Trường Đại học Hùng Vương được Bộ giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đàogiáo viên các bậc học cho tỉnh Phú Thọ và các tỉnh trong khu vực, trong những nămqua Nhà trường đã tuyển sinh và đà
Trang 11 Lí do chọn đề tài
Giáo dục là vấn đề quan tâm của mọi quốc gia, mọi dân tộc Một xã hội muốn
phát triển đòi hỏi phải coi trọng giáo dục vì giáo dục có tác động tới tất cả các lĩnhvực của đời sống; đặc biệt giáo dục gắn với sự hình thành và phát triển con người,động lực của phát triển kinh tế - xã hội
Trong xu thế hội nhập, GD & ĐT có vai trò và tầm quan trọng trong phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Nhiều kì đại hội gần đây, Đảng ta đã xâydựng định hướng phát triển GD & ĐT, coi đây là lĩnh vực then chốt, tạo điều kiệncho GD & ĐT thực hiện sứ mệnh đi trước, đón đầu Quan điểm của Đảng về đườnglối phát triển giáo dục và đào tạo thể hiện ở Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII;Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6, lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa IX; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X Từ các văn kiện đó,đường hướng phát triển GD &ĐT được chỉ đạo như sau: 1) Coi GD & ĐT là quốcsách hàng đầu cùng với khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định góp phần tăngtrưởng kinh tế và phát triển xã hội 2) GD & ĐT phải gắn với nhu cầu phát triểnkinh tế - xã hội, với khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh Xây dựngcon người có đầy đủ phẩm chất để xây dựng và bảo vệ đất nước 3) GD & ĐT là sựnghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội
Đại hội Đảng lần thứ XI với tinh thần “Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD
& ĐT của Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa
và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũgiáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” Nâng cao chất lượng cán bộ quản lý
và đội ngũ giáo viên là nhân tố quan trọng có tầm quyết định đến sự đổi mới chấtlượng của nền giáo dục
Trong kết luận của Bộ chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trungương 2 khóa VIII, phương hướng phát triển GD&ĐT đến năm 2020 đưa ra 7 nhómgiải pháp với nội dung giải pháp 3 là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng.”
Trang 2Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Phát triển Giáo dụcmầm non giai đoạn 2006 - 2015” Với mục tiêu “Phát triển giáo dục mầm nonnhằm tạo bước chuyển biến cơ bản, vững chắc và toàn diện, nâng cao chất lượngnuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ; củng cố, mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dụcmầm non, đặc biệt chú trọng đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo;
đa dạng hoá các phương thức chăm sóc, giáo dục; bảo đảm chế độ, chính sách chogiáo viên mầm non theo quy định Phấn đấu đến năm 2010 hầu hết trẻ em đều đượcchăm sóc, giáo dục bằng những hình thức thích hợp, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinhdưỡng”
Một số chính sách phát triển giáo dục mầm non của Thủ tướng Chính phủ vềphổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015;
Yêu cầu về sự phát triển quy mô GD&ĐT đòi hỏi phải có một đội ngũ giáoviên có đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu Bởi vì, đội ngũgiáo viên là lực lượng nòng cốt trực tiếp biến các mục tiêu GD&ĐT thành hiệnthực, giữ vai trò quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục
Trường Đại học Hùng Vương được Bộ giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đàogiáo viên các bậc học cho tỉnh Phú Thọ và các tỉnh trong khu vực, trong những nămqua Nhà trường đã tuyển sinh và đào tạo hàng ngàn sinh viên bậc Mầm non được
xã hội chấp nhận và đánh giá cao, góp phần vào công cuộc đổi mới giáo dục vàphát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc
Qua đề tài này, nhằm đánh giá nhu cầu tuyển dụng của các cơ sở giáo dục,thực trạng học tập chuẩn hóa, nâng cao trình độ của giáo viên bậc Mầm non tỉnhPhú Thọ, Lào Cai, Hà Giang Qua đó, đóng góp cơ sở khoa học thực tiễn về nhucầu tuyển dụng, chuẩn hóa kiến thức để Nhà trường xây dựng lộ trình đào tạo bậchọc Mầm non trong những năm tiếp theo, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục Mầmnon của các tỉnh trong khu vực đến năm 2017
Trang 3Những lý do đã nêu cho thấy, việc khảo sát nhu cầu tuyển dụng và đào tạochuẩn hóa giáo viên bậc Mầm non rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Chúng tôi
đã chọn vấn đề “Nhu cầu tuyển dụng và đào tạo nâng cao trình độ giáo viên
Mầm non tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Hà Giang giai đoạn 2014 - 2017” làm đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2014
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định được thực trạng mức độ nhucầu tuyển dụng và đào tạo nâng cao trình độ giáo viên Mầm non tỉnh Phú Thọ, LàoCai, Hà Giang trong giai đoạn 2014 -2017 Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp
cụ thể góp phần vào xây dựng lộ trình đào tạo giáo viên Mầm non của Trường Đạihọc Hùng Vương trong giai đoạn tiếp theo
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu tuyển dụng, đào tạo nâng cao trình độ giáo viên Mầm non tỉnh PhúThọ, Lào Cai, Hà Giang giai đoạn 2014 – 2017
3.2 Khách thể nghiên cứu
Công tác xây dựng, quy hoạch và phát triển đội ngũ giáo viên Mầm nontỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Hà Giang
4 Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở lí luận về nhu cầu tuyển dụng, đào tạo nâng cao trình độ của giáoviên Mầm non Nếu đánh giá đúng thực trạng về nhu cầu tuyển dụng của các cơ sởgiáo dục và đào tạo nâng cao trình độ của giáo viên Mầm non tỉnh Phú Thọ, LàoCai, Hà Giang giai đoạn 2014 - 2017 thì góp phần xây dựng lộ trình tuyển sinh đàotạo ngành Mầm non của trường Đại học Hùng Vương trong thời gian tới phù hợpvới nhu cầu tuyển dụng giáo viên Mầm non của tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Hà Giang
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hoá một số vấn đề về lí luận nhu cầu tuyển dụng và đào tạo nâng
cao trình độ giáo viên nói chung và giáo viên Mầm non nói riêng
Trang 45.2 Khảo sát thực trạng đội ngũ giáo viên Mầm non và thực trạng xây dựng,
phát triển đội ngũ giáo viên Mầm non tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Hà Giang trong thờigian qua
5.3 Đề xuất một số giải pháp, qua đó giúp Nhà trường xây dựng lộ trình tuyển
sinh ngành Mầm non trong giai đoạn những năm tiếp theo
6 Giới hạn nghiên cứu
Nhu cầu tuyển dụng, đào tạo nâng cao trình độ của giáo viên Mầm non tỉnhPhú Thọ, Lào Cai, Hà Giang giai đoạn 2014 - 2017 chủ yếu về số lượng, trình độ
7 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp phân tích, tổng hợp,phân loại và hệ thống hoá các tài liệu khoa học và các chỉ thị, Nghị quyết củaĐảng, Nhà nước, của Ngành và của địa phương có liên quan đến vấn đề nghiêncứu
- Nhóm phương pháp thực tiễn: Phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục;Phương pháp điều tra giáo dục; từ các dữ liệu thực tiễn có liên quan đến nhu cầutuyển dụng, đào tạo nâng cao trình độ giáo viên; điều tra, thu thập từ số liệu thực tế,
xử lý và sử dụng các thông tin đã thu thập từ đó phân tích, tổng hợp, đánh giá thựctrạng vấn đề nghiên cứu;
- Phương pháp thống kê toán học;
8 Đóng góp của đề tài
8.1 Xây dựng cơ sở lý luận về nhu cầu tuyển dụng và đào tạo nâng cao trình
độ của giáo viên mầm non trong giai đoạn hiện nay
8.2 Khảo sát, điều tra thực trạng về giáo dục đào tạo, đội ngũ giáo viên mầmnon hiện nay của tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Hà Giang
8.3 Đưa ra các giải pháp trong tuyển sinh, đào tạo giáo viên Mầm non đến năm
2017 của trường ĐH Hùng Vương
Trang 5Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NHU CẦU TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO
TẠO NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ GIÁO VIÊN
1.1 Tổng quan của vấn đề nghiên cứu
Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng vàNhà nước ta luôn chú trọng phát triển sự nghiệp giáo dục, coi giáo dục là quốc sáchhàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Nhữngthành tựu và kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong 10 năm đổimới (1986 - 1996) đã tạo tiền đề để đất nước ta phấn đấy và vạch ra mục tiêu cụ thể
“Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một đất nướccông nghiệp” Để thực hiện mục tiêu đó, Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấphành TW Đảng khóa VIII (tháng 2/1996) đã định hướng chiến lược phát triển giáogiáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết
đã đề ra 4 giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong đó:
“Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học” là một giảipháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Muốn nâng cao chấtlượng giáo dục đào tạo thì việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các bậc họcnói chung và đội ngũ giáo viên Mầm non là một biện pháp cơ bản nhất Chúng tađều nhận thực được rằng, lực lượng nòng cốt của sự nghiệp giáo dục góp phầnquyết định nâng cao chất lượng giáo dục theo mục tiêu đào tạo đó chính là đội ngũgiáo viên
Trong toàn bộ di sản tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh, vấn đề cơ bản nhất,nổi bật nhất là vấn đề phát triển và hoàn thiện con người thông qua hoạt động giáodục và tự giáo dục Đối với Người, nhân tố con người với những tinh hoa, nhữnghiểu biết, năng lực và đạo đức là yếu tố then chốt, có tính quyết định đối với thànhcông của cách mạng, tiến bộ của xã hội, tiền đồ của dân tộc và hạnh phúc của nhândân
Trang 6Trong những năm gần đây có nhiều đề tài nghiên cứu về phát triển đội ngũgiáo viên, nhu cầu tuyển dụng và bồi dưỡng chuẩn hóa giáo viên như:
- Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học tỉnh Sơn Lađến năm 2015 (Trần Quốc Bình, 2006)
