1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai

47 326 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Giải Pháp Thúc Đẩy Xuất Khẩu Của Công Ty Dệt Minh Khai
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngành Dệt May
Thể loại Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 634,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp

hóa- hiện đại hóa đất nước, đồng thời từng bước tham gia hội nhập nền kinh tế

khu vực và thế giới, việc đẩy mạnh xuất khẩu được Nhà nước đặc biệt coi trọng

Xuất khẩu phát triển đã đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước, giải quyết

công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, thúc đẩy các ngành công nghiệp khác

phát triển

Ngành dệt may nước ta là một ngành công nghiệp mũi nhọn trong quá

trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước Công ty dệt Minh Khai là một

trong những doanh nghiệp dệt của Nhà nước đứng đầu trong ngành công nghiệp

nhẹ Hà Nội, đã có những thành tựu đáng kể trong công cuộc đổi mới Trong thời

gian qua Công ty dệt Minh Khai luôn hoàn thành nhiệm vụ sản xuất và các chỉ

tiêu kinh tế do Nhà nước giao và ngày càng chiếm lĩnh các thị trường khó tính

như Nhật Bản, EU, Mỹ…đồng thời tạo được uy tín của công ty trên thị trường

quốc tế Tuy nhiên, trong bối cảnh tự do hoá thương mại ngày nay, công ty đang

vấp phải sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cạnh tranh lớn mạnh trong ngành

dệt may là Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia…đặc biệt là Trung Quốc Đây là

thách thức to lớn đòi hỏi công ty phải có biện pháp giải quyết, nhằm tăng sức

cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao uy tín của công ty trên trường quốc

tế

Sau một thời gian thực tập tìm hiểu tại công ty và những kiến thức tích

luỹ được ở nhà trường đã giúp em viết thu hoạch thực tập tốt nghiệp “Thực

trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của Công ty dệt Minh Khai” Em

mong muốn những giải pháp mà em đề xuất dưới đây sẽ giúp công đạt được

những kết quả cao hơn trong hoạt động xuất khẩu

Báo cáo thực tập tốt nghiệp này gồm các nội dung sau :

Trang 2

Chương 1: Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu và vai trò của nó đối

với nền kinh tế quốc dân

Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty dệt Minh Khai

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của Công ty dệt Minh Khai

Có được nội dung và sự thành công của bản báo cáo thực tập tốt nghiệp

này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng

dẫn và các cô chú trong phòng Kế hoạch thị trường – Công ty dệt Minh Khai

trong quá trình em thực tập và hoàn thành đề tài này

Do thời gian thực tập có hạn và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế

nên bản báo thực tập tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót Vậy em

kính mong được sự giúp góp ý của các thầy cô và các bạn sinh viên để em có

điều kiện hoàn thiện hơn nữa kiến thức của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

1 Khái niệm

Xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá của quốc gia này cho một quốc

gia khác trên cơ sở thanh toán bằng tiền tệ Hàng hoá được vận chuyển qua biên

giới quốc gia, tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai quốc gia

Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất

hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển

Hoạt động xuất khẩu khác với hoạt động buôn bán trong nước Nếu như

trong buôn bán nội địa, hàng hóa chỉ được vận chuyển trong phạm vi một quốc

gia, đồng tiền thanh toán là đồng nội tệ của quốc gia đó và các bên chủ thể có

chung quốc tịch thì trong hoạt động xuất khẩu, hàng hoá được vận chuyển qua

biên giới quốc gia, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên

và các bên chủ thể phải có quốc tịch ở hai nước khác nhau

Hoạt động xuất khẩu, diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh

tế, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến dịch vụ, tư liệu sản xuất, máy móc

thiết bị và kỹ thuật công nghệ cao Tất cả các hoạt động đó đều nhằm mang lại

lợi ích kinh tế cho các quốc gia tham gia

2 Bản chất

Hoạt động xuất khẩu là một trong những hình thức biểu hiện của hoạt

động kinh doanh thương mại quốc tế Nó được biểu hiện thông qua trao đổi

hàng hoá dịch vụ của một nước này cho nước khác và dùng tiền tệ làm phương

Trang 4

tiện trao đổi Đằng sau việc trao đổi này là mối quan hệ xã hội phản ánh sự phụ

thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các

quốc gia Với ý nghĩa đó, hoạt động xuất khẩu đóng vai trò trong việc khai thác

tiềm năng của đất nước

Hoạt động xuất khẩu rất cần thiết vì nó mở rộng khả năng tiêu dùng của

nước nhập khẩu và khai thác được lợi thế so sánh của nước xuất khẩu Thực tế

cho thấy, một quốc gia cũng như một cá nhân không thể sống riêng rẽ, biệt lập

với bên ngoài mà vẫn tồn tại và phát triển được Thương mại quốc tế cho phép

đa dạng hoá các mặt hàng tiêu dùng với chất lượng và số lượng cao hơn so với

ranh giới của khả năng sản xuất trong nước, khi thực hiện chế độ tự cung tự cấp,

không buôn bán với nước ngoài Vì vậy, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc

gia ngày càng tăng Tuy nhiên, xét một cách cụ thể hơn thì nguyên nhân cơ bản

và sâu xa của việc trao đổi mua bán đó là xuất phát từ sự đa dạng về điều kiện tự

nhiên nên một nước có thể chuyên môn sản xuất một số mặt hàng có lợi thế hơn

và xuất khẩu để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác nhằm mục đích lợi nhuận

