng nhất
Kháng nguyên của P multocida rất phức tạp và cấu trúc từng loại
kháng nguyên cũng luôn thay đổi Cho đến nay, người ta đã xác định được vi
khuẩn P multocida có 2 loại kháng nguyên là kháng nguyên vỏ nhày (K) và
kháng nguyên thân (O)
Những công trình nghiên cứu về cấu trúc, số lượng và sự phân bố
kháng nguyên P multocida rất quan trọng trong việc chuyển hóa các phản
ứng huyết thanh học và trong chế tạo vaccine đặc hiệu Một vaccine có hiệu lực tốt phải bao gồm các kháng nguyên tương ứng với các serotype của các
chủng P multocida phân lập được trong từng vùng hay từng khu vực
Trang 34Hiện nay, người ta phát hiện được 18 loại kháng nguyên hoà tan của
P.multocida Nhiều thực nghiệm đã công nhận rằng kháng nguyên (O) đóng
vai trò quan trọng trong quá trình hình thành miễn dịch, song kháng nguyên (K) cũng có vai trò không nhỏ trong quá trình này
- Kháng nguyên thân (O):
Là kháng nguyên thành tế bào của vi khuẩn P multocida Các kháng
nguyên (O) chỉ được bộc lộ khi kháng nguyên (K) được tách ra Khuẩn lạc
của P multocida khi chuyển từ dạng S sang dạng R thì vi khuẩn Kháng
nguyên (O) là một phức hợp gluxit - lipit - protein, được chiết xuất được nhờ axit trichlo acetic, dung dịch phenol và siêu âm
Về đặc điểm sinh học các kháng nguyên (O) của vi khuẩn P multocida
không khác so với kháng nguyên (O) của những vi khuẩn khác Độc đối với chuột nhắt và gây được miễn dịch, độc đối với thỏ nhưng độc lực không cao lắm
Trong các phản ứng huyết thanh, kháng nguyên (O) của P multocida
có đặc tính loài rất cao, tuy vậy nó cũng tạo thành phản ứng chéo với các
huyết thanh kháng các vi khuẩn Gram âm khác như P pseudotuberculosis,
P haemolytica
Kháng nguyên thân (O) của P multocida có hai nhóm: đặc hiệu và
không đặc hiệu, các chủng khác nhau sẽ khác nhau về kháng nguyên thân Chỉ
có serotype B hầu như đồng nhất thuộc một nhóm kháng nguyên O Hiện nay, kháng nguyên O có hai hệ thống phân loại:
- Phân loại của Namioka và Murata (1961b)[76] kháng nguyên thân có
16 type đánh số từ 1-16 và cho rằng khuẩn lạc của P multocida chuyển từ
dạng S sang dạng R thì vi khuẩn giữ được kháng nguyên O và cũng theo tác giả cho biết ở Nhật Bản bệnh tụ huyết trùng lợn thuộc type A:1 và D:2
Trang 35Theo Cater (1967)[52] bệnh tụ huyết trùng ở gia cầm thường do 2 type
A và D gây nên Kháng nguyên O là kháng nguyên thành tế bào của
P.multocida và chỉ bộc lộ khi kháng nguyên K được tách ra
- Phân loại của Heddleston (1972)[66] kháng nguyên thân có 16 type đánh số từ 1-16
Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1986a)[26] cho biết ở lợn type B là type chủ yếu gây bệnh tụ huyết trùng trên lợn ở miền Nam Việt Nam, type A gây
ra viêm phổi với thời gian bệnh kéo dài và tỷ lệ chết thấp hơn
Hiện nay nhiều thực nghiệm đã công nhận kháng nguyên O của
P.multocida đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành miễn dịch,
song kháng nguyên K cũng đóng vai trò không nhỏ trong quá trình này
Rimler và Rhoades (1987)[84] bằng phản ứng IHA đã bổ xung thêm
