1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh lễ hội Cướp Phết xã Hiền Quan huyện Tam Nôg tỉnh Phú Thọ với lễ hội Cướp Phết xã Bàn Giản huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúcn

84 1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 16,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tiếp cận về quá trình hình thành và phát triển của lễ hội Trong tác phẩm “Những làng văn hóa văn nghệ dân gian tỉnh Phú Thọ” của các tác giả Đoàn Hải Hưng - Trần Văn Thục - Nguyễn

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 2

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

2.1 Những tiếp cận về quá trình hình thành và phát triển của lễ hội 3

2.2 Những tiếp cận về đặc sắc của lễ hội Cướp Phết 5

2.3 Những tiếp cận về kinh tế - du lịch 10

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 11

3.1 Mục tiêu của đề tài 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4.1 Đối tượng nghiên cứu 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Bố cục đề tài 14

NỘI DUNG 15

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI VÀ LỄ HỘI CƯỚP PHẾT 15

1.1 Khái quát về lễ hội 15

1.1.1 Khái niệm về lễ hội 15

1.1.2 Đặc trưng của lễ hội 17

1.1.3 Chức năng của lễ hội 19

1.2 Khái quát về lễ hội cướp phết 23

1.2.1 Khái quát về lễ hội cướp phết ở Việt Nam 23

1.2.2 Khái quát về lễ hội cướp phết ở xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ và xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 26

1.2.2.1 Khái quát về lễ hội Cướp Phết ở xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ 26

1.2.2.2 Khái quát về lễ hội cướp phết ở xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 30

Chương 2 37

LỄ HỘI CƯỚP PHẾT XÃ HIỀN QUAN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ VÀ LỄ HỘI CƯỚP PHẾT XÃ BÀN GIẢN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC – NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT 37 2.1 Quan điểm so sánh 37

2.2 Những tương đồng 39

2.2.1 Mục đích của lễ hội 39

2.2.2 Lịch sử hình thành 40

2.2.3 Không gian, thời gian và địa điểm tổ chức 41

2.2.4 Quá trình chuẩn bị 42

2.2.5 Cách thức tổ chức 43

2.3 Những dị biệt 44

2.3.1 Lịch sử hình thành 44

2.3.2 Không gian, thời gian và địa điểm tổ chức 49

Trang 2

2.3.3 Quá trình chuẩn bị 50

2.3.4 Cách thức tổ chức 52

Chương 3 57

GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI CƯỚP PHẾT TỪ CÁI NHÌN TƯƠNG QUAN GIỮA LỄ HỘI Ở HIỀN QUAN VÀ LỄ HỘI Ở BÀN GIẢN 57

3.1 Giá trị văn hóa - lịch sử 57

3.2 Giá trị văn hóa - tín ngưỡng 59

3.3 Giá trị văn hóa - giáo dục 61

3.4 Giá trị văn hóa - du lịch 63

3.5 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội Cướp Phết 66

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 74

MỞ ĐẦU

Trang 3

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay cuộc sống vật chất của con người đã

cơ bản được đảm bảo và nhu cầu về tinh thần của con người ngày càng cao Tuynhiên những nhu cầu về tinh thần này hiện nay chủ yếu còn tập chung vào cácsân chơi giải trí như thể thao, âm nhạc, các trò chơi hiện đại khác mà lãng quên

đi những trò chơi dân gian, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Chính bởiđiều này mà lễ hội ít được quan tâm đến, bị biến tướng, mai một, thậm chí làbiến mất Trước những nguy cơ này theo chúng tôi việc nghiên cứu các lễ hộinhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy chúng là một hướng nghiên cứu cấp thiết

Nghiên cứu so sánh lễ hội Cướp Phết ở xã Hiền Quan huyện Tam Nôngtỉnh Phú Thọ với lễ hội Cướp Phết xã Bàn Giản huyện Lập Thạch tỉnh VĩnhPhúc sẽ góp phần vào công cuộc khôi phục, bảo tồn, gìn giữ và phát huy nhữnggiá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; Xây dựng và củng cố môitrường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc; tiếp tụcđẩy mạnh nếp sống văn minh, lịch sự trong sinh hoạt văn hóa lễ hội của từngvùng miền địa phương cụ thể