Nhưng sự khác nhau về điều kiện sản xuất chỉ là một trong những lý do để thúc

đẩy các nước mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán với nhau Quan trọng hơn cả là

hai bên cùng có lợi do có sự khác nhau về sở thích và lượng cầu đối với hàng

hoá Chính vì vậy, nước ta mặc dù với xuất phát điểm thấp và chi phí sản xuất

hầu như lớn hơn tất cả các mặt hàng của các cường quốc kinh tế, chúng ta vẫn

có thể duy trì quan hệ thương mại với các nước đó Trong những năm qua, vấn

đề phát triển ngoại thương nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng luôn là

mục tiêu chiến lược để phát triển kinh tế được Đảng và Nhà nước ta luôn coi

trọng và đặt lên hàng đầu

II VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

1 Sơ lược tình hình xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua

Từ khi Nhà nước ta bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt

Nam đã bước đầu đi vào phát triển ổn định Tốc độ phát triển kinh tế bình quân

Trang 5

trong giai đoạn 1991-1995 đạt 8,2%; giai đoạn 1996-2000 đạt 6,7%; tổng sản

phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hàng năm trong 10 năm là 7,5% (chiến

lược đề ra 6,9-7,5%) Có được những kết quả đó một phần là do sự đóng góp

của các hoạt động kinh tế đối ngoại Hoạt động ngoại thương của Việt Nam,

trong đó có hoạt động xuất khẩu, đã có bước tăng trưởng đáng kể Nếu chỉ xét

riêng về xuất khẩu, cũng đã thấy rõ những tiến bộ đáng kể qua các thời kỳ

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam qua các năm

(Đơn vị: triệu USD)

Giá trị 5.448,9 7.255,9 9.185 9.361 11.523 14.455 15.100 16.530

(Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam)

Như vậy, từ 95 đến nay kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng đều qua

các năm Sở dĩ có được những kết quả như vậy là do Việt Nam đẩy mạnh xuất

khẩu các mặt hàng chủ lực Cụ thể:

+ Dầu thô tăng với tốc độ cao, đạt 3,5 tỷ USD (2000); 2,71 tỷ USD

(2002), tăng 37,2% Đây là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm qua

+ Các sản phẩm dệt may đứng ở vị trí thứ 2 nhưng tốc độ tăng không cao,

đạt 1,82 tỷ USD vào năm 2000

+ Tiếp theo là các mặt hàng thuỷ sản đạt 1,48 tỷ USD (2000), giầy dép đạt

1,4 tỷ USD (2000) và 1,82 tỷ USD (2002)…

Ngoài ra tỷ trọng của các nhóm hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch qua

các giai đoạn Từ 1991- 2000, tỷ trọng nhóm hàng nông lâm thuỷ sản có xu

hướng giảm dần trong cơ cấu xuất khẩu chiếm hơn 68% trong năm 1986 nhưng

đến năm 2000 thì chỉ chiếm 19,8% Trong đó nhóm hàng công nghiệp nặng và

khoáng sản tăng dần qua các năm đạt 35,6% vào năm 2000 Sự thay đổi này là

do Việt Nam tăng dần xuất khẩu dầu thô Hàng công nghiệp và thủ công mỹ

nghệ cũng có xu hướng tăng dần đạt mức 34,3% vào năm 2000 Tỷ trọng hàng

nguyên liệu thô giảm và tỷ trọng mặt hàng qua chế biến tăng giúp cho giá trị

xuất khẩu của Việt Nam tăng lên Bởi khi xuất hàng nguyên liệu thô, ngoại tệ

Trang 6

thu về thấp đồng thời lại không thúc đẩy được nền sản xuất trong nước phát triển

và tạo việc làm cho người lao động

Sự biến động của tình hình kinh tế khu vực và thế giới cùng với sự

chuyển dịch khá tích cực trong cơ cấu xuất khẩu đã kéo theo sự thay đổi về thị

trường xuất khẩu Thị trường xuất khẩu so với thời kỳ trước những năm 90 đã

được mở rộng nhanh theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá Kim ngạch xuất

khẩu của Việt Nam vào các nước Châu Á tăng đều Trong khi kim ngạch xuất

khẩu vào Châu Âu và đặc biệt là Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô (cũ) giảm

mạnh vào những năm 80 và nửa đầu năm 1990 thì kim ngạch xuất khẩu sang

Châu Mỹ và Châu Đại Dương lại có xu hướng tăng lên trong những năm gần

đây Tỷ trọng thị trường xuất khẩu năm 1999 là Châu Á 57,7%, Châu Âu 28),

EU 21,7% và Nhật Bản là 15,5% Đây là sự đổi mới trong đường lối phát triển

kinh tế và chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta

Nhìn vào tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu qua các năm ta thấy được

những tín hiệu đáng mừng, nhưng đồng thời cũng thấy được những thách thức

mà các mặt hàng xuất khâủ của ta sẽ gặp phải khi gia nhập sâu hơn vào thị

trường thế giới Do vậy đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách đúng đắn kịp thời

và các doanh nghiệp phải tự nỗ lực vươn lên đứng vững trước sự cạnh tranh

mạnh mẽ của các nền kinh tế khu vực và thế giới

2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân

2.1 Xuất khẩu là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, giúp chuyển dịch

cơ cấu kinh tế

Hoạt động xuất khẩu có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết đối với nước

ta Với một nền kinh tế chậm phát triển, cơ sở vật chất, kỹ thuật lạc hậu, không

đồng bộ như nước ta thì việc đẩy mạnh xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm cải

thiện đời sống, tăng thu ngoại tệ, thúc đẩy phát triển kinh tế là một chiến lược

lâu dài Để thực hiện được chiến lược lâu dài đó chúng ta phải nhận thức rõ

được ý nghĩa của việc xuất khẩu hàng hoá:

Trang 7

- Thông qua việc xuất khẩu những mặt hàng có thế mạnh chúng ta có thể

phát huy được lợi thế so sánh, sử dụng hợp lý các nguồn lực, trao đổi các thành

tưu khoa học công nghệ tiên tiến

- Thông qua hoạt động xuất khẩu, tính cạnh tranh được nâng cao nên chất

lượng hàng hoá không ngừng được tăng lên, tạo điều kiện nâng cao năng lực sản

xuất thể hiện nội lực kinh tế của đất nước

Mặt khác hoạt động xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc

đẩy sản xuất trong nước phát triển Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt

các ngành sản xuất khác phát triển, đồng thời cũng thúc đẩy các ngành dịch vụ

hỗ trợ hoạt động xuất khẩu như ngành bảo hiểm, hàng hải, thông tin liên lạc

quốc tế dịch vụ tài chính quốc tế đầu tư Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị

trường tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi mở rộng khả năng cung cấp

