Nhiều hộ gia đình tại một số huyện như Yên Bình, Trấn Yên, Văn Chấn đã tìm tòi, học hỏi những cách làm hay của bà con nông dân ở những tỉnh lân cận để sản xuất chè qua đông, nhằm tăng sả
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn của tôi hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng trong luận văn nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Phạm Duy Đông
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo giảng dạy Thầy giáo hướng dẫn khoa học, được sự giúp
đỡ của các cơ quan, tập thể, cá nhân và nhân dân trong địa bàn thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
PGS.TS Đặng Văn Minh: Trưởng khoa Tài nguyên và Môi trường – Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên
Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, Khoa nông học, Viện nghiên cứu khoa học
và sự sống – Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Yên Bái
Trường Trung cấp Kinh tế kỹ thuật tỉnh Yên Bái
Trạm khí tượng thủy văn tỉnh Yên Bái
Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Trấn Yên
Đảng ủy, UBND xã Nga Quán, xã Hưng Khánh
Gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài
Yên Bái, tháng 4 năm 2010
Tác giả
Phạm Duy Đông
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích của đề tài 3
1 3 Yêu cầu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.2 Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố của cây chè 9
2.2.1 Nguồn gốc 9
2.2.2 Phân loại cây chè 10
2.2.3 Sự phân bố của cây chè 11
2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam 12
2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 12
2.3.1.1 Tình hình sản xuất chè 12
2.3.1.2 Tình hình tiêu thụ chè 15
2.3.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam và phương hướng phát triển chè đến năm 2010 18
2.3.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè 18
2.3.2.2 Kế hoạch phát triển của ngành chè đến năm 2010 20
2.3.2.3 Tình hình sản xuất chè của tỉnh Yên Bái 21
2.3.2.4 Tình hình sản xuất chè của huyện Trấn Yên 24
2.3.2.5 Đánh giá tình hình chung về sản xuất chè ở nước ta 26
2.4 Nhu cầu dinh dưỡng và vai trò của các yếu tố dinh dưỡng đối với cây chè 27
2.4.1 Nhu cầu dinh dưỡng 27
2.4.2 Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng 28
2.5 Nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước 31
2.5.1 Những nghiên cứu về cây chè trên thế giới 31
Trang 52.5.1.1 Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của
cây chè 31
2.5.1.2 Những kết quả nghiên cứu về đốn chè 33
2.5.1.3 Những kết quả nghiên cứu về giống chè 34
2.5.1.4 Những kết quả nghiên cứu về tưới nước cho chè 35
2.5.2 Những nghiên cứu về cây chè ở Việt Nam 35
2.5.2.1 Cơ sở khoa học của sản xuất chè đông 35
2.5.2.2 Những nghiên cứu và ứng dụng về giữ ẩm, tưới nước cho chè đông 37
2.5.2.3 Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của chè 38
2.5.2.4 Những kết quả nghiên cứu về đất trồng chè 40
2.5.2.5 Những nghiên cứu về sâu bệnh hại chè 41
2.5.2.6 Những nghiên cứu về thiên địch sâu hại chè 42
2.5.2.7 Những nghiên cứu về kỹ thuật hái chè 42
2.5.2.8 Những kết quả nghiên cứu về bón phân cho chè 43
CHƯƠNG III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
3.1 Đối tượng nghiên cứu 44
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 44
3.3 Nội dung nghiên cứu 44
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Yên Bái tác động đến sản xuất chè và tìm hiểu tình hình sản xuất chè qua đông tại xã Nga Quán, huyện Trấn Yên 44
3.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh chè đông tới năng suất chè và chất lượng đất 44
3.4 Phương pháp nghiên cứu 44
3.4.1 Thu thập số liệu thứ cấp của huyện Trấn Yên và tỉnh Yên Bái 44
Trang 63.4.2 Điều tra đánh giá tình hình sản xuất chè đông, những thuận lợi
và khó khăn trong sản xuất chè qua đông 45
3.4.3 Bố trí thí nghiệm nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè đông tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 45
3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi 48
3.4.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 49
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 50
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Trấn Yên 50
4.1.1 Vị trí địa lý 50
4.1.2 Địa hình 50
4.1.3 Đất đai và thổ nhưỡng 51
4.1.4 Khí hậu thủy văn 53
4.1.5 Điều kiện kinh tế, xã hội liên quan tới sản xuất chè tại Yên Bái 55
4.1.5.1 Điều kiện xã hội 55
4.1.5.2 Cơ chế chính sách, đầu tư và chỉ đạo sản xuất cho phát triển chè 56
4.2 Kết quả điều tra, đánh giá tình hình sản xuất chè ở xã Nga Quán và Xã Hưng Khánh 58
4.2.1 Thông tin về diện tích, giống và tuổi chè ở các hộ điều tra 58
4.2.2 Đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho chè ở các hộ điều tra 58
4.2.3 Sự áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất chè đông ở các hộ điều tra 60
4.2.4 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất chè ở các hộ điều tra 61
4.3 Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất chè, hiệu quả kinh tế và một số chỉ tiêu lý hóa tính của đất 64
Trang 74.3.1 Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất chè và hiệu quả kinh tế 64
4.3.1.1 Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm đến mật độ búp chè 65 4.3.1.2 Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm đến khối lượng búp chè 66 4.3.1.3 Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm đến tỷ lệ búp có tôm của chè 67 4.3.1.4 Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm đến năng suất chè 68 4.3.1.5 Hạch toán kinh tế trên thí nghiệm tưới tủ giữ ẩm cho chè 68 4.3.2 Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm đến đến một số chỉ tiêu lý hóa tính đất và động vật đất 70
4.3.2.1 Chỉ tiêu hóa tính đất 70 4.3.2.2 Chỉ tiêu lý tính đất và động vật đất 71 4.4 Ảnh hưởng của phân vô cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất chè, hiệu quả kinh tế và một số chỉ tiêu lý hóa tính đất 74
4.4.1 Ảnh hưởng của phân vô cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất chè và hiệu quả kinh tế 75
4.4.1.1 Ảnh hưởng của việc bón phân vô cơ đến mật độ búp chè 75 4.4.1.2 Ảnh hưởng của việc bón phân vô cơ đến khối lượng búp chè 76 4.4.1.3 Ảnh hưởng của việc bón phân vô cơ đến tỷ lệ búp có tôm 77 4.4.1.4 Ảnh hưởng của việc bón phân vô cơ đến năng suất chè 78
Trang 84.4.1.5 Hạch toàn kinh tế trên thí ngiệm bón phân cho
chè 79
4.4.2 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến một số chỉ tiêu lý hóa tính đất và động vật đất 80
4.4.2.1 Chỉ tiêu hóa tính đất 80
4.4.2.2 Chỉ tiêu lý tính đất và động vật 81
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 83
5 1 Kết luận 83
5.2 Đề nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.01 Diện tích chè của thế giới và một số nước có diện tích chè lớn từ
năm 2003 – 2008 13
Bảng 2.02: Diễn biến năng suất chè của thế giới và một số nước có năng suất chè lớn từ năm 2003- 2008 14
Bảng 2.03: Tình hình sản lượng chè của thế giới và một số nước có sản lượng chè cao từ năm 2003- 2008 15
Bảng 2.04 Diện tích, năng suất, sản lượng chè Việt Nam từ năm 2000 – 2008 20
Bảng 2.05 Một số chỉ tiêu phát triển ngành chè giai đoạn 2010 – 2015 20
Bảng 2.06 Tình hình sản xuất chè tại Yên Bái 22
Bảng 2.07 Tình hình sản xuất chè của huyện Trấn Yên 25
Bảng 4.01 Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất của huyện Trấn Yên năm 2008 (tính đến ngày 31/12/2008) 52
Bảng 4.02: Thông tin về diện tích, giống và tuổi chè ở các hộ điều tra 58
Bảng 4.03: Tình hình đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho chè ở các hộ điều tra xã Hưng Khánh 59