Hơn nữa, trên thực tế việc tổ chức lễ hội ở các địa phương khác nhauđang đặt ra những vấn đề bức thiết Loại hình Lễ hội cướp phết trong nhữngnăm gần đây là một trong những biểu hiện của cả ưu và nhược điểm của trào lưu

lễ hội, điều này đặt ra những câu hỏi cần có lời đáp nhằm tác động điều chỉnhđến định hướng tổ chức, các giải pháp bảo tồn và phát huy cũng như việc hạnchế những nguy cơ và tiêu cực

Nghiên cứu so sánh lễ hội cùng loại hình sẽ giúp ta, một mặt thấy đượcnhững liên hệ giữa chúng trong cấu trúc văn hóa tổng thể mang đặc trưng truyềnthống văn hóa dân tộc, mặt khác có thể chỉ ra sự phân hóa, những biến thể, đặcthù tương hợp giữa môi trường văn hóa cụ thể, những nét dị biệt sẽ tạo nên sự đadạng, nét riêng của lễ hội văn hóa cụ thể

Những nét tương đồng và dị biệt giữa hai lễ hội cùng loại hình như lễ hộiCướp Phết ở xã Hiền Quan huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ với lễ hội Cướp Phết

Trang 4

xã Bàn Giản huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc sẽ giúp chúng ta cắt nghĩa đượcmột số vấn đề cơ bản của quy luật văn hóa nói chung cũng như những đặc trưngđộc đáo của truyền thống văn hóa lịch sử Việt Nam Đây cũng là cơ sở là hướng

đi cho sự phát triển du lịch văn hóa của hai địa phương góp phần phát triển kinhtế

Như vậy, đề tài “so sánh lễ hội Cướp Phết xã Hiền Quan huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ với lễ hội Cướp Phết xã Bàn Giản huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc” có tính cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Những tiếp cận về quá trình hình thành và phát triển của lễ hội

Trong tác phẩm “Những làng văn hóa văn nghệ dân gian tỉnh Phú Thọ”

của các tác giả Đoàn Hải Hưng - Trần Văn Thục - Nguyễn Phi Nga, lễ hội CướpPhết xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ đã có giới thiệu về lịch sửhình thành của lễ hội theo góc độ truyền thuyết

Tương truyền, năm 16 tuổi Thiều Hoa tới tu tại chùa Phúc Khánh (Hiền Quan) nghe tin Trưng Trắc dấy binh khởi nghĩa, Thiều Hoa tập hợp được khoảng 500 người, hàng ngày luyện tập võ nghệ, chơi trò đánh phết, phóng lao rồi về Hát Môn tụ nghĩa Hàng năm tại đền thờ Thiều Hoa ở Hiền Quan có tổ chức lễ hội tưởng niệm nữ tướng và chơi trò đánh Phết vào ngày 12 – 13 tháng Giêng [4;325]

Tác phẩm “Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam tổng tập” của tác

giả Phạm Gia Khiêm cũng đã nghiên cứu lễ hội Cướp Phết xã Hiền Quan, huyệnTam Nông, tỉnh Phú Thọ dưới góc độ tiếp cận về quá trình hình thành và pháttriển của lễ hội Tác giả đã giải thích về nguồn gốc hình thành lễ hội và bướcđầu đã giải mã một số mã văn hóa chứa đựng trong lễ hội như những tín ngưỡngvăn hóa cổ của cư dân nông nghiệp Tác giả đã miêu thuật lại toàn bộ quá trìnhdiễn ra của lễ hội từ phần lễ cho đến phần hội Đặc sắc của lễ hội còn chứa đựngtrong ý nghĩa của quả phết và hành động cướp phết (may mắn, bình an, mưa

Trang 5

thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt) Tác phẩm cũng đã trình bày về quá trình pháttriển của lễ hội trong suốt quá trình lịch sử cho tới ngày nay.