một type giáp mô mới của P multocida ký hiệu là F Theo các tác giả phương
pháp ngưng kết hồng cầu gián tiếp là thích hợp cho việc định type theo kháng nguyên (K) mà hiện nay nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới đang dùng
Theo Trigo và Pijoan (1988)[92] phần lớn type D bám dính vào những
tế bào không có lông nhung, type A và D bám dính vào tế bào biểu bì của khí quản nhưng không được chắc chắn Tuy nhiên các chủng thuộc type A bám dính tốt hơn và chúng bám dính phần lớn vào tế bào biểu bì có lông nhung, ngược lại chúng bám dính không tốt ở bề mặt của biểu bì
Theo Verma (1988)[93] type B thường gặp ở lợn nuôi tại Đông Nam Á, Trung Quốc và Ấn Độ chưa thấy ở Mỹ và châu Âu
Phan Thanh Phượng (1994)[27] cho biết, ở Việt Nam bệnh tụ huyết trùng lợn cũng do các chủng thuộc type B gây ra
- Kháng nguyên vỏ (K):
Những chủng P multocida độc lực có một kháng nguyên phụ là kháng
nguyên vỏ, bản chất là polysaccarit, là một bán kháng nguyên che lớp kháng
Trang 36nguyên (O) khỏi bị các phage tác dụng nhưng đồng thời cũng ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên (O) với kháng thể (O) tương ứng Vì vậy, muốn phát hiện kháng nguyên (O) thì phải phá hủy kháng nguyên K hoặc dùng
phương pháp nuôi cấy không cho vi khuẩn P multocida hình thành kháng
nguyên giáp mô
Giáp mô là một lớp màng nhày mỏng, bao bọc quanh thành tế bào Phần
lớn các chủng P multocida đều có giáp mô Giáp mô là yếu tố độc lực của vi
khuẩn vừa có tác dụng bảo vệ vi khuẩn chống lại sự thực bào, chống lại tác động
có hại của môi trường vừa là nơi dự trữ các chất dinh dưỡng của vi khuẩn
Kháng nguyên (K) chỉ có ở vi khuẩn P multocida tạo khuẩn lạc dạng S
và không có ở vi khuẩn tạo khuẩn lạc dạng nhày (M) và dạng sù sì (R) Kháng
nguyên K thu nhận được bằng cách cho canh khuẩn P multocida mới nuôi
cấy vào nước cất và chiết xuất trong vòng 5 phút ở 37oC, có hai thành phần là
α và β, chúng được cấu tạo từ protein và polysaccarit, ngoài ra còn có một số
ít lipo - polysaccarit
Robert (1947)[86] bằng phương pháp bảo hộ chéo trên chuột đã xác
định P multocida có 4 loại kháng nguyên vỏ đánh theo số la mã là I, II, III và
IV Các chủng P multocida phân lập được từ trâu, bò thuộc type I
Carter (1955)[50] sử dụng phản ứng kết tủa và dùng phương pháp
ngưng kết gián tiếp hồng cầu đã xác định vi khuẩn P multocida cũng có 4
type nhóm kháng nguyên vỏ (K) đánh theo chữ cái in hoa là A, B, C và D; năm 1961, bằng phản ứng ngưng kết đã xác định thêm một type mới và đặt tên là E Năm 1963, Carter đề nghị bỏ type C và đưa thêm type F
Phương pháp ngưng kết gián tiếp hồng cầu là thích hợp cho việc định
type vi khuẩn P multocida theo kháng nguyên K mà hiện nay nhiều phòng thí
nghiệm trên thế giới đang dùng
Trang 37Nhiều thực nghiệm đã chứng minh được mối quan hệ tương đương giữa hai hệ thống định typ của Robert và Carter như sau:
Hệ thống định type của Carter gồm các type A, B, D, E tương ứng với
hệ thống định type của Robert gồm các type I, II, III, IV
Theo quy định của FAO, để xác định serotype của vi khuẩn P