đầu tư trở lại cho sản xuất, tạo tiền đề kinh tế kỹ thuật đồng thời nâng cao năng

lực sản xuất trong nước Điều đó chứng tỏ xuất khẩu là phương tiện quan trọng

để tạo vốn đưa kỹ thuật công nghệ nước ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá

nền kinh tế đất nước

2.2 Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn, nguồn ngoại tệ lớn góp phần quan trọng

vào việc cải thiện cán cân thanh toán

Cần khẳng định rằng nhập siêu là tình trạng chung ở các nước đang phát

triển Tình trạng này không dễ khắc phục một sớm một chiều Ở những nước

này, nhu cầu về mọi mặt đều lớn hơn khả năng kinh tế đang có Để thoả mãn

nhu cầu cho phát triển sản xuất và đời sống nhân dân, việc nhập khẩu đòi hỏi

ngày càng mở rộng Tuy nhiên, nhập siêu trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều không

tích cực vì nó sẽ dẫn đến mất cân bằng trong cán cân thương mại từ đó sẽ dẫn

tới sự mất cân bằng trong cán cân thanh toán Điều này trở nên rất nguy hiểm ,

đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế thế giới biến động thường xuyên như hiện nay

Việt Nam là một nước đang phát triển, nhu cầu nhập khẩu là rất lớn Cho

nên việc xuất khẩu ít hơn nhập khẩu là tất yếu Nhưng việc nhập khẩu nhiều như

Trang 8

hiện nay chỉ nên kéo dài trong một thời gian ngắn nữa và cùng với quá trình

phát triển sản xuất thì chúng ta cần đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu Điều này sẽ

tạo thế vững chắc cho sự phát triển kinh tế của đất nước

2.3 Xuất khẩu có tác dụng tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm

và cải thiện đời sống cho người lao động

Việt Nam là một nước có dân số đông, cơ cấu dân số thuộc loại dân số trẻ

Số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số hơn 80 triệu

người Hàng năm, số người trong độ tuổi lao động được bổ sung khoảng 1,5-2

triệu người Việc giải quyết việc làm cho số người này hoàn toàn không đơn

giản Hơn nữa, số dân làm việc trong ngành nông nghiệp của nước ta rất lớn nên

còn phải tính đến số người thất nghiệp theo mùa vụ Thực tế cho thấy vấn đề

thất nghiệp là một vấn đề nan giải mà Việt Nam cũng như nhiều nước khác cần

phải giải quyết

- Xuất khẩu tạo nguồn vốn để nhập khẩu các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu

phục vụ đời sống hàng ngày, nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất lẫn

tinh thần

- Thông qua xuất khẩu, quy mô của các ngành sản xuất hàng xuất khẩu sẽ

được mở rộng, có thêm nhiều ngành nghề mới từ đó thu hút nhiều lao động vào

làm việc

- Xuất khẩu phát triển là tiền đề cho các quan hệ kinh tế đối ngoại khác

như du lịch, xuất khẩu sức lao động, tạo điều kiện đưa lực lượng lao động tham

gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Đây là nhân tố rất quan trọng giải

quyết tình trạng thất nghiệp

2.4 Hoạt động xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy mối quan hệ

kinh tế đối ngoại của nước ta

Với đường lối kinh tế “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng

nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp”, Đảng

ta đã chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, trong đó chủ

Trang 9

động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đẩy mạnh các quan hệ kinh tế đối

ngoại Mặc dù xuất khẩu chỉ là một lĩnh vực của kinh tế đối ngoại nhưng lại có

quan hệ mật thiết với các lĩnh vực còn lại như thu hút đầu tư trực tiếp, vay tín

dụng quốc tế, hợp tác và triển khai công nghệ mới Thực tiễn trong thời gian qua

đã chứng tỏ sự phát triển của hoạt động xuất khẩu và những ngành có liên quan

đã thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ tín dụng- vay nợ quốc tế, đầu tư, mở

rộng vận tải quốc tế…Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại này lại tạo

tiền đề cho mở rộng xuất khẩu

3 Một số hình thức xuất khẩu ở nước ta hiện nay

3.1 Xuất khẩu uỷ thác

Hoạt động xuất khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh

nghiệp trong nước có nhu cầu xuất khẩu một số loại hàng hoá nhưng không đủ

điều kiện để xuất khẩu đã uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng giao dịch

ngoại thương tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài để làm thủ tục xuất

khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và được hưởng một khoản thù lao

gọi là phí uỷ thác

Trong hoạt động xuất khẩu uỷ thác, doanh nghiệp nhận uỷ thác không

phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị

trường tiêu thụ do không phải tiêu thụ hàng mà chỉ phải đứng ra thay mặt bên uỷ

thác tìm và giao dịch với bạn hàng nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục xuất

khẩu hàng hoá cũng như thay mặt bên uỷ thác khiếu nại, đòi bồi thường với bên

nước ngoài khi có tổn thất

3.2 Xuất khẩu tự doanh

Xuất khẩu tự doanh là hoạt động xuất khẩu độc lập của một doanh nghiệp

kinh doanh xuất nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong và ngoài

nước, tính toán đầy đủ chi phí đảm bảo kinh doanh xuất khẩu có lãi, đúng

phương hướng, chính sách, pháp luật của quốc gia cũng như quốc tế

Trang 10

Trong xuất khẩu tự doanh, doanh nghiệp phải đứng mũi chịu sào trước tất

cả mọi việc Doanh nghiệp phải xem xét một cách kỹ càng từ bước nghiên cứu

thị trường đến việc ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng vì doanh nghiệp phải

tự bỏ vốn của mình ra, chịu mọi chi phí và rủi ro có thể xảy ra

3.3 Xuất khẩu liên doanh

Đây là hoạt động xuất khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách

tự nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp khả năng để cùng nhau giao