Tác phẩm “Lễ hội Việt Nam” của các tác giả Lê Hồng Lý – Lê Trung Vũ

cũng đã nghiên cứu lễ hội cướp phết Hiền Quan dưới góc độ tiếp cận quá trìnhhình thành và phát triển Các tác giả đã giải thích sự ra đời của hội cướp phếttheo truyền thuyết, là do tưởng nhớ tớ công lao của nữ tướng Thiều Hoa dướithời Hai Bà Trưng đã có công lớn đối với quê hương nói riêng và đất nước nóichung Trò chơi cướp phết hay còn gọi là hất phết là trò chơi dân gian được nữtướng Thiều Hoa thường chơi lúc thủa nhỏ khi đi chăn châu và khi luyện quâncũng dùng trò này vừa để luyện quân vừa để cho quân sĩ vui chơi giải trí lúc giờ

nghỉ luyện binh “Bà cho đẽo phần gỗ Xoan làm quả cầu, lấy thân tre phần gốc (có gộc) làm gậy ôn lại trò chơi thủa nhỏ chăn trâu, quân lính những lúc nghỉ ngơi lại cùng nhau đánh vật, đánh phết vừa để rèn luyện vừa để giải trí”

[28;329]

Góc độ tiếp cận này cũng đã được của tác giả Lê Kim Thuyên đề cập

trong tác phẩm “Lễ hội Vĩnh Phúc” Tác giả đã giới thiệu một cách khái quát về

lịch sử hình thành của lễ hội qua góc độ truyền thuyết và nêu quá trình phát triểncủa lễ hội cướp phết ở xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Theo tácgiả, lễ hội cướp phết Bàn Giản được hình thành nhằm ghi nhớ công ơn của bốn

vị đại vương “Đệ Nhất Xá Sơn, Đệ Nhị Lê Sơn, Đệ Tam Tròn Sơn, Đệ Tứ Xui

Sơn” đã có công lớn với làng Trò chơi cướp phết cũng là trò “hí tiếu” mà bốn vị

đại vương thường chơi lúc rảnh rỗi và sau được dùng để luyện binh, có tác dụngtăng sự dẻo dai, sức bền, sự nhanh nhẹn quan sát và đặc biệt là sự đoàn kết phốihợp với nhau

Góc độ tiếp cận về nguồn gốc hình thành của lễ hội cướp phết cũng đã

được nhắc tới trong tác phẩm “Văn hóa dân gian” của tác giả Bùi Đăng Sinh Ở

góc độ tiếp cận này tác giả đã đưa ra nguồn gốc của lễ hội cướp phết thông quatruyền thuyết của thôn Đông Lai (liên quan đến bốn vị đại vương tướng lĩnh thờivua Hùng đã có công “hộ nước giúp dân” trong cuộc chiến tranh Hùng Thục) và

Trang 6

thôn Tây Hạ (liên quan đến một vị tưỡng lĩnh thời Hùng Vương đã có công lớntrong cuộc chiến tranh Hùng Thục, ông là Trương Định Xá người thôn Tây Hạ).Điều này cho thấy, lễ hội cướp phết có nguồn gốc hình thành từ việc cảm kích

và biết ơn những người có công với địa phương với đất nước Dùng trò chơicướp phêt, trò hí tiếu mà những vị thần đã từng chơi tái hiện lại trong lễ hội đểtoàn dân luôn biết ơn và nhớ đến công lao của các thần

Nói chung dưới góc độ tiếp cận về nguồn gốc hình thành và phát triển của

lễ hội cướp phết, các công trình nêu trên khá hữu ích cho những ai quan tâm đến

lễ hội văn hóa này Nhưng một hạn chế có thể dễ dàng nhận thấy đó là các côngtrình nghiên cứu này ra đời tương đối muộn và nhiều chỗ các tác giả còn giảithích chưa thấu triệt về thời điểm khởi phát của Lễ hội Dưới sự pha trộn củaquá trình thương mại hóa, kinh tế thị trường và những trào lưu văn hóa “Đông -Tây” đã làm cho lễ hội cướp phết không còn thuần nhất như lúc khởi thủy Vànhư vậy, đương nhiên sẽ không thể nào tìm về ngọn nguồn của thời điểm ra đời

và các bước phát triển nhất là khi nó gắn với tư duy của mỗi hoàn cảnh thời đại

xã hội

2.2 Những tiếp cận về đặc sắc của lễ hội Cướp Phết

Trong tác phẩm “Những làng văn hóa văn nghệ dân gian tỉnh Phú Thọ”

của các tác giả Đoàn Hải Hưng - Trần Văn Thục - Nguyễn Phi Nga đã giới thiệu

về đặc sắc của lễ hội Cướp Phết xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọthông qua việc tả thuật quá trình diễn ra của lễ hội và những nét đặc sắc độc đáo.Tác phẩm đã nêu lên những sự đặc sắc độc đáo và giá trị văn hóa của lễ hội

