1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ

119 510 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Bệnh cúm gia cầm chủng độc lực cao HPAI là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ lây lan rất nhanh với tỉ lệ gây chết cao trong đàn gia cầm nhiễm

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN QUANG

PGS.TS TÔ LONG THÀNH

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi trực tiếp nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Quang, PGS.TS Tô Long Thành và

sự giúp đỡ chân tình của các cô chú, anh chị: phòng virus - Trung tâm Chẩn đoán thú y Trung ương, Chi cục thú y tỉnh Phú Thọ

Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, được rút ra từ tình hình thực tế của Phú Thọ trong những năm qua và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2010

Tác giả luận văn

Trịnh Thị Quý

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt 3 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn

và cảm ơn chân thành tới:

TS Nguyễn Văn Quang - Trưởng khoa Chăn nuôi - Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

PGS TS Tô Long Thành- Phó giám đốc Trung tâm Chẩn đoán Thú y trung ương

Những người thầy uyên bác, mẫu mực, tận tình và chu đáo đã luôn cổ

vũ tinh thần, động viên, hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình

nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Sau Đại học, khoa Chăn nuôi - Thú y, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, các thầy cô giáo đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của trương trình học

Các cán bộ thuộc phòng Virus, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương Ban Lãnh đạo và toàn thể cán bộ Chi cục Thú y, đồng nghiệp đang làm việc trong lĩnh vực Chăn nuôi - Thú y của tỉnh Phú Thọ

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài

Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2010

Tác giả

Trịnh Thị Quý

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 0

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

4 Địa điểm nghiên cứu 2

5 Thời gian 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH CÚM GIA CẦM 3

1.2 LỊCH SỬ BỆNH CÚM GIA CẦM 3

1.3 TÌNH HÌNH DỊCH CÚM GIA CẦM TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 5

1.3.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới 5

1.3.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam 6

1.4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA VIRUS CÚM TYP A 10

1.4.1 Đặc điểm cấu trúc chung của virus thuộc họ Orthomyxoviridae 10

1.4.2 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm typ A 11

1.4.3 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm typ A 13

1.4.4 Thành phần hóa học 15

1.4.5 Quá trình nhân lên và tác động gây bệnh của virus 15

1.4.6 Độc lực của virus 15

1.4.7 Danh pháp 18

1.4.8 Phân loại virus 18

1.4.9 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà 19

1.4.10 Miễn dịch chống bệnh cúm gia cầm 20

1.5 DỊCH TỄ HỌC BỆNH CÚM GIA CẦM 24

1.5.1 Phân bố dịch 24

1.5.2 Động vật cảm nhiễm 25

1.5.3 Động vật mang virus 25

1.5.4 Sự truyền lây 26

1.5.5 Sức đề kháng của virus cúm 27

1.5.6 Mùa vụ phát bệnh 28

Trang 5

1.6 TRIỆU CHỨNG, BỆNH TÍCH CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM 28

1.6.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm 28

1.6.2 Bệnh tích đại thể của bệnh cúm gia cầm 29

1.6.3 Bệnh tích vi thể 30

1.7 CHẨN ĐOÁN BỆNH 30

1.8 KIỂM SOÁT BỆNH 31

1.9 VACXIN PHÒNG BỆNH CÚM GIA CẦM 33

1.10 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VỀ BỆNH CÚM GIA CẦM 38

Chương 2 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG NGHIÊN CỨU 40

2.1 NỘI DUNG 40

2.1.1 Một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm ở tỉnh Phú Thọ 40

2.1.2 Sự đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn gà, vịt được tiêm vacxin H5N1 năm 2009 40

2.2 VẬT LIỆU 40

2.2.1 Đối tượng kiểm tra 40

2.2.2 Vacxin 40

2.2.3 Các hoá chất dùng trong xét nghiệm 40

2.2.4 Các trang thiết bị và cơ sở vật chất 42

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.3.1 Điều tra một số chỉ tiêu liên quan đến chăn nuôi và dịch cúm gia cầm của tỉnh Phú Thọ 42

2.3.2 Giám sát một số chỉ tiêu của đàn gia cầm sau tiêm phòng vacxin H5N1 của tỉnh Phú Thọ 42

2.3.2.1 Giám sát lâm sàng 42

2.3.2.2 Giám sát huyết thanh 43

2.3.2.3 Lấy mẫu 43

2.3.2.4 Phản ứng ngưng kết hồng cầu HA 44

2.3.2.5 Giám định virus phân lập bằng phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI 44

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46

3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM Ở TỈNH PHÚ THỌ 46

Trang 6

3.1.1 Tình hình bệnh cúm gia cầm từ cuối năm 2003 đến nay 46

3.1.2 Biến động tỷ lệ bệnh cúm gia cầm theo mùa 47

3.1.3 Biến động tỷ lệ bệnh cúm gia cầm theo loại gia cầm 49

3.1.4 Biến động tỷ lệ mắc bệnh theo phương thức chăn nuôi 50

3.1.5 Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo quy mô đàn gia cầm 52

3.2 ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH VÀ ĐỘ DÀI MIỄN DỊCH CỦA ĐÀN GÀ, VỊT ĐƯỢC TIÊM VACXIN NĂM 2009 TẠI TỈNH PHÚ THỌ 52

3.2.1 Kết quả tiêm phòng vacxin cúm cho đàn gia cầm của tỉnh Phú Thọ năm 2009 52

3.2.2 Kết quả giám sát lâm sàng trên đàn gia cầm sau khi tiêm phòng vacxin 54

3.2.3 Giám sát huyết thanh học của đàn gà sau khi được tiêm phòng vacxin 55

3.2.3.1 Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của gà được tiêm vacxin H5N1 55

3.2.3.2 Tần số phân bố các mức kháng thể của gà được tiêm vacxin H5N1 tại các thời điểm lấy mẫu 60

3.2.3.3 Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch ở đàn gà thí nghiệm 64

3.2.3.4 So sánh hiệu giá kháng thể trung bình của đàn gà thí nghiệm và của các đàn gà trong tỉnh 66

3.2.4 Khảo sát đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của vịt được tiêm vacxin H5N1 Trung Quốc tại Phú Thọ năm 2009 68

3.2.4.1 Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của vịt được tiêm vacxin 68

3.2.4.2 Tần số phân bố các mức kháng thể của vịt tiêm vacxin H5N1 tại các thời điểm lấy mẫu 71

3.2.4.3 Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn vịt thí nghiệm sau tiêm vacxin H5N1 74

3.2.4.4 So sánh hiệu giá kháng thể trung bình của đàn vịt TN với các đàn trong tỉnh 76

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 79

5.1 Kết luận 79

5.2 Đề nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1: Tỷ lệ gia cầm mắc bệnh cúm tình từ năm 2003- 2009 46

3.2: Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo mùa 48

3.3: Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo loại gia cầm 49

3.4: Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo phương thức chăn nuôi 51

3.5: Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo quy mô đàn gia cầm 52

3.6: Kết quả tiêm phòng vacxin cúm cho đàn gia cầm của tỉnh Phú Thọ năm 2009 53

3.7 Kết quả theo dõi độ an toàn của vacxin H5N1 trên đàn gia cầm 54

3.8: Hiệu giá kháng thể trung bình của gà được tiêm vacxin H5N1 56

3.9: Tần số phân bố các mức kháng thể của gà được tiêm vacxin H5N1 60

3.10: Hiệu giá kháng thể và độ dài miễn dịch của đàn gà thí nghiệm 64

3.11: Hiệu giá kháng thể trung bình, tỷ lệ bảo hộ của đàn gà thí nghiệm và các đàn gà trong tỉnh 66

3.12: Hiệu giá kháng thể trung bình của vịt được tiêm vacxin H5N1 69

3.13: Phân bố hiệu giá kháng thể của đàn vịt trong tỉnh được tiêm vacxin qua các thời điểm 71

3.14: Hiệu giá kháng thể và độ dài miễn dịch của đàn vịt thí nghiệm 74

3.15: Hiệu giá kháng thể trung bình, tỷ lệ bảo hộ của đàn vịt TN và các đàn vịt trong tỉnh 74

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

3.1 Biến động tỷ lệ bảo hộ của gà đƣợc tiêm vacxin H5N1 59 3.2 Phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gà

tại thời điểm sau tiêm 30 ngày 61 3.3 Phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gà tại thời điểm sau

tiêm 60 ngày 62 3.4 Phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gà tại thời điểm sau

tiêm 90 ngày 62 3.5 Phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gàtại thời điểm sau

tiêm 120 ngày 63 3.6 Phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gà tại thời điểm sau

tiêm 150 ngày 63 3.7 Phân bố tỷ lệ bảo hộ của đàn gà thí nghiệmđƣợc tiêm vacxin

H5N1 65 3.8 So sánh tỷ lệ bảo hộ (%) của đàn gà thí nghiệm với các đàn gà

trong tỉnh dƣợc tiêm vacxin H5N1 68 3.9 Biến động tỷ lệ bảo hộ của đàn vịt đƣợc tiêm vacxin H5N1 70 3.10 Phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh vịttại thời điểm sau

khi tiêm vacxin 30 ngày 72 3.11 Phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh vịttại thời điểm sau

khi tiêm vacxin 60 ngày 72 3.12 Phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh vịt tại thời điểm sau

khi tiêm vacxin 90 ngày 73 3.13 Phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh vịt tại thời điểm sau

khi tiêm vacxin 120 ngày 73 3.14 Biến động tỷ lệ bảo hộ của đàn vịt đƣợc tiêm vacxin H5N1 76 3.15 So sánh tỷ lệ bảo hộ (%) của đàn vịt thí nghiệm với các đàn vịt

trong tỉnh 76

Trang 9

DANH MỤC ĐỒ THỊ

3.1 Biến động hiệu giá kháng thể của gà đƣợc tiêm vacxin H5N1 59 3.2 Biến động hiệu giá kháng thể của đàn gà thí nghiệm đƣợc tiêm vacxin H5N1 65 3.3 So sánh hiệu giá kháng thể của đàn gà thí nghiệmvà gà thực địa của tỉnh Phú Thọ 67 3.4 Biến động hiệu giá kháng thể của vịt đƣợc tiêm vacxin H5N1 70 3.5 Biến động hiệu giá kháng thể của đàn vịt thí nghiệm đƣợc tiêm vacxin H5N1 75 3.6 So sánh hiệu giá kháng thể trung bình của đàn vịt thí nghiệm với các đàn vịt trong tỉnh 77