Bảng 4.04: Tình hình đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho chè ở các hộ điều tra xã Nga Quán 60
Bảng 4.05: Đánh giá việc áp dụng cac biện pháp kỹ thuật vào sản xuất chè đông 61
Bảng 4.06: Đánh giá những thuận lợi trong sản xuất chè đông 62
Bảng 4.07: Đánh giá những khó khăn trong sản xuất chè đông 63
Bảng 4.08: ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm đến mật độ búp chè 65
Bảng 4.09: Ảnh hưởng của biện pháp giữ ẩm đến khối lượng búp chè 66
Bảng 4.10: Ảnh hưởng của biện pháp giữ ẩm đến tỷ lệ búp có tôm 67
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm đến năng suất chè 68
Trang 10Bảng 4.12: Hiệu quả kinh tế của các biện pháp giữ ẩm cho chè 69 Bảng 4.13: Kết quả phân tích N dễ tiêu và mùn tổng số của đất trên các công thức thí nghiệm tưới tủ cho chè 70 Bảng 4.14: Diễn biến ẩm độ trên các công thức tưới tủ cho chè 71 Bảng 4.15: Dung trọng, độ xốp của đất trên các công thức tưới tủ cho chè 73 Bảng 4.16: Số lượng giun đất của các công thức thí nghiệm tưới tủ cho chè 74 Bảng 4.17: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến mật độ búp chè 75 Bảng 4.18: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến khối lượng búp chè 76 Bảng 4.19: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đên tỷ lệ búp có tôm 77 Bảng 4.20: ảnh hưởng của các công thức phân bon đến năng suất chè 78 Bảng 4.21: Hiệu quả kinh tế trên thí nghiệm bón phân cho chè 79 Bảng 4.22: Kết quả phân tích N dễ tiêu và mùn tổng số của đất trên các công thức thí nghiệm bón phân cho chè 80 Bảng 4.23: Dung trọng, độ xốp đất trên các công thức bón phân cho chè 81 Bảng 4.24: Số lượng giun đất của các công thức thí nghiệm bón phân cho chè 82
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 2.01: 10 Nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất năm 2008 17
Đồ thị 2.02: Dự báo giá chè năm 2009 của thế giới và Việt Nam 17
Đồ thị 4.01: Diễn biến nhiệt độ, lượng mưa và ẩm độ không khí trung bình các mùa đông – xuân năm 2009 – 2010 54
Đồ thị 4.02: Diến biến ẩm độ đất của các công thức thí nghiệm tưới tủ cho chè 72
Trang 11CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camellia sinensis) là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế
cao, nhiệm kỳ kinh tế dài, mau cho sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định
Cây chè là cây trồng có lịch sử lâu đời và có nguồn gốc ở châu Á, gắn liền với vùng khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới với những nước có số dân đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka, Indônêsia, Việt Nam Từ khi được phát hiện, sử dụng, truyền bá và phát triển đến nay đã gần 5000 năm Do đặc tính sinh trưởng của cây chè, sự giao lưu văn hoá của loài người, sự hoạt động chính trị xã hội, sự buôn bán
thương mại, thậm chí đến cả sự truyền bá của tôn giáo (nhất là đạo phật), nên diện
tích trồng chè đã lan truyền nhanh chóng trên hành tinh Đến nay đã có 58 nước trồng chè, cùng với việc mở rộng diện tích trồng chè, là sự tăng cường trao đổi và hợp tác quốc tế, làm cho cây chè ngày càng phát triển Trong các loại cây công nghiệp dài ngày, cây chè đã phát triển thành một chuyên ngành khoa học được cả thế giới công nhận
Việt Nam được xác định là một trong 8 cội nguồn của cây chè, có điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu phù hợp cho cây chè phát triển và cho chất lượng cao Hiện sản phẩm chè của Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó thương hiệu "CheViet" đã được đăng ký và bảo hộ tại 70 thị trường quốc gia và khu vực Việt Nam hiện đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu chè
Hiện Việt Nam có 6 triệu người sống trong vùng chè, có thu nhập từ trồng, chế biến và kinh doanh chè Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện cả nước có 35 tỉnh trồng chè, với tổng diện tích hơn 131.500 ha Bình quân năng suất đạt 6,5 tấn búp tươi/ha, cung cấp nguyên liệu cho khoảng 700 cơ sở sản xuất chè khô
Trang 12Do giá trị dinh dưỡng, kinh tế, xã hội, văn hóa và bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người nên cây chè đã được xây dựng thành một trong mười chương trình trọng điểm về phát triển nông nghiệp trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đến năm 2010
Yên bái là tỉnh miền núi có diện tích đồi gò lớn, điều kiện đất đai khí hậu phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè Cây chè đã có ở Yên Bái từ rất lâu đời bắt đầu từ những cây chè thủy tổ Suối Giàng Tuy có thời điểm thị trường tiêu thụ không ổn định, giá chè xuống thấp làm cho đời sống người làm chè gặp nhiều khó khăn nhưng nhìn chung cây chè vẫn giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho phần lớn nhân dân trong tỉnh và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Hiện nay, Cây chè vẫn được xác định là cây công nghiệp chủ lực của tỉnh Tỉnh Yên Bái có chủ trương phát triển sản xuất chè theo cả hai hướng, mở rộng diện tích và thâm canh tăng năng suất, chất lượng chè cùng với cải tiến công nghệ chế biến Đến nay diện tích chè của tỉnh Yên Bái là 12.035 ha trong đó có 11.093 ha chè kinh doanh
Trong những năm vừa qua, tình hình sản xuất chè gặp không ít khó khăn cả khâu sản xuất và tiêu thụ do thị trường tại những nước truyền thống có phần giảm sút, đã làm cho sản xuất chè có những thời điểm xuống thấp Mấy năm gần đây, thị trường xuất khẩu có những chuyển biến tích cực, bà con nông dân có những cách nhìn đầy đủ hơn về cây chè, yên tâm hơn và có những thay đổi về các biện pháp kỹ thuật thâm canh để sản xuất chè đông, xuân nhằm tăng hiệu quả kinh tế cho gia đình, kể cả khi các nhà máy ngừng thu mua sản phẩm chè búp tươi để chế biến chè đen Nhiều hộ gia đình tại một số huyện như Yên Bình, Trấn Yên, Văn Chấn đã tìm tòi, học hỏi những cách làm hay của bà con nông dân ở những tỉnh lân cận để sản xuất chè qua đông, nhằm tăng sản phẩm và hiệu quả kinh tế phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình
Dựa vào quy luật sinh trưởng, phát triển của cây chè, cùng với các kết quả nghiên cứu của các Viện nghiên cứu, các nhà khoa học về cây chè cho thấy: nhiệt độ
Trang 13và lượng mưa trong năm có là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng ra búp của cây chè Vụ đông trong năm nếu được tưới đủ nước, giữ ẩm cho chè thì cây chè vẫn cho búp bình thường Dựa vào đặc điểm này nhiều tỉnh trên cả nước như Thái Nguyên, Phú Thọ đã tiến hành thực hiện xây dựng nhiều mô hình sản xuất chè qua đông khuyến cáo cho bà con nông dân phát triển trên diện rộng và đã đạt được những
kết quả tốt ngoài mong đợi Vụ đốn chè sẽ được chuyển sang tháng 4 năm sau (vào
chu kỳ nghỉ sinh lý ngắn của cây chè)
Nhu cầu sử dụng chè của người dân ngày càng cao, đặc biệt là trong vụ đông
- xuân, xung quanh dịp tết nguyên đán, ngày lễ cổ truyền của dân tộc thì nhu cầu sử dụng chè cao hơn rất nhiều Bên cạnh đó, vụ đông – xuân là thời điểm giá rét, mưa
ít, sương muối nhiều làm cho cây chè sinh trưởng chậm, năng suất thấp gây ra hiện tượng giá chè xanh tăng đột ngột làm mất cân đối giữa cung và cầu trên thị trường
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật để sản xuất chè qua đông trên những diện tích có thể tưới tại huyện Trấn Yên là có cơ sở khoa học và thực tiễn Vì vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè đông tại
huyện Trấn Yên- tỉnh Yên Bái”
1.2 Mục đích của đề tài
- Xác định những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất chè đông tại huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái
- Xác định ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến sản xuất chè đông
- Xác định ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật tới một số chỉ tiêu lý, hóa tính đất nhằm đề ra các giải pháp bảo vệ và nâng cao chất lượng đất