Từ sáng sớm, những con đường về Hiền Quan trở nên đông vui tấp nập Hàng vạn người đổ về đây để được đắm mình trong không khí của ngày hội Khi có ánh nắng mặt trời (khoảng giờ ngọ) thì lễ rước kiệu bắt đầu Cũng như hôm trước, dân làng rước kiệu, long ngai án gian ra đền, theo sau là cả một đoàn quân trai thanh gái tú, thắt lưng màu xanh đỏ, tay giơ cao dùi phết, cờ quạt, vừa đi vừa cất tiếng hú, tiếng reo, tiếng trống

Trang 7

chiêng vang động Thật là một đám rước tưng bừng nhộn nhịp, rộn rã âm thanh, lung linh màu sắc [4;325]

Tuy nhiên, những điều đó chỉ mang tính chất tả thuật, chưa cho người đọcthấy được sự đặc sắc độc đáo của nó so với các lễ hội cùng loại hình

Vấn đề đặc sắc của lễ hội cướp phết cũng đã được tiếp cận trong tác phẩm

“Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam tổng tập” của tác giả Phạm Gia

Khiêm thông qua nghiên cứu lễ hội cướp phết xã Hiền Quan, huyện Tam Nông,tỉnh Phú Thọ Tác phẩm đã nêu lên sự đặc sắc của lễ hội thông qua tả thuật vàgiải mã một số mã văn hóa chứa đựng trong lễ hội Theo tác giả thì rất có thểquá trình cướp phết và những luật lệ có liên quan đến tín ngưỡng của cư dânnông nghiệp đó là tín ngưỡng thờ mặt trời, hành động đưa phết xuống lồ phếttượng trưng cho hành động tra hạt trong lao động của cư dân nông nghiệp Tácgiả thể hiện sự độc đáo của lễ hội thông qua sức hấp dẫn, sự thu hút của lễ hội

và những ý nghĩa, những điều huyền bí chứa đựng trong quả phết (sự may mắn,những ước mơ, nguyện vọng) Bên cạnh đó, tác giả cũng đã khẳng định nhữngđặc sắc, độc đáo của lễ hội thông qua việc khẳng định giá trị của lễ hội trong hệthống lễ hội dân gian tỉnh Phú Thọ Tuy nhiên tác phẩm chưa đặt lễ hội trongtương quan so sánh với lễ hội cùng loại hình để thấy được sự đặc sắc, độc đáoriêng của nó

Dưới góc độ tiếp cận này tác giả Lê Hồng Lý – Lê Trung Vũ cũng đã đề

cập đến trong tác phẩm “Lễ hội Việt Nam” Ở tác phẩm này đặc sắc của lễ hội

được thể hiện thông qua diễn trình lễ hội gồm rước kiệu, tế lễ, cướp phết và cáctrò chơi dân gian Bên cạnh đó đặc sắc của lễ hội còn được thể hiện ở ngay ởquá trình chuẩn bị hội như là chuẩn bị lễ vật, chuẩn bị quả, phết dùi phết và đặcbiệt là tính thiêng của lễ hội (nhân khang vật thịnh, may mắn, mùa màng tốttươi)

Đánh phết hay hất phết là trò chơi phong tục nổi tiếng nhất của làng Hiền Quan nhằm nhắc lại sự luyện tập dân binh dấy cờ nghĩa của bà Thiều Hoa Tổ chức hội phết không chỉ để tưởng niệm Bà mà còn là một

Trang 8

sự nhắc nhở cho con cháu đương thời một giai đoạn lịch sử oanh liệt đã qua của dân tộc Thực hiện tục hất phết đồng thời cũng là lúc để dân làng Hiền Quan cầu mong sự che chở tâm linh của đức thánh, phù hộ cho dân làng được nhân khang vật thịnh, tránh được những tai ương, dịch bệnh trong năm [28;231].