dịch và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động xuất khẩu,

thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho tất cả các bên,

cùng chia lãi và cùng chịu lỗ

So với hình thức xuất khẩu tự doanh thì trong hình thức này, doanh

nghiệp ít phải chịu rủi tro hơn vì mỗi doanh nghiệp liên doanh xuất khẩu chỉ góp

một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên cũng phân theo

số vốn góp

3.4 Xuất khẩu đổi hàng

Xuất khẩu đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu

của buôn bán đối lưu, nó là hình thức xuất khẩu gắn liền với nhập khẩu, thanh

toán theo hình thức này không phải dùng tiền mà chuyển bằng hàng hoá

Để có thể thực hiện được hình thức xuất khẩu này thì hàng hoá nhập và

hàng hoá xuất phải tương đương nhau về giá trị, tính quý hiếm và phải cân bằng

về giá cả, bạn hàng bán và mua là một

Trên đây là khái quát một số hình thức xuất khẩu được ap dụng phổ biến

ở nước ta hiện nay Bên cạnh đó còn có các hình thức khác nhưng chưa được áp

dụng nhiều

Trang 11

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY DỆT MINH KHAI

Công ty dệt Minh Khai là một doanh nghiệp Nhà nước, một đơn vị lớn

của Sở công nghiệp Hà Nội được thành lập năm 1974 theo quyết định số 25-

QĐUB của UBND thành phố Hà Nội ngày 20-3-1974

Tên Công ty : Công ty dệt Minh Khai

Tên giao dịch quốc tế : Minh Khai Textile Company

Trụ sở chính : 423 Đường Minh Khai-Hà Nội

I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY DỆT MINH KHAI

1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty dệt Minh Khai

Các giai đoạn phát triển của Công ty dệt Minh Khai gắn liền với sự phát

triển của ngành công nghiệp Hà Nội riêng và của nền kinh tế Việt Nam nói

chung

Công ty dệt Minh Khai (trước đây là nhà máy dệt khăn mặt khăn tay)

được khởi công xây dựng từ cuối năm 1960, đầu những năm 1970 Tuy nhiên,

do cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, mãi đến năm 1974, Công ty cơ bản

được xây dựng xong và chính thức thành lập theo quyết định của UBND thành

phố Hà Nội Với sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên trong Công ty, cùng với

sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan, ban ngành cấp thành phố, những năm tiếp

theo, Công ty dần đi vào ổn định, hoàn thiện nhà xưởng, hiệu chỉnh lại máy móc

thiết bị, đào tạo thêm lao động để tăng cường sản xuất Nhiệm vụ chủ yếu lúc

này của Công ty là sản xuất khăn mặt, khăn bông, khăn tắm… phục vụ cho nhu

cầu tiêu dùng nội địa

Từ năm 1981- 1989 là thời kỳ phát triển với tốc độ cao của Công ty

Trong giai đoạn này, để giải quyết khó khăn về vấn đề cung cấp nguyên vật liệu

và thị trường, chủ động sản xuất kinh doanh, Công ty đã chuyển hướng để xuất

khẩu (cả hai thị trường XHCN và TBCN) là chủ yếu Năm 1988, Công ty được

Trang 12

Nhà nước cho phép thực hiện xuất khẩu trực tiếp và là doanh nghiệp đầu tiên ở

miền Bắc được Nhà nước cho phép làm thí điểm về xuất nhập khẩu trực tiếp ra

nước ngoài Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, nền kinh tế nước ta

chuyển mạnh sang cơ chế quản lí mới cùng với việc hệ thống XHCN sụp đổ ở

Đông Âu và Liên Xô (cũ) đã làm cho nhiều doanh nghiệp nhà nước trong đó có

Công ty dệt Minh Khai gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, được sự giúp đỡ của nhà

nước (đặc biệt là Sở công nghiệp Hà Nội) cùng với sự nỗ lực của cán bộ công

nhân viên trong Công ty, Công ty dệt Minh Khai đã đầu tư thêm nhiều trang

thiết bị mới nhằm từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, chăm lo tốt

đời sống cán bộ công nhân viên và hoàn thành nhiệm vụ nhà nước giao

Nhìn lại quá trình gần 30 năm xây dựng và phát triển của Công ty dệt

Minh Khai, tuy có những thăng trầm song Công ty đã khẳng định vị trí của mình

– một doanh nghiệp nhà nước kinh doanh có hiệu quả trong tiến trình phát triển

và đổi mới đi lên của đất nước

2 Chức năng nhiệm vụ của Công ty dệt Minh Khai

Trong quá trình phát triển của mình, Công ty dệt Minh Khai ngay từ khi

mới thành lập đã được Nhà nước giao cho thực hiện chức năng và nhiệm vụ chủ

yếu là sản xuất và kinh doanh các sản phẩm ngành dệt phục vụ cho nhu cầu

trong nước cũng như quốc tế, làm tốt công tác nhập khẩu phục vụ cho nhu cầu

sản xuất, góp phần nâng cao chất lượng hàng hoá, tăng thu ngoại tệ và phát triển

kinh tế đất nước

Với chức năng và nhiệm vụ được giao, trong gần 30 năm qua, Công ty dệt

Minh Khai đã phát huy mọi nguồn lực của mình nhằm khắc phục khó khăn, trở

ngại để Công ty không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, đứng vững trên thương

trường, góp phần thiết thực vào việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh

tế-xã hội của đất nước Công ty dệt Minh Khai luôn cố gắng đẩy mạnh chiến lược

xuất nhập khẩu hai chiều nhằm tận dụng lợi thế so sánh giữa các mặt hàng cũng

như nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất

Trang 13

3 Cơ cấu tổ chức hoạt động của Công ty dệt Minh Khai

Là một doanh nghiệp nhà nước, Công ty dệt Minh Khai tổ chức bộ máy

quản lí theo một cấp, đứng đầu là Ban giám đốc chỉ đạo trực tiếp đến từng đơn

vị thành viên, giúp vịêc cho giám đốc có các phòng ban nghiệp vụ

Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:

- Ban giám đốc: gồm có giám đốc và hai phó giám đốc (PGĐ sản xuất và

PGĐ kỹ thuật) Đây là cơ quan đầu não của Công ty chịu trách nhiệm mọi hoạt

động sản xuất kinh doanh, là nơi đưa ra những định hướng phát triển sự tồn tại

của Công ty

- Giám đốc: là người đứng đầu Công ty, bảo vệ quyền lợi cho nhân viên,

phụ trách chung những vấn đề đối nội, đối ngoại

- Phòng tài vụ: giúp giám đốc thống kê kế toán tài chính, kiểm tra giám

sát tình hình thu chi tài chính, và hướng dẫn chế độ chi tiêu và hạch toán kinh tế

nhằm giảm chi phí, nâng cao việc sử dụng tốt vật tư, đề xuất với giám đốc các

biện pháp tài chính để đạt hiệu quả kinh tế cao

- Phòng kế hoạch thị trường: là phòng nghiệp vụ tham mưu cho giám đốc

trong công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh xuất

nhập khẩu, tổ chức thực hiện tốt công tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty sản

xuất ra và đảm bảo quay vòng vốn nhanh

- Phòng tổ chức: giúp giám đốc xây dựng mô hình tổ chức sản xuất và

quản lí Công ty Phòng tổ chức có nhiệm vụ quản lí số lượng và chất lượng

CBCNV, sắp xếp đào tạo đội ngũ CBCNV trong Công ty nhằm đáp ứng yêu cầu

của nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách của

Nhà nước đối với người lao động …

- Phòng kỹ thuật: nghiên cứu tham mưu giúp đỡ giám đốc về công tác

quản lí sử dụng kế hoạch và biện pháp về dài hạn, ngắn hạn, áp dụng khoa học

kỹ thuật tiên tiến trong thiết kế chế tạo sản phẩm và đưa công nghệ mới vào sản

xuất

Trang 14

- Phòng hành chính y tế: giúp giám đốc trong việc quản lí điều chỉnh mọi

công việc thuộc phạm vi hành chính, tổng hợp các giao dịch, văn thư và truyền

đạt chỉ thị của giám đốc đến các phòng ban phân xưởng, thực hiện công tác

khám chữa bệnh tại chỗ cho CBCNV trong Công ty

Hàng năm, Công ty đều tiến hành các họat động rà soát lại các chức năng

nhiệm vụ của từng phòng ban để sửa chữa, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu

thay đổi của công việc, tránh sự chồng chéo trong họat động của các phòng ban

Sơ đồ bộ máy quản lí của Công ty dệt Minh Khai

4 Đặc điểm sản xuất kinh doanh

4.1 Đặc điểm sản phẩm dịch vụ của Công ty dệt Minh Khai

Sản phẩm của Công ty là sản phẩm thiết yếu đối với người tiêu dùng,

không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng như: khăn mặt,

khăn tắm, màn tuyn…Sản phẩm của Công ty mang tính chất sử dụng nhiều lần,

có tác dụng giữ gìn vệ sinh, và bảo vệ sức khoẻ Sản phẩm tiêu dùng cho cá

Phòng Hành chính

Phân xưởng

Dệt kim

Phân xưởng

Hoàn thành

Trang 15

nhân nên yêu cầu phải bền, mềm, thấm nước, mầu sắc mẫu mã phong phú,

không phai màu, nhiều kích cỡ khác nhau, độ dày mỏng phù hợp

Do nhu cầu thị hiếu tiêu dùng của người dân ngày càng cao, cùng với sự

tiến bộ của khoa học kỹ thuật nên Công ty đã không ngừng cải tiến, thiết kế ra

những mẫu mới Hiện nay cơ cấu sản phẩm của Công ty đã phong phú hơn rất

nhiều và có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu tiều dùng trong nước và thị trường

xuất khẩu (sản phẩm xuất khẩu chiếm xấp xỉ 90 % khối lượng sản xuất ra) Có

hai loại chủ yếu sau: Khăn bông các loại và màn tuyn

Với sản phẩm khăn bông Công ty sản xuất từ nguyên liệu sợi bông 100%

nên có độ thấm nước cao, mềm mại và phù hợp với yêu cầu sử dụng của người

tiêu dùng Đây là nhóm sản phẩm chủ yếu của Công ty, chiếm tới 98% khối

lượng sản phẩm của Công ty, bao gồm :

- Khăn ăn: dùng trong các nhà hàng và gia đình

- Khăn rửa mặt: phục vụ cho nhu cầu trong nước, tiêu thụ qua các nhà

buôn và siêu thị

- Khăn tắm : chủ yếu sản xuất cho nhu cầu xuất khẩu ra thị trường nước

ngoài Hiện nay tiêu thụ khăn tắm trong nước có nhu cầu tăng lên

- Bộ khăn dùng cho khách sạn bao gồm: khăn tắm, khăn mặt, khăn tay,

thảm chùi chân, và áo choàng tắm

- Các loại vải sợi bông sử dụng để may lót và may mũi giầy phục vụ cho

các cơ sở may xuất khẩu như giầy Ngọc Hà, may X40

Với sản phẩm màn tuyn: Công ty sản xuất 100% sợi PETEX đảm bảo cho

màn tuyn có độ bền cao chống được oxy hoá gây màn vàng Loại sản phẩm này

mới được đưa vào sản xuất trong Công ty hơn 10 năm, nên khối lượng sản xuất

ra chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn

4.2 Phương thức sản xuất kinh doanh của Công ty dệt Minh Khai

Với chức năng nhiệm vụ là một doanh nghiệp nhà nước sản xuất các sản

phẩm khăn tay phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu ra nước ngoài và nhu cầu trong