- Xây dựng qui hoạch phát triển giáo dục mầm non và phổ thông tỉnh TháiNguyên đến năm 2010 (Ngô Thượng Chinh, 2004)
- Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non Hà Nội (Vũ ThịMinh Hà, 2004)
- Các biện pháp tăng cường quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởngtrường Mầm non Quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh (Trần Thị Kim Thoa,2006)
- Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non ở các xã đặc biệt khókhăn tỉnh Sơn La (Nguyễn Thị Hồng Vân, 2006)
- Điều tra thực trạng dự báo và quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáoviên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở tỉnh Hải Dương đến năm 2010 và 2015của tác giả Nguyễn Vinh hiển và cộng sự
- Phân tích nhu cầu tuyển dụng- đề xuất đổi mới chương trình đào tạo và giáotrình ngành cử nhân sư phạm tiếng Anh của tác giả Trương Viên và các cộng sựĐại học Huế năm 2011
- Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường trung cấp nghề Quảng Ngãicuả tác giả Cao Văn Khoa năm 2011
Tuy nhiên chưa có tác giả nào đi sâu khảo sát nhu cầu tuyển dụng, đào tạochuẩn hóa giáo viên bậc Mầm non tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Hà Giang Chúng tôi lựachọn nghiên cứu vấn đề này này nhằm xây dựng cơ sở lý luận, khảo sát đánh giáthực trạng, đề xuất lộ trình tuyển sinh, đào tạo chuẩn hóa bậc Mầm non củaTrường Đại học Hùng Vương phù hợp với nhu cầu tuyển dụng của các cơ sở đàotạo trong khu vực
Trang 71.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Nhu cầu
Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa họcnghiên cứu sinh học và xã hội Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầuđược tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như JeremyBentham, Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S.Herman Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật Sự hiệndiện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như
cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xungquanh
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu Cácsách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường cónhững định nghĩa mang tính riêng biệt
Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của
cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt
nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối,
đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.(Thuyết nhu cầu của A.Maslow với việc phát triển kỹ năng khuyến khích nhân viên -
Nguồn: Tạp chí Nhà quản lý, Dsi)
Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó Nhưng "cái gì đó" chỉ làhình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bảnchất của nhu cầu mà có thể tạm gọi là "nhu yếu" Nhu yếu đang nói đến lại có thểđược xem là hình thức biểu hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn Như vậy kháiniệm nhu cầu và nhu yếu mang tính tương đối với nhau Điều đó cho thấy rằng nhucầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số cácchuỗi mắc xích của hình thức biểu hiện và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khả năngphát triển và đa dạng hóa Tuy nhiên, để dễ nhận dạng, một nhu cầu riêng biệt đơngiản nhất được cấu thành bởi một nhu yếu và một hình thức biểu hiện
Trang 8Hình thức biểu hiện nhất định được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhucầu nhất định Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thểlàm thỏa mãn nhu cầu đó Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, mộtnhu cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn cókhác nhau.
Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu Alfred Marshall
viết rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn” (Nhu cầu và vấn đề điều
khiển hành vi - Nguyễn Bá Minh, Nguồn: Tâm lý học, ChúngTa.com)Về vấn đề
cơ bản của khoa học kinh tế - vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đềunhận định rằng nhu cầu không có giới hạn
1.2.2 Tuyển dụng
Tuyển dụng, bổ sung người mới cho tổ chức là một trong những họat độngkhông thể thiếu của bất kì cơ quan, tổ chức nào Họat động này nhằm mục tiêu đápứng nhu cầu nhân sự của cơ quan, tổ chức (bao gồm cả việc xây dựng, duy trì và
mở rộng nhân sự), phục vụ cho quá trình phát triển của tổ chức
Nói theo cách chung nhất, tuyển dụng (còn được goi là tuyển chọn, tuyển mộ,tuyển…) là việc đưa người mới vào làm việc trong một cơ quan, tổ chức Hiện nay
có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tuyển dụng mà chúng ta cần tìm hiểu:Theo quản trị nhân sự (Nguyễn Hữu Thân) :” Tuyển mộ nhân viên là một quá trìnhthu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng kí, nộp đơntìm việc làm…Tuyển mộ là tập hợp các ứng viên lại Tuyển chọn là xem ai trong sốcác ứng viên ấy là người hội đủ các tiêu chuẩn để vào làm việc trong công ty” Theo giáo trình Tổ chức nhân sự hành chính Nhà nước (Học viện Hành chínhQuốc gia), tuyển dụng là “đưa thêm người mới vào làm việc chính thức cho tổchức, tức là từ khâu đầu tiên cho đến giai đọan hình thành nguồn nhân lực cho tổchức.”
Theo đó, quá trình tuyển chọn bao gồm 2 giai đọan,
+ Giai đọan 1 là “tuyển” tức quá trình thu hút người tham gia dự tuyển,
Trang 9+ Giai đoan 2 là “chọn” tức là giai đọan xem xét, đánh giá để chọn ra những
cá nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do tổ chức đặt ra trong số những người thamgia dự tuyển
Theo khoản 5 điều 3 Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về việctuyển dụng, sử dụng và quản lí cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước thì “tuyển dụng là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nướcthông qua thi hoặc xét tuyển.”
Ở đây, “ tuyển dụng” bao gồm luôn cả giai đoạn tập sự của người được tuyển
và việc bổ nhiệm sau khi tập sự Và quà trình tuyển dụng bao gồm các giai đoạnsau:
+ Xác định nhu cầu nhân sự mới cần đưa vào trong tổ chức
+ Thu hút người lao động tham gia dự tuyển
+ Tuyển chọn ra những người đáp ứng đươc các yêu cầu do tổ chức đặt ra + Tập sự cho người mới để họ “hành chính hóa” bản thân họ
+ Bổ nhiệm chính thức sau tập sự vào danh sách nhân sự tổ chức
Còn khái niệm về tuyển dụng cán bộ công chức thì theo Từ điển giải thíchthuật ngữ hành chính thì “Tuyển dụng cán bộ công chức là việc tuyển người vào cơquan nhà nước sau khi đã đạt kết quả của kì thi tuyển
Cũng theo từ điền này thì các căn cứ của công tác tuyển dụng Cán bộ côngchức là:
+ Nhu cầu công việc
+ Vị trí công tác của chức danh Cán bộ công chức trong cơ quan tổ chức cầntuyển dụng
+ Chỉ tiêu biên chế được giao
+ Các tiêu chuẩn nhân thân tương quan với yêu cầu công vụ của người đượctuyển dụng bao gồm những yêu cầu về phẩm chất đạo đức, yêu cầu về trình độnghiệp vụ (đúng tiêu chuẩn nghiệp vụ)
+ Phải thi tuyển và phải trúng tuyển
Trang 101.2.3 Nhu cầu giáo viên
Nhu cầu giáo viên của một thời kỳ nào đó là số lượng giáo viên cần thiết nhằmđáp ứng sự phát triển giáo dục của cả ngành, của địa phương, của trường học trongthời kỳ đó cả về mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ
Nói cách khác, nhu cầu giáo viên được hiểu là những đặc trưng về số lượng,
về chất lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên xuất phát từ yêu cầu của ngành giáo dục,của từng địa phương và các đơn vị trường học
Nhu cầu giáo viên được phân ra các loại sau:
a Nhu cầu chung (nhu cầu toàn bộ) là tổng số giáo viên cần thiết cho ngànhgiáo dục trong thời kỳ kế hoạch (1 năm, 5 năm, 10 năm,…) để đảm bảo hoàn thành
kế hoạch giáo dục
b Nhu cầu phát triển là số lượng giáo viên cần tăng thêm trong suốt thời kỳ kếhoạch nhằm đảm bảo nhu cầu giáo viên theo nhu cầu toàn bộ
c Nhu cầu thay thế là số lượng giáo viên cần để thay thế số giáo viên bị chết,
về hưu, mất sức lao động, thôi việc hoặc chuyển công tác khác trong thời kỳ kếhoạch
d Tổng số nhu cầu phát triển và nhu cầu thay thế giáo viên trong thời kỳ kếhoạch được gọi là nhu cầu bổ sung giáo viên
e Phụ thuộc vào độ dài của thời kỳ kế hoạch, nhu cầu (toàn bộ và bổ sung)giáo viên được phân ra nhu cầu thường xuyên và nhu cầu triển vọng
f Tỷ lệ giữa số lượng giáo viên có trình độ trên đại học, đại học, cao đẳng,trung cấp chuyên nghiệp trong tổng số giáo viên gọi là cơ cấu trình độ giáo viên
g Nhu cầu giáo viên có trình độ trên đại học, đại học, cao đẳng, trung cấpchuyên nghiệp trên phương diện các ngành được đào tạo trong các trường đại học,cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hình thành cơ cấu giáo viên theo bộ môn
Có thể biểu diễn mối liên hệ giữa nhu cầu chung, nhu cầu phát triển, nhu cầuthay thế, nhu cầu bổ sung bằng sơ đồ sau:
Trang 11Thời điểm hiện tại Thời điểm dự báo
1.2.3 Đào tạo nâng cao trình độ giáo viên
Luật giáo dục (điều 15 chương I) nêu rõ "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trongviệc đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện,nêu gương tốt cho người học Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cóchính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thựchiện nhiệm vụ của mình…" Với nhận thức hoạt động trung tâm của nhà trường làdạy học và giáo dục Để phát triển toàn diện học sinh, thầy cô giáo là lực lượngtrực tiếp thực hiện chương trình giáo dục của cấp học Chất lượng giáo dục của nhàtrường phần lớn do đội ngũ giáo viên quyết định Do đó việc bồi dưỡng, phát triểnđội ngũ nhà giáo vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển nhà trường
Nghị quyết Trung ương hai khoá VIII xác định: giáo dục - đào tạo là quốcsách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Pháttriển giáo dục là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của toàn xã hội, trong đóđội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, giữ vai tròquyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục
1.2.4 Mối quan hệ giữa nhu cầu tuyển dụng và đào tạo nâng cao trình độ giáo viên của địa phương với khả năng đáp ứng của các cơ sở đào tạo giáo viên.