Trong tác phẩm “Di sản văn hóa huyện Tam Nông” của Chi hội văn nghệ

dân gian huyện Tam Nông đặc sắc lễ hội cũng đã được đề cập đến

Hội phết Hiền Quan đã trở thành truyền thống thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc với lòng dũng cảm, mưu trí nhanh nhẹn linh hoạt trong thời chiến cũng như thời bình Hội phết diễn tả lại cảnh luyện tập

võ nghệ thuở xưa cái khí thế hào hùng của dân tộc ta được thể hiện trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước những năm đầu công nguyên Hội làng nói chung và hội phết Hiền Quan nói riêng ngoài ý nghĩa để mội người cùng nhau tưởng nhớ những vị anh hùng có công trong công cuộc

và bảo vệ và xây dựng đất nước, nó còn phản ánh mặt nào đó triết lý

“Sinh vi danh tướng, tử vi thần” mang đậm đời sống tâm linh của không chỉ một vùng quê mà còn thể hiện quốc hồn quốc túy của bản sắc dân tộc Việt Nam [tr72]

Tác phẩm đã nêu khái quát về tiểu sử và công lao của nữ tướng ThiềuHoa, lễ hội cũng được tái hiện lại qua sự mô tả tỉ mỉ Tuy nhiên, tác phẩm chưađặt lễ hội trong tương quan so sánh với lễ hội cùng loại hình để làm bật lên nétriêng đặc sắc của nó

Tác phẩm “Lễ hội Vĩnh Phúc” của tác giả Lê Kim Thuyên, sự đặc sắc của

lễ hội cũng được đề cập tới thông qua quá trình miêu thuật lễ hội cướp phết xãBàn Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Điều này, giúp người đọc thấyđược những nét đặc sắc, hấp dẫn của nó Lễ hội cướp phết Bàn Giản gồm có thilàm cỗ thờ, có “Ông gà” và lễ “vật gà”, thi giã bánh Dầy Diễn ra đồng thời làphần tế lễ, rước kiệu và phần hấp dẫn nhất của lễ hội là trò chơi cướp phết cầu

Trang 9

may Tuy nhiên những đặc sắc của lễ hội chưa được làm nổi bật thông qua sự sosánh để thấy được những nét đặc sắc riêng của nó.

Đối với tác phẩm “Văn hóa dân gian” của tác giả Bùi Đăng Sinh, cũng

giống như Lê Kim Thuyên, ông thể hiện sự đặc sắc của lễ hội thông qua quátrình miêu thuật lễ hội qua phần lễ, phần hội và những giá trị tâm linh của lễ hội.Tác giả còn trình bày khá rõ về ý nghĩa và sự may mắn chứa đựng trong quảphết mà người ta gọi là “ngọc cầu” Tuy nhiên, tác giả chưa có những nhận định

về giá trị văn hóa của lễ hội, chưa đặt lễ hội cướp phết Bàn Giản trong tươngquan so sánh với các lễ hội cụ thể cùng loại hình để làm bật lên nét độc đáo vốn

Đặc sắc của hội phết Hiền Quan và Bàn Giản đã cùng được nhắc tới trong

cuốn sách “Địa chí Vĩnh Phú” Tuy nhiên chỉ là sự tiếp cận như một trò chơi dân

gian chứ chưa nêu bật được nguồn gốc, đặc sắc hay ý nghĩa văn hóa của nó

Hội làng người Việt có một hình thức đua tài vui khỏe rất hấp dẫn

đó là đánh phết, cướp cầu hay đả cầu cướp phết Đánh phết là một hình thức cầm vào chiếc gậy mà đánh vào quả cầu để đưa cầu đi, đòi hỏi sức mạnh của tập thể và tinh thần đồng đội Những người chơi phết chia làm hai phe, số người tham gia không hạn chế Trên bãi phết, mỗi đầu bãi có