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ARN : Acid ribonucleic

GMT : Geographic Mean Titre - Hiệu giá kháng thể trung bình

HA : Hemagglutination test

HI : (Hemagglutination inhibitory test) - Phản ứng ngăn trở ngƣng kết

hồng cầu HPAI : (High Pathogenicity Avian Influenza) - Virus cúm thể độc lực cao

Trang 11

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Bệnh cúm gia cầm chủng độc lực cao (HPAI) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ lây lan rất nhanh với tỉ lệ gây chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh (Cục thú y, 2004) [7] Bệnh do virus cúm typ A thuộc họ

Orthomyxoviridae với nhiều phân typ khác nhau gây nên (Ito và cộng sự,

1998) [56] Virus gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loài chim và còn gây bệnh cho cả con người Với những tính chất nguy hiểm của bệnh, Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) xếp bệnh vào Bảng A - Bảng danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất (Cục thú y, 2004) [7]

Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới, gây thiệt hại nặng nề về mặt kinh tế, chính trị và xã hội Virus cúm gia cầm là virus ARN phân mảnh có 2 kháng nguyên bề mặt H (từ H1 đến H16) và N (từ N1 đến N9) có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học và miễn dịch học (Tô Long Thành và CS, 2009) [41]

Hiện nay dịch cúm gia cầm đang là mối quan tâm và đáng lo ngại của toàn cầu, đến nay đã có hơn 50 nước trên thế giới xuất hiện dịch, dịch có chiều hướng diễn biến phức tạp

Tại Việt Nam, dịch cúm xuất hiện bất ngờ vào cuối năm 2003, trong khi chăn nuôi gia cầm chủ yếu rải rác ở các nông hộ rất khó kiểm soát bệnh, việc kiểm soát bệnh ngày càng trở nên khó khăn vì đây là một loại dịch bệnh mới, lây lan rất nhanh

Tại Việt Nam, khi dịch cúm gia cầm xảy ra, Ban chỉ đạo phòng chống dịch quốc gia đã nghiên cứu, áp dụng biện pháp tiêm phòng vacxin cho đàn gia cầm trong cả nước Việc áp dụng tiêm phòng vacxin cho đàn gia cầm như một giải pháp, một công cụ hỗ trợ tích cực để ngăn chặn, khống chế và thanh toán bệnh cúm gia cầm ở những vùng bị nhiễm bệnh Theo quan điểm của OIE, FAO, WHO [8,9,10], vacxin nên sử dụng như một biện pháp chiến lược toàn diện phòng chống bệnh cúm gia cầm Trong năm 2009, Phú Thọ cũng được tiêm phòng vacxin H5N1 của Trung Quốc cho đàn gia cầm trong toàn tỉnh

Trang 12

Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy, với cùng một loại vacxin nhưng khi tiêm phòng đại trà tại các địa phương khác nhau thì cho đáp ứng miễn dịch với đàn gia cầm cũng khác nhau Vì vậy, nghiên cứu khả năng đáp ứng miễn dịch của gia cầm với vacxin H5N1 ngoài thực địa tại Phú Thọ để biết hiệu quả phòng bệnh của vacxin, tỷ lệ bảo hộ và độ dài miễn dịch của gia cầm, từ đó xác định thời gian tiêm nhắc lại phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của vacxin là hết sức cần thiết

Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn sản xuất, chúng tôi tiến

hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng

miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin H5N1 tại Phú Thọ”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được một số đặc điểm bệnh cúm gia cầm ở tỉnh Phú Thọ

- Đánh giá được khả năng đáp ứng miễn dịch của gà và vịt được tiêm vacxin H5N1 tại tỉnh Phú Thọ

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Các kết quả nghiên cứu tại Phú Thọ nhằm cung cấp, bổ sung và hoàn thiện các thông tin về bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam

- Có biện pháp tổ chức tiêm vacxin cúm gia cầm đại trà cho đàn gia cầm

của tỉnh Phú Thọ để đạt được kết quả cao nhất Từ đó rút ra được những kinh nghiệm tiêm phòng trong thực tế cho tỉnh nói riêng và cho cả nước nói chung

- Xây dựng kế hoạch tiêm phòng vacxin cúm trên địa bàn của tỉnh trong thời gian tiếp theo

4 Địa điểm nghiên cứu

Phòng virus- Trung tâm Chẩn đoán Thú y TW, Trung tâm Thú y vùng

Hà Nội, các cơ sở và hộ chăn nuôi gia cầm của tỉnh Phú Thọ, các Trạm thú y

của tỉnh Phú Thọ, Chi cục thú y tỉnh Phú Thọ

5 Thời gian

Từ tháng 12 năm 2008 đến tháng 03 năm 2010

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH CÚM GIA CẦM

Bệnh cúm ở gia cầm bệnh cúm gà (Avian influenza), là một bệnh

truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm typ A thuộc họ Orthomyxoviridae với

nhiều subtyp khác nhau (Ito.T and Y.Kawoaka, 1998) [57]

Trước đây bệnh còn được gọi là bệnh dịch tả gà (Fowl plague), nhưng

từ Hội nghị Quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville (Mỹ), năm1981 đã thay thế tên này bằng tên bệnh cúm động lực cao ở gia cầm (Highly pathogenic avian influenza viết tắt là HPAI) để chỉ virus cúm typ A

có độc lực mạnh (Cục thú y, 2004) [7]

Bệnh cúm gia cầm HPAI là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ lây lan rất nhanh với tỉ lệ chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh Virus gây bệnh cúm gia cầm chủ yếu là loại H5, H7 và H9, gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loại chim Virus còn gây bệnh cho cả con người và có thể thành đại dịch, vì thế bệnh cúm gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết (Cục thú y, 2005) [8], (Lê Văn Năm, 2004) [29]

1.2 LỊCH SỬ BỆNH CÚM GIA CẦM

Năm 412 trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả về bệnh cúm Năm

1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ đại dịch cúm vào các năm

1889, 1918, 1957, 1968 (Cục thú y, 2004) [7]

Năm 1878 ở Italy đã xảy ra một bệnh gây tử vong rất cao ở đàn gia cầm

và được gọi là bệnh dịch tả gia cầm (Fowl plague), bệnh lần đầu tiên được Porroncito mô tả và ông nhìn nhận một cách sáng suốt rằng tương lai sẽ là một bệnh quan trọng và nguy hiểm Năm1901, Centanni và Savunozzi đã đề cập đến ổ dịch này và xác định được căn nguyên siêu nhỏ qua lọc (Filterable

Trang 14

agent) là yếu tố gây bệnh Đến năm 1955 Achafer đã xác định được căn nguyên gây bệnh thuộc nhóm virus cúm typ A thông qua kháng nguyên bề mặt là H7N1 và H7N7 gây chết nhiều gà, gà tây và chim hoang ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Phi, Trung Cận Đông (Lê Văn Năm, 2004) [29]

Năm1963, virus cúm typ A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di trú dẫn nhập virus vào đàn gà Cuối thập kỷ 60, phân typ H1N1 thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch ở gà tây Mối liên hệ giữa lợn và

gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Những nghiên cứu đều cho rằng virus cúm typ A phân typ H1N1 đã ở lợn và truyền cho gà tây, ngoài ra phân typ H1N1

ở vịt còn truyền cho lợn (Cục thú y, 2004) [7]

Năm 1971, Beard đã mô tả khá kỹ virus gây bệnh và đặc điểm bệnh lý lâm sàng của gà trong các ổ dịch cúm gà, gà tây khá lớn xảy ra ở Mỹ mà chủng gây bệnh là H7N1 Từ năm 1960 - 1979 bệnh được phát hiện ở Canada, Mehico, Achentina, Braxin, Nam Phi, ý, Pháp, Anh, Hà Lan, Australia, Hồng Kông, Nhật Bản, các nước vùng Trung Cận Đông, các nước thuộc liên hiệp Anh và Liên Xô (Đào Yến Khanh, 2005) [25]

Các công trình nghiên cứu có hệ thống về bệnh cúm gia cầm lần lượt được công bố ở Australia năm 1975, ở Anh năm 1979, ở Mỹ năm 1983 -

1984, ở Ailen năm 1983 - 1984 về đặc điểm sinh học, bệnh học và dịch tễ học, các phương pháp chẩn đoán miễn dịch và biện pháp phòng chống bệnh

(Đào Yến Khanh, 2005) [25]

Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỉ lệ nhiễm virus cúm

cao ở một số loài thuỷ cầm di trú (Cục thú y, 2004) [7]

Từ sau khi phát hiện ra virus cúm typ A, các nhà khoa học thấy rằng virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi ở những vùng khác

Trang 15

nhau trên thế giới Bệnh xảy ra nghiêm trọng nhất với gia cầm thuộc phân typ H5 và H7 như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 - 1984 là

H5N2 (Cục thú y, 2004) [7]

Đến nay, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp các châu lục với mức độ ngày càng nguy hiểm hơn đối với các loài gia cầm và sức khoẻ của cộng đồng, đã thôi thúc Hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm tổ chức hội thảo chuyên đề về bệnh cúm gà Hội thảo lần đầu tiên tổ chức vào năm 1981, lần thứ 2 tại Ailen năm 1987, lần thứ 3 cũng tại Ailen năm 1992 Từ đó đến nay trong các hội nghị về dịch tễ trên thế giới, bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng (Lê Văn Năm, 2004) [29]

1.3 TÌNH HÌNH DỊCH CÚM GIA CẦM TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

1.3.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới

Virus cúm gia cầm phân bố khắp toàn cầu, vì vậy dịch bệnh đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới

Năm 1983 - 1984 ở Mỹ, dịch cúm gà xảy ra do chủng virus H5N2 ở 3 bang Pensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và tiêu huỷ hơn 19 triệu gà (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [26] Cũng trong thời gian này tại Ireland người ta đã phải tiêu huỷ 270 nghìn con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập được virus cúm chủng độc lực cao (HPAI) để loại trừ bệnh một cách hiệu quả, nhanh chóng

Năm 1977 ở Minesota đã phát hiện dịch trên gà tây do chủng H7N7 Năm 1986 ở Australia dịch cúm gà xảy ra tại bang Victoria do chủng H5N2 Năm 1997 ở Hồng Kông dịch cúm gà xảy ra do virus cúm typ A subtyp H5N1 Toàn bộ đàn gia cầm của lãnh thổ này đã bị tiêu diệt vì đã gây tử vong cho con người (Cục thú y, 2004) [7] Như vậy đây là lần đầu tiên virus cúm gia cầm đã vượt “rào cản về loài” để lây cho người ở Hồng Kông làm cho 18 người nhiễm bệnh, trong đó có 6 người chết

Trang 16

Năm 2003, ở Hà Lan dịch cúm gia cầm xảy ra với quy mô lớn do chủng H7N7, 30 triệu gia cầm bị tiêu huỷ, 83 người lây nhiễm và 1 người chết, gây thiệt hại về kinh tế hết sức nghiêm trọng (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [27]