1 3 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Trấn Yên tác động đến sản xuất chè đông
- Theo dõi ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật sản xuất chè đông đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất chè
Trang 14- Theo dõi ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật sản xuất chè đông đến một
số chỉ tiêu lý, hóa tính cơ bản của đất
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài xuất phát từ yêu cầu giải quyết vẫn đề giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè đông ở huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái
Dựa trên cơ sở điều tra đánh giá tình hình tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình sản xuất chè đông ở huyện Trấn Yên, nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè đông nhằm nâng cao năng suất chè, bảo vệ đất và môi trường sinh thái
Thông qua việc nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè đông, đề tài sẽ góp phần giải quyết sự mất cân đối giữa nhu cầu tiêu dùng cao về chè và sự giảm nhanh sản lượng chè trong vụ đông xuân, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân Đồng thời bước đầu xây dựng quy trình kỹ thuật bón phân cho chè qua đông
Trang 15CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Sản xuất chè vụ đông – xuân là quá trình áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng tốt trong cả vụ đông – xuân, khi nhiệt độ thấp, ít mưa Sản xuất chè đông – xuân có tác dụng rải vụ thu hoạch chè, tạo việc làm cho người làm chè trong các tháng vụ đông – xuân, tạo
ra sản phẩm chất lượng tốt, có giá trị kinh tế cao, tăng thu nhập cho người làm chè
Theo nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến sinh trưởng búp chè, các nhà khoa học Trung Quốc và Việt Nam đều cho rằng độ không sinh vật học của cây chè là 100
C, tức là trong điều kiện nhiệt độ lớn hơn 100
C thì cây chè vẫn sinh trưởng búp Mặt khác sản lượng búp chè hàng tháng có quan hệ rất chặt với lượng mưa, những tháng có lượng mưa nhỏ hơn 50mm/tháng thì sản lượng chè chỉ đạt dưới 5% tổng sản lượng cả năm, những tháng có lượng mưa 50 - 100mm/tháng sản lượng chè hàng tháng đạt từ 5 - 10% tổng sản lượng cả năm, những tháng có lượng mưa trên 100mm/tháng, sản lượng hàng tháng đạt trên 10% tổng sản lượng cả năm Như vậy trong các tháng vụ đông, vụ xuân ở vùng trung du và miền núi phía bắc nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất đều trên 100
C thì yếu tố hạn chế năng suất chính là lượng mưa, nếu tưới đủ ẩm cây sẽ sinh trưởng búp và cho thu hoạch
Thực tế ở vùng trung du miền núi phía bắc cho thấy sản lượng chè các tháng
vụ đông, vụ xuân giảm mạnh, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ chè tăng nhanh làm cho giá chè tăng mạnh có khi gấp 2 – 2,5 lần những tháng giữa vụ
Một trong những khó khăn của sản xuất chè là sản lượng chè phân bố không đều giữa các tháng trong năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 7, 8, 9 (chiếm 40- 50%) tổng sản lượng cả năm Sản xuất chè vụ đông – xuân sẽ rải vụ thu hoạch chè, rải vụ chế biến chè, tạo việc làm cho người làm chè vào các tháng vụ đông – xuân
Khi tiến hành sản xuất chè vụ đông, cần thay đổi thời gian đốn chè, chuyển
từ đốn theo truyền thống cũ là vào tháng 11, 12 trong năm sang đốn vào thời gian
Trang 16tháng 4 năm sau (vào chu kỳ nghỉ sinh lý ngắn của cây chè) để tăng thu nhập, rải vụ chè, giải quyết việc làm cho người dân trong những tháng nông nhàn Tuy nhiên, vấn đề sản xuất chè qua đông chỉ áp dụng ở những nương chè có độ dốc vừa phải, gần nguồn nước tưới hoặc phải xây bể để dự trữ nước tưới cho chè
Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng tương đối cao trong nền kinh tế, trong đó cây chè vẫn là cây trồng mũi nhọn của tỉnh Hiện nay, vấn đề tăng thu nhập cho người nông dân được Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh và các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm Bên cạnh đó việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất chè còn gặp nhiều khó khăn do trình độ của người dân chưa đồng đều, ngại thay đổi phương thức canh tác theo truyền thống cũ, đặc biệt chưa có nhiều hộ nông dân tham gia sản xuất chè vụ đông để bán trên thị trường trong những tháng gần tết
* Điều kiện sinh thái của cây chè
- Điều kiện khí hậu:
+ Lượng mưa: Lượng mưa trung bình trong năm thích hợp cho sinh trưởng của cây chè trên thế giới là 1500- 2000 mm Ở nước ta lượng mưa trung bình các vùng trồng chè là 1750- 2500 mm/năm, phù hợp với sinh trưởng cây chè
Số ngày mưa ảnh hưởng rất lớn đến lao động hái chè, cũng như chế biến chè Mưa còn ảnh hưởng đến chất lượng chè, vụ đông- xuân chè có chất lượng cao, vụ
hè thu chè có chất lượng thấp Mưa phùn, mưa xuân có lợi cho sinh trưởng của cây chè vì tăng độ ẩm không khí Mưa ít phân phối đều, xen kẽ vài ngày nắng thúc đẩy sinh trưởng của cây chè Độ ẩm không khí tương đối cần thiết cho cây chè là 80- 85%
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí thuận lợi cho sinh trưởng của cây chè là 22-
280C, nhiệt độ từ 10- 180
C và > 300C cây chè sinh trưởng chậm Biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn có lợi cho chất lượng chè
+ Ánh sáng: Cây chè là một cây trung tính, trong giai đoạn cây con cây chè
ưa bóng râm, khi lớn lên ưa ánh sáng Ánh sáng tán xạ ở vùng núi cao có tác dụng
Trang 17tốt đến phẩm chất chè hơn ánh sáng trực xạ Sương mù nhiều, ẩm ướt và nhiệt độ thấp ở núi cao là nơi sản xuất chè chất lượng cao trên thế giới
- Điều kiện đất đai:
Đất phải sâu từ 60- 100cm, mực nước ngầm dưới 100 cm Đất phải chua, độ chua pHKCL thích hợp cho cây chè 4,5- 5,5 đây là chỉ tiêu quan trọng quyết định đến đời sống cây chè Đất giàu mùn và chất dinh dưỡng, nhất là đối với đạm
Kết cấu đất: Đất kết cấu viên, hạt tơi xốp giữ nước nhiều, thấm nước nhanh
có lợi cho sự phát triển của bộ rễ và vi sinh vật trong đất
Thành phần cơ giới: Đất thị pha cát đến thịt nặng, có chế độ nước và không khí điều hòa thuận lợi cho hoạt động của các quá trình hóa học và vi sinh vật trong đất
* Điều kiện để chuyển nương chè sang sản xuất chè vụ đông - xuân
- Chỉ sản xuất chè vụ đông - xuân trên những diện tích chè có khả năng tưới nước
- Sản xuất chè vụ đông - xuân chỉ có hiệu quả kinh tế cao ở vùng chè có ưu thế sản xuất chè xanh
* Sản xuất chè vụ đông- xuân
- Đốn chè: Đốn từ 15 đến 30 tháng 4 (đốn vào giai đoạn cây chè có chu kỳ nghỉ sinh lý ngắn)
Trang 18- Tưới nước: Là biện pháp quyết định đối với sản xuất chè vụ đông - xuân Thời kỳ tưới: Bắt đầu tưới có hiệu quả khi lượng mưa giảm Ở Yên Bái có thể tưới vào cuối tháng 9 đầu tháng 10 trở đi, kết thúc tưới khi có mưa rào (tháng 4, tháng 5)
Lượng nước tưới: 600 - 700 m3
/ha/tháng, chia làm 3- 4 lần/tháng (tương đương 7- 8 m3
/sào/tháng/lần, tháng tưới 3- 4 lần) Lượng nước tưới, số lần tưới phụ thuộc vào lượng mưa, mưa nhiều thì tưới ít và ngược lại Tháng 2, tháng 3 hàng năm khi ẩm độ không khí lớn cần tăng lượng nước tưới trong một lần và giảm số lần tưới/tháng nhằm hạn chế bệnh phồng lá
- Các biện pháp giữ ẩm: Dùng cuốc lật đất rộng 50- 60 cm giữa hai hàng chè vào tháng 9, tháng 10 khi bắt đầu tưới và tháng 4, tháng 5 sau đốn
Tủ giữ ẩm: Vật liệu tủ là rơm, rạ, guột, cỏ dại, cỏ lạc và các sản phẩm phụ của nông nghiệp như thân ngô, đỗ, cành lá già
Lượng tủ: 30 tấn/ha (1- 1,1 tấn/sào) Thời gian tủ vào tháng 9, tháng 10 khi đất còn ẩm, sau khi cuốc lật đất hoặc vào tháng 4, tháng 5 sau đốn
- Bón phân: Phân hữu cơ bón 20- 30 tấn/ha (0,72- 1,08 tấn/sào) Tùy thuộc vào khả năng sinh trưởng của nương chè, khả năng cho năng suất của nương chè mà tính lượng phân vô cơ cho thích hợp