Nhu cầu (số lượng GV)
Nhu cầu toàn
Trang 121.3 Một số nhân tổ ảnh hưởng đến quy mô phát triển giáo dục Mầm non
1.3.1 Nhân tố về Kinh tế - xã hội
Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội, đồng
thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển giáo dục,đào tạo của nước ta Bối cảnh mới tạo cơ hội thuận lợi để giáo dục, đào tạo nước tatiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, tranhthủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển giáo dục, đào tạo; tạo điềukiện để đổi mới căn bản, toàn diện nội dung, phương pháp và hình thức tổ chứcgiáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, đào tạo, tiến tới một nền giáo dục, đào tạo tiêntiến, hiện đại đáp ứng nhu cầu của xã hội và từng cá nhân người học
Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, tích cực, chủ động hội nhập quốc tếsâu rộng hơn để đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướnghiện đại đặt ra cho giáo dục, đào tạo nước nhà những yêu cầu, nhiệm vụ, thách thứcmới Điều này đòi hỏi phải có định hướng phát triển, có tầm nhìn chiến lược, ổnđịnh lâu dài cùng những phương pháp, hình thức, tổ chức, quản lý giáo dục và đàotạo cho phù
Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội, đồngthời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển giáo dục,đào tạo nói chung và giáo dục mầm non nói riêng
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 với yêu cầu tái cơ cấu nềnkinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược phát triển nhân lựcgiai đoạn 2011-2020 và Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam trong thời kỳ dân
số vàng là tiền đề cơ bản để chúng ta thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo
Tuy nhiên, bối cảnh mới cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với sự nghiệpphát triển giáo dục, đào tạo, như: khoảng cách phát triển kinh tế, khoảng cách vềgiáo dục, đào tạo giữa nước ta và các nước ngày càng mở rộng; hội nhập quốc tế và
Trang 13phát triển kinh tế thị trường làm nảy sinh những vấn đề mới, như nguy cơ xâmnhập của văn hóa và lối sống không lành mạnh làm xói mòn dần bản sắc văn hóadân tộc, sự thâm nhập của các loại dịch vụ giáo dục, đào tạo kém chất lượng từ bênngoài có thể gây rủi ro lớn đối với giáo dục, đào tạo, sự gia tăng khoảng cách giàu -nghèo giữa các nhóm dân cư, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền có nguy
cơ dẫn đến tình trạng thiếu bình đẳng trong tiếp cận giáo dục của người dân
1.3.2 Nhân tố về Khoa học - Công nghệ
Khoa học và công nghệ có tác động to lớn tới toàn bộ đời sống vật chất và tinhthần của xã hội Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là cơ sở đểthực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng chiến lược con người,phát triển văn hoá của Đảng và Nhà nước ta
Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làmđộng lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tríthức, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu qủa, sức cạnh tranh của nềnkinh tế Sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước” Như vậy, phát triển khoa học
- công nghệ phải là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá thắng lợi (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI)
1.4 Giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.4.1 Vị trí, vai trò của giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống Giáo dục Quốc dân Tầmquan trọng của giáo dục mầm non là ở chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dụclâu dài nhằm hình thành và phát triển nhân cách trẻ em Niềm tin và hy vọng của từnggia đình và của toàn xã hội về tương lai của trẻ và của đất nước Chính vì vậy, Hộinghị Ban chấp hành Trung ương 2 kháo VIII đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 phải
“xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi.Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình”
Trang 141.4.2 Mục tiêu, nội dung, phương pháp của giáo dục Mầm non
- Mục tiêu:
Theo tinh thần của Chỉ thị 153 của Hội đồng Bộ Trưởng, ngày 12 tháng 8năm 1966, mục tiêu của giáo dục mầm non nhằm giáo dục trẻ bằng tổ chức vuichơi mà giáo dục các cháu đức tình tốt, chăm sóc sức khỏe cho các cháu, tập chocác cháu vừa chơi vừa học, chuẩn bị cho các cháu vào trường phổ thông, giáo dụcmẫu giáo tốt sẽ chuẩn bị cho một nền giáo dục tốt
Theo điều 22 Luật giáo dục năm 2005: Mục tiêu của giáo dục mầm non làgiúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu
tố đầu tiên nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một
- Nội dung:
Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễđến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấptiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộcsống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hoà nhập vào cuộc sống Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hoà giữa nuôi dưỡng,chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanhnhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêumến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè;thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đihọc
- Phương pháp
Đối với giáo dục nhà trẻ, phương pháp giáo dục phải chú trọng giao tiếpthường xuyên, thể hiện sự yêu thương và tạo sự gắn bó của người lớn với trẻ; chú ýđặc điểm cá nhân trẻ để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp, tạo cho trẻ cócảm giác an toàn về thể chất và tinh thần; tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được tíchcực hoạt động giao lưu cảm xúc, hoạt động với đồ vật và vui chơi, kích thích sự
Trang 15phát triển các giác quan và các chức năng tâm - sinh lý; tạo môi trường giáo dụcgần gũi với khung cảnh gia đình, giúp trẻ thích nghi với nhà trẻ.
Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻđược trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức
đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm "chơi mà học, họcbằng chơi" Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo
cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt độngmột cách vui vẻ Kết hợp hài hoà giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cánhân, chú ý đặc điểm riêng của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp Tổchức hợp lí các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp với
độ tuổi của nhóm/lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ
và với điều kiện thực tế
1.5 Vị trí, vai trò của đội ngũ giáo viên Mầm non trong phát triển giáo dục đào tạo
-1.5.1 Vị trí, vai trò của nhà giáo
Trong Luật Giáo dục, khái niệm Nhà giáo đã được định nghĩa: “Nhà giáo làngười làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác.Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau: phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; đạt trình
độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghềnghiệp; lý lịch bản thân rõ ràng Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non,giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại họcgọi là giảng viên” [Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010),
Luật giáo dục (đã sửa đổi bổ sung năm 2009) và một số qui định có liên quan,
NXB Lao động, Hà Nội.]
Nguyễn Trãi viết: " Người thầy giáo không những dạy chữ mà còn dạy đạo
lý làm người " Đó là đào luyện tâm hồn, đào tạo lớp thế hệ trẻ, lớp sau kế tiếp lớptrước bước vào đời xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trang 16Theo Hồ Chủ tịch, vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục chính làđội ngũ những người thầy giáo và cán bộ quản lý giáo dục Bởi vì các thầy giáo cónhiệm vụ nặng nề là đào tạo cán bộ cho nước nhà; là “người chiến sĩ trên mặt trận
tư tưởng văn hóa” thầy giáo có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạođức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, bồidưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự pháttriển và tiến bộ của xã hội Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nhiệm vụ giáo dục là rấtquan trọng và vẻ vang, nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục…không cógiáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa” [ Viện Hồ Chí
Minh và các lãnh tụ của Đảng (2007), Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội].