Từ cuối năm 2003 - 2005 đã có 11 nước và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông và Việt Nam Ngoài ra có

7 nước và vùng lãnh thổ khác có dịch cúm gia cầm các chủng khác là Pakistan, Hoa Kỳ, Canada, Nam Phi, Ai Cập, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Đài Loan Vào cuối tháng 3/2005 tại Myanmar đã phát hiện hàng ngàn gà chết nghi bệnh cúm gia cầm Tính đến nay, đã có tổng cộng 55 nuớc và vùng lãnh thổ bùng phát dịch cúm làm 250 triệu con gia cầm bị chết hoặc tiêu hủy bắt buộc Bệnh cúm cũng lây sang người với 258 trường hợp nhiễm bệnh và 154 người đã chết (Lê Văn Năm, 2004) [28]

1.3.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam

Cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm phát ra tại trại gà giống của Công ty

C.P (Thái Lan) ở xã Thuỷ Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, gây ốm

và chết 8.000 gà trong 4 ngày Ngày 02/01/2004, Công ty đã tiến hành tiêu huỷ 100.000 gà Dịch đã nhanh chóng lay lan ra hầu hết các tỉnh trong cả nước

Để thuận lợi cho việc đánh giá về dịch tễ học có thể chia quá trình dịch

từ khi xuất hiện vào cuối năm 2003 đến nay thành 6 đợt dịch như sau:

* Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2003: Cuối năm 2003,

dịch cúm gia cầm thể độc lực cao với tác nhân gây bệnh là virus cúm H5N1 xảy ra ở Việt nam Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta dịch cúm gia cầm xuất hiện ở Hà Tây, Long An và Tiền Giang, vì thế nó có thể được coi là một bệnh mới ở gia cầm Dịch lây lan một cách nhanh chóng cùng một lúc ở nhiều địa phương khác nhau, đã gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi gia cầm Chỉ trong vòng 2 tháng, đến ngày27/02/2004 dịch đã xuất hiện ở 2.574 xã,

Trang 17

phường (chiếm 24,6 %) thuộc 381 huyện, quận, thị xã (chiếm 60 %) của 57 tỉnh, thành phố trong cả nước Tổng số gia cầm bị mắc bệnh, chết và tiêu hủy hơn 43,9 triệu con, chiếm 16,8 % tổng đàn, trong đó gà là 30,4 triệu con; thủy cầm là 13,5 triệu con Ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và bị tiêu huỷ

* Đợt dịch thứ hai từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2004: Dịch cúm gia

cầm thể độc lực cao đã tái xuất hiện vào giữa tháng 4 năm 2004 ở một số tỉnh

thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Bệnh chủ yếu xuất hiện ở các hộ chăn nuôi

nhỏ lẻ và hầu như không có trại chăn nuôi qui mô lớn nào bị nhiễm bệnh Dịch có khuynh hướng xuất hiện ở những vùng có chăn nuôi nhiều thủy cầm Dịch đã xảy ra ở 46 xã phường của 32 quận, huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh Thời gian cao điểm nhất là tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng 11 cả nước chỉ có 1 điểm phát dịch Tổng số gia cầm bị tiêu huỷ trong thời gian này là 84.078 con, trong đó có 55.999 gà, 8.132 vịt và 19.947 chim cút

* Đợt dịch thứ 3 từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005: Trong thời gian

này dịch đã xuất hiện ở 670 xã của 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố (15 tỉnh phía Bắc, 21 tỉnh phía Nam) Dịch xuất hiện nhiều nhất vào tháng 1/2005 với 143 ổ dịch xảy ra trên 31 tỉnh thành phố, số gia cầm tiêu hủy là 470.495

gà, 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim cút Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch cúm, 2004-2005) [3]

* Đợt dịch thứ 4 từ 01/10/2005 đến 15/12/2005: Từ đầu tháng 10/2005

đến 15/12/2005 dịch đã tái phát ở 285 xã, phường, thị trấn thuộc 100 quận, huyện của 24 tỉnh, thành phố Số gia cầm ốm, chết và tiêu hủy là 3.735.620 con, trong đó có 1.245.282 gà; 2.005.557 vịt; 484.781 chim cút, bồ câu, chim cảnh

* Trong 10 tháng đầu năm 2006 ở Việt Nam không xảy ra dịch, do sự chỉ đạo phòng dịch quyết liệt của Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia về hiệu

Trang 18

quả của chiến dịch tiêm phòng Đến cuối năm lại xuất hiện các ổ dịch trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa tiêm phòng vacxin

Đợt dịch thứ 5 bắt đầu và kéo dài trong suốt năm 2007 Dịch không tập

trung mà rải rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và có thể chia nhiều đợt Từ ngày 6/12/2006 đến 7/3/2007 dịch xảy ra trên 83 xã, phường của 33 quận, huyện thuộc 11 tỉnh, thành gồm Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang, Sóc Trăng, Hà Nội, Hải Dương và Hà Tây Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 103.094 con, trong đó có 13.622 gà; 89.472 ngan, vịt Từ 1/5/2007 đến 23/8/2007, dịch xảy ra ở 167 xã, phường của 10 huyện, thị thuộc 23 tỉnh, thành là Nghệ An, Quảng Ninh, Cần Thơ, Sơn La, Nam Định, Đồng Tháp, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Quảng Nam, Thái Bình, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Cao Bằng,

Cà Mau, Điện Biên, Quảng Bình, Thái Nguyên và Trà Vinh Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 294.894 con (21.525 gà; 264.549 vịt và 8.775 ngan) Sau khi bị khống chế trong vòng 1 tháng, đến tháng 10/2007, dịch lại tái phát trên địa bàn các tỉnh Trà Vinh, Quảng Trị, Nam Định, Cao Bằng, Hà Nam và Bến Tre

* Đợt dịch thứ 6 từ đầu năm 2008 đến nay, xảy ra lẻ tẻ, rải rác với 74

đàn gia cầm tại 57 xã, phường của 40 huyện thị thuộc 21 tỉnh phát dịch Tổng

số gia cầm tiêu hủy là 60.090 con, trong đó có 23.498 gà, 36.592 thủy cầm (Văn Đăng Kỳ, 2008) [32]

Về phân bố địa lý: Các đợt dịch phát ra tập trung ở khu vực Đồng bằng

Sông Cửu Long và Đồng bằng Sông Hồng Những vùng này có nhiều hệ thống sông ngòi, kênh rạch, mật độ chăn nuôi cao, tổng đàn gia cầm lớn và việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ gia cầm cao hơn các vùng khác

Về thời gian xảy ra dịch: Dịch phát ra nặng vào vụ Đông Xuân, cao

điểm vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 Trong thời gian này thời tiết thay đổi, độ

Trang 19

ẩm cao, nhiệt độ thường xuống thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho virus cúm tồn tại, phát triển và lây lan Đồng thời giai đoạn này là lúc mật độ chăn nuôi gia cầm và hoạt động vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm diễn ra sôi động nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi cho sự bùng phát và lây lan dịch

Về loài mắc bệnh: Đợt dịch thứ nhất và thứ hai tỉ lệ gà mắc bệnh cao

hơn vịt, ngan Nhưng đợt dịch thứ 3 đã có sự thay đổi lớn khi các thống kê cho thấy tỉ lệ mắc bệnh, chết và tiêu huỷ ở vịt cao gần gấp 2 lần gà Điều này cho thấy mầm bệnh đã lây lan, tồn tại trong đàn thuỷ cầm, có thể tăng độc lực

và bột phát thành đợt dịch thứ 3 Tỉ lệ dương tính huyết thanh ở đàn thuỷ cầm tăng từ 15 % trong đợt 2 lên 39,6 % trong đợt 3

Về loại hình, quy mô và mức độ dịch: Dịch phát ra ở tất cả các loại hình

chăn nuôi, tỉ lệ mắc bệnh cao nhất ở loại hình chăn nuôi hỗn hợp các loài gia

cầm (đặc biệt chăn nuôi gà lẫn với vịt) và giảm dần ở những trại chăn nuôi gà

có số lượng lớn Qui mô của dịch đợt 1 là lớn nhất, trong đợt 2, 3 và 4 mặc dù

dịch vẫn xảy ra ở nhiều tỉnh, thành phố nhưng quy mô giảm đi nhiều (Dự án

- Đợt II: Từ 24/01 đến 26/02/2005, số gia cầm bị ốm chết và buộc phải tiêu huỷ là 6.329 con Có 1 người bị chết, xét nghiệm dương tính với virus cúm A (H5N1)

- Đợt III: Từ 15/11 đến 30/12/2005, dịch xảy ra làm tổng số gia cầm bị

ốm chết và buộc phải tiêu huỷ là 7.990 con

Trang 20

- Đợt IV: Từ 01/06/2007 đến 09/7/2007, dịch xảy ra làm tổng số gia cầm bị ốm chết và buộc phải tiêu huỷ là 370 con

- Đợt V: Từ 26/02/2008 đến 04/4/2008, dịch xảy ra làm tổng số gia cầm

bị ốm chết và buộc phải tiêu huỷ là 2038 con Có 1 người bị tử vong, xét nghiệm dương tính với virus cúm (H5N1)

1.4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA VIRUS CÚM TYP A

1.4.1 Đặc điểm cấu trúc chung của virus thuộc họ Orthomyxoviridae

Họ Orthomyxoviridae gồm có 4 nhóm virus là:

+ Nhóm virus cúm A: Gây bệnh cho mọi loài chim, một số động vật có

vú và cả con người

+ Nhóm virus cúm B: Chỉ gây bệnh cho người

+ Nhóm virus cúm C: Gây bệnh cho người, lợn

+ Nhóm Thogotovirus

Virus thuộc họ Orthomyxoviridae có đặc tính cấu trúc chung là hệ gen chứa axit Ribonucleic (ARN) một sợi, có cấu trúc là sợi âm được ký hiệu là ss

(-)ARN (Negative Single Stranded RNA) Sợi âm ARN của hệ gen có độ dài

từ 10.000 - 15.000 nucleotit (phụ thuộc loại virus), mặc dù nối với nhau thành

1 sợi ARN liên tục, nhưng hệ gen lại chia thành 6 - 8 phân đoạn (segment), mỗi phân đoạn là một gen chịu trách nhiệm mã hóa cho mỗi loại protein của virus (Lê Thanh Hòa, 2004 [20; Muphy, 1996 [65])

Hạt virus (virion) có cấu trúc hình khối, đôi khi có dạng hình khối kéo dài, đường kính khoảng 80 - 120 nm