Bón 3,6 kg super lân/sào/vụ + 05 mức phân đạm thí nghiệm (0 kg N; 25 kg N; 50 kg N; 75 kg N; 100 kg N/ha/lứa) + 1,13 kg kaliclorua/sào/lứa/vụ Các tháng
từ tháng 5 đến tháng 9 bón theo mức của địa phương, hai tháng bón một lần Các tháng vụ đông xuân từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mỗi tháng bón 1 lần, bón sau khi hái chè
Phương pháp bón: Phân lân bón sau đốn cùng với ép xanh cành lá già, bón sâu 15- 20 cm Phân đạm, kali bón sâu 6- 8 cm, bón sau khi hái chè, bón trước khi tưới
- Phòng trừ sâu bệnh: Sản xuất chè vụ đông- xuân có lợi thế là nhiệt độ thấp, sâu hại, bệnh phát sinh phát triển chậm Vì vậy chỉ sử dụng thuốc khi xuất hiện sâu bệnh hại nặng
Trang 19Lưu ý, phòng bệnh phồng lá: Tháng 2, tháng 3, ẩm độ không khí cao cần giảm số lần tưới, tăng lượng nước tưới trong một lần tưới, dọn cắt cành la, cây che bóng giúp cho vườn chè thông thoáng
- Thu hoạch: Thu búp một tôm hai lá, các tháng sản xuất chè vụ đông - xuân (tháng 10 đến tháng 3 năm sau, không chừa lá thật, chỉ chừa lá cá và lá vảy ốc) Các biện pháp kỹ thuật khác cần tiến hành như đối với những nương chè bình thường
2.2 Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố của cây chè
2.2.1 Nguồn gốc
Nguồn gốc của cây chè rất phức tạp, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học cây chè Một số quan điểm được nhiều người công nhận là:
- Cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc
Năm 1753 Carl Von Linnacus, nhà thực vật học người Thụy Điển lần đầu tiên trên thế giới xác nhận Trung Quốc là vùng nguyên sản cây chè của thế giới và định tên khoa học của cây chè là Thea sinensis, phân thành hai thứ: Thea bohea (chè đen) và Thea viridis (chè xanh) [17]
Các nhà khoa học Trung Quốc như Sucheupen – Jaoding, đã giải thích sự phân bố của cây chè mẹ ở Trung Quốc như sau: tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu hàng loạt các con sông đổ về các nước khác như Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma theo dòng sông cây chè di thực từ Vân Nam- Trung Quốc đến các nước khác
Năm 1951 Đào Thừa Trân (Trung Quốc) cho rằng: Nơi nguyên sản của cây chè là tỉnh Vân Nam, chúng di thực về phía đông qua tỉnh Tứ Xuyên bị ảnh hưởng của khí hậu nên biến thành giống chè lá nhỏ, di thực về phía nam và tây nam là Ấn
Độ, Mianma, Việt Nam biến thành giống chè lá to [17]
Trang Vãn Phương – 1968 kết luận rằng: cây chè ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc hiện nay là loại chè nguyên thủy, già nhất thế giới
Ngoài ra các nhà khoa học Hà Lan khác như JJ.Bdeuss (1933), J.Werkhoven (1974) cũng cho rằng cây chè có nguồn gốc ở vùng đông cao nguyên Tây Tạng và vùng Đông nam- Trung Quốc
Trang 20Nhiều công trình nghiên cứu khác cho thấy cách đây 4000 năm người Trung Quốc đã biết dùng chè làm dược liệu và sau đó để uống [15]
- Cây chè có nguồn gốc ở Ấn Độ
Năm 1823, Robert Bruel đã phát hiện được những cây chè dại lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ) Qua nghiên cứu ông cho rằng nguyên sản của cây chè là ở vùng Atxam (Ấn Độ) chứ không phải là vùng Vân Nam- Trung Quốc [15]
- Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam
Những công trình của Djemukhatde (1961- 1971) về phức catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau, so sánh thành phần các catechin giữa chè được trồng
và chè hoang dại đã nêu lên luận điểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và từ đó ông đã đi đến kết luận: “ Nguồn gốc cây chè chính là ở vùng tây bắc Việt Nam” [5]
Các quan điểm trên tuy có sự khác nhau về địa điểm nhưng đều có sự thống nhất rằng: Nguyên sản của cây chè là ở Châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng và
ẩm
2.2.2 Phân loại cây chè
Tên gọi của cây chè đầu tiên được nhà khoa học Thụy Điển Line đặt là Thea sinensis vào năm 1973, sau đó có rất nhiều cách đặt tên cho cây chè Đến nay tên khoa học của cây chè được nhiều người công nhận nhất là: Camellia sinensis (L) Okuntze [15], xếp trong hệ thống phân loại thực vật như sau:
Trang 21Cohen Stuart chia chè ra làm 4 thứ sau đây:
- Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis Var Mcrophylla): Cây không
lớn, thân bụi (nhiều thân mọc từ đất), cây khỏe, có khả năng chịu lạnh tốt;
- Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis Var Macrophylla): Cây thân gỗ
nhỡ, lá to trung bình màu xanh nhạt, có năng suất khá;
- Chè Shan (Cammellia sinensis Var Shan): Cây thân gỗ, lá to, búp dài, có
tuyết trắng, cho năng suất cao ở vùng núi có độ ẩm và ánh sáng yếu;
- Chè Atxam (chè Ấn Độ) (Camellia sinensis Var Atxamica): Cây thân gỗ
lớn, lá to, thích ứng với điều kiện nhiệt đới, năng suất cao chất lượng tốt
Hiện nay cả bốn thứ chè trên đều đã được trồng ở Việt Nam nhưng phổ biến hơn cả là hai thứ chè Trung Quốc lá to (chè trung du xanh) và chè Shan
2.2.3 Sự phân bố của cây chè
Sự phân bố của cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên khí hậu Các kết quả nghiên cứu đều đi đến một kết luận chung là: Vùng khí hậu thích hợp của cây chè là vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới
Ngày nay, sinh trưởng của cây chè thiên về 5 châu lục, trong đó nhiều nhất là
ở Châu Á, sau đó là Châu Phi, Châu Mỹ, rồi đến Châu Đại Dương là ít nhất [30]
Đến nay trên thế giới có 58 nước trồng chè, sản xuất chế biến chè ở các quy
mô khác nhau, phân bố ở khắp 5 châu [17]
Châu Á có 20 nước bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Indonexia, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kì, Băng la đét, Iran, Myanma, Việt Nam, Thái Lan, Lào, Malaysia, Campuchia, Nêpan, Philippin, Triều Tiên, Apganistan và Pakistan
Châu Phi có 21 nước bao gồm Kenia, Malavi, Uganda, Tanzania, Mozambich, Ruanda, Mali, Ghine, Morixơ, Nam phi, Ai Cập, Công gô, Camơrun, Đảo Reuynion, Tchat, Rodezia, Abitxini, Brundi, Maroc, Angieri và Zimbabue
Châu Mỹ có 12 nước bao gồm Achentina, Braxin, Peru, Columbia, Ecuado, Guatemala, Paragoay, Jamica, Mehico, Bolivia, Guyanna và Mỹ
Châu Đại Dương có 3 nước sản xuất chè bao gồm: Paqua Tân Ghinê, Fiji và Australia
Trang 22Châu Âu có Cộng hòa liên bang Nga, Bồ Đào Nha
Các nhà khoa học cho rằng: Chè trồng ở những nơi có độ cao lớn hơn so với mực nước biển thường có chất lượng tốt hơn chè trồng ở vùng thấp Chè trồng ở Hoàng Sơn (An Huy – Trung Quốc), Sư Tử Phong (Chiết Giang – Trung Quốc), Dacjilling (Ấn Độ) có độ cao lớn hơn so với mực nước biển có chất lượng nổi tiếng trên thế giới Ở Việt Nam chè được trồng ở vùng núi cao Hà Giang, Mộc Châu, Suối Giàng (Nghĩa Lộ - tỉnh Yên Bái) cũng đều có chất lượng cao
2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
2.3.1.1 Tình hình sản xuất chè
Chè là cây trồng có giá trị lịch sử lâu đời (trên 4000 năm) Ngày nay chè là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến trên thế giới với những sản phẩm chế biến đa dạng và phong phú Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dưỡng, chữa bệnh thì thưởng thức chè ở nhiều nước đã được nâng lên tầm văn hóa với những nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo
Chè được xem như là vị thuốc cổ xưa, nó còn cổ hơn nhiều loại thuốc nổi tiếng từ hàng ngàn năm trước đây Từ lâu, chè được dùng để chế biến các loại thuốc trợ tim, cầm máu, lợi tiểu Những công trình nghiên cứu gần đây cho thấy uống nước chè có tác dụng làm giảm quá trình viêm ở người bệnh thấp khớp, viêm gan mãn tính, làm tăng tính đàn hồi của thành mạch máu Nước chè được dùng điều trị
có kết quả các bệnh như lị, xuất huyết dạ dày, xuất huyết não và suy yếu mao mạch
do tuổi già, làm giảm tác hại của phóng xạ [18].