Giáo viên là người định hướng, dẫn dắt thế hệ trẻ từng bước nắm bắt chân lýthời đại, cho nên mọi tài liệu, giáo trình dù hay đến đâu nếu không có thầy giáohướng dẫn thì không phát huy hết tác dụng đối với thế hệ trẻ Hồ Chủ tịch luônluôn đánh giá đúng và đề cao vai trò của các thầy giáo, cô giáo đối với xã hội Độingũ các thầy cô giáo có vai trò quyết định trong sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạonhân lực và bồi dưỡng nhân tài
1.5.2 Nhiệm vụ của giáo viên Mầm non
Thực hiện theo công tác và kế hoạch nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục trẻ emtheo lứa tuổi, thực hiện đúng theo qui chế chuyên môn và chấp hành nội qui củanhà trường; bảo đảm an toàn tuyệt đối tính mạng của trẻ gương mẫu thương yêu,tôn trọng và đối xử công bằng với trẻ; chủ động phối hợp với gia đình trẻ trong việcnuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và tuyên truyền phổ biến kiến thức nuôi dưỡng trẻtheo khoa hoạc cho các bậc cha mẹ; rèn luyện đạo đức, học tập chính trị, bồi dưỡngchuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc giáo dục trẻ;thực hiện các quyết định của hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra của hiệu trưởng và cáccấp quản lý giáo dục; thực hiện các qui định khác của pháp luật
Trang 171.5.3 Trình độ chuẩn của giáo viên Mầm non
Theo Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ Trường mầm non, có hiệu lực kể
từ ngày 03 tháng 5 năm 2008, được sửa đổi, bổ sung Trình độ chuẩn được đào tạocủa giáo viên mầm non là có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm mầm non
(QUYẾT ĐỊNH )BAN HÀNH ĐIỀU LỆ TRƯỜNG MẦM NON, ngày 13/2/2014)
Tiểu kết chương 1
Trang 18Chương 2:
THỰC TRẠNG NHU CẦU TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO TẠO NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ GIÁO VIÊN MẦM NON TỈNH PHÚ THỌ, LÀO CAI,
HÀ GIANG GIAI ĐOẠN 2014 - 2017
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội và giáo dục tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Hà Giang
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là một tỉnh miền núi nằm giữa vùng Trung Bắc, chuyển tiếp giữavùng đồng bằng Bắc Bộ với hai vùng núi của miền Bắc là Tây Bắc và Việt Bắc, códiện tích tự nhiên 352.384 ha, trong đó: đất sản xuất nông nghiệp là 98.814 ha(chiếm 28%), đất lâm nghiệp là 164.857 ha (chiếm 46,8%), đất nuôi trồng thuỷ sản
là 3.906 ha (chiếm 1,1%) Tỉnh Phú Thọ có địa hình phức tạp, nhiều núi cao, sông,ngòi chảy qua: Sông Hồng, Sông Lô, Sông Đà, Sông Chảy, Sông Bứa, Ngòi Giành,Ngòi Lao,… với khí hậu nhiệt đới gió mùa rất rõ nét Vì vậy, vừa thuận tiện chophát triển giao thông, phát triển nông, lâm nghiệp, nhng đồng thời cũng thờngxuyên gặp các thiên tai nặng nề nh: bão lốc, lũ quét, hạn hán, ngập lụt
Về dân số, tỉnh Phú Thọ có dân số 1,326 triệu ngời, tỷ lệ tăng tự nhiên0,98%, mật độ dân số 376,5 ngời/km2, số sống ở thành thị chiếm 15,7% Có 21 dântộc chung sống hoà thuận trên địa bàn, ngời Kinh chiếm 79,6%, ngời Mờng chiếm18,5%, còn lại là các dân tộc khác
* Tài nguyên thiên nhiên.
- Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên của Phú Thọ là 3.519,56 km2, theo kết quả điều tra thổnhưỡng gần đây, đất đai của Phú Thọ được chia theo các nhóm sau: đất feralít đỏvàng phát triển trên phiến thạch sét, diện tích 116.266,27 ha chiếm tới 66,79%(diện tích điều tra) Đất thường có độ cao trên 100 m, độ dốc lớn, tầng đất khá dày,
Trang 19thành phần cơ giới nặng, mùn khá Loại đất này thường sử dụng trồng rừng, một sốnơi độ dốc dưới 25o có thể sử dụng trồng cây công nghiệp.
Hiện nay, Phú Thọ mới sử dụng được khoảng 54,8% tiềm năng đất nông –lâm nghiệp; đất chưa sử dụng còn 81,2 nghìn ha, trong đó đồi núi có 57,86 nghìnha
Đánh giá các loại đất của Phú Thọ thấy rằng, đất đai ở đây có thể trồng câynguyên liệu phục vụ cho một số ngành công nghiệp chế biến, nếu có vốn đầu tư và
tổ chức sản xuất có thể tăng năng suất ở nhiều nơi; đưa hệ số sử dụng đất lên đến2,5 lần (hiện nay hệ số sử dụng đất mới đạt khoảng 2,2), đồng thời bảo vệ và làmgiàu thêm vốn tài nguyên này; cho phép phát triển công nghiệp và đô thị
- Tài nguyên rừng
Diện tích rừng hiện nay của Phú Thọ nếu đem so sánh với các tỉnh trong cảnước thì được xếp vào những tỉnh có độ che phủ rừng lớn (42% diện tích tự nhiên).Với diện tích rừng hiện có 144.256 ha, trong đó có 69.547 ha rừng tự nhiên, 74.704
ha rừng trồng, cung cấp hàng vạn tấn gỗ cho công nghiệp chế biến hàng năm Cácloại cây chủ yếu như bạch đàn, mỡ, keo, bồ đề và một số loài cây bản địa đangtrong phát triển (đáng chú ý nhất vẫn là những cây phục vụ cho ngành công nghiệpsản xuất giấy)
- Tài nguyên khoáng sản
Phú Thọ không phải là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản, nhưng lại có một sốloại có giá trị kinh tế như đá xây dựng, cao lanh, fenspat, nước khoáng Cao lanh cótổng trữ lượng khoảng 30 triệu tấn, điều kiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưakhai thác lên đến 24,7 triệu tấn Fenspat có tổng trữ lượng khoảng 5 triệu tấn, điềukiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa khai thác còn khoảng 3,9 triệu tấn, nướckhoáng có tổng trữ lượng khoảng 48 triệu lít, điều kiện khai thác thuận lợi, trữlượng chưa khai thác còn khoảng 46 triệu lít
Ngoài ra, Phú Thọ còn có một số loại khoáng sản khác như: quactít trữ lượngkhoảng 10 triệu tấn, đá vôi 1 tỷ tấn, pyrít trữ lượng khoảng 1 triệu tấn, tantalcum
Trang 20trữ lượng khoảng 0,1 triệu tấn, và nhiều cát sỏi với điều kiện khai thác hết sứcthuận lợi.
Đây là một số lợi thế cho phép Phú Thọ phát triển các ngành công nghiệpnhư xi măng, đá xây dựng, các loại vật liệu xây dựng có ưu thế cạnh tranh
* Tiềm năng kinh tế
Phú Thọ có nhiều di tích nổi tiếng như: khu di tích Đền Hùng (Lâm Thao),đầm Ao Châu, Ao Giời, Suối Tiên, khu rừng nguyên sinh Xuân Sơn (33.687 ha,trong đó 15.000 ha rừng nguyên sinh), vùng nước khoáng nóng Thanh Thuỷ, đềnMẫu Âu Cơ, đình Lâu Thượng, Hùng Lô, Đào Xá, chùa Xuân Lãng, chùa PhúcKhánh; các khu di chỉ; Phùng Nguyên, Sơn Vi, Gò Mun…Các di tích kháng chiến:chiến khu Hiền Lương (Hạ Hoà) Vạn Thắng (Cẩm Khê), tượng đài kháng chiếnsông Lô (Đoan Hùng), khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Cổ Tiết (Tam Nông),Chu Hoá (Lâm Thao)…
Phú Thọ còn là miền đất lưu giữ nhiều giá trị văn hoá dân tộc đặc sắc của tổtiên, mang tính giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn; lễ hội Đền Hùng, hộiphết (Hiền Quang), hội làng Đào Xá, Sơn Vi…; nhiều làn điệu dân ca, xoan ghẹo,
Trang 21nhiều trò diễn dân gian, nhiều truyền thuyết - huyền thoại về dựng nước, nhiềutruyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười giàu tính nhân văn, mang nét đặc sắc củavùng đất Tổ, đặc trưng văn hoá Lạc Hồng (Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
2.1.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên tỉnh Lào Cai
Địa hình tỉnh Lào Cai rất phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắtmạnh Hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi cùng có hướngTây Bắc - Đông Nam nằm về phía đông và phía tây tạo ra các vùng đất thấp, trungbình giữa hai dãy núi này và một vùng về phía tây dãy Hoàng Liên Sơn Ngoài racòn rất nhiều núi nhỏ hơn phân bố đa dạng, chia cắt tạo ra những tiểu vùng khí hậukhác nhau
Do địa hình chia cắt nên phân đai cao thấp khá rõ ràng, trong đó độ cao từ300m - 1.000m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh Điểm cao nhất là đỉnh núi Phan
Xi Păng trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao 3.143m so với mặt nước biển, TảGiàng Phình: 3.090m
Bên cạnh đó, một số huyện của tỉnh Lào Cai có địa hình ít hiểm trở hơn, cónhiều vùng đất đồi thoải, thung lũng ruộng nước ruộng, là địa bàn thuận lợi cho sảnxuất nông lâm nghiệp hoặc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng
Lào Cai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song do nằm sâu trong lục địa bị chiaphối bởi yếu tố địa hình phức tạp nên diễn biến thời tiết có phần thay đổi, khác biệttheo thời gian và không gian Đột biến về nhiệt độ thường xuất hiện ở dạngnhiệt độ trong ngày lên cao hoặc xuống thấp quá (vùng Sa Pa có nhiều ngày nhiệt
độ xuống dưới 00C và có tuyết rơi)
Khí hậu Lào Cai chia làm hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng
10, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Sương mù thường xuất hiệnphổ biến trên toàn tỉnh, có nơi ở mức độ rất dày Trong các đợt rét đậm, ở nhữngvùng núi cao và các thung lũng kín gió còn xuất hiện sương muối
* Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất
Trang 22Lào Cai có diện tích tự nhiên rộng 805.708,5 ha, độ phì nhiêu cao, rất màu
mỡ, đa dạng bao gồm 10 nhóm đất với 30 loại đất chính, phù hợp với nhiều loạicây trồng khác nhau Trong đó: đất nông nghiệp có 76.203 ha, đất lâm nghiệp178.192 ha, đất chưa sử dụng còn khoảng 393.500 ha
- Tài nguyên rừng