Vỏ virus có bản chất protein có nguồn gốc từ nguồn tế bào mà virus đã gây nhiễm, bao gồm một số protein được glycosyl hóa (glycoprotein) và một

số protein dạng trần không được glycosyl hóa (non glycosylated protein)

Protein bề mặt có cấu trúc từ các loại glycoprotein, đó là những gai, mấu có độ dài 10 - 14 nm, đường kính 4 - 6 nm

Trang 21

Nucleocapsid bao bọc lấy nhân virus là tập hợp của nhiều protein phân đoạn, cấu trúc đối xứng xoắn, kích thước 130 - 150 nm, tạo vòm (loop) ở giới hạn cuối của mỗi phân đoạn và liên kết với nhau qua cầu nối các peptit Phân

tử lượng của hạt virus vào khoảng 250 triệu dalton (Lê Thanh Hòa, 2004 [20; Muphy, 1996 [65])

1.4.2 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm typ A

Phân bố trên bề mặt của virus là loại protein gây ngưng kết hồng cầu có tên gọi là Hemagglutinin (HA) và một loại protein có chức năng là một loại enzim phá hủy thụ thể của virus có tên gọi Neuraminidae (NA), chúng là các glycoptein riêng biệt (Kawoaka, 1988) [59]

Hạt virion có cấu trúc là axit Ribonucleic sợi âm ở dạng đơn, độ dài 13.500 nucleotit chứa 8 phân đoạn kế tiếp nhau mã hóa cho 10 loại protein khác nhau của virus là HA, NA, NP, M1, M2, BP1, BP2, PA, NS1, NS2 Tám phân đoạn của sợi RNA có thể tách và phân biệt rõ ràng nhờ phương pháp điện di (Muphy, 1996) [65]

- Phân đoạn 1 - 3: Mã hóa cho protein PB1, PB2 và PA là các protein

có chức năng là enzim polymerase tổng hợp axit Ribonucleic nguyên liệu cho

hệ gen và các ARN thông tin tổng hợp protein của virus (Biswas, 1996) [47]

- Phân đoạn 4: Mã hóa cho protein Hemagglutinin (HA) là một protein

bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào,

Trang 22

có khả năng gây ngƣng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ virus với màng

tế bào nhiễm và tham gia vào phản ứng trung hòa virus (Bosch.F.X, 1979) [48] HA là polypeptit gồm 2 chuỗi HA1 và HA2 nối với nhau bằng đoạn oligopeptit ngắn, thuộc loại hình mô typ riêng đặc trƣng cho các subtyp H (H1 - H16) trong tái tổ hợp tạo nên biến chủng (Bosch.F.X, 1979) [48], (Vey.M và cộng sự, 1992) [70] Mô typ của chuỗi oligopeptit này chứa một số axit amin cơ bản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtyp H

Sự thay đổi thành phần của chuỗi nối quyết định độc lực của virus thuộc biến chủng mới (Lê Thanh Hòa, 2004 [20]; Bosch.F.X, 1979 [48]; Holsinger, 1994 [54]; Vey.M và cộng sự, 1992 [60])

- Phân đoạn 5: Mã hóa cho protein Nucleoprotein (NP) một loại protein đƣợc phosphoryl hóa, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu theo nhóm (Group - Specific), tồn tại trong hạt virion trong dạng liên kết với mỗi phân đoạn ARN nên loại NP còn đƣợc gọi là Ribonucleo protein (Lê Thanh Hòa,

2004) [20]; (Buckler White, 1998) [49]

- Phân đoạn 6: Mã hóa cho protein enzim Neuraminidae (NA), có chức

năng là một enzim phân cắt HA sau khi virus vào bên trong tế bào nhiễm Phân đoạn 6 là gen chịu trách nhiệm tổng hợp protein, giúp giải phóng ARN virus từ endosome và tạo hạt virus mới (Castrucci M R và cộng sự, 1993) [51]

- Phân đoạn 7: Mã hóa cho 2 tiểu phần protein đệm (Matrix protein) M1 và M2 là protein màng không đƣợc glycosyl hóa, có vai trò làm đệm bao bọc lấy ARN hệ gen M2 là một tetramer có chức năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nẩy mầm của virus (Horimoto và cộng sự, 1995) [54]

- Phân đoạn 8: Có độ dài ổn định (890 nucleotit) mã hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có chức năng chuyển ARN từ nhân

ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã, chống interfron (Luong.G và cộng sự, 1992) [62]

Trang 23

1.4.3 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm typ A

Các loại kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất là protein nhân (Nucleoprotein, NP), protein đệm (matrix protein, M1), protein gây ngưng kết hồng cầu (Hemagglutinin, HA) và protein enzim cắt thụ thể (Neuraminidase, NA) NP và M1 là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu nhóm (genus - specific antigen), ký hiệu là gs kháng nguyên; HA và NA là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu typ và dưới typ (typ - specific antigen), ký hiệu là ts kháng nguyên

Một đặc tính quan trọng là virus cúm có khả năng gây ngưng kết hồng cầu của nhiều loài động vật Đó là sự kết hợp giữa mấu lồi kháng nguyên HA trên bề mặt của virus cúm với thụ thể có trên bề mặt hồng cầu, làm cho hồng cầu ngưng kết với nhau tạo thành mạng ngưng kết thông qua cầu nối virus,

gọi là phản ứng ngưng kết hồng cầu HA (Hemagglutination test)

Kháng thể đặc hiệu của kháng nguyên HA có khả năng trung hòa các loại virus tương ứng, chúng là kháng thể trung hòa có khả năng triệt tiêu virus gây bệnh Nó có thể phong toả sự ngưng kết bằng cách kết hợp với kháng nguyên HA Do vậy thụ thể của hồng cầu không bám vào được để liên kết tạo thành mạng ngưng kết Người ta gọi phản ứng đặc hiệu KN- KT có hồng cầu tham gia là phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination inhibition test)

Phản ứng ngưng kết hồng cầu (HA) và phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu (HI) được sử dụng trong chẩn đoán cúm gia cầm

Theo Ito và Kawaoka (1998) [56], sự phức tạp trong diễn biến kháng

nguyên của virus cúm là sự biến đổi và trao đổi trong nội bộ gen dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng nguyên (Horimoto và cộng sự, 1995) [55] Có

2 cách biến đổi kháng nguyên của virus cúm:

Trang 24

+ Đột biến điểm (đột biến ngẫu nhiên hay hiện tượng trôi trượt, lệch lạc

về kháng nguyên - Antigenic drift) Đây là kiểu đột biến xảy ra liên tục thường xuyên trong quá trình tồn tại của virus mà bản chất là do có sự thay đổi nhỏ về trình tự nucleotit của gen mã hóa, đặc biệt đối với kháng nguyên H

và kháng nguyên N Kết quả là tạo ra các phân typ cúm hoàn toàn mới có tính thích ứng với loài vật chủ khác nhau và có mức độ độc lực gây bệnh khác nhau Chính nhờ sự biến đổi này mà virus cúm A tạo nên 16 biến thể gen HA (H1- H16) và 9 kháng nguyên N (N1 - N9) (Cục thú y, 2005) [8]

+ Đột biến tái tổ hợp di truyền (hiện tượng thay ca - Antigenic Shift) Hiện tượng tái tổ hợp gen ít xảy ra hơn so với hiện tượng đột biến điểm Hiện tượng này chỉ xảy ra khi 2 hoặc nhiều loại virus cúm khác nhau cùng nhiễm vào một tế bào chủ do sự trộn lẫn 2 bộ gen của virus Điều này tạo nên sự sai khác cơ bản về bộ gen của virus cúm đời con so với virus bố mẹ Khi hiện tượng tái tổ hợp gen xuất hiện có thể sẽ gây ra các vụ dịch lớn cho người và động vật với mức độ nguy hiểm không thể lường trước được Vụ dịch năm

1918 - 1819 làm chết 40 - 50 triệu người mà tác nhân gây bệnh là virus H1N1

từ lợn lây sang người kết hợp với virus cúm người tạo ra chủng virus mới có độc lực rất mạnh (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [27]

Do hạt virus cúm A có cấu trúc là 8 đoạn gen nên về lý thuyết từ 2 virus

có thể xuất hiện 256 kiểu tổ hợp của virus thế hệ sau (Cục thú y, 2004) [7]

Khi nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm thấy giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtyp về huyết thanh học không hoặc rất ít

có phản ứng chéo Đây là điểm trở ngại lớn cho việc nghiên cứu nhằm tạo ra vacxin cúm để phòng bệnh cho người và động vật (Ito và cộng sự, 1998 [57]; Kawoaka.I, 1991 [58])

Khi xâm nhập nhiễm vào cơ thể động vật, virus cúm A kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể

Trang 25

kháng HA, chỉ có kháng thể này mới có vai trò trung hòa virus và cho bảo hộ

miễn dịch Một số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của virus, kháng thể kháng M2 ngăn cản chức năng M2, không cho quá trình bao gói virus xảy ra (Lu.X và cộng sự, 1999) [61]; (Seo.S và cộng sự, 2001) 67]

1.4.4 Thành phần hóa học

ARN của virus chiếm 0,8 - 1,1 %; protein chiếm 70 - 75 %; lipit chiếm

20 - 24 %; hydratcacbon chiếm 5 - 8 % khối lượng hạt virus

Lipit tập trung ở màng virus và chủ yếu là lipit có gốc phospho, số còn lại là cholesterol, glucolipit và một ít hydrocacbon gồm các loại men galactose, ribose, fructose, glucosamin Thành phần chính protein của virus chủ yếu là glycoprotein (Lê Văn Năm, 2004) [28]

1.4.5 Quá trình nhân lên và tác động gây bệnh của virus

Virus được hấp phụ vào bề mặt tế bào nhờ có receptor mà bản chất là glycoprotein chứa axit Sialic, từ đấy virus chui qua màng tế bào nhờ một loại men đặc biệt để vào trong nguyên sinh chất và nhân tế bào Tại đó virus sinh trưởng nhanh chóng và phát triển theo phương thức nhân đôi

Theo nhiều tác giả sau khi vào cơ thể, virus cúm tiếp cận với các tế bào đích xâm nhập và giải phóng vật chất di truyền Virus sử dụng các cơ quan trong tế bào và nguồn nguyên liệu của tế bào để tổng hợp nên protein và RNA đặc trưng Các protein kết hợp với RNA virus tạo thành hạt virus và được giải phóng ra ngoài Tế bào chủ không bị dung giải, nhưng sẽ chết đi do mất trạng thái cân bằng vốn có, đồng thời bị đầu độc bởi các sản phẩm sinh ra Số lượng virus tăng lên ngày càng nhanh theo cấp số nhân Tế bào đích bị phá huỷ hàng loạt Sự suy giảm hô hấp khiến sức đề kháng của cơ thể giảm sút rõ rệt, làm

kế phát các bệnh vi khuẩn, virus khác (Alexander, 1993) [45]