Trang 10

một cái hố tròn đứng ngập tới đầu gối Giữa bãi nhiều nơi còn đào một

hố nông làm vị trí để đặt quả cầu Quả cầu hay quả phết được làm bằng

gỗ thường làm bằng gố mít, gỗ xoan hay củ tre to bằng quả bóng da ngày nay, có nơi gọi là ngọc cầu Các đấu thủ mỗi người cầm một gốc tre dài bằng chiếc đòn gánh, gốc đẽo vát hình thìa được gọi là phết hay gậy phết Khi chơi người ta lấy cây gậy phết đó mà đưa cầu, bên nào giành được cầu đánh cho lọt vào cái hố hay lò phết của phe mình là thắng [13; 220-

221],

Xã Hiền Quan (huyện Tam Nông) có hội phết lớn vào ngày 12, 13 tháng Giêng âm lịch hàng năm Chơi phết ở đây được tổ chức chơi ba ván gọi là ba bàn phết với luật chơi hay còn gọi là lệ khá nghiêm ngặt đó

là khi chơi phết lúc nào cũng phải để cho phết sệt đất, không được hất tung lên khỏi mặt đất”[13;221]

Xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch cũng có hội phết rất độc đáo Lễ hội được tổ chức vào ngày 6, 7 tháng giêng âm lịch hàng năm Xã có ba thôn Đông Lai, Trụ Thạch, Ngọc Xuân, thường thì năm nào cả ba thôn cũng tổ chức đánh phết Tuy nhiên, năm nào mất mùa chỉ có duy nhất thôn Đông Lai mở hội Hội phết Bàn Giản xưa kia quả phết được làm bằng gỗ Mít có khía cạnh hình múi và người ta lấy rào cắm thành một con đường từ cửa đình ra gò đất gọi là “mô cắc phết”, cuộc đấu phết chỉ diễn ra trong con đường cắm rào đó Ngày nay, cũng như hội phết khác cướp phết Bàn Giản là cướp phết bằng tay không trên bãi rộng thậm chí

là ở khắp làng và quả phết không còn khía múi như trước[13;222].

Vẫn với những thao tác này chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc đặt lễ hộicướp phết xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc trong tương quan với

lễ hội cướp phết xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ mà quan trọnghơn là còn lý giải sự tương đồng, khác biệt từ chính quan niệm của người dânhai địa phương Việc làm này sẽ giúp ích cho việc tìm ra những nét đặc sắc vănhóa của từng địa phương một cách thấu đáo hơn

Trang 11

2.3 Những tiếp cận về kinh tế - du lịch

Hướng tìm hiểu nghiên cứu lễ hội cướp phết dưới góc độ kinh tế - du lịch

đã được đề cập đến trong khóa luận tốt nghiệp “Giá trị văn hóa của lễ hội cướp phết xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch tỉnh, Vĩnh Phúc” của Bùi Thị Hường,

trường Đại học Hùng Vương một cách khái quát Tác giả cho rằng, lễ hội cướpphết là một tiềm năng du lịch văn hóa lớn và lại được tổ chức vào đầu xuân vùađúng dịp nhân dân đi lễ cầu may đầu xuân nên sẽ là một cơ hội để lễ hội cướpphết có thể kết nối với các lễ hội lân cận để hình thành các tuyến điểm du lịchvăn hóa

Qua thực tiễn đi khảo sát nhiều lần tại địa phương chúng tôi thấy

du khách tới tham dự lễ hội thường có nhu cầu dừng chân nghỉ ngơi, ăn uống trong ngày hội Tuy nhiên, hiện nay ở xã Bàn Giản chưa có một dịch vụ lưu trú, ăn uống nào tại đây nhằm tạo điều kiện tốt để du khách tham dự lễ hội được đáp ứng những nhu cầu cơ bản của mình Việc làm này rất thiết thực, nó giúp người dân nơi đây có thêm việc làm, nguồn thu nhập từ khách du lịch và quảng bá những đặc sản ẩm thực của vùng miền[5; 68]

Tác giả đã đưa ra một số hướng và giải pháp để phát triển lễ hội dưới khía cạnhkinh tế - du lịch

Ngoài ra, khía cạnh tiếp cận này cũng được đề cập trên một số tờ báo,trang web (trang thông tin điện tử Vĩnh Phúc, Phú Thọ…) nhưng chủ yếu là kháiquát, chung chung, chưa đưa ra được những hướng đi và biện pháp cụ thể rõràng có tính khả thi