Tổng trữ lượng tài nguyên rừng toàn tỉnh có 17.244.265 m3 gỗ (trong đó,rừng tự nhiên 16.876.006 m3; rừng trồng gỗ 368.259 m3); 207.512.300 cây tre, vầucác loại Diện tích quy hoạch cho đất lâm nghiệp 543.982 ha, chiếm 68% tổng diệntích tự nhiên toàn tỉnh, trong đó đất có rừng 274.766 ha, chiếm 34% tổng diện tích
tự nhiên toàn tỉnh (gồm có rừng tự nhiên 225.877 ha; và rừng trồng 48.889 ha) Đấtchưa có rừng 269.216 ha, chiếm 33% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Với vốnrừng trên, chỉ tiêu về mặt diện tích rừng bình quân đầu người của tỉnh Lào Cai là0,45 ha/người, so với chỉ tiêu tương ứng của thế giới là 0,97 ha/người
Vườn quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa) với hệ sinh thái tự nhiên rất phong phú(có trên 2.000 loài thực vật, trên 400 loài chim, thú, bò sát, rất nhiều loài động, thựcvật đặc biệt quý hiếm, có kho tàng quỹ gen thực vật quý hiếm chiếm 50% số loàithực vật quý hiếm của Việt Nam)
- Tài nguyên khoáng sản
Lào Cai là một trong những tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản nhất Việt Namvới 35 loại khoáng sản khác nhau và trên 150 điểm mỏ Trong đó có nhiều loạikhoáng sản như apatít, đồng, sắt, graphít, nguyên liệu cho gốm, sứ, thuỷ tinh,… vớitrữ lượng lớn nhất cả nước Một số mỏ có trữ lượng lớn dễ khai thác, dễ vậnchuyển và đang có thị trường quốc tế đã tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệpchế biến các loại khoáng sản ở địa phương
* Tiềm năng kinh tế
- Những lĩnh vực kinh tế lợi thế
Lào Cai có vị trí địa lý thuận lợi, nơi có hai con sông Hồng và sông Chảy, cócửa khẩu quốc tế Lào Cai và có nhiều tiềm năng khác thuận lợi cho việc phát triển
Trang 23kinh tế đối ngoại và du lịch Lào Cai nổi tiếng với khu du lịch Sa Pa, là nơi có khíhậu, thời tiết mát mẻ vào mùa hè, hấp dẫn du khách nhiều nơi trên thế giới tới dulịch.
Lào Cai là một tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản và nguồn tài nguyên rừng rấtphong phú và đa dạng, là cơ sở để phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm sản
Cặp cửa khẩu quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu nằm trên tuyến hành lang kinh tếCôn Minh - Hải Phòng, là cửa ngõ lớn và thuận lợi nhất để phát triển thương mại,
du lịch giữa Việt Nam với vùng Tây Nam - Trung Quốc (gồm 11 tỉnh, thành phố,diện tích hơn 5 triệu km2 và dân số hơn 380 triệu người); là con đường ngắn nhất,thuận tiện nhất từ tỉnh Vân Nam, vùng Tây Nam - Trung Quốc ra cảng Hải Phòng
và nối với vùng Đông Nam Á Cửa khẩu quốc tế Lào Cai hội tụ đủ các loại hìnhvận tải: đường sắt, đường bộ, đường sông và tương lai sẽ có cả đường hàng không
Là cửa khẩu quốc tế duy nhất của Việt Nam có vị trí nằm ngay trong thị xã tỉnh lỵ
có hệ thống hạ tầng và dịch vụ khá phát triển Hiện nay, cửa khẩu quốc tế Lào Cai
đã và đang được tập trung xây dựng thành cửa khẩu văn minh, hiện đại, đủ điềukiện trở thành nơi trung chuyển hàng hoá lớn giữa Việt Nam với Trung Quốc vàcác nước ASEAN, từng bước chuẩn bị cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN –Trung Quốc
- Tiềm năng du lịch
Lào Cai có tiềm năng lớn để phát triển ngành du lịch với các loại hình nghỉdưỡng, sinh thái, leo núi, văn hoá Thiên nhiên ban tặng cho Lào Cai nhiều danhlam thắng cảnh nổi tiếng gắn với các địa danh Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát, MườngKhương,… Trong đó, khu du lịch Sa Pa rất nổi tiếng trong nước và quốc tế; là mộttrong các trọng điểm du lịch của quốc gia Số khách du lịch đến Lào Cai năm 2002
là 350.000 người; khách xuất nhập cảnh qua cửa khẩu quốc tế năm 2002 đạt 1,4
triệu lượt người Năm 2003, khu du lịch Sa Pa tròn 100 tuổi (Nguồn: Bộ Kế
hoạch và Đầu tư)
Trang 242.1.1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên tỉnh Hà Giang
Hà Giang là tỉnh nằm trong khu vực địa bàn vùng núi cao phía bắc lãnh thổViệt Nam, Hà Giang là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ caotrung bình từ 800 m đến 1.200 m so với mực nước biển Đây là vùng tập trungnhiều ngọn núi cao Theo thống kê mới đây, trên dải đất Hà Giang rộng chưa tới8.000 km2 mà có tới 49 ngọn núi cao từ 500 m - 2.500 m (10 ngọn cao 500 - 1.000
m, 24 ngọn cao 1000 - 1500 m, 10 ngọn cao 1.500 - 2.000 m và 5 ngọn cao từ2.000 - 2.500 m) Tuy vậy, địa hình Hà Giang về cơ bản, có thể phân thành 3 vùngsau:
Vùng cao phía bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, gồm các huyện Quản Bạ,Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 90% diện tích là núi đá vôi, đặc trưng cho địahình karst Ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp,nhiều vách núi dựng đứng
Vùng cao phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần là một phần củacao nguyên Bắc Hà, thường được gọi là vòm nâng sông Chảy, có độ cao từ 1.000mđến trên 2.000m Địa hình nơi đây phổ biến dạng vòm hoặc nửa vòm, quả lê, yênngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốc đứng, bịphân cắt mạnh, nhiều nếp gấp
Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thị còn lại, kéo dài từ Bắc Mê, thị
xã Hà Giang, qua Vị Xuyên đến Bắc Quang Khu vực này có những dải rừng giàxen kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo sông, suối
Khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu HàGiang về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn,nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,60C - 23,90C, biên độ nhiệt trong năm có sựdao động trên 100C và trong ngày cũng từ 6 - 70C Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đốilên đến 400C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,20C(tháng l) Các hướng gió ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng Thunglũng sông Lô quanh năm hầu như chỉ có một hướng gió đông nam với tần suất vượt
Trang 25quá 50% Nhìn chung gió yếu, tốc độ trung bình khoảng 1 - l,5m/s Đây cũng là nơi
có số ngày giông cao, tới 103 ngày/năm, có hiện tượng mưa phùn, sương mù nhiềunhưng đặc biệt ít sương muối Nét nổi bật của khí hậu Hà Giang là độ ẩm trongnăm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều có ảnh hưởng đến đờisống của người dân tỉnh Hà Giang
* Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất
Trong 778.473 ha diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp có 134.184 ha, chiếm17% diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp có 334.100 ha, chiếm 42,4%, đất chưa sửdụng có 310.064 ha, chiếm 39,3%, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở Theo kếtquả điều tra thổ nhưỡng, toàn tỉnh có 9 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhómđất xám rất thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp, cây dược liệu và cây ănquả
- Tài nguyên rừng
Hà Giang có diện tích rừng tương đối lớn, trong đó diện tích rừng tự nhiên
là 345.860 ha, với nhiều sản vật quý hiếm: động vật có các loài gấu ngựa, sơndương, voọc bạc má, gà lôi, đại bàng…; các loại gỗ: ngọc am, pơ mu, lát hoa, látchun, đinh, nghiến, trò chỉ, thông đá…; các cây dược liệu như sa nhân, thảo quả,quế, huyền sâm, đỗ trọng… Rừng Hà Giang không những giữ vai trò bảo vệ môitrường sinh thái đầu nguồn cho vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn cung cấp nhữngnguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, xây dựng, y tế và sẽ là nhữngđiểm du lịch sinh thái lý tưởng của tỉnh
Hà Giang còn nhiều khu rừng nguyên sinh chưa được khai thác, môi trườngsinh thái trong lành và chứa đựng nhiều tiềm ẩn kỳ thú Các rừng đá trập trùng,nhấp nhô ẩn hiện trong mây bạc, nhiều đỉnh núi cao trên 2.000 m như Pu Ta Kha,Tây Côn Lĩnh; nhiều hang động đầy bí ẩn như Tùng Bá, Lùng Má, (huyện VịXuyên), Tùng Vài (Quản Bạ), Hang Mây, Sảng Tủng (Đồng Văn); các danh thắngnhư núi Cô Tiên, Cổng Trời (Quản Bạ)
Trang 26- Tài nguyên khoáng sản
Qua khảo sát, thăm dò, bước đầu tỉnh Hà Giang đã phát hiện được 28 loạikhoáng sản khác nhau Đáng chú ý là có những mỏ có trữ lượng lớn trên một triệutấn với hàm lượng khoáng chất cao như: ăngtimon ở các mỏ: Mậu Duệ, Bó Mới(Yên minh); sắt ở Tùng Bá, Bắc Mê; chì - kẽm ở Na Sơn, Tả Pan, Bằng Lang, Cao
Mã Pờ Ngoài ra, còn có nhiều khoáng sản khác như: pirít, thiếc, chì, đồng,mănggan, vàng sa khoáng, đá quý, cao lanh, nước khoáng, đất làm gạch, than non,than bùn…Hiện nay một số mỏ đang được khai thác có hiệu quả
* Tiềm năng kinh tế
- Những lĩnh vực kinh tế lợi thế
Hà Giang là tỉnh có tài nguyên đa dạng nhưng chưa được khai thác có hiệuquả Hà Giang có điều kiện phát triển công nghiệp khai khoáng, đặc biệt làăngtimon và cao lanh, phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, côngnghiệp chế biến nông, lâm sản
Hà Giang có điều kiện khí hậu tốt và nhiều cảnh đẹp, suối nước nóng,… đểphát triển du lịch quá cảnh Đây là ngành then chốt trong phát triển kinh tế của tỉnhnhưng trong những năm vừa qua chưa thực sự giữ vị trí quan trọng
Trang 27Hoàng Su Phì đã được công nhận là Di tích quốc gia Ruộng bậc thang Hoàng SuPhì.