1.4.6 Độc lực của virus

Độc lực của virus cúm gia cầm có sự dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là protein HA Các nghiên cứu ở mức độ phân tử cho

Trang 26

thấy khả năng lây nhiễm của virus phụ thuộc vào tác động của men proteaza vật chủ đến sự phá vỡ của liên kết hóa học sau khi dịch mã của phân tử ngưng kết, thực chất là sự cắt rời protein HA thành 2 tiểu phần HA1 và HA2 Tính thụ cảm của ngưng kết tố và sự phá vỡ liên kết của men protease lại phụ thuộc vào

số lượng các amino axit cơ bản tại điểm bắt đầu phá vỡ các liên kết Các enzim

giống trypsin có khả năng phá vỡ liên kết khi chỉ có một phân tử Arginin, trong

khi đó các enzim protease khác lại cần nhiều amino axit cơ bản

Tại Hội thảo thế giới lần đầu tiên về bệnh cúm gà 1981, Bankowski và cộng sự thông báo virus cúm gà có kháng nguyên bề mặt H7 thuộc loại có độc lực cao Nhưng Pensyvania (Mỹ) đã chứng kiến trận dịch cúm gà gây chết 75

% số gà, khi phân lập virus có kháng nguyên bề mặt H5 mà không phải là H7

Để đánh giá độc lực của virus cúm một cách khoa học, các nhà khoa học sử dụng phương pháp gây bệnh cho gà 3 - 6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh mạch nước trứng đã được gây nhiễm virus Sau đó đánh giá mức độ nhiễm bệnh của

gà để cho điểm (chỉ số IVPI) Điểm tối đa là 3 điểm và đó là virus có độc lực cao nhất Theo quy định của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), virus nào có chỉ

số IVPI từ 1,2 trở lên thuộc loại có độc lực cao (Dẫn theo Nguyễn Tiến Dũng,

2004 [12]; OIE, 1992 [67])

Bằng cách tiêm tĩnh mạch 0,2 ml nước trứng gà đã gây nhiễm virus được pha loãng ở nồng độ 1/10 cho gà mẫn cảm từ 3 - 6 tuần tuổi, các nhà khoa học đã thống nhất chia độc lực của virus ra 3 loại:

- Virus có độc lực cao: Nếu sau khi tiêm tĩnh mạch 10 ngày phải làm chết 75 - 100 % số gà thực nghiệm Virus gây bệnh cúm gà (có thể là typ phụ) phải làm chết 20 % số gà mẫn cảm thực nghiệm và phát triển tốt trên tế bào

xơ phôi trong môi trường nuôi cấy không có Trypsin Theo (Nguyễn Tiến Dũng, 2008) [15], Protein HA gồm 2 phần HA1 và HA2 nối với nhau trong cấu trúc bậc 1 qua 1 chuỗi axit amin kiềm được gọi là Cleavage site (điểm

Trang 27

cắt) Khi xâm nhập vào ký chủ có hoạt tính giống như trypsin (trypsin- like) cắt đôi cấu trúc này ra thì virus mới bám vào thụ thể của tế bào ký chủ, xâm nhập vào nội bào và bắt đầu quá trình tăng sinh Men trypsin và tương đương chỉ có tác dụng vào các axit amin kiềm (Arginine và Lysine) do vậy nếu điểm cắt càng có nhiều loại axit amin này thì khả năng HA được cắt đôi càng lớn

và quá trình xâm nhập vào nội bào càng nhanh nên virus có độc lực càng cao

- Virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây dịch cúm gà với triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết gà không quá 15 % số gà bị nhiễm bệnh tự nhiên hoặc không gây quá 20 % số gà mẫn cảm thực nghiệm

- Virus có độc lực thấp (nhược độc): Là những virus phát triển tốt trong

cơ thể gà, có thể gây ra dịch nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, không tạo ra bệnh tích đại thể và không làm chết gà

Trong thực tế người ta chia virus cúm gà ra làm 2 loại: Loại virus có độc lực thấp - LPAI (Light Pathogenic Avian Influenza) Loại virus có độc lực cao - HPAI (Highly Pathogennic Avian Influenza)

Cho đến nay người ta thừa nhận chỉ có 2 biến chủng virus có cấu trúc kháng nguyên H5, H7 được coi là loại có độc lực cao gây bệnh ở gia cầm, nhưng không phải tất cả các chủng mang gen H5, H7 đều gây bệnh (Horimoto.T và cộng sự, 1995) [55]

Thực tế chứng minh rằng các chủng có độc lực thấp trong quá trình lưu hành trong thiên nhiên và trong đàn thủy cầm có thể đột biến nội gen hoặc đột biến tái tổ hợp để trở thành các chủng có độc lực cao - HPAI (Collins RA và cộng sự, 2002 [52]; Mo.I.P và cộng sự, 1997 [64])

Theo Mary J Pantin-Jackwood và cộng sự (2008) [31], tất cả các virus cúm phân lập được của Việt Nam trong năm 2005 - 2007 không chỉ có độc lực cao với gà, mà còn gia tăng đáng kể độc lực đối với vịt so với các virus phân lập trước đó Sự tăng độc tính này là hệ quả của sự gia tăng virus nhân

Trang 28

lên trong các cơ quan nội tạng và sự tăng thích nghi ở diện rộng hơn của virus đối với các cơ quan nội tạng Sự thay đổi độc tính của các virus đang lưu hành

có ảnh hưởng lớn tới dịch tễ học của virus vỡ công tác khống chế

1.4.8 Phân loại virus

Theo Nguyễn Tiến Dũng (2008) [15], virus cúm gia cầm được phân loại như sau:

* Phân loại theo kháng nguyên:

Khi dùng phản ứng kết tủa trên thạch hoặc kết hợp bổ thể, người ta thấy

có 3 nhóm virus khác nhau và đặt tên cho 3 nhóm virus là A, B và C Vào năm 1941 Hirst đã phát hiện thấy virus cúm có khả năng ngưng kết hồng cầu, khi ông quan sát việc thu hoạch virus sau khi cấy trên trứng gà có phôi và khả năng này bị kháng thể kháng virus cúm ngăn trở hay ức chế Dùng phản ứng này người ta thấy virus cúm typ A lại có nhiều loại khác nhau Trên cơ sở kết quả của phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu, khi phát hiện ra rằng kháng thể kháng ngưng kết hồng cầu là kháng thể được tạo ra để chống lại protein HA nhưng không ức chế toàn bộ các virus typ A Từ đó virus typ A được chia thành các typ phụ (subtype) trên cơ sở có phản ứng HI đặc hiệu

Cho đến năm 2004, tổng số subtyp chia theo khả năng ngưng kết hồng cầu là 16 Với protein NA, người ta phát hiện ra 9 loại NA có tính kháng

Trang 29

nguyên khác nhau và được đặt tên là từ N1 cho đến N9 Virus cúm typ A là kết quả của sự tổ hợp giữa 2 loại protein này Chính vì vậy chúng ta có virus cúm đặt tên là HxNy (x có giá trị từ 1 đến 16 và y có giá trị từ 1 đến 9) Việc phân loại virus như trên do Ủy ban định danh quốc tế về virus tiến hành

Các loại virus cúm có cùng danh hiệu nhưng không chắc có cùng nguồn gốc và về gen di truyền chúng có sự khác nhau, nói cách khác là rất đa dạng Với virus cúm H5N1 đang gây bệnh đại dịch cho gia cầm, có nguồn gốc từ Châu Á và được gọi tên đầy đủ là “ virus H5N1 dòng Châu Á” nhằm phân biệt với các loại H5N1 khác Virus H5N1 dòng Châu Á lại được phân loại chi tiết hơn nữa Có 2 kiểu phân loại virus H5N1 dòng Châu Á (theo quy định của Who) đó là:

- Phân loại theo kiểu gen: Virus cúm dòng Châu Á phải có 2 đoạn RNA chịu trách nhiệm tổng hợp Protein HA và NA có nguồn gốc từ virus cúm H5N1 phân lập từ ngỗng ở Quảng Đông (Trung Quốc) vào năm 1996 Tùy theo nguồn gốc của 6 đoạn gen còn lại mà người ta đặt tên kiểu gen cho loại virus đó

- Phân loại theo nhóm kháng nguyên (clade): do sự biến đổi di truyền liên tục nên protein HA của virus cúm H5N1 dòng Châu Á có tính kháng nguyên thay đổi

Thí dụ: làm phản ứng HI (ức chế ngưng kết hồng cầu) giữa virus chủng A/Goose/Guangdong/1/96 với kháng thể kháng chính nó, ta có hiệu giá kháng thể HI là 8log2 chẳng hạn Lấy một virus khác (H5N1 dòng Châu Á) làm phản ứng với kháng thể này, hiệu giá kháng thể là 7 log2 người ta vẫn cho virus đó

là cùng nhóm kháng nguyên Tuy nhiên, nếu hiệu giá kháng thể lệch 2log trở lên thì virus sẽ thuộc nhóm kháng nguyên khác

1.4.9 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà

Virus cúm gà phát triển tốt trên phôi gà 9 - 11 ngày tuổi, trong nước phôi gà tập trung khá nhiều virus và có thể lưu giữ virus được vài tuần ở điều

Trang 30

1.4.10 Miễn dịch chống bệnh cúm gia cầm

Miễn dịch là trạng thái đặc biệt của cơ thể không mắc phải tác động c ó hại của yếu tố gây bệnh, trong khi đó các cơ thể cùng loài hoặc khác loài lại bị tác động trong điều kiện sống như nhau Cũng như các động vật khác, miễn dịch chống virus cúm của gia cầm có 2 loại là miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu

* Miễn dịch không đặc hiệu:

Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, gia cầm bảo vệ trước hết bằng miễn dịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng gây bệnh của chúng Miễn dịch không đặc hiệu có vai trò quan trọng khi miễn dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu của gia cầm rất phát triển bao gồm:

- Hàng rào vật lý như da, niêm mạc và các dịch tiết có tác dụng bảo vệ

cơ thể ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể

- Khi mầm bệnh qua hàng rào da và niêm mạc nó gặp phải hàng rào hóa học là kháng thể dịch thể tự nhiên không đặc hiệu

+ Bổ thể: Bổ thể có tác dụng làm tan màng vi khuẩn, làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào (opsonin hóa), ngoài ra bổ thể cũng có vai trò nhất định trong cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (nhiều trường hợp sự tương tác giữa kháng nguyên và kháng thể cần sự có mặt của bổ thể) (Nguyễn Như Thanh, 1997) [30]