multocida cần kết hợp cả hai hệ thống định type kháng nguyên: định typ
kháng nguyên giáp mô và định type kháng nguyên thân
Hiện nay hai hệ thống type của P.multocida được dùng phổ biến là hệ
thống Namioka (1961) - Carter (1955) và hệ thống Carter (1955) - Heddleston (1972), trong đó hệ thống Carter - Heddleston được dùng phổ biến
Hiện nay, trong khi nghiên cứu chế tạo vaccine phòng bệnh tụ huyết trùng cho gia súc gia cầm, một số tác giả đã tiến hành tách kháng nguyên O
và kháng nguyên vỏ, sau đó mới trộn lẫn với nhau, với mục đích bộc lộ kháng nguyên O để tạo miễn dịch cao hơn
Pasteurella multocida có tính kháng nguyên tương hỗ, tức là
chủng này có tính kháng nguyên với chủng khác, có trao đổi miễn dịch
và miễn dịch chéo giữa các chủng Muốn thử kháng nguyên tương hỗ thì
lấy vi khuẩn P multocida để chế vaccine đem tiêm cho thỏ Rồi lấy cường độc của các chủng Pasteurella khác để thử, nếu có kháng nguyên tương hỗ thì thỏ không chết.Vi khuẩn P multocida nào dùng để chế
vaccine mà gây miễn dịch được với nhiều chủng khác thì có tính kháng nguyên tương hỗ rộng, là một chủng vi khuẩn để chế vacxin tốt Vì vậy, vaccine tụ huyết trùng đa giá là loại vaccine chứa nhiều chủng vi khuẩn
Pasteurella để gây được miễn dịch rộng rãi
1.2.11 Sức đề kháng của vi khuẩn P multocida
Trước đây người ta cho rằng P multocida sống ở trong đất ẩm ướt,
ở đây vi khuẩn tồn tại lâu dài là nguồn mầm bệnh chính làm phát sinh ra
Trang 38các ổ dịch tụ huyết trùng cho động vật, nên các ổ dịch thường phát sinh vào đầu mùa mưa Hiện nay, theo một số tác giả sức đề kháng của vi
khuẩn P multocida không cao ở ngoại cảnh, chúng không thể sống lâu
dài ở môi trường bên ngoài gia súc để có thể trở thành một nguồn bệnh
đáng kể Ngay cả khi sức sống của vi khuẩn P multocida có thể lâu hơn trong điều kiện ẩm ướt thì cũng không có chủng P multocida nào được
phát hiện ở trong bùn nơi trâu đằm mình sau 24 giờ (Roberson, 1947)[86]
Vi khuẩn P multocida chết nhanh trong đất có độ ẩm dưới 40%, ở
nhiệt độ thấp và đất ẩm có thể sống được khoảng 15 ngày, trong phân 14 ngày, trong xác chết thối vi khuẩn sống được 1 - 3 tháng Mặt khác vi
khuẩn P multocida dễ bị tiêu diệt bởi sức nóng Vi khuẩn ở 80oC tồn tại trong 10 phút, ở 100o
C chết ngay Sấy khô sẽ tiêu diệt vi khuẩn trong vòng 1 - 2 ngày
Ánh sáng mặt trời diệt vi khuẩn trong canh trùng nước sau 1 ngày, trong canh trùng đặc sau 5 ngày Các chất sát trùng thông thường diệt vi khuẩn nhanh chóng như axit phenic 5% trong 1 phút
Vì vậy, làm tốt công tác vệ sinh thú y thì coi như góp phần quan trọng trong công tác phòng chống bệnh tụ huyết trùng (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[33]
1.3.Tính gây bệnh của vi khuẩn P multocida
1.3.1 Trong thiên nhiên
Vi khuẩn P multocida sống ở trong đất ẩm, phân…vào cơ thể động vật
qua đường tiêu hóa, hô hấp Vi khuẩn sống nhờ trong đường hô hấp và tiêu hóa của gia súc khỏe mạnh, khi sức đề kháng của động vật giảm thì vi khuẩn
sẽ tác động gây bệnh Bệnh thể hiện chứng bại huyết kèm theo tụ huyết, xuất huyết ở các tổ chức, niêm mạc và phủ tạng