Với mạng lưới sông suối luồn lách qua những đồi núi thấp hình thành những
hồ lớn vào mùa mưa tạo ra những điểm du lịch hấp dẫn như hồ Noong Do có nhiềunúi đá vôi nên trong tỉnh có nhiều suối nước nóng là những địa điểm du lịch lýtưởng Hà Giang có nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ít nơi có đượcnhư: Suối Tiên, cổng Trời, thác nước Quảng Ngần, khu Nậm Má, khu chum vàng,chum bạc và di tích nhà họ Vương…Đặc biệt là Công viên địa chất Cao nguyên đáĐồng Văn và Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì
2.1.2 Đặc điểm Kinh tế - Xã hội
2.1.2.1 Đặc điểm Kinh tế - Xã hội tỉnh Phú Thọ
Trong những năm qua, kinh tế của tỉnh Phú Thọ phát triển liên tục, toàn diện và đạttốc độ tăng trưởng khá, GDP tăng bình quân hàng năm đạt 9,73%, GDP bình quân đầungười tăng 1,68 lần so với năm 2000 Năm 2005: Tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn:6.936,7 tỷ đồng; thu ngân sách nhà nước: 761,3 tỷ đồng; chi ngân sách nhà nước1.796,4 tỷ đồng; đã giải quyết việc làm cho 4.328 người lao động; GDP bình quân đầungười theo giá thực tế là 5,23 triệu đồng
Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng bình quân 8,1%/năm, trình độ thâmcanh được nâng lên, đã tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vàosản xuất Đã hình thành một số vùng sản xuất chuyên canh gắn với công nghiệp chếbiến Có thêm nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp đạt năng và thu nhập cao, tănggiá trị trên một diện tích canh tác Chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thuỷsản tiếp tục phát triển, công tác quản lý và phát triển rừng có tiến bộ, độ che phủrừng tăng nhanh, đạt 42,3%
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 14,6%/năm Các doanh nghiệpnhà nước trung ương tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng, đóng góp lớn về giá trịsản xuất và nguồn thu ngân sách Doanh nghiệp nhà nớc địa phương cơ bản đợc sắpxếp và chuyển đổi hình thức sở hữu Doanh nghiệp ngoài nhà nước phát triển
Trang 28nhanh, đã thu hút được nguồn vốn khá lớn trong dân đầu tư vào sản xuất, góp phầngiải quyết việc làm cho người lao động, tạo thêm nhiều sản phẩm mới.
Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực doanh nghiệp nhà nướctrung ương giảm từ 57,1% xuống còn 44,1%, doanh nghiệp nhà nước do địaphương quản lý giảm từ 10,76% xuống còn 5,88%, doanh nghiệp ngoài nhà nớctăng từ 9,6% lên 23,55%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 22,56%lên 26,47%
Tuy nhiên, Phú Thọ vẫn là tỉnh nghèo, tăng trưởng kinh tế cha thực sự vữngchắc, GDP bình quân đầu người mới gần bằng 60% so với mức trung bình của cảnớc, thu ngân sách mới đảm bảo 40% chi Du lịch, dịch vụ phát triển chưa tươngxứng với tiềm năng; độ che phủ rừng còn thấp; công tác qui hoạch phát triển ngànhcòn chưa được đồng bộ và thiếu vững chắc, đặc biệt việc sử dụng tài nguyên, đất,nước và khoáng sản trong phát triển kinh tế nhiều mặt còn yếu, tình trạng ô nhiễmmôi trường và huỷ hoại tài nguyên vẫn cha được khắc phục
Coi trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao, lao động lànhnghề, tạo việc làm cho người lao động Đẩy mạnh việc xã hội hoá trong các lĩnhvực giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá, thể thao; đầu tư xây dựng và khai thác tốt cácthiết chế văn hoá, thể thao, giữ vững phong trào ‘‘ Toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hoá ’’, khơi dậy và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của quêhương Đất Tổ, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trườngthuận lợi cho thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết tốt tình trạng
ô nhiễm môi trường
2.1.2.3 Đặc điểm Kinh tế - Xã hội tỉnh Lào Cai
Lào Cai có vai trò cầu nối trên tuyến hành lang kinh tế Côn Minh Lào Cai
-Hà Nội - Hải Phòng, là địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế và quốc phòng.Tổng sản phẩm trong Tỉnh (GDP) năm 2014 đạt 13.188 tỷ đồng, tăng 10.144
tỷ đồng, tương đương 77,7% so cùng kỳ năm 2005 Tỷ trọng của ngành nông - lâm
- ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ trong GDP: 28,26%-37,80%-37,9%
Trang 29Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp: 3728 tỷ đồng Cơ cấu cây trồng, vậtnuôi chuyển dịch theo hướng gắn với thị trường tiêu thụ, tăng hiệu quả sản xuất.Nhờ giá cả, thực hiện tốt đầu tư bao tiêu sản phẩm, tổng diện tích gieo trồng419.135 ha, trong đó: diện tích trồng cây hàng năm 63.554 ha, diện tích trồng câylâu năm 19.841 ha, đất lâm nghiệp có rừng là 333.604 ha.