Trang 16

nước Công ty dệt Minh Khai đã có phương thức sản xuất kinh doanh riêng rất

hiệu quả

Hình thức chủ yếu của Công ty là hợp đồng xuất khẩu trực tiếp Công ty

là một trong những doanh nghiệp đầu tiên giành được quyền xuất khẩu trực tiếp

Với hình thức này, Công ty trực tiếp tiếp xúc với khách hàng là các Công ty

thương mại nước ngoài, khi có những thoả thuận trao đổi đi đến thống nhất về

mẫu mã, số lượng sản phẩm, hai bên sẽ chính thức kí kết hợp đồng Phần lớn

mặt hàng khăn bông xuất khẩu của Công ty áp dụng phương thức này

Các mặt hàng khăn bông không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu được tiêu thụ tại

thị trường nội địa chiếm 10% nhưng kích thước, mầu sắc và mẫu mã sản phẩm

không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Công ty chỉ có một vài sản phẩm

sản xuất theo thiết kế phục vụ trong nước Việc tiêu thụ chủ yếu thông qua các

trung gian thương nghiệp như: các Công ty thương mại trong và ngoài nước, các

trung tâm thương mại, các siêu thị ở Hà nội và tư thương Từ đó sản phẩm của

Công ty được bán cho những người mua bán và bán lẻ tới tay người tiêu dùng

Bên cạnh đó, còn có hình thức xuất khẩu uỷ thác Công ty xuất khẩu sản

phẩm thông qua Công ty trung gian trong nước như: Tổng Công ty dệt may Vịêt

Nam (Vinatex), Công ty xuất khẩu thủ công mỹ nghệ (Artexpor) Công ty cũng

kí hợp đồng với các siêu thị ở Hà nội cung cấp các sản phẩm khăn bông để bán

tại các siêu thị này với phương thức giao hàng trước thanh toán tiền khi giao lô

hàng sau

Mặt khác, Công ty cũng nhận sợi, hoá chất, thuốc nhuộm của khách hàng

để tiến hành sản xuất sản phẩm cho khách hàng qua các hợp đồng gia công Loại

hợp đồng này đối với Công ty không nhiều, tùy thuộc vào yêu cầu của khách

hàng nhận gia công, đơn giá gia công, thời hạn giao hàng, định mức tiêu hao

nguyên vật liệu Ngoài ra Công ty còn thực hiện hợp đồng nhận vốn ứng trước

II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY

1 Tình hình xuất khẩu của Công ty trong thời gian qua

Trang 17

Đối với Công ty dệt Minh Khai, hoạt động xuất khẩu được coi là hoạt

động quan trọng nhất của Công ty Doanh thu xuất khẩu luôn chiếm tỷ trọng lớn,

từ 80-85% tổng doanh thu hàng năm

Để có thấy rõ tình hình xuất khẩu của Công ty chúng ta phải đi vào phân

tích thực trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty trong những năm qua theo các

tiêu thức sau:

1.1 Phân tích tình hình xuất khẩu theo thị trường xuất khẩu

Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thì thị trường là vấn đề quan tâm hàng

đầu của Công ty Thị trường có ý nghĩa quyết định tới sự sống còn của Công ty

vì thị trường liên quan tới các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng chiến

lược kinh doanh xuất khẩu cũng như các hoạt động khác Vì vậy, Công ty phải

biết lựa chọn, đánh giá và phân tích những thị trường có triển vọng nhất để xây

dựng chiến lược cạnh tranh phù hợp

Bảng 2: Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo thị trường giai đoạn 1998-2002

Thị trường Nhật Bản là thị trường truyền thống của Công ty và cũng là

một trong những thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam

Công ty đã thiết lập và duy trì mối quan hệ làm ăn với các khách hàng Nhật Bản

trong một thời gian dài, từ năm 1983 cho tới nay Nhật Bản đã trở thành bạn

hàng truyền thống của Công ty Công ty xuất khẩu sang Nhật Bản những sản

Trang 18

phẩm khăn bông bao gồm khăn ăn, khăn mặt, khăn tắm, khăn Jacquard, áo

choàng tắm các loại phong phú về kiểu dáng và mẫu mã

Giá trị kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang thị trường này luôn chiếm

một tỷ trọng cao nhất khoảng 90% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty

hàng năm (xem bảng 2) Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang

Nhật Bản đạt 3,01 triệu USD chiếm tỷ trọng 91,74% trong tổng kim ngạch xuất

khẩu Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu tăng lên 3.587.000 USD tức là chiếm

88,6% và sang đến năm 2001 con số này đã tăng lên 4.240.000 USD đạt tỷ trọng

91,38%

Tuy nhiên, mức tăng kim ngạch xuất khẩu của Công ty trên thị trường

Nhật Bản không đều và không ổn định Sở dĩ có tình trạng như vậy là vì hiện

này Công ty đang vấp phải sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cạnh tranh lớn

mạnh trong lĩnh vực xuất khẩu hàng dệt may là Trung Quốc, Thái Lan,

Indonesia… Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản năm 2002 giảm

xuống còn 4.038.000 USD tức là chỉ bằng 95% so với năm 2001

(4.240.000USD) Nguyên nhân là do có sự cạnh tranh về giá giữa các Công ty

xuất khẩu hàng dệt may ở Việt Nam, các Công ty này liên tục tự giảm giá để

cạnh tranh, giành quyền được ký hợp đồng xuất khẩu, nên giá xuất khẩu của

Công ty giảm Mặt khác các đối tác phía Nhật Bản khi sang đàm phán ký kết

hợp đồng xuất khẩu thường đưa ra mức giá giao dịch rất rẻ là mức giá mà Trung

Quốc xuất khẩu vào Nhật Bản để gây sức ép buộc Công ty phải giảm giá theo

họ Hơn nữa, chính phủ Nhật Bản hiện nay đang có ý định hạn chế nhập khẩu

mặt hàng dệt nên Bộ Thương Mại Việt Nam đã yêu cầu các Công ty Việt Nam

xuất khẩu sản phẩm dệt vào thị trường Nhật Bản phải hạn chế số lượng xuất

khẩu để phía Nhật Bản không áp dụng biện pháp tự vệ tức là hạn chế nhập khẩu

nữa

Qua phân tích tình hình xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản của Công ty,

chúng ta có thể thấy trở ngại lớn nhất của Công ty đối với việc đẩy mạnh hoạt

Trang 19

động xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đó là vấn đề khả năng cạnh tranh của