Hiện nay trên thế giới có hàng tỷ người dùng chè làm thứ nước uống hàng ngày và xu hướng hiện nay ở một số nước phương tây, đặc biệt là các nước theo đạo hồi số người uống chè rất nhiều
Theo FAO (2009) thì tình hình sản xuất chè, tiêu thụ chè trên thế giới tính đến năm 2008 như sau:
*Về diện tích:
Trang 23Bảng 2.01 Diện tích chè của thế giới và một số nước có diện tích chè lớn từ
(Nguồn: Theo FAO Start Citation 2003 – 2008)
Qua bảng 2.01 cho thấy: Tính đến năm 2008, diện tích chè toàn thế giới là 2.806.443 ha, giảm 40.880 ha so với năm 2007
Trong đó Trung Quốc vẫn là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với diện tích đạt 1.215.174 ha, chiếm 43,3% diện tích chè toàn thế giới Thấp nhất là Nhật Bản với 48.200 ha, chiếm 1.72% diện tích chè toàn thế giới Diện tích chè của Việt Nam chỉ chiếm 4.61% diện tích chè của thế giới
* Về năng suất:
Trang 24Bảng 2.02: Diễn biến năng suất chè của thế giới và một số nước có năng suất
18,57 20,51 20,53 18,93 19,52 19,52
Ấn Độ
16,24 16,88 17,14 16,70 16,74 16,99 Srilanka
14,40 14,48 14,91 14,61 14,35 14,97 Turkey
20,07 26,32 28,39 26,51 27,13 14,51 Indonesia
14,61 14,73 12,44 13,22 13,59 14,11 Việt Nam
12,11 9,89 10,82 12,29 13,00 13,53 Trung Quốc
Bangladesh
11,28 10,82 10,82 11,02 10,16 10,17 Myanmar
Toàn TG 13,38 12,99 12,49 14,88 15,46 17,73
(Nguồn: Theo FAO Start Citation 2003 – 2008)
Qua bảng 2.02 cho thấy: Năng suất chè khô trung bình toàn thế giới năm
2008 đạt 17,73 tạ/ha tăng 2,27 tạ/ha so với năm 2007 Các nước đạt năng suất cao như Kenya, Nhật Bản, Ấn Độ, Srilanka đạt từ 14,97 – 21,93 tạ/ha, thấp nhất là Myanmar chỉ đạt 3,56 tạ/ha
*Về sản lượng:
Qua bảng 2.03 cho thấy: Sản lượng chè trung bình toàn thế giới năm 2008 đạt 4.735.961 tấn, tăng 833.080 tấn Đứng đầu về sản lượng là Trung Quốc đạt 1.257.384 tấn, chiếm 26,5% so với tổng sản lượng toàn thế giới Sản lượng thấp nhất là Myanmar đạt 26.500 tấn, chiếm 0,55% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới Sản lượng chè của Việt Nam chiếm tỷ lệ là 3,69% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới
Trang 25153.800 201.663 217.540 201.866 206.160 1.100.257
Ấn Độ
838.000 878.000 893.000 928.000 949.220 805.180 Kenya
293.670 324.600 328.500 310.580 369.600 345.800 Srilanka
303.230 308.090 317.200 310.800 305.220 318.470 Việt Nam
104.300 119.500 132.525 151.000 164.000 174.900 Indonesia
169.818 171.200 177.700 146.858 150.224 150.851 Nhật Bản
91.900 100.700 100.000 91.800 94.100 94.100 Bangladesh
57.500 57.580 57.580 58.000 58.500 59.000 Myanmar
Theo số liệu thống kê, các nước tiêu thụ chè hàng năm thường phải nhập khẩu chè bao gồm 115 nước: 34 nước châu Phi, 29 nước châu Á, 28 nước châu Âu,
19 nước châu Mỹ, 5 nước châu Đại Dương
Trang 26Qua số liêu bảng 2.01, 2.02, 2.03 cho thấy, hai nước có diện tích và sản lượng chè cao nhất là Ấn Độ và Trung Quốc, cũng là hai nước có khả năng tiêu thụ chè lớn nhất thế giới Các nước còn lại như Anh, Mỹ, Canada sẽ là thị trường tiềm năng cho những nước xuất khẩu chè
Sản phẩm chè xanh rất phong phú và đa dạng, chè xanh được tiêu dùng chủ yếu ở các nước châu Á và tây Bắc Phi, chè đen được tiêu dùng ở một số nước châu
Âu, chây Mỹ, châu Úc, các nước Trung Đông và một số nước châu Phi
Hiện nay, tỷ lệ chè đen trong tổng sản lượng thế giới đang tăng lên Trung Quốc là nước đứng đầu trong sản xuất chè xanh, chiếm khoảng 63% tổng sản lượng chè xanh thế giới Ngoài hai loại chè chủ yếu trên, các nước sản xuất và tiêu dùng còn tái chế ra nhiều loại chè ướp hương hoa, chè đóng lon, chè hòa tan, nước giải khát Những năm cuối thế kỷ XX, sản lượng chè hòa tan đã tăng lên một cách nhanh chóng do thị hiếu của người tiêu dùng tăng lên và sự tiện lợi của nó trong sử dụng
* Về nhập khẩu
Theo dự báo của FAO, trong giai đoạn 2009 - 2010, nhập khẩu chè đen thế giới ước tính khoảng 1,15 triệu tấn, mức tăng trung bình khoảng 0,6%/năm Các nước nhập khẩu chính như Anh, Nga, Pakistan, Mỹ, Nhật Bản sẽ chiếm khoảng 60% tổng lượng nhập khẩu chè toàn thế giới vào năm 2010 Cụ thể, Pakistan tăng 2,9%/năm, từ 109.400 tấn lên 150.000 tấn; Nhật Bản cũng tăng từ 18.000 lên 22.000 tấn, tăng 1,8%/năm [9] Thể hiện qua đồ thị 2.01 như sau:
Trang 27Đồ thị 2.01: 10 Nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất năm 2008
* Về xuất khẩu
Tổng kim ngạch của 10 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới đạt gần 3,5 tỉ
đô la Mỹ, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2007 Các nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2008 không có nhiều thay đổi so với năm 2007 với ba nước dẫn đầu là Sri Lanka (đạt 1,2 tỉ đô la), Trung Quốc (682,3 triệu đô la) và Ấn Độ (501,3 triệu đô la) Giá chè xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ đạt mức 1.581 đô la/tấn, tăng 3,2% so với giá chè xuất khẩu trung bình năm 2008
* Về giá
Đồ thị 2.02: Dự báo giá chè năm 2009 của thế giới và Việt Nam
Dự báo giá chè trung bình của thế giới trong năm 2009 sẽ đạt mức 4.008 đô
la Mỹ/tấn, tăng gần 1,5% so với năm 2008 Giá chè trong nước của Việt Nam trong
Trang 28năm 2009 sẽ ở mức 5.062 đồng/kg, tăng 1,6% so với mức 4.982 đồng/kg của năm
sự bắt đầu sau những năm 1925
Chè là một thứ nước uống truyền thống ở Việt Nam và các nước châu Á khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Pakistan Ngày nay nó trở thành một thứ
đồ uống thông dụng nhất trên thế giới Chè không chỉ là thứ nước uống giải khát thông thường mà uống nước chè còn có khả năng chữa một số bệnh như bệnh đường ruột, bệnh tim mạch Hàm lượng cafein trong chè có tác dụng loại thải một
số chất phóng xạ ra khỏi cơ thể
Cây chè Việt Nam được một số nhà khoa học nghiên cứu tìm hiểu Djemukhaze cho rằng miền bắc Việt Nam là một trong những nơi xác định là nguồn gốc của cây chè Cây chè Việt Nam được chính thức nghiên cứu khảo sát vào năm
1885 do người Pháp tiến hành, sau đó vào các năm 1890 – 1891 người Pháp tiếp tục điều tra và thành lập đồn điền trồng chè đầu tiên ở Việt Nam năm 1890 ở Tĩnh Cương – Phú Thọ và thành lập các trạm nghiên cứu chè ở Phú Hộ (1918), Pleicu (1927) và Bảo Lộc (1931) [18]
Thời kỳ đầu (1890) Việt Nam có khoảng 300 ha, đến năm 1939 chúng ta có khoảng 13.408 ha với sản lượng 10.900 tấn búp khô đứng thứ 6 trên thế giới, theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [15].