Giá trị sản xuất công nghiệp: 4.986 tỷ đồng, tăng 84,34% so với cùng kỳ năm
2005 (781,8 tỷ đồng) Các khu vực công nghiệp đều có tăng trưởng; khu vực kinh
tế nhà nước tăng 21,9%, khu vực dân doanh tăng 21,8%, khu vực có vốn đầu tưnước ngoài tăng 30,4%
Giá trị các ngành dịch vụ : 4998,2tỷ đồng ( tăng gấp 50 lần so với năm 1991).Nguồn vốn ngân hàng tiếp tục tăng trưởng
Xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2011: đạtmức trên 1 tỷ USD/năm
Chương trình giải quyết việc làm giảm nghèo, thực hiện chính sách đối với hộnghèo, người có công với nước, cán bộ về hưu được thực hiện đồng bộ Trong 5năm từ 2006-2011, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 43,31% xuống còn 16,8% (mụctiêu đại hội XIII Đảng bộ tỉnh Lào Cai là 20%), cơ bản hoàn thành xoá nhà tạm cho
hộ nghèo; tạo ra và giải quyết việc làm cho 47.610 lao động Thực hiện tốt chínhsách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của các gia đình,đối tượng chính sách không ngừng được cải thiện và nâng lên rõ rệt
Đầu tư cho GD-ĐT chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách; cơ sở vật chấtđược tăng cường, chất lượng dạy và học từng bước được nâng lên Huy động trẻ 6tuổi ra lớp 1 hàng năm đạt 98-99%, duy trì kết quả chống mù chữ và phổ cập giáodục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS đã hoàn thành và đang tiến hànhphổ cập giáo dục THPT ở các vung thuận lợi Xã hội hoá giáo dục được chú trọng,ngoài hệ công lập, ở cấp học mầm non còn có trường dân lập, tư thục Đào tạonguồn nhân lực được quan tâm, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 40% Công tácđào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được chú trọng
Trang 30Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh giảm từ 3,61% năm 1991 xuống còn 1,69%năm 2011 Chất lượng cuộc sống người dân tiếp tục được cải thiện: 100% xã cóđường ô tô đến trung tâm xã, 87% thôn, bản có đường giao thông liên thôn Tỷ lệ
xã, phường sử dụng điện lưới quốc gia đạt 100% với 77% hộ nông thôn được dùng
điện, tỷ lệ hộ nông thôn dùng nước sạch, hợp vệ sinh đạt 70%, 100% xã, phường đã
được phủ sóng điện thoại di động và hoà mạng internet, đáp ứng nhu cầu thông tin
liên lạc và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2.3 Đặc điểm Kinh tế - Xã hội tỉnh Hà Giang
Hà Giang là tỉnh miền núi cao, có nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên,thiếu đất canh tác, thiếu nước sinh hoạt, thời tiết khí hậu khắc nghiệt
Tuy nhiên, Kinh tế của tỉnh Hà Giang tăng trưởng khá nhanh, giá trị tăng thêmcủa nền kinh tế đạt tốc độ tăng bình quân năm 12,7% Cơ cấu kinh tế chuyển dịchtheo hướng tích cực, tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, giảm
tỷ trọng các ngành nông - lâm nghiệp Thu nhập bình quân đầu người đạt 7,5 triệuđồng/người/năm, tăng 4,3 triệu đồng so với năm 2005 Thu ngân sách trên địa bàntăng mạnh, đạt trên 600 tỷ đồng (tăng gần gấp 3 lần so với năm 2005, vượt trên 200
tỷ đồng so với Nghị quyết) An ninh lương thực từng bước được đảm bảo, bìnhquân lương thực đầu người đạt 460 kg (tăng 90 kg so với NQ, tăng 95 kg so vớinăm 2005) Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá thực tế) đạt 1.300 tỷ đồng, gấp3,5 lần so với năm 2005 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ thị trường xã hộiđạt 2.250 tỷ đồng (gấp hơn 2 lần so với năm 2005)
Trong những năm qua, tỉnh Hà Giang đã đổi mới mạnh mẽ và đem lại hiệu quảcao trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, như: Pháttriển chăn nuôi đại gia súc, trồng rừng kinh tế, trồng cây cao su, cây cải dầu,vv cótác động tích cực làm thay đổi mô hình, phương thức sản xuất, quan hệ sản xuấttrong nông nghiệp, nông dân và nông thôn Phát huy nội lực, khai thác, quản lý và
sử dụng lồng ghép có hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn vốn của Trung ương
để xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo ra diện mạo mới từ
Trang 31nông thôn đến thành thị.Bước đầu đã thu hút được các thành phần kinh tế đầu tưvào một số lĩnh vực thế mạnh của tỉnh như: Thuỷ điện,khoáng sản, dịch vụ, du lịch.Hoàn thành phân giới cắm mốc, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia,đảm bảo biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển
2.1.3 Đặc điểm về Giáo dục và đào tạo
2.1.3.1 Đặc điểm về Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ
Trong những năm qua, sự nghiệp GD&ĐT tỉnh Phú Thọ luôn được sự quantâm lãnh đạo chỉ đạo sâu sắc của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh; sự phối, kết hợpchặt chẽ của các cấp, các ngành và đoàn thể xã hội; sự đồng tình ủng hộ của cáctầng lớp nhân dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để Giáo dục Đất Tổ tiếp tục pháttriển toàn diện, vững chắc đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển nguồnnhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước
Quy mô mạng lưới các trường phổ thông dân tộc nội trú đã bảo đảm phù hợpvới quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội và các điều kiện của tỉnh (có 01 trườngPTDTNT tỉnh với 14 lớp và 487 học sinh; 04 trường PTDTNT huyện với 33 lớp và1.059 học sinh)
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có 07 trường THCS thuộc các xã ở vùng có điềukiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện mô hình các lớp PTDTBT thu đượckết quả tốt: THCS Kim Thượng, Xuân Sơn, Thu Cúc, Đồng Sơn (huyện Tân Sơn);THCS Thượng Cửu, Yên Lương (huyện Thanh Sơn) và THCS Trung Sơn (huyệnYên Lập) Chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi tiếp tục được cảithiện
Việc quản lý, tuyển sinh và cử tuyển được thực hiện nghiêm túc theo quy định.Đảm bảo chế độ chính sách hỗ trợ học sinh người dân tộc, học sinh nội trú, họcsinh bán trú theo quy định của Nhà nước, của tỉnh góp phần quan trọng trong việcphát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi
Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, sự gắn kết cộng đồng tráchnhiệm giữa Ngành Giáo dục với các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và xã
Trang 32hội chung sức, đồng lòng cùng với Ngành Giáo dục thực hiện các chủ trương lớncủa Đảng, Chính phủ nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục của tỉnh
Việc thực hiện cơ chế, chính sách ưu tiên giáo dục và đào tạo vùng dân tộcthiểu số, miền núi, hỗ trợ giáo viên, học sinh vùng khó và cuộc vận động “3 đủ”cho học sinh đạt hiệu quả thiết thực
Sau 3 năm triển khai thực hiện, công tác PCGDMN cho trẻ 5 tuổi trên địa bàntỉnh đã hoàn thành Kết quả: 861/861 lớp 5 tuổi trên địa bàn tỉnh có đủ phòng họckiên cố, bán kiên cố, đạt chuẩn 100% lớp 5 tuổi có đủ bộ thiết bị dạy học tối thiểu
để thực hiện chương trình GDMN Có đủ 1.722 giáo viên dạy tại các lớp 5 tuổi(đảm bảo 2 giáo viên/lớp) đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo, giáo viênlớp 5 tuổi cơ bản được vào biên chế, được hưởng thu nhập và các chế độ khác theothang bảng lương giáo viên mầm non
Trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non được hưởng các chế độ, chính sáchmiễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ
sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và các chế độ, chính sách khác theoquy định hiện hành; được chăm sóc giáo dục theo chương trình GDMN, trẻ em dântộc thiểu số được chuẩn bị Tiếng Việt trước khi bước vào lớp 1 Gần 7.300 trẻ 5tuổi được hưởng kinh phí hỗ trợ ăn trưa với tổng số tiền là trên 7,8 tỉ đồng; trẻ emđược hưởng các chế độ theo Nghị định số 49 của Chính phủ trong 3 năm là trên 40
tỉ đồng
Tính đến nay, toàn tỉnh có 266/277 xã, phường, thị trấn và 13/13 huyện, thị,thành đạt chuẩn PCGDMN cho trẻ 5 tuổi Phú Thọ là địa phương thứ 6 trong cảnước, là tỉnh thứ 2 trong 15 tỉnh miền núi phía Bắc được công nhận đạt chuẩnPCGDMN cho trẻ 5 tuổi, đây là bước đánh dấu sự chuyển biến về chất của giáodục mầm non Thành quả về công tác PCGDMN cho trẻ 5 tuổi có ý nghĩa đặc biệtquan trọng, làm nền tảng vững chắc cho phổ cập giáo dục tiểu học, giáo dục THCS,góp phần nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Trang 332.1.3.2 Đặc điểm về Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo Lào Cai hình thành từ trong kháng chiến chốngPháp, bắt đầu từ sau năm 1954 trong bối cảnh khó khăn rất lớn của cả nước về kinh
tế và đời sống Tuy nhiên, cùng với những biến động về lịch sử và khó khăn chồngchất của một tỉnh vùng cao biên giới, từ năm 1979 đến năm 1990, sự nghiệp giáodục Lào Cai tuy đã được quan tâm duy trì nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập
Ngày 01/10/1991, thực hiện Nghị quyết Quốc Hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9,tỉnh Lào Cai chính thức đi vào hoạt động Ngành giáo dục và đào tạo Lào Cai đứngtrước những thách thức mới với sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực để cùng lúc vừaxây dựng, vừa phát triển kinh tế - xã hội cho một tỉnh vùng cao biên giới mới táilập Khi ấy, hệ thống giáo dục của tỉnh còn chưa đầy đủ, chưa có trường sư phạm