Qua những công trình nghiên cứu tìm hiểu hai lễ hội cướp phết xã BànGiản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc và xã Hiền Quan, huyện Tam Nông,tỉnh Phú Thọ, ta có thể nhận thấy dưới các quan điểm tiếp cận khác nhau hai lễhội cướp phết đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, khai thác ở nhiều lĩnh vực

cả bao quát chung lẫn nhỏ lẻ, cụ thể Điều này, làm cho hướng nghiên cứu của lễhội cướp phết ngày càng được mở rộng hơn Tuy nhiên, đặt hai lễ hội cướp phết

Trang 12

này trong tương quan so sánh chúng tôi muốn hướng tới một cái nhìn biệnchứng, không chỉ dừng lại ở tiếp cận văn hóa Như thế vấn đề sẽ được sâu sắc vàđáng tin cậy hơn.

Qua việc tiếp cận hai lễ hội cướp phết dưới góc độ “so sánh” chúng tôi

mong muốn sẽ quay lại làm rõ những nét văn hóa đặc trưng và hết sức độc đáocủa hai địa phương

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục tiêu của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm tìm ra những nét tương đồng và nétkhác biệt của hai lễ hội cùng loại hình ở hai địa phương trên cùng một vùng vănhóa Đồng thời nhận diện đặc sắc văn hóa của lễ hội cướp phết xã Bàn Giản,huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc và lễ hội cướp phết xã Hiền Quan, huyện TamNông, tỉnh Phú Thọ Qua đó, đánh giá về những liên hệ trong cấu trúc tổng thểcủa nền văn hóa dân tộc nói chung, sinh hoạt lễ hội nói riêng của văn hóa ViệtNam, góp phần phát huy và khai thác hiệu quả giá trị văn hóa phục vụ đời sốngcủa nhân dân

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo sát, hệ thống hóa các dữ liệu về hai lễ hội cướp phết ở xã Bàn Giản,huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc và xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh PhúThọ

So sánh để xác định nét đặc sắc của hai lễ hội ở cả các điểm giống vàkhác nhau

Xây dựng hệ thống luận điểm, lập báo cáo về kết quả nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những điểm tương đồng và khác biệt giữa lễ hội cướp phết ở xã HiềnQuan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ với lễ hội cướp phết xã Bàn Giản, huyệnLập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 13

So sánh về nguồn gốc, diễn trình của lễ hội cướp phết ở xã Hiền Quan,huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ và xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh VĩnhPhúc từ góc độ văn hóa lịch sử, văn hóa tín ngưỡng và văn hóa du lịch.

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tiếp cận loại hình: Đối với việc so sánh hai lễ hội cùng loạihình thì phương pháp này rất cần thiết và hữu dụng Muốn tìm hiểu lễ hội ta cầntiếp cận và tìm hiểu loại hình của nó, đặt nó trong tương quan loại hình Sẽkhông có bất cứ nghĩa lý gì nếu ta đem so sánh hai đối tượng chẳng liên quan gìtới nhau Để việc nghiên cứu diễn ra suôn sẻ và hiệu quả ta nên chọn nhữngphương pháp cụ thể, phù hợp với từng loại hình nghiên cứu

Phương pháp liên ngành: Lễ hội cướp phết là một diễn trình tổng hợp vàchúng ta cần tìm hiểu lễ hội qua nhiều cách tiếp cận như nghe kể lại, qua ngọcphả, qua truyền thuyết, qua diễn trình lễ hội và qua thần tích Vì vậy, vận dụngphương pháp liên ngành sẽ giúp chúng ta có cái nhìn dưới nhiều góc độ khácnhau như góc độ văn học, sử học, địa lý học, dân tộc học, lễ hội tín ngưỡng dângian…nhằm chỉ ra các biểu hiện, các khía cạnh cụ thể của vấn đề Từ đó phươngpháp này sẽ giúp ta tìm ra cách giải quyết vấn đề mới mẻ, chính xác và thuyếtphục hơn

Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp: Lễ hội cướp phết có ở nhiềuđịa phương khác nhau trong vùng văn hóa Bắc Bộ, đặc biệt là vùng ven sông Lôcủa hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc Vì vậy khi nghiên cứu chúng ta phải đặt lễhội trong tương quan so sánh với lễ hội cùng hệ thống để khảo cứu Việc phântích tổng hợp sẽ giúp ta phát hiện và giải mã được nhiều vấn đề trong lễ hộicũng như giúp chúng ta đưa ra những kết luận có cơ sở khoa học và thỏa đánghơn