Trang 39Loại P suiseptica gây bệnh tụ huyết trùng cho lợn, lợn từ 3 - 6 tháng
tuổi mắc nhiều nhất.Thường có triệu chứng lâm sàng:
+ Triệu chứng lâm sàng:
Các tác giả nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng đều cho rằng đây là một bệnh truyền nhiễm, thường xảy ra với các triệu chứng lầm sàng chủ yếu là sốt cao, biếng ăn, chảy nước dãi, khó thở, thủy thũng vùng hầu, xung huyết, sưng hạch, viêm phổi… Bệnh kéo dài từ vài giờ đến vài ngày và con vật chết giai đoạn cuối do nhiễm trùng máu, xuất huyết
Nguyễn Vĩnh Phước (1978b)[25] cho biết bệnh tụ huyết trùng lợn thường có 2 dạng là nhiễm trùng huyết và cảm nhiễm thứ phát Thường có 3 thể bệnh: Quá cấp tính, cấp tính và mãn tính
Theo Lê Văn Năm và cs (1999)[16] thời kỳ ủ bệnh kéo dài 1-14 ngày, bệnh tụ huyết trùng lợn thường ở 2 dạng là nhiễm trùng huyết và bội nhiễm
Ở thể bệnh này, bệnh tiến triển nhanh từ 12 giờ đến 1 - 2 ngày, con vật chết rất nhanh vì ngạt thở, con to nhất trong đàn chết trước, hiện tượng chết diễn ra hàng loạt, có thể các triệu chứng biểu hiện không rõ Bệnh có thể lây
Trang 40sang trâu, bò, gà (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978b)[25] Lê Văn Năm và cs (1999)[16] cũng cho biết biểu hiện triệu chứng của thể bệnh này là lợn sốt cao
41 - 42o C, hoạt động của hệ tim mạch yếu nên xuất hiện xung huyết (tím) ở
da bụng, tai, đùi, lợn chết sau 1 - 2 ngày thậm chí trong vòng vài giờ và trong một thời gian ngắn đa phần cả đàn sẽ nhiễm bệnh
- Thể cấp tính
Lợn mắc bệnh ủ rũ, ăn ít hoặc bỏ ăn, sốt cao đến 41 - 42o
C, sau đó cũng xuất hiện các triệu chứng như ở thể quá cấp nhưng không trầm trọng bằng, niêm mạc mũi viêm, con vật thở khó, thở nhanh dồn dập, nghe có tiếng thở khò khè ướt trong phế quản, lợn biểu hiện ho co rút toàn thân, nước mũi chảy đặc hơn, keo nhày đục, dần vít tịt lỗ mũi con vật càng khó thở, tim đập nhanh
và nước mắt chảy, có trường hợp lẫn mủ thoát ra theo, ho khan từng tiếng đè
ấn vùng ngực con vật có phản xạ đau, hai chân trước đứng dạng ra để dễ thở
và giảm đau Trên da toàn thân nổi lên những mảng đỏ hoặc tím bầm, đặc biệt vùng da mềm như bẹn, bụng, phía trong đùi, vùng cổ, đồng thời thường xuyên viêm xuất huyết rất phổ biến trên đàn lợn bệnh
Hầu sưng, thủy thũng dần lan rộng xuống cổ và cằm Những vùng này sưng to lùng nhùng Con vật lúc sốt cao đi táo bón, sau ỉa chảy có khi có lẫn máu hoặc xuất hiện cục máu vón do xuất huyết ruột Chân đi tập tễnh, khớp sưng, vận động khó khăn Đa phần số lợn ốm gầy sút nhanh, yếu ớt
Bệnh tiến triển từ 3 - 8 ngày hoặc kéo dài đến 12 ngày con vật suy nhược cơ thể, yếu dần, ăn kém hoặc không ăn rồi chết Tỷ lệ chết có thể đến 80% nếu không can thiệp kịp thời Nếu con nào sống sót thì bệnh chuyển sang thể mãn tính (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978b)[25]
- Thể mãn tính
Đây là thể tiến triển tiếp theo thể cấp tính, là thể rất nguy hiểm vì số lợn này đều mang trùng Con vật thở nhanh, khò khè, ho từng hồi liên miên nhất