Trong thời gian chiến tranh 1945 – 1954, do chiến tranh nên vườn chè kém được chăm sóc do đó diện tích và sản lượng giảm nghiêm trọng Sau khi hòa bình được lập lại cây chè lại được chú trọng phát triển, các nông trường được thành lập nhờ chính sách, các vùng kinh tế mới và lúc này thị trường được mở rộng Năm
1977 cả nước có 44.330 ha, sản lượng là 17.890 tấn chè búp khô Đến năm 1985 cả
Trang 29nước có 52.047 ha, sản lượng đạt 25.392 tấn chè búp khô, theo báo cáo định hướng phát triển của ngành chè (2005) [9]
Từ năm 1990 – 1995 sự phát triển ngành chè có phần chững lại do thị trường truyền thống của Việt Nam là Liên Xô bị sụp đổ
Ở Việt Nam cây chè đã có từ lâu đời, uống chè trở thành tập quán và nhu cầu thiết yếu của nhân dân ta Việt Nam là một trong bảy nước vùng chè cổ xưa của thế giới, chất lượng chè búp tươi ở một số vùng không thua kém các nước xuất khẩu như Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanca, Kenya
Cây chè được trồng chủ yếu ở vùng trung du miền núi phía bắc và Tây Nguyên Người trồng chè chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, nông dân nghèo từ miền xuôi lên khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới Việc phát triển cây chè cùng với việc xây dựng cơ sở công nghiệp chế biến đã giải quyết việc làm cho hơn 20 vạn lao động, ổn định đời sống cho gần 10 vạn hộ gia đình, góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo ra một số trung tâm công nghiệp – dịch vụ gắn liền với nông nghiệp Góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào miền núi và Tây Nguyên [5].
Trong những năm đổi mới gần đây, ngành chè đã có những bước tiến vượt bậc cả về nông nghiệp và công nghiệp chế biến Diện tích trồng chè không ngừng
mở rộng và phát triển ở hầu khắp các tỉnh có trồng chè (đặc biệt là diện tích trồng chè giống mới)
Trong mười năm qua do có chính sách chủ trương phát triển chè đúng đắn của Nhà nước, các chính sách phát triển chè riêng của từng tỉnh, đặc biệt có sự hỗ trợ trực tiếp từ vốn, các hoạt động khuyến nông như tham quan, tập huấn kỹ thuật của dự án phát triển đã thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng chè nội tiêu và xuất khẩu, tình hình sản xuất chè của Việt Nam được thể hiện qua bảng 2.04 như sau:
Trang 30Bảng 2.04 Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè Việt Nam từ năm 2000 – 2008
(Nguồn: Theo FAO Start Citation 2003 – 2008)
Tính hết năm 2008 diện tích chè đạt 129.300 ha so với 70.300 ha năm 2000, tăng 54% Năng suất đạt 13,52 tạ khô/ha, tăng 3,56 tạ/ha so với năm 2000 Sản lượng chè đạt 174.900 tấn, tăng 105.000 tấn so với năm 2000
2.3.2.2 Kế hoạch phát triển của ngành chè đến năm 2010
Trên cơ sở đánh giá những tiềm năng, triển vọng của ngành chè nước ta Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tiến hành xây dựng phương hướng phát triển chè giai đoạn 2005 đến 2010 của Việt Nam thể hiện qua bảng 2.05 như sau:
Bảng 2.05 Một số chỉ tiêu phát triển ngành chè giai đoạn 2005 – 2010
(Nguồn: Kế hoạch phát triển sản xuất chè 2005 – 2010, Bộ NN&PTNT) [20]
Trang 31Mục tiêu phát triển của ngành chè Việt Nam là nâng cao chất lượng, sản lượng, với giá thành hợp lý, tiêu thụ chè ổn định, được giá, chiếm được tín nhiệm lâu dài trên thị trường xuất khẩu và trong nước, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, tích lũy tái sản xuất mở rộng và nâng cao thu nhập, đời sống văn hóa, kỹ năng kỹ xảo, nghiệp vụ quản lý và nhiệt tình lao động của những người làm chè, xây dựng ngành chè Việt Nam phát triển và bền vững, trở thành ngành sản xuất đa dạng sản phẩm cây trồng, vật nuôi, tận dụng các loại cây thuộc đồ uống để tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau cho nước uống
2.3.2.3 Tình hình sản xuất chè của tỉnh Yên Bái
Cùng với sự phát triển trong các lĩnh vực Nông lâm nghiệp và cơ sở hạ tầng nông thôn, ngành chè tỉnh Yên Bái có bước phát triển khá Thực hiện quy hoạch và định hướng của tỉnh, với những biện pháp chỉ đạo cụ thể, ngành chè Yên Bái đã phát triển toàn diện cả ba lĩnh vực: Trồng, chăm sóc, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Sản xuất chè đã thu được kết quả nhất định, đời sống người làm chè từng bước ổn định và phát triển
Đến nay diện tích chè được phân thành 2 vùng nguyên liệu cho chế biến chè đen và cho chế biến chè xanh, cụ thể như sau:
Vùng sản xuất chè đen: 7.978 ha, trong đó có 7.388 ha chè hiện nay đang sinh trưởng khá, cần tập trung chăm sóc thâm canh để đạt năng suất trên 100 tạ/ha;
590 ha diện tích phải phá đi trồng thay thế do mật độ thưa, năng suất thấp
Vùng sản xuất chè xanh 5.022 ha: vùng cao 3.600 ha (diện tích tập trung mật
độ cao 752 ha, diện tích trồng mật độ 3.000 cây/ha là 2.848 ha); vùng thấp là 1.422
ha
Tính đến hết năm 2009, tổng diện tích chè của tỉnh Yên Bái là 12.034,7 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh là 11.093,7 ha
Năng suất năm 2009 đạt 72,9 tạ/ha với sản lượng đạt 80.812 tấn Năm 2010
dự ước 75,7 tạ/ha, sản lượng dự ước đạt 85.000 tấn Chè Yên Bái trong những năm gần đây đã chú trọng đến vấn đề chất lượng sản phẩm thông qua dự án: “Nâng cao
Trang 32chất lượng an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học – QSEAT”
Bảng 2.06 Tình hình sản xuất chè tại Yên Bái Chỉ tiêu
Năm
Tổng diện tích
(ha)
Tổng diện tích chè kinh doanh
(ha)
Năng suất chè
(tạ/ha)
Sản lƣợng chè búp
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái năm 2009) [4]
Năng suất chè của Yên Bái không ngừng tăng lên do người dân được nâng cao về kiến thức trồng và chăm sóc chè Năm 2000 năng suất chè chỉ đạt 50,8 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi là 40.000 tấn Đến năm 2009 năng suất chè đã tăng lên 72,9 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 80.812 tấn
Sản xuất chè 7 tháng đầu năm 2010 có những thuận lợi: Được sự quan tâm sâu sát của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và các Bộ, Ngành Tỉnh duy trì hỗ trợ thông qua nguồn vốn hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp; Hỗ trợ phủ lãi xuất các hộ trồng chè; Hỗ trợ 100% giống chè trồng kế hoạch năm 2010; Hỗ trợ đổi mới công nghệ; Khuyến công và đào tạo nghề, xúc tiến thương mại
Tuy nhiên sản xuất 7 tháng qua cũng gặp nhiều khó khăn: Hạn hán khu vực phía tây và tình trạng mất điện giai đoạn đầu vụ sản xuất ảnh hưởng đến sản xuất, chất lượng nguyên liệu thu hái phần lớn chưa đảm bảo yêu cầu
Trang 33Đến nay, điều kiện thời tiết đã khá thuận lợi (mưa nhiều và rải đều) nên chè sinh trưởng phát triển tốt và tình trạng mất điện đã được khắc phục nên sản xuất chè
ổn định đã đạt được một số kết quả sau:
Sản xuất chè búp tươi ước đạt gần 50.000 tấn Giá chè thu mua từ 2.800 –
3500 đồng/kg, chè nhập nội, chè Shan 5.000 – 6000 đồng/kg; Chế biến đạt trên 9.000 tấn chè các loại, một số đơn vị chế biến đạt 60 – 70% kế hoạch
* Về chế biến chè:
Hiện nay Yên Bái có 93 doanh nghiệp, đơn vị, công ty, hợp tác xã, cơ sở tham gia sản xuất kinh doanh chế biến chè, với tổng công suất chế biến 965 tấn chè búp tươi/ngày (chỉ tính các cơ sở chế biến có công suất từ 3 tấn trở lên), cụ thể: Doanh nghiệp trung ương: 4; Doanh nghiệp tư nhân, Trách nhiệm hữu hạn: 46; Doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài: 2; Hợp tác xã, cơ sở chế biến: 37
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có hàng trăm cơ sở chế biến thủ công bằng máy quay tay (bom sấy chè) trong những ngày vào vụ cũng tiêu thụ từ 100 đến 300
kg chè tươi mỗi ngày Theo tính toàn sơ bộ sản lượng chè búp tươi đáp ứng trên 1 ngày sản xuất mới đạt trên 350 tấn, như vậy công suất chế biến của các nhà máy đã quá 2 lần khả năng cung cấp nguyên liệu
Năm 2009 sản lượng chè búp tươi sản xuất đạt 80.812 tấn, chế biến đạt 18.460 tấn, trong đó chế biến chè đen OTD đạt 14.230 tấn, chè đen CTC 2.100 tấn, chè xanh 2.130 tấn Xuất khẩu trực tiếp và ủy thác 1.017 tấn, đạt giá trị 1.257,8 nghìn USD [32]
* Về tiêu thụ sản phẩm chè:
Hiện tại chủ yếu sản phẩm chè trên địa bàn tỉnh được tiêu thụ chủ yếu thông qua Tổng công ty chè Việt Nam, Hiệp hội chè và các đơn vị trung gian, việc xuất khẩu trực tiếp và ủy thác còn ở mức thấp (khoảng trên 1.000 tấn/năm) Tuy sản phẩm chè của tỉnh được tiêu thụ hết, song thiếu sức cạnh tranh trên thị trường và việc tìm kiếm mở rộng mới thị trường tiêu thụ còn hạn chế
Tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tăng cường xúc tiến thương mại, tìm thị trường tiêu thụ chè, thông qua việc hỗ trợ kinh phí tham gia các
Trang 34hội chợ chè trong nước, quảng bá sản phẩm chè ở nước ngoài, các doanh nghiệp xuất khẩu được khối lượng lớn, hoặc ký kết được hợp đồng xuất khẩu lâu dài được khen thưởng Đã tổ chức các doanh nghiệp tham dự hội chợ Việt Trung; Hội chợ Trung Việt; Hội chợ EXPO thành phố Hồ Chí Minh; Hội chợ Sầm Sơn; Lễ hội văn hóa Trà Hà Giang; khảo sát thị trường Trung Quốc, Đài Loan
* Về cơ chế chính sách, đầu tư và chỉ đạo sản xuất:
Tổng kinh phí hỗ trợ sản xuất chè năm 2006 – 2009 là: 16,184 tỷ đồng Trong đó: Kinh phí hỗ trợ từ ngân sách tỉnh cho chương trình trồng mới và trồng cải tạo thay thế chè cũ, chi phí quản lý đào tạo, xây dựng vườn ươm, hỗ trợ phủ lãi xuất trồng mới chè: 14.800 triệu đồng; Hỗ trợ đổi mới thiết bị, công nghệ: 1.310 triệu đồng (Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương); Hỗ trợ xúc tiến thương mại (xây dựng thương hiệu: 6 đơn vị, Xây dựng Website: 1 đơn vị; Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng: 1 đơn vị): 136 triệu đồng; Hỗ trợ đào tạo nghề: 336 triệu đồng;
Hỗ trợ cho sản phẩm xuất khẩu chè trực tiếp: 110 triệu đồng; Hỗ trợ lãi suất tiền vay đối với sản phẩm chè: 802 triệu đồng
* Về cơ cấu giống chè:
Cơ cấu giống: Chè Shan 2.850 ha chiếm 22,5% tổng diện tích chè toàn tỉnh; Chè lai LDP 1.555 ha chiếm 12,3% tổng diện tích chè toàn tỉnh; Chè nhập nội 1.630
ha chiếm 12,8 % tổng diện tích chè của tỉnh; Chè trung du 6.000 ha chiếm 47,5% tổng diện tích chè của tỉnh Từ năm 2006 – 2010 đã tổ chức giâm ươm 53 triệu bầu giống chè các loại, trồng mới, trồng thay thế chè cũ đạt 2.326,3 ha [32]
* Mục tiêu sản xuất chè giai đoạn năm 2011 đến 2015:
Tổng diện tích chè năm 2015 ổn định ở mức 12.500 ha (diện tích giảm do điều chỉnh diện tích chè vùng cao); Năng suất chè búp tươi đạt 85 tạ trở lên; Sản lượng chè búp tươi đạt 110.000 tấn/năm trở lên; Trồng cải tạo, thay thế chè cũ 1.000 ha bằng các giống chè tiến bộ; Sản phẩm chè chế biến các loại đạt từ 22 – 24 ngàn tấn, trong đó sản phẩm chè xanh đạt 30%, sản phẩm chè đen 70% [32]
2.3.2.4 Tình hình sản xuất chè của huyện Trấn Yên
Trang 35Hiện nay huyện Trấn Yên có 2.199 ha chè trong đó diện tích chè đang trong giai đoạn kinh doanh là 1.923 ha, đứng thứ hai về diện tích sau huyện Yên Bình Với sản lượng chè búp tươi năm 2008 đạt 14.616 tấn đứng thứ ba sau huyện Văn Chấn và Yên Bình
Năng suất chè của huyện Trấn Yên không ngừng tăng do nhận thức của người dân về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây chè được nâng cao Năm 2005 năng suất chè chỉ đạt 58 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi là 14.059 tấn Đến năm 2009 năng suất chè đạt 79,6 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 15.554 tấn, giá trị sản xuất cây chè tăng nhanh, thể hiện qua bảng 2.07 như sau:
Bảng 2.07 Tình hình sản xuất chè của huyện Trấn Yên Chỉ tiêu
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái năm 2009) [4]
Về cơ cấu: Chủ yếu vẫn là giống chè trung du, trong những năm gần đây thực hiện đề án phát triển cây chè của UBND tỉnh Yên Bái, Trấn Yên đã từng bước
mở rộng diện tích trồng mới bằng các giống chè cành giống mới, đến nay đã trồng khoảng 300 ha chiếm 13,6% tổng diện tích
Trang 36Về chế biến – tiêu thụ: Trên địa bàn huyện có 11 cơ sơ chế biến chè, cụ thể: chế biến chè xanh có 2 cơ sở, công suất 10 – 20 tấn/ngày; Chế biến chè đen có 9 cơ
sở với công suất 100 – 145 tấn/ngày
Sản phẩm chè chủ yếu nội tiêu, trong huyện, tỉnh và trong nước thông qua các tư thương và các công ty thu mua để xuất khẩu
Cây chè là một trong 5 cây trồng chính của huyện, được xác định là cây kinh
tế mũi nhọn vừa là cây xóa đói vừa là cây làm giàu cho các hộ nông dân Do vậy sản xuất chè luôn được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cùng các Sở, Ban, Ngành từ tỉnh đến huyện
2.3.2.5 Đánh giá tình hình chung về sản xuất chè ở nước ta
* Những thành tựu:
- Chè Việt nam phát triển theo hướng tăng dần cả về diện tích và sản lượng, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, đã hình thành những vùng sản xuất tâp trung, duy trì được những vùng chè đặc sản Chất lượng chè ngyên liệu không ngừng được nâng cao, tỷ lệ giống mới chất lượng cao trong cơ cấu giống chè Việt Nam ngày càng tăng
- Công nghiệp chế biến đã có những chuyển biến khá mạnh Các công ty liên doanh và hợp tác với nước ngoài đã thu hút được hàng triệu USD vốn đầu tư, trang
bị được những thiết bị kỹ thuật công nghệ mới và hiện đại, đã có được những giống chè mới chất lượng cao góp phần mở rộng thị trường, thúc đẩy ngành chè Việt Nam phát triển cải thiện đời sống người lao động như liên doanh chè Phú Bền tại Phú Thọ (với Bỉ), Mộc Châu – Sơn La, Sông Cầu – Thái Nguyên, Hà Tây, Lâm Đồng, Yên Bái… với Đài Loan và Nhật Bản, với Iraq tại Thanh Sơn – Phú Thọ
- Thông qua các chương trình quốc gia đến nay nước ta có khoảng 2.000 ha được trồng mới bằng giống chè nhập nội So với năm 1999 có khoảng 10% diện tích chè trồng mới
- Nhờ sự giúp đỡ và chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngành chè đã mở rộng thị trường xuất khẩu, sản lượng chè xuất khẩu ngày càng cao Năm 2009 sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 134 nghìn tấn
Trang 37với kim ngạch xuất khẩu đạt 179,5 triệu USD, tăng 28,4% về lượng và tăng 22% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái
- Năng suất chè của Việt Nam còn thấp so với thế giới (Việt Nam 1.270 kg khô/ha, thế giới 1.331 kg khô/ha)
- Giá trị xuất khẩu thấp so với bình quân của thế giới, Việt Nam chỉ bằng 50,6% so với thế giới (Việt Nam đạt 1,23 USD/kg, thế giới đạt 2,43 USD/kg) Đây cũng chính là lý do khiến Việt Nam hiện đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới
về sản lượng chè cũng như xuất khẩu, nhưng tên tuổi vẫn chưa được người tiêu dùng trên thế giới biết đến
- Hiệu quả sản xuất chè chưa cao, mức độ thâm canh chưa đều, chủ yếu vẫn theo hướng thâm canh tăng năng suất, chất lượng chè nguyên liệu chưa được chú trọng
- Quá trình canh tác thiếu phân bón hữu cơ đặc biệt là phân bón qua lá và bón quá nhiều phân hóa học dẫn đến tình trạng đất đai bị nghèo kiệt dinh dưỡng và chai cứng, độ pH trong đất tăng cao
2.4 Nhu cầu dinh dƣỡng và vai trò của các yếu tố dinh dƣỡng đối với cây chè
2.4.1 Nhu cầu dinh dưỡng
Cây chè thích hợp trồng trên đất chua vừa đến ít chua, độ dày tầng đất càng sâu thì cây chè sinh trưởng, phát triển càng tốt và tuổi thọ của cây chè càng kéo dài
So với các cây trồng khác thì cây chè có khả năng sống ở những nơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt dinh dưỡng mà vẫn cho thu nhập Tuy nhiên muốn cây chè cho năng suất
Trang 38cao, chất lượng tốt có nhiệm kỳ kinh tế dài thì cần phải bón phân đầy đủ sao cho đất trồng chè cần phải đạt những yêu cầu sau:
Mối quan hệ giữa đất đến năng suất, phẩm chất chè rất phức tạp, phẩm chất
do nhiều yếu tố quyết định Điều kiện dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, phẩm chất chè, do vậy ngoài việc sử dụng nguồn dinh dưỡng sẵn có ở trong đất thì việc bón phân cho chè là một biện pháp có hiệu quả
Phân bón có vai trò quan trọng đối sinh trưởng và năng suất chè Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho thấy: Hiệu quả của phân bón cho chè chiếm từ 50 – 60% tổng hiệu quả của các biện pháp nông học đối với năng suất chè
2.4.2 Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng
*Dinh dưỡng đạm đối với chè:
Đối với cây lấy lá nói chung và cây chè nói riêng thì dinh dưỡng đạm là yếu
tố quan trọng có tương quan chặt chẽ đến năng suất, bón đạm thúc đẩy sự phát triển của cây, giúp cho búp, lá phát triển, lá to xanh, quang hợp tốt dẫn đến năng suất, sản lượng chè tăng
Các thí nghiệm tại Trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: Bón đạm làm tăng năng suất từ 2 – 2,5 lần so với đối chứng không bón [17]
Về phẩm chất: Các tài liệu Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằng bón
N không hợp lý (bón quá nhiều hoặc bón đơn độc) làm giảm phẩm chất chè, đặc biệt là sản xuất chè đen Bón quá nhiều N làm cho hàm lượng tanin, cafein giảm, protein tăng, hàm lượng ancaloit tăng, chè có vị đắng [17]
Theo dõi của Assam thấy rằng hiệu lực của đạm tăng đều đặn theo thời gian, hiệu suất 1 kg đạm của lần 1,2, 3, 4 lần lượt là 2, 4, 6, 8 kg chè khô Ở Đông Phi
Trang 39cho thấy: Hiệu suất của 1 kg đạm là 4 – 8 kg chè khô, nếu hiệu suất là < 4 kg chè khô/1 kg đạm thì đã xuất hiện một yếu tố nào khác là lân hay kali
Theo M.L.Bziava (1973) liều lượng bón đạm tăng, sản lượng búp sẽ tăng, song để đạt được năng suất 10 tấn/ha thì bón 200 kg N là hiệu quả nhất [17]
* Dinh dưỡng kali đối với cây chè
Kali có trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân, cành và các bộ phận đang sinh trưởng Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây làm tăng khả năng hoạt động của các men, tăng sự tích lũy gluxit, các axitamin và khả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng suất, chất lượng búp chè, làm tăng khả năng chống bệnh, chịu rét cho chè
Thiếu kali rìa lá có vết nâu, búp nhỏ, lá nhỏ, rụng lá nhiều Ở những nương chè mới trồng, phân bón kali thường có hiệu quả thấp vì trong đất hàm lượng kali còn cao (khoảng 20 – 25 mg K2O/100g đất) còn đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây [17]
Về chất lượng chè, kali lại ảnh hưởng rất rõ đến chất lượng chè, theo AD.Makharobitze (1948) cho thấy: Phẩm chất trong các công thức được xếp theo thứ tự P, K, N và sau cùng là phân bón
Quy trình bón phân cho chè của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam năm 1988 quy định: Năng suất đạt 60 - 100 tạ/ha, bón 80 - 100 kg K2O/ha, năng suất > 100 tạ/ha bón 100 - 120 K2O/ha [17]
* Dinh dưỡng lân đối với cây chè
Theo Enden (1958), trong búp non của chè có 1,5% P205 Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng trong việc tích luỹ năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét và chống hạn cho chè Thiếu lân lá chè xanh thẫm và có vết nâu hai bên gân chính, búp nhỏ, năng suất thấp [17]
Các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô, Việt Nam và nhiều nước khác cho thấy: Bón lân làm tăng năng suất chè rõ rệt, đặc biệt bón lân trên nền N, K Đất mà thiếu
N, K cũng làm giảm hiệu quả của phân lân đối với chè Điều đáng chú ý là bón lân
Trang 40có hiệu quả phải tương đối dài, thậm chí đến 20 – 25 năm sau Theo nghiên cứu của F.Hurisa (Liên Xô) thì hiệu quả trực tiếp của 3 năm bón lân và liều lượng 120 – 960 kg/ha trên nền N, K tăng sản lượng búp 5 – 30% so với đối chứng chỉ bón N, K song hiệu quả tăng, sản lượng bình quân 21 năm về sau là 60 – 78% [17]
Kết quả sơ bộ thí nghiệm 10 năm bón N,P,K cho chè của trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: Trên cơ sở bón 100 N/ha, 50 P2O5/ha trong từng năm không có chênh lệch đáng kể về năng suất nhưng từ năm thứ 7 trở đi thì bội thu do phân bón
là rất rõ rệt và chắc chắn, bình quân 10 năm 1 kg P2O5 làm tăng được 3,5 kg chè búp tươi [17]
Kết quả nghiên cứu của Curxanop (1954) và T.C.Migaloblisvili (1966) ở Liên Xô đã khẳng định bón phân lân trên nền N, K làm tăng Catechin trong búp chè
có lợi cho chất lượng chè
Trong đất nếu hàm lượng P2O5 là 30 – 32 mg/100g đất thì cây chè sinh trưởng bình thường, nếu là 10 – 12 mg/100g đất thì thiếu lân
Quy trình bón P2O5 của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam 1988 quy định 5 năm bón P2O5 1 lần với liều lượng 100 kg/ha bón kết hợp với phân chuồng sau khi đốn, bón sâu khoảng 20 – 30 cm [17]
* Phân bón hữu cơ cho chè
Đối với chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật học trong đất, làm tăng các thành phần dinh dưỡng N, P,
K và các nguyên tố vi lượng khác trong đất
Tuy vậy việc sử dụng phân hữu cơ cho chè ít được quan tâm, nhất là đối với vùng miền núi do địa hình khó vận chuyển, nguồn phân hữu cơ còn hạn chế, người dân không biết kỹ thuật chế biến phân xanh ủ phân hữu cơ tại chỗ Bón phân hữu cơ cho chè có hiệu quả và cần thiết nhất là khi cây chè còn nhỏ và khi gieo trồng Do
đó khi gieo trồng chè nhất thiết phải bón đầy đủ lượng phân hữu cơ hoặc trồng xen với các loại cây họ đậu làm tăng lượng chất hữu cơ cho đất