+ Interferol (IFN): Do nhiều loại tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế bào diệt tự nhiên (NK) Khi Interferol được sản sinh ra, nó gắn vào tế bào bên

Trang 31

cạnh và cảm ứng tế bào đó sản sinh ra protein AVP (anti virus protein), do đó khi virus xâm nhập vào tế bào nhưng không nhân lên được

- Hàng rào tế bào gồm:

+ Tiểu thực bào, quan trọng nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm

60 - 70 % tổng số bạch cầu ở máu ngoại vi, nó thực bào những phân tử nhỏ và

vi khuẩn ngoài tế bào

+ Đại thực bào là các tế bào lớn có khả năng thực bào, khi được hoạt hóa nó sẽ nhận biết và loại bỏ các vật lạ, ngoài ra nó còn giữ vai trò quan trọng trong sự trình diện kháng nguyên tới tế bào T và kích thích tế bào T sản sinh ra IL - 1 Đại thực bào còn tiết ra interferol có hoạt tính kháng virus, lysozyme và các yếu tố khác có tác dụng kích thích phản ứng viêm

+ Các tế bào diệt tự nhiên (NK) là một quần thể tế bào lâm ba cầu có nhiều hạt với kích thước lớn Các tế bào này có khả năng tiêu diệt các tế bào

đã bị nhiễm virus và các tế bào đích đã biến đổi, nó còn tiết ra interferol làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào

* Miễn dịch đặc hiệu:

Khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể, cơ thể sẽ sản sinh ra kháng thể đặc hiệu để loại trừ kháng nguyên đó Kháng thể đặc hiệu có thể là dịch thể hoặc có thể là tế bào, đó là các limphô T mẫn cảm Vì vậy người ta chia miễn dịch đặc hiệu ra miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào

- Miễn dịch đặc hiệu dịch thể: Do tế bào limphô B đảm nhiệm, nó tiết

ra các loại globulin miễn dịch (Ig) gồm có 3 lớp chính là IgM, IgG, IgA IgG của gia cầm lớn hơn của động vật có vú nên thường được gọi là IgY

Các limphô bào bắt nguồn từ tế bào nguồn ở tủy xương đi tới túi Fabricius, ở đây chúng được huấn luyện để trở thành các limphô B, sau đó di tản đến các cơ quan limphô ngoại biên, chúng khu trú ở các tâm điểm mầm và vùng tủy của lách, hạch bạch huyết

Trang 32

Mỗi và mọi tế bào B đều có một kháng thể khác nhau trên bề mặt của

nó Khi tế bào B đã có thể sản sinh IgM trên bề mặt thì nó cũng có thể có khả năng sản sinh một kháng thể khác lớp khác, nhưng dù là lớp nào thì tất cả kháng thể do tế bào đó sản sinh ra đều có khả năng nhận biết cùng loại kháng nguyên ấy mà thôi Tức là vùng Fab của phân tử kháng thể không thay đổi mà chỉ có vùng Fc là khác nhau tùy vào lớp kháng thể

Trong hạch lâm ba các limphô B có thể gặp một kháng nguyên và được nhận biết bởi các kháng thể có trên bề mặt của chúng Sau khi đã nhận biết kháng nguyên và được kích thích bởi các cytokines do tế bào T tiết ra, chúng được biệt hóa thành tương bào (plasma) để sản sinh kháng thể

Đáp ứng của kháng thể khi gặp kháng nguyên lần đầu tiên được gọi là đáp ứng tiên phát (sơ cấp) Sau khi xuất hiện vài ngày, hàm lượng kháng thể trong máu mới tăng và các kháng thể đầu tiên chủ yếu là IgM Đáp ứng tiên phát cũng có thể có IgG nhưng với hàm lượng thấp

Kháng thể dịch thể chỉ có tác dụng với virus khi nó còn ở ngoài tế bào, lớp IgM và IgG kết hợp với virus với sự tham gia của bổ thể làm tiêu diệt virus, 2 lớp kháng thể này còn ngăn virus không cho kết hợp với Recepter của

tế bào tương ứng, ngăn cản sự hòa màng giữa vỏ virus và màng tế bào

Lớp IgA có trong niêm mạc, nó diệt virus ngay trong hàng rào niêm mạc, không cho virus xâm nhập vào trong Khi virus sinh ra kháng thể thì kháng thể có tính đặc hiệu cao giúp ta định typ virus gây bệnh bằng các phản ứng huyết thanh học

Một số limphô B sau khi nhận biết kháng nguyên sẽ thành thục thành limphô B nhớ, hiệu quả làm cho đáp ứng miễn dịch lần 2 đối với kháng nguyên nhanh hơn, mạnh hơn lần 1 và lớp kháng thể thường là IgG

- Miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào: Quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào do tế bào limphô T đảm nhiệm Các

Trang 33

limphô bào bắt nguồn từ tủy xương di chuyển đến tuyến ức, tại đó chúng

được huấn luyện, biệt hóa thành tiền limphô T, rồi thành limphô T chưa chín,

rồi thành limphô T chín Từ tuyến ức chúng di tản đến các cơ quan limphô ngoại vi như các hạch lâm ba, các mảng Payer ở ruột hoặc tới lách Khi đại thực bào đưa thông tin đến các limphô T, chúng tiếp nhận, biệt hóa trở thành nguyên bào limphô T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức năng như một kháng thể đặc hiệu và gọi là kháng thể tế bào

Các tế bào limphô T thực hiện 2 chức năng quan trọng:

- Chức năng hỗ trợ: Do các limphô T có dấu ấn CD4 đảm nhiệm (TH) + Giúp đỡ các tế bào limphô B phát triển thành tương bào để sản xuất kháng thể

+ Giúp các tế bào TCD8 trở thành tế bào TC gây độc Tế bào TC được hoạt hóa và tiêu diệt tế bào đích

+ Thực hiện phản ứng quá mẫn muộn

+ Sản xuất ra các cytokines có tác dụng điều khiển sự phát triển của các dòng tế bào bạch cầu và các tế bào mầm của hệ thống tạo máu

+ Sản xuất các cytokines có tác dụng hoạt hóa các tế bào đại thực bào + Thúc đẩy quá trình sản xuất các phân tử glycoprotein MHC trên các

tế bào trình diện kháng nguyên

Đa số các tế bào T hỗ trợ thể hiện dấu ấn CD4 nhận biết kháng nguyên được trình diện trên bề mặt của các tế bào trình diện kháng nguyên với các phân tử MHC lớp II Chức năng này do 2 tiểu quần thể TH đảm trách: TH1tham gia phản ứng quá mẫn muộn, sản xuất IL - 2 và interferol , TH2 hỗ trợ tế bào B và sản xuất chủ yếu IL - 4, IL-5

- Chức năng thực hiện: Do các limphô T mang dấu ấn CD8 đảm

nhiệm có 2 loại:

+ Limphô T gây độc (TC): Chúng gây độc đối với tế bào bị nhiễm virus,

tế bào ung thư và mảnh ghép dị loài Chúng có khả năng nhận biết các mảnh

Trang 34

peptit của kháng nguyên tế bào đích gắn với các phân tử MHC lớp I

+ Limphô T ức chế (TS): Chúng triệt thoái quá trình sản xuất imunoglobulin của tế bào B và triệt thoái hoặc ức chế các phản ứng quá mẫn muộn và miễn dịch tế bào

* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể

Sự hình thành kháng thể và quá trình đáp ứng miễn dịch phụ thuộc rất nhiều yếu tố như trạng thái sức khoẻ của cơ thể, điều kiện ngoại cảnh, sự chăm sóc nuôi dưỡng Nhưng quan trọng hơn cả là phụ thuộc vào bản chất kháng nguyên Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể như sau:

Bản chất kháng nguyên: Kháng nguyên có bản chất là protein và có tính kháng nguyên cao sẽ kích thích sinh kháng thể tốt

Đường xâm nhập của kháng nguyên: Thường đường xâm nhập tốt nhất

là dưới da và trong bắp thịt

Liều lượng kháng nguyên: Lượng kháng nguyên đưa vào vừa đủ sẽ kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch ở mức tối đa mà không gây ức chế và tê liệt miễn dịch

Số lần đưa kháng nguyên vào cơ thể: Tiêm nhắc lại vacxin có tác dụng tốt, kháng thể sinh ra nhiều hơn và được duy trì trong thời gian lâu hơn

Chất bổ trợ: Chất bổ trợ cho vào khi chế vacxin với mục đích giữ và duy trì lượng kháng nguyên lâu trong cơ thể nhờ đó tạo kích thích liên tục, đều đặn các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch tạo ra kháng thể ở mức cao và duy trì được lâu hơn Những chất bổ trợ thường dùng là keo phèn, nhũ tương, dầu khoáng, dầu thực vật, saponin

1.5 DỊCH TỄ HỌC BỆNH CÚM GIA CẦM

1.5.1 Phân bố dịch

Virus cúm gia cầm phân bố khắp thế giới trong các loài gia cầm, dã cầm, động vật có vú Sự phân bố và lưu hành của virus cúm khó xác định

Trang 35

chính xác và chịu ảnh hưởng bởi cả loài vật nuôi, hoang dã, tập quán chăn nuôi gia cầm, đường di trú của dã cầm, mùa vụ và hệ thống báo cáo dịch bệnh, phương pháp nghiên cứu (Cục thú y, 2004) [7]

1.5.2 Động vật cảm nhiễm

Tất cả các loài gia cầm (gà, vịt, ngan, chim cút, vẹt, bồ câu), chim hoang dã (đặc biệt thủy cầm di trú) đều mẫn cảm với virus Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với virus cúm typ A Ngoài ra virus cúm typ

A còn gây bệnh cho nhiều loài động vật có vú như: lợn, ngựa, chồn, hải cẩu, thú hoang dã và cả con người Lợn mắc bệnh cúm thường do phân typ H1N1 và H3N2

Vịt nuôi bị nhiễm virus nhưng ít phát thành bệnh do vịt có sức đề kháng với virus gây bệnh Tuy nhiên, năm 1961 ở Nam Phi đã phân lập được virus cúm typ A (H5N1) gây bệnh cho cả gà và vịt (Bùi Quang Anh và cộng

Kết quả điều tra thủy cầm di trú ở Bắc Mỹ cho thấy trên 60 % chim non

bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú

Sự kết hợp các kháng nguyên bề mặt H và N của các phân typ virus cúm A diễn ra ở chim hoang dã Những virus này không gây độc đối với vật chủ, được nhân lên ở đường ruột những chim này khiến cho các loài này

mang virus là nguồn gieo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt là gia cầm

(Alexander.D.J, 2000) [46]