Công ty Các sản phẩm khăn bông của Trung Quốc mặc dù có chất lượng không

cao hơn so với chất lượng sản phẩm cuả Công ty nhưng lại có lợi thế là giá cả

xuất khẩu rẻ hơn Trong khi đó để sản xuất khăn bông xuất khẩu, Công ty phải

nhập nguyên liệu từ nước ngoài, hơn nữa phải đầu tư nhiều để đổi mới thiết bị

công nghệ sản xuất nên chi phí giá thành sản xuất sản phẩm mới đội lên cao,

làm cho sản phẩm của Công ty có giá bán cao Đặc biệt là Trung Quốc vừa mới

gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO nên thuế xuất khẩu các sản

phẩm của Trung Quốc cũng được giảm nhiều Đây là một bất lợi lớn đối với

toàn ngành dệt may Việt Nam cũng như đối với Công ty, buộc Công ty phải có

biện pháp đối phó với vấn đề này

Một vấn đề nan giải đối với Công ty và cũng là bài toán khó đối với các

doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đó là vấn đề thương hiệu Trong tương lai

Công ty nhất định phải giải quyết được vấn đề này để nâng cao khả năng cạnh

tranh của Công ty nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Công ty sang thị

trường Nhật Bản

* Thị trường EU

Quan hệ thương mại Việt Nam EU đang ngày càng phát triển và có triển

vọng tốt đẹp Hiện nay EU là thị trường nhập khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch

lớn nhất của Việt Nam Từ những năm 1980 Việt Nam đã thực hiện xuất khẩu

hàng dệt may sang một số nước thành viên EU như Đức, Pháp, Anh xuất khẩu

hàng dệt may của Việt Nam sang EU đặc biệt phát triển mạnh từ khi có hiệp

định buôn bán hàng dệt may Việt Nam EU

Đối với Công ty dệt Minh Khai, thị trường EU chỉ chiếm một phần rất

nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường của Công ty Theo đánh

giá của Công ty phần tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU chỉ đạt

khoảng 3-5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu

Công ty xuất khẩu sang thị trường EU các mặt hàng khăn tắm, khăn mặt,

Trang 20

khăn ăn, thảm chùi chân, áo choàng tắm và một số loại khăn Jacquard

Qua bảng 2, ta thấy kim ngạch xuất khẩu vào EU của Công ty không ổn

định mức tăng trưởng hàng năm không đều, biến đông tăng giảm khác nhau

Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu vào EU của Công ty đạt 118.402USD Tuy đây

là con số còn khá khiêm tốn song cũng đã nói lên thành công bước đầu của

Công ty trong quá trình thâm nhập vào EU Vì EU là thị trường khá mới mẻ đối

với Công ty nên hiểu biết về thị trường này còn nhiều hạn chế Thông tin mà

Công ty có được về thị trường EU chủ yếu là từ các ấn phẩm tạp chí của bộ

thương mại và các Công ty của các thương nhân Việt kiều sống ở các nước EU

Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu sang EU tăng lên 302.100USD Đây là

một dấu hiệu đáng mừng, cho thấy Công ty hoàn toàn có khả năng thâm nhập

vào thị trường EU Tuy nhiên sang những năm tiếp theo thì kim ngạch xuất khẩu

vào EU của Công ty lại bị giảm xuống Năm 2000 giá trị kim ngạch xuất khẩu

sang EU là 206.140USD năm 2001 có tăng lên đôi chút, đạt 250.000USD và

trong năm 2002 vừa qua kim ngạch xuất khẩu lại giảm xuống chỉ đạt ở mức

220.000USD

Nguyên nhân của sự giảm sút trong kim ngạch xuất khẩu của Công ty

sang EU là do:

- Năm 2000 đồng EURO của Châu Âu bị sụt giảm giá trên 20% so với

đồng USD Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc nhập khẩu và tiêu thụ

hàng hoá nhập khẩu nói chung và hàng dệt may nói riêng của Việt Nam trên thị

trường này.Vì thế số lượng sản phẩm xuất khẩu của Công ty dệt Minh Khai

cũng bị giảm xuống

- Sau khủng hoảng khu vực các nước xuất khẩu hàng dệt may lớn như

Indonesia, Thái lan, Ấn Độ, đã phục hồi, cùng với Trung Quốc bắt đầu các

chương trình phát triển mới mạnh mẽ hơn trước đây bằng việc đổi mới công

nghệ, trang thiết bị, khuyến khích đầu tư, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực nên

đã nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh cho các sản

Trang 21

phẩm của họ Trong khi đó Việt Nam, sau cuộc khủng hoảng thì giá nhân công

Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất hàng dệt may xuất khẩu lại trở nên cao hơn so

với Trung Quốc và các nước khác trong khu vực Do đó giá hàng dệt may xuất

khẩu của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực khoảng 10-15% và cao hơn

giá hàng Trung Quốc 20% Hơn nữa, năng suất lao động công nhân Việt Nam

còn thấp chỉ bằng 50-70% so với các nước trong khu vực Với khả năng xuất

khẩu hàng dệt may như vậy Việt Nam không thể tránh khỏi sự cạnh tranh gay

gắt với các đối thủ cạnh tranh lớn mạnh trên thị trường EU

- Việt Nam mới thâm nhập vào thị trường EU nên hiểu biết về thị trường

của Công ty còn quá ít ỏi, thiếu thông tin về thị trường giá cả, thị hiếu và mặt

hàng được ưa chuộng, kinh nghiệm thương trường còn thiếu Công ty thực hiện

xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU chủ yếu thông qua một số các Công ty

thương mại trung gian trong nước như Tổng công ty dệt may Việt Nam Vinatex,

Tổng công ty xuất nhập khẩu mỹ nghệ Artexport và các công ty của thương

nhân Việt kiều Không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên Công

ty thiếu sự hiểu biết về nhu cầu và sở thích thực sự của người tiêu dùng trong

cộng đồng các nước EU Tuy nhiên Công ty cũng có lợi thế về chất lượng sản

phẩm xuất khẩu Nếu thị trường Nhật Bản đã chấp nhận sản phẩm của Công ty

có nghĩa là đã tạo nên uy tín và hình ảnh cho sản phẩm của Công ty đối với các

doanh nhân trên thị trường quốc tế Do đó khả năng thâm nhập vào một thị

trường có đòi hỏi chất lượng cao như EU là hoàn toàn có thể được hiện thực

hoá

* Thị trường Châu Á

Bên cạnh hai thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất là Nhật Bản và