và các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, chưa có trường phổ thông trung học chuyênbiệt để dạy học cho con em đồng bào dân tộc thiểu số
Toàn tỉnh có 14/164 xã không có trường lớp học, hầu hết các xã vùng caokhông có lớp 5; có 101/164 xã chưa có trường, lớp THCS; cơ sở vật chất trườnghọc rất thiếu thốn, tạm bợ; đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng và hạn chế về trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ; tỷ lệ người mù chữ trong độ tuổi cần xoá mù chữ rấtlớn; tỷ lệ huy động trẻ từ 6-14 tuổi ra lớp mới chỉ đạt 35,7%; chất lượng, hiệu quảgiáo dục và đào tạo rất thấp, cả tỉnh chưa xã nào đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểuhọc chống mù chữ; nhận thức về giáo dục và nhu cầu học tập của nhân dân các dântộc rất thấp và bị giảm sút nhiều do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội cónhiều khó khăn
Tuy vậy, sự nghiệp giáo dục và đào tạo Lào Cai giai đoạn 1991 - 2001 đã cónhững bước tiến dài về phát triển quy mô trường, lớp và phổ cập giáo dục tiểu học -chống mù chữ
Mạng lưới trường, lớp đa dạng phủ kín các địa bàn; các trường Tiểu học từchưa hoàn chỉnh đã hoàn chỉnh đến lớp 5 Trường, lớp mẫu giáo và THCS từngbước phát triển từ vùng thấp lên vùng cao Các huyện đều tập trung vào củng cố
Trang 34trường Phổ thông dân tộc nội trú, trường Bồi dưỡng giáo dục (nay là Trung tâmGDTX), trường Trung học phổ thông
Ngay sau khi tái lập tỉnh, trường THPT DTNT tỉnh, trường THPT thị xã vàtrường TH sư phạm đã được thành lập để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân vàđáp ứng yêu cầu tạo nguồn đào tạo cán bộ, đào tạo giáo viên phục vụ cho sự pháttriển của tỉnh mới thành lập; so với nhiều tỉnh trong khu vực, Lào Cai hoàn thànhkhá sớm công tác phổ cập giáo dục tiểu học chống mù chữ
Giai đoạn 2001-2011 tỉnh Lào Cai đã thực hiện song hành và thành công cảhai mục tiêu: Phát triển quy mô trường lớp, học sinh và đạt chuẩn phổ cập giáo dụcTiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS, nâng cao chất lượng giáo dục vàđào tạo
Với quyết tâm rất lớn của cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp và nhân dân cácdân tộc thực hiện hai mục tiêu trên, tỉnh Lào Cai đã được Bộ Giáo dục và Đào tạocông nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi năm 2005 và đạtchuẩn phổ cập giáo dục THCS năm 2007; tạo nền tảng vững chắc để nâng cao dântrí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài
Hệ thống giáo dục đã hoàn thiện và phát triển đầy đủ từ mầm non, phổthông, trung cấp đến cao đẳng Quy mô, mạng lưới trường, lớp học tiếp tục đượccủng cố và phát triển
2.1.3.3 Đặc điểm về Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Giang
Hà Giang là một tỉnh có địa hình phức tạp, phân bố dân cư không đồng đều,học sinh dân tộc thiểu chiếm tỷ lệ cao Tuy nhiên, chất lượng giáo dục đại trà vàmũi nhọn đều tăng Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia vượt kế hoạch đề ra,công tác phổ cập THCS, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi được giữ vững,chất lượng phổ cập ngày càng cao
Các đơn vị chức năng đã phối hợp với các chính quyền địa phương triển khaiviệc tu sửa trường lớp, tăng cường xây dựng phòng học mới, bổ sung thiết bị, đồdùng học tập, hạn chế tối đa tình trạng học nhờ, học mượn, xây dựng nhà công vụ
Trang 35cho giáo viên, đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường chuẩn quốc gia ở các cấp Đếnnay toàn tỉnh có 10.941 phòng học( tăng 1.232 phòng so với cùng kỳ năm trước)trong đó phòng học kiên cố: 6.323 phòng, cấp IV 3.305 và phòng học tạm là 1.404phòng Các phòng học bộ môn, thí nghiệm, thư viện có 635 phòng Tổng số bànghế giáo viên 10.787 bộ; bàn ghế học sinh 103.940 bộ Phòng lưu trú cho cán bộgiáo viên 4.472 phòng, lưu trú học sinh 1.352 phòng.
Xây dựng các dự án nâng cấp cơ sở vật chất cho các huyện, các điểm trường
ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.Chú trọng mua sắm trang thiết bị dạy
và học đặc biệt là sách giáo khoa, vở viết cho học sinh đảm bảo 100% có đủ sáchgiáo khoa, vở viết
Ứng dụng công nghệ thông tin có hiệu quả trong việc đổi mới phương phápdạy và học Đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, duy trìkết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS, triển khai phổ cậpgiáo dục trung học phổ thông trên các địa bàn vùng sâu, vùng xa Công tác bồidưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo viên luôn được chú trọng nhằm nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ quản lý
Toàn tỉnh có 18.988 cán bộ , giáo viên, công nhân viên phục vụ giảng dạy vàcông tác tại các đơn vị giáo dục Nhằm đáp ứng đủ số lượng giáo viên cho năm họcmới, Sở đã phối hợp với các ngành liên quan xây dựng đề án tuyển dụng giáo viên
để bổ sung Công tác tổ chức tuyển sinh vào đầu cấp các trường dân tộc nội trú,trường THPT Chuyên và các trường THPT đã hoàn thành và xét tuyển bổ sung chocác lớp; tuyển sinh và huy động tối đa trẻ 5 tuổi đến trường; trẻ 6 tuổi vào lớp 1;hoàn thành công tác tuyển sinh vào lớp 6, lớp 10
2.2 Thực trạng GD- ĐT tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Hà Giang
2.2.1 Thực trạng GD - ĐT tỉnh Phú Thọ
Trong những năm qua Phú Thọ rất chú trọng đến phát triển giáo dục và đàotạo, triển khai có chiều sâu phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện,học sinh tích cực” ở các CSGDMN: đảm bảo môi trường sư phạm, xanh, sạch, đẹp,
Trang 36an toàn, lành mạnh, giữ gìn mối quan hệ ứng xử thân thiện giữa các thành viêntrong nhà trường; tăng cường đổi mới phương pháp giáo dục nhằm phát huy tínhtích cực của trẻ, hình thành ở trẻ các phẩm chất mạnh dạn, tự tin trong mọi hoạtđộng, thân thiện với mọi người xung quanh, lễ phép trong giao tiếp, ứng xử
Đầu tư xây dựng đảm bảo mỗi trường học có đủ nhà vệ sinh an toàn, sạch sẽcho trẻ và giáo viên; duy trì việc thực hiện đưa các nội dung giáo dục văn hóatruyền thống thông qua các trò chơi dân gian, làn điệu dân ca, triển khai các bài hátxoan phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường và bản sắc văn hóa của địaphương
Mạng lới trường, lớp được phát triển rộng khắp, đến nay mỗi xã, phường, thịtrấn đều có trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở; mỗi huyệnthành thị đều có từ hai trường trung học phổ thông trở lên và 100% số xã đều cótrung tâm học tập cộng đồng Về cơ bản đã tạo điều kiện cho trẻ em đến trờng, đápứng nhu cầu học tập của con em nhân dân các dân tộc trong tỉnh kể cả vùng sâu,vùng xa
Hiện nay số học sinh của Phú Thọ là 292356 học sinh, chiếm 39,5% dân số
toàn tỉnh Tỷ lệ học sinh đi học so với độ tuổi đạt ở mức khá so với bình quânchung của cả nước, các cháu trong độ tuổi nhà trẻ mẫu giáo là 82061 chiếm 23,9%học sinh toàn tỉnh, trẻ em từ 6-10 tuổi đã đi học tiểu học, trẻ em 11-14 tuổi đi họctrung học cơ sở chiếm 50% và 10,5 % học trung học phổ thông
Qui mô học sinh ngoài công lập ổn định ở mầm non và trung học phổ thông,
tỷ lệ học sinh ngoài công lập so với tổng số học sinh ở mầm non: 89,4%; tiểu học:0,15%; trung học cơ sở: 0,8% và trung học phổ thông: 40,8 %
Phú Thọ là tỉnh đã đạt Chuẩn Phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi từ năm2002; là tỉnh thứ 17 trên toàn quốc được Bộ GD&ĐT công nhận đạt chuẩn phổ cậpTHCS tại thời điểm tháng 10/2003; tỉnh thứ 6 trên toàn quốc được Bộ GD&ĐTcông nhận đạt Chuẩn Phổ cập Giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi từ tại thời điểmtháng 12/2012
Trang 37Xây dựng 43 trường học đạt chuẩn quốc gia, trong đó, 13 trường mầm non,
10 trường tiểu học, 15 trường trung học cơ sở, 05 trường trung học phổ thông
Các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các cơ sở đào tạo
đa dạng hoá các loại hình và ngành nghề đào tạo, nhằm gắn đào tạo với nhu cầunguồn lao động của tỉnh
Số lượng tăng/giảm so với năm học trước
Tổng số trường năm học 2013- 2014
Số lượng tăng/giảm so với năm học trước
Tổng số trường năm học 2013- 2014
Số lượng tăng/giảm
so với năm học trước
- Trẻ nhà trẻ: 542 nhóm, 14.723 trẻ Tỷ lệ huy động 14.723/67.538 đạt 21,8%
(tăng 1,5% so năm học trước).
- Trẻ mẫu giáo: 2.346 lớp, 67.878 trẻ; Tỷ lệ huy động 67.878/71.602 đạt
94,8% (tăng 1,5 % so với năm học trước).
- Riêng trẻ mẫu giáo 5 tuổi: 850 lớp với 23.624 trẻ, tỷ lệ huy động 100%
(không tính trẻ 5 tuổi khuyết tật hòa nhập); 100% trẻ mẫu giáo 5 tuổi được học 2
buổi/ngày
Duy trì tốt nhiệm vụ phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi (100% các huyện,thành, thị với 276/277 xã, phường, thị trấn đã tiến hành kiểm tra và đảm bảo tốt