Trang 36

Đã có nghiên cứu phát hiện nhiều virus cúm từ những loài vịt đi đầu trong mùa di trú, sau khi xuất hiện đã gây ra dịch ở gà tây Vịt từ khi bị nhiễm đến khi bắt đầu thải virus trong vòng 30 ngày Dường như virus được duy trì trong số đông vịt trời cho tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền cho các con non theo đường tiêu hóa do virus bài thải theo phân, gây ô nhiễm ao,

hồ (Bùi Quang Anh và cộng sự, 2004 [2]; Cục thú y, 2004 [7])

Đối với các ký chủ khác, mỗi virus cúm cụ thể có thời gian lưu giữ trong cơ thể khác nhau và có khả năng gây bệnh khác nhau, không theo một quy luật nào cả Với virus cúm gia cầm có 3 loại ký chủ:

- Ký chủ lưu giữ (Reservoir host): Là loại ký chủ chỉ cho phép virus nhân lên với lượng thấp và virus gây ra bệnh rất nhẹ Ví dụ như vịt và một số thủy cầm vẫn được coi là ký chủ lưu giữ H5N1 Nhờ đó virus có khả năng tồn tại

- Ký chủ hứng chịu (Spillover host): Là loại ký chủ cho phép virus nhân lên với lượng lớn và bệnh mà nó gây ra cũng rất nặng, thường là bệnh toàn thân và thường gây tử vong (ví dụ gà, gà tây và chim cút đối với H5N1)

- Ký chủ lệch (Aberrant host): Là loại ký chủ mà virus chỉ nhân lên với

số lượng nhỏ nhưng bệnh do chúng gây ra lại rất nghiêm trọng và thường gây

tử vong Ví dụ: người, hổ, chó mèo hiện đang là ký chủ lệch của virus H5N1 (Nguyễn Tiến Dũng, 2008) [15]

ăn, nước uống bị nhiễm virus

- Lây gián tiếp: Qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần hoặc những dụng cụ chăn nuôi, phân, thức ăn, nước uống, quần áo, giầy dép, phương tiện vận chuyển, lồng nhốt, chim, thú, côn trùng có mang mầm bệnh

Trang 37

Như vậy, virus cúm dễ dàng truyền tới vùng khác do con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ và thức ăn chăn nuôi Bệnh chủ yếu truyền ngang (do tiếp xúc), chưa có bằng chứng cho thấy bệnh có thể truyền dọc (qua phôi thai) vì những phôi bị nhiễm virus thường chết mà không phát triển được (Lê Văn Năm, 2004) [28] Đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên

thường thấy là: Từ các loài gia cầm nuôi khác nhau trong cùng một trang trại

hoặc các trang trại khác liền kề như vịt lây sang gà; từ gia cầm nhập khẩu; từ chim di trú đặc biệt thuỷ cầm được coi là đối tượng chính dẫn nhập virus vào quần thể đàn gia cầm nuôi

Tỷ lệ lưu hành bệnh cao hơn đối với các đàn gia cầm nằm trên đường di trú của các loài thủy cầm, các đàn gia cầm nuôi nhốt trong các trang trại, vịt được nuôi vỗ béo tại các cánh đồng gần trang trại

Các ổ dịch cúm thường có nguy cơ xuất hiện cao ở các mùa có hoạt động của thủy cầm di trú Phần lớn các ổ dịch đều ghi nhận có sự tiếp xúc với thủy cầm tại thời điểm phát dịch đầu tiên

ăn, nước uống bị ô nhiễm virus có khả năng tồn tại hàng tuần Đây chính là nguồn bệnh nguy hiểm và tiềm tàng để làm lây lan dịch bệnh (Lê Văn Năm, 2004) [28]

Trong nước ao hồ virus vẫn có thể duy trì đặc tính gây bệnh tới 4 ngày

ở nhiệt độ 220

C và trên 30 ngày ở nhiệt độ 00

C (Webster.R.G và cộng sự, 1992) [71]

Trang 38

Theo Đỗ Ngọc Thúy, (2008) [44], ở nhiệt độ mùa đông, lớp vỏ của vi rut trở nên cứng thành một dạng gel có khả năng co dãn như cao su có thể bảo

vệ virus Tuy nhiên ở nhiệt độ ấm hơn thì lớp gel bảo hộ này bị tan chảy ra thành pha lỏng Nhưng pha lỏng này là không đủ độ cứng để bảo vệ virus chống lại các yếu tố khác Như vậy, thường về mùa hè sức đề kháng của virus kém nên tỷ lệ gia cầm mắc bệnh vào mùa hè và mùa thu thường ít hơn vào mùa đông và mùa xuân Dịch cúm gia cầm thường hay xảy ra vào tháng 3, tháng 4 và tháng 10, tháng 11

Do cấu trúc vỏ ngoài của virus là lipit nên chúng mẫn cảm với các chất dung môi và chất tẩy rửa như formalin, axit, ete,  - propiolacton Sau khi tẩy

vỏ, các hóa chất như phenolic, NH4+

, axit loãng, natrihypochlorit và hydroxylanine có thể phá hủy virus cúm gia cầm Người ta thường dùng các hóa chất này như các chất sát trùng hữu hiệu để tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và các thiết bị chăn nuôi (Ilaria capua và cộng sự, 2004) [22]

1.5.6 Mùa vụ phát bệnh

Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm, nhưng thường tập trung vào vụ đông xuân từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau Khi có những biến đổi bất lợi về điều kiện thời tiết như nhiệt độ lạnh, độ ẩm cao, thời tiết có những thay đổi đột ngột, làm giảm sức đề kháng tự nhiên của con vật Mặt khác thời điểm này có mật độ chăn nuôi cao nhất trong năm, các hoạt động vận chuyển, giết mổ gia cầm diễn ra cao nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh phát sinh lây lan

1.6 TRIỆU CHỨNG, BỆNH TÍCH CỦA BỆNH CÚM G IA CẦM

1.6.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm

Các biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh diễn biến rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực, số lượng virus, loài nhiễm bệnh, mật độ chăn nuôi, tiểu khí hậu chuồng nuôi

Trang 39

Thời gian ủ bệnh ngắn thường chỉ vài giờ đến 21 ngày, theo Tổ chức Thú y thế giới thời gian này có thể tới 28 ngày (Nguyễn Tiến Dũng, 2004) [12] Các triệu chứng về hô hấp thường xuất hiện đầu tiên và khá điển hình như khẹc, lắc đầu, vẩy mỏ, khó thở, chảy nước mũi, nước mắt Tiếp theo là mí mắt viêm, sưng mọng, phù mặt, phù đầu Mào và tích dầy lên do phù thũng, tím tái, xuất huyết Thịt gà bị bệnh thâm tím Xuất huyết dưới da chân là đặc điểm đặc trưng của bệnh cúm gia cầm

Ngoài các triệu chứng trên còn thấy các triệu chứng về thần kinh như đi lại không bình thường, siêu vẹo, run rẩy, mệt mỏi, nằm li bì tụm đống Gia cầm tiêu chảy mạnh, phân loãng trắng, trắng xanh Gia cầm đang đẻ thì tỉ lệ đẻ giảm rất nhanh Bệnh lây lan nhanh, gia cầm chết đột ngột Với chủng virus độc lực cao (HPAI) tỉ lệ chết từ 15 - 100 %, với chủng virus độc lực thấp (LPHI) tỉ lệ chết thấp hơn và mức độ biểu hiện triệu chứng cũng nhẹ hơn Tuy nhiên, khi có

sự bội nhiễm hoặc điều kiện chăn nuôi bất lợi, tỉ lệ tử vong có thể tới 60 - 70 %

với các biểu hiện triệu chứng nặng hơn (Lê Văn Năm, 2004) [28]

1.6.2 Bệnh tích đại thể của bệnh cúm gia cầm

Theo Lê Văn Năm (2004) [28], mức độ biến đổi bệnh tích đại thể bệnh cúm gia cầm cũng đa dạng và rất khác nhau trong cùng một đàn, phụ thuộc rất nhiều vào độc lực virus, quá trình diễn biến của bệnh Những biến đổi mang tính tổng quan như sau:

Mào và tích thâm tím, phù nề, xuất huyết dưới da và rìa tích Xuất huyết dưới da ống chân thành vệt, nốt

Khí quản viêm xuất huyết, chứa nhiều đờm Túi khí phù nề, thành túi khí dầy và có nhiều fibrin bám dính Phổi viêm cata, xuất huyết đến viêm

fibrin làm phổi dính vào lồng ngực

Viêm xuất huyết đường ruột, đặc biệt vùng hậu môn, van hồi manh tràng, dạ dày tuyến và niêm mạc tá tràng

Trang 40

Bao tim tích nước vàng, xuất huyết màng bao tim, mỡ vành tim, cơ tim Lách biến màu lốm đốm vàng, rắn chắc hơn bình thường Tụy khô ròn, xuất huyết

Viêm xuất huyết buồng trứng, ống dẫn trứng, nhiều trường hợp trứng non dập vỡ, xoang bụng tích nước vàng lợn cợn

Xuất huyết màng treo ruột, màng bao dạ dày tuyến, dạ dày cơ, màng xương lồng ngực có thể coi là đặc điểm riêng của bệnh cúm gia cầm (Lê Văn Năm, 2004) [29]

1.6.3 Bệnh tích vi thể

Các biến đổi đặc trưng về tổ chức học bao gồm: Phù nề, xung huyết, xuất huyết và thâm nhập bạch cầu đơn nhân ở cơ vân, cơ tim, lách, phổi, mào, tích, gan, thận, mắt và thần kinh Ngoài tế bào bạch cầu đơn nhân còn có tế bào đặc trưng cho phản ứng viêm hoại tử (Lê Văn Năm, 2004) [28]

1.7 CHẨN ĐOÁN BỆNH

Để chẩn đoán bệnh do nhiễm virus cúm gia cầm typ A phải phân lập, định danh được virus thông qua các xét nghiệm phi lâm sàng kết hợp chẩn đoán lâm sàng (triệu chứng, bệnh tích, dịch tễ)

* Phân lập virus

Bệnh phẩm có thể là dịch ngoáy hầu họng, dịch ổ nhớp hoặc các tổ chức phổi, khí quản, não, gan, lách, tim Mẫu sau khi lấy được bảo quản trong dung dịch PBS ở 40C và phải phân lập trong vòng 48 giờ, nếu muốn bảo quản dài hơn phải giữ ở - 700

C

Theo Bùi Quang Anh và CS (2004) [2], phương pháp phân lập virus thường sử dụng là tiêm truyền qua phôi trứng 9 - 11 ngày hoặc môi trường tế bào dòng thận chó MDCK