EU, Công ty dệt Minh Khai còn thực hiện xuất khẩu sang một số nước Châu Á

như Đài Loan, Hông Kông, Hàn Quốc Nói chung tỷ trọng xuất khẩu sang thị

trường các nước này là rất thấp vì đây là những khách hàng không thường xuyên

của Công ty

Trang 22

Các nước này cũng là các quốc gia sản xuất và xuất khẩu khăn bông nên

Công ty chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường này các loại sản phẩm áo choàng

tắm, ga trải giường, ngoài ra còn có một số loại khăn ăn

Giá trị kim ngạch xuất khẩu của Công ty vào thị trường Châu Á còn quá

nhỏ bé chưa xứng đáng với tiềm năng tiêu dùng của thị trường đông dân này

Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu của Công ty vào thị trường này là 152.700 USD

đạt tỷ trọng 4,65% Năm 1999 đạt 160.900 USD chiếm 3,94% tổng kim ngạch

xuất khẩu Theo đà tăng trưởng này, năm 2000 kim ngạch xuất khẩu của Công

ty sang các nước này đạt 168.660 USD Trong hai năm trở lại đây con số này lại

tụt giảm Năm 2001, mức xuất khẩu chỉ đạt 150.000 USD và sang đến năm 2002

thì giảm xuống chỉ còn 57.000 USD

Kết quả này cho thấy mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Công ty

trên thị trường Châu Á là không ổn định và có xu hướng giảm xuống Công ty

chưa chú trọng tới việc xây dựng, củng cố và phát triển vị thế của mình và chỉ

có quan hệ làm ăn nhỏ lẻ với các khách hàng Châu Á

Tuy nhiên, lợi thế của Công ty trên thị trường này là sản phẩm áo choàng

tắm Đây là sản phẩm cao cấp, tuy mới được sản xuất ra trong những năm gần

đây nhưng đã có được chất lượng tốt và kiểu dáng mẫu mã đẹp hợp thời trang

nên rất được người tiêu dùng ưa chuộng

1.2 Phân tích tình hình xuất khẩu theo mặt hàng

Từ khi nhà nước chuyển đổi cơ chế quản lý theo cơ chế thị trường, trong

những năm qua mặc dù gặp phải rất nhiều khó khăn song Công ty vẫn đứng

vững được trên thị trường, sản phẩm sản xuất ra đạt chất lượng tốt, màu sắc đẹp,

độ bền cao Mặt hàng xuất khẩu chính của Công ty gồm có: khăn ăn, khăn mặt,

khăn tay, áo choàng tắm và một số sản phẩm khác như: thảm chùi chân, ga trải

giường, khăn bếp

Ngay từ khi chuyển đổi sang kinh doanh xuất khẩu là chính, Công ty dệt

Minh Khai cũng xác định sản phẩm chính xuất khẩu của mình là khăn bông dệt

Trang 23

các loại Hàng năm việc xuất khẩu sản phẩm này luôn mang lại cho Công ty

nguồn lợi nhuận xuất khẩu cao do doanh thu xuất khẩu lớn Năm 1999 kim

ngạch xuất khẩu khăn bông đạt 3.037.000 USD Năm 2000 do có khó khăn về

thị trường và tỷ giá hối đoái không ổn định nên kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt

2.626.000 USD Trong 2 năm vừa qua giá trị xuất khẩu tăng lên với kim ngạch

xuất khẩu năm 2001 là 3.312.960 USD và năm 2002 đạt 3.020.500 USD

Bảng 3 : Kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng

(Nguồn: Phòng Kế hoạch Thị trường)

Sở dĩ nhóm sản phẩm này có giá trị xuất khẩu cao là do có sự đa dạng về

kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc phong phú như vàng, trắng, xanh hồng Một số

loại sản phẩm còn được trang trí in hình các con giống, hoa văn rất bắt mắt do

đó rất hấp dẫn và được người tiêu dùng ưa chuộng Hơn nữa, sản phẩm khăn

bông lại có chất lượng tốt, khăn dày dặn, thấm nước, độ mềm mại cao, tạo sự

thoải mái khi sử dụng nên khả năng xuất khẩu các sản phẩm này là rất cao và tốc

độ tiêu thụ cao

Sản phẩm áo choàng tắm là sản phẩm mới của Công ty trong những năm

gần đây Tuy mới được đưa vào sản xuất chưa lâu song giá trị kim ngạch xuất

Ngày đăng: 28/03/2013, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình “ Kinh tế ngoại thương”, GS.TS Bùi Xuân Lưu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế ngoại thương
2. Giáo trình “Quản trị học”, Nguyễn Hải Sản, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị học
Nhà XB: NXB Thống kê
3. Giáo trình Marketing căn bản (Marketing Essentials), NXB Thống kê, 1997 Khác
4. Tài liệu về hoạt động và cơ cấu tổ chức của Công ty dệt Minh Khai Khác
5. Báo cáo tình hình kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty dệt Minh Khai các năm Khác
6. Tạp chí dệt may và thời trang năm 2001 và năm 2002 Khác
7. Một số các báo và tạp chí khác : - Thời báo Kinh tế Việt Nam.- Tạp chí Kinh tế phát triển Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ máy quản lí của Công ty dệt Minh Khai - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai
Sơ đồ b ộ máy quản lí của Công ty dệt Minh Khai (Trang 14)
Bảng 2: Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo thị trường giai đoạn 1998-2002 - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai
Bảng 2 Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo thị trường giai đoạn 1998-2002 (Trang 17)
Bảng 3 : Kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai
Bảng 3 Kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng (Trang 23)
Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu theo phương thức xuất khẩu - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai
Bảng 4 Kim ngạch xuất khẩu theo phương thức xuất khẩu (Trang 25)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w