Phương pháp chuyên gia phỏng vấn: Cũng giống như nhiều lễ hội cổtruyền khác, giá trị của lễ hội cướp phết đã được ghi chép lại trong nhiều tài liệunhưng giá trị thực sự của nó lại chủ yếu nằm trong tâm thức cộng đồng, đặc biệt

là các vị cao niên sống trong làng Từng chứng kiến rất nhiều lần các dịp lễ hội

Trang 14

diễn ra gắn liền với những biến cố, thăng trầm của làng, người dân trong làng cócái nhìn chân thật, chính xác hơn về những giá trị của lễ hội Lễ hội cướp phếtcũng là chủ đề nghiên cứu của nhiều nhà văn hóa như Lê Kim Thuyên, TrầnVăn Thục, Phạm Gia Khiêm, Lê Hồng Lý… Bởi vậy, phương pháp phỏng vấnngười dân và hỏi ý kiến chuyên gia là cực kỳ thiết thực Các kết quả nghiên cứucủa người đi trước sẽ giúp chúng tôi có thêm một điểm tựa tin cậy để triển khainội dung nghiên cứu của mình Những thông tin của phương pháp chuyên gia,phỏng vấn cung cấp cho chúng tôi những thông tin cần thiết để so sánh đốichứng, các kết luận sẽ chuẩn xác và không mang tính võ đoán.

Phương pháp sưu tầm, điền dã xâm nhập, thống kê, phân loại: Lễ hộicướp phết đã sớm được nhiều nhà nghiên cứu như Phạm Gia Khiêm, Trần VănThục, Lê Kim Thuyên… ghi chép Tuy nhiên, gắn với một vấn đề nghiên cứukhá chuyên biệt mà chúng tôi lựa chọn, chúng tôi còn nhiều việc phải làm hơnnữa, trong đó không thể thiếu điền dã văn hóa Bởi vậy, chúng tôi xác định việccần làm trước hết là sưu tầm để bao quát tài liệu nghiên cứu, điền dã – thâmnhập thực tế rồi tiến hành thống kê, phân loại để có được một cái nhìn toàn diện

và có hệ thống về vấn đề nghiên cứu

Phương pháp lịch sử: Lễ hội cướp phết là một minh chứng cho sự hộinhập văn hóa và lịch sử Từ nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển lễ hộichúng ta đã thấy rõ vai trò của lịch sử trong đó Chúng ta tìm hiểu về lễ hội cũngchính là tìm hiểu về lịch sử, tái hiện lại cuộc sống vật chất và tinh thần của ôngcha ta ngày trước Phương pháp lịch sử sẽ cho ta những đánh giá có căn cứ xácthực và thuyết phục

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận chúng tôi cấu trúc đề tài làm ba chương:

Chương 1: Khái quát về lễ hội và lễ hội cướp phết

Chương 2: Lễ hội cướp phết xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ và

lễ hội cướp phết xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc – những tương đồng và dị biệt

Trang 15

Chương 3: Giá trị văn hóa của lễ hội cướp phết từ cái nhìn tương quan giữa lễ hội ở Hiền Quan và lễ hội ở Bàn Giản

Trang 16

NỘI DUNG

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI VÀ LỄ HỘI CƯỚP PHẾT

1.1 Khái quát về lễ hội

1.1.1 Khái niệm về lễ hội

Cho đến nay, có nhiều quan niệm, cách gọi và sự giải thích khác nhau vềthuật ngữ “lễ hội” Có người gọi là lễ hội là “hội lễ”, có người gọi là “hội hèđình đám” và cũng có người gọi là “lễ, hội”… Tuy tên gọi và cách diễn đạtkhác nhau nhưng các ý kiến đó không có mâu thuẫn mà thống nhất với nhau

trong một nội dung: “Lễ hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng”.

Như vậy trong khái niệm lễ hội bao gồm hai yếu tố: Lễ và hội, hai yếu tốnày luôn tồn tại song song, bổ sung, hỗ