Tiêm 0,1- 0,2 ml mẫuvào túi niệu của phôi gà 9-11 ngày tuổi Phôi được ấp ở nhiệt độ 370

C trong 2-3 ngày Một số ít chủng virus có độc lực cao

Ngày đăng: 20/12/2014, 22:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ (2004), Bệnh cúm gia cầm: lưu hành bệnh, chẩn đoán và kiểm soát dịch bệnh, Khoa học kỹ thuật thú y, 11(3), tr. 69-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm gia cầm: lưu hành bệnh, chẩn đoán và kiểm soát dịch bệnh
Tác giả: Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ
Năm: 2004
3. Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm (2005), Báo cáo tổng kết công tác 2 năm (2004-2005) phòng chống dịch cúm gia cầm, Hội nghị Tổng kết 2 năm phòng chống dịch cúm gà, ngày 18 tháng 4 năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác 2 năm (2004-2005) phòng chống dịch cúm gia cầm
Tác giả: Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm
Năm: 2005
4. Bộ NN và PTNT (2005), Tiêu chuẩn ngành - Quy trình chẩn đoán bệnh cúm gia cầm, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn ngành - Quy trình chẩn đoán bệnh cúm gia cầm
Tác giả: Bộ NN và PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
5. J. H. Breytenbach (2004), Tiêm chủng, một phần của chiến lược khống chế bệnh cúm gà, Khoa học kỹ thuật thú y, 11(2), tr. 72-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêm chủng, một phần của chiến lược khống chế bệnh cúm gà
Tác giả: J. H. Breytenbach
Năm: 2004
6. Caroline Yuen (2004), "Đánh giá tiêm chủng vacxin cúm gà H5 năm 2003 tại Hồng Kông", Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 11(2), tr. 79-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiêm chủng vacxin cúm gà H5 năm 2003 tại Hồng Kông
Tác giả: Caroline Yuen
Năm: 2004
7. Cục Thú y (2004), Bệnh cúm ở gia cầm và biện pháp phòng chống, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm ở gia cầm và biện pháp phòng chống
Tác giả: Cục Thú y
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
8. Cục thú y (2005), Sổ tay hướng dẫn phòng chống bệnh cúm gia cầm và bệnh cúm trên người, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn phòng chống bệnh cúm gia cầm và bệnh cúm trên người
Tác giả: Cục thú y
Năm: 2005
10. Trương Văn Dung, Nguyễn Viết Không (2004), Một số hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện Thú y quốc gia về bệnh cúm gia cầm và giải pháp khoa học công nghệ trong thời gian tới, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 11(3), tr. 62-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện Thú y quốc gia về bệnh cúm gia cầm và giải pháp khoa học công nghệ trong thời gian tới
Tác giả: Trương Văn Dung, Nguyễn Viết Không
Năm: 2004
11. Trương Văn Dung (2008), Những kết quả nghiên cứu đạt được về bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam, Khoa học Kỹ thuật Thú y, tr 5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả nghiên cứu đạt được về bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam
Tác giả: Trương Văn Dung
Năm: 2008
12. Nguyễn Tiến Dũng (2004), Bệnh cúm gà, Hội thảo một số biện pháp khôi phục đàn gia cầm sau dập dịch, Hà Nội, Tr. 5-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm gà
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2004
13. Nguyễn Tiến Dũng, Malik Peiris, Robert Webster, Đào Thanh Vân, Bùi Ngọc Anh, Nguyễn Thế Vinh, Kent Inui, Bùi Nghĩa Vƣợng, Nguyễn Viết Không và Ngô Thành Long (2004), Nguồn gốc virus cúm gia cầm H5N1 tại Việt Nam năm 2003 - 2004, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 11(3), tr. 6-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc virus cúm gia cầm H5N1 tại Việt Nam năm 2003 - 2004
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Malik Peiris, Robert Webster, Đào Thanh Vân, Bùi Ngọc Anh, Nguyễn Thế Vinh, Kent Inui, Bùi Nghĩa Vƣợng, Nguyễn Viết Không và Ngô Thành Long
Năm: 2004
14. Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Quí Phương, Đào Thanh Vân, Bùi Ngọc Anh, Bùi Nghĩa Vƣợng, Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Thuý Duyên (2005), Giám sát bệnh cúm gia cầm tại Thái Bình, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 12(2), tr. 6-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát bệnh cúm gia cầm tại Thái Bình
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Quí Phương, Đào Thanh Vân, Bùi Ngọc Anh, Bùi Nghĩa Vƣợng, Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Thuý Duyên
Năm: 2005
15. Nguyễn Tiến Dũng (2008), "Vài nét về cúm gia cầm H5N1", Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, số 4-2008, tr80-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về cúm gia cầm H5N1
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2008
16. Nguyễn Tiến Dũng, Đào Thanh Vân, Bùi Ngọc Anh, Kenjiro Inui, Bùi Nghĩa Vƣợng, Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Bá Thành, Phạm Thị Kim Dung (2005), Giám sát tình trạng nhiễm vi rút cúm gia cầm tại đồng bằng Sông Cửu Long cuối năm 2004, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 12(2), tr. 13-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát tình trạng nhiễm vi rút cúm gia cầm tại đồng bằng Sông Cửu Long cuối năm 2004
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Đào Thanh Vân, Bùi Ngọc Anh, Kenjiro Inui, Bùi Nghĩa Vƣợng, Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Bá Thành, Phạm Thị Kim Dung
Năm: 2005
17. Nguyễn Hoàng Đăng, Tô Long Thành (2009), Đáp ứng miễn dịch trên gia cầm của tỉnh Bắc Giang được tiêm phòng vacxin cúm gia cầm trong năm 2007- 2008. Phần II: Phân bố hiệu giá kháng thể virus cúm gia cầm tại các thời điểm sau tiêm, Khoa học Kỹ thuật Thú y, Tập XVI. Số 2- 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đáp ứng miễn dịch trên gia cầm của tỉnh Bắc Giang được tiêm phòng vacxin cúm gia cầm trong năm 2007- 2008. Phần II: Phân bố hiệu giá kháng thể virus cúm gia cầm tại các thời điểm sau tiêm
Tác giả: Nguyễn Hoàng Đăng, Tô Long Thành
Năm: 2009
18. Nguyễn Hoàng Đăng (2009), Đánh giá hiệu lực của vacxin phòng bệnh cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sỹ khoa học, Trường Đại học Nông nghiệp I, 91 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu lực của vacxin phòng bệnh cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sỹ khoa học
Tác giả: Nguyễn Hoàng Đăng
Năm: 2009
19. Trần Xuân Hạnh (2004), Một vài vấn đề phòng bệnh cúm gia cầm bằng vacxin, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 11(3), tr. 84-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài vấn đề phòng bệnh cúm gia cầm bằng vacxin
Tác giả: Trần Xuân Hạnh
Năm: 2004
20. Lê Thanh Hoà (2004), Họ Orthomyxoviridae và nhóm virus cúm A gây bệnh cúm trên gà và người, Viện khoa học công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họ Orthomyxoviridae và nhóm virus cúm A gây bệnh cúm trên gà và người
Tác giả: Lê Thanh Hoà
Năm: 2004
21. Vũ Quốc Hùng (2005), Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu của bệnh cúm gia cầm, Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu của bệnh cúm gia cầm
Tác giả: Vũ Quốc Hùng
Năm: 2005
22. Ilaria Capua, Stefano Marangon (2004), Sử dụng tiêm chủng vacxin như một biện pháp khống chế bệnh cúm gà, Khoa học kỹ thuật thú y, 11(2),tr. 59-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng tiêm chủng vacxin như một biện pháp khống chế bệnh cúm gà
Tác giả: Ilaria Capua, Stefano Marangon
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tỷ lệ gia cầm mắc bệnh cúm tình từ năm 2003 - 2009 - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
Bảng 3.1 Tỷ lệ gia cầm mắc bệnh cúm tình từ năm 2003 - 2009 (Trang 56)
Bảng 3.2: Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo mùa - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
Bảng 3.2 Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo mùa (Trang 58)
Bảng 3.3: Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo loại gia cầm - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
Bảng 3.3 Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo loại gia cầm (Trang 59)
Bảng 3.4: Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
Bảng 3.4 Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm (Trang 61)
Bảng 3.5: Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo quy mô đàn gia cầm - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
Bảng 3.5 Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm theo quy mô đàn gia cầm (Trang 62)
Bảng 3.6: Kết quả tiêm phòng vacxin cúm cho đàn gia cầm - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
Bảng 3.6 Kết quả tiêm phòng vacxin cúm cho đàn gia cầm (Trang 63)
Bảng 3.7: Kết quả theo dõi độ an toàn của vacxin H5N1 trên đàn gia cầm - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
Bảng 3.7 Kết quả theo dõi độ an toàn của vacxin H5N1 trên đàn gia cầm (Trang 64)
Bảng 3.8: Hiệu giá kháng thể trung bình của gà đƣợc tiêm vacxin H5N1 - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
Bảng 3.8 Hiệu giá kháng thể trung bình của gà đƣợc tiêm vacxin H5N1 (Trang 66)
Đồ thị 3.1. Biến động hiệu giá kháng thể của gà được tiêm vacxin H5N1 - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
th ị 3.1. Biến động hiệu giá kháng thể của gà được tiêm vacxin H5N1 (Trang 69)
Bảng 3.9: Tần số phân bố các mức kháng thể của gà - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
Bảng 3.9 Tần số phân bố các mức kháng thể của gà (Trang 70)
Đồ thị 3.2. Biến động hiệu giá kháng thể của đàn gà thí nghiệm được tiêm - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
th ị 3.2. Biến động hiệu giá kháng thể của đàn gà thí nghiệm được tiêm (Trang 75)
Bảng 3.11: Hiệu giá kháng thể trung bình, tỷ lệ bảo hộ của đàn gà thí - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
Bảng 3.11 Hiệu giá kháng thể trung bình, tỷ lệ bảo hộ của đàn gà thí (Trang 76)
Đồ thị 3.3. So sánh hiệu giá kháng thể của đàn gà thí nghiệm - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
th ị 3.3. So sánh hiệu giá kháng thể của đàn gà thí nghiệm (Trang 77)
Bảng 3.12: Hiệu giá kháng thể trung bình của vịt đƣợc tiêm vacxin H5N1 - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
Bảng 3.12 Hiệu giá kháng thể trung bình của vịt đƣợc tiêm vacxin H5N1 (Trang 79)
Đồ thị 3.4. Biến động hiệu giá kháng thể của vịt được tiêm vacxin H5N1 - nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vacxin h5n1 tại phú thọ
th ị 3.4. Biến động hiệu giá kháng thể của vịt được tiêm vacxin H5N1 (Trang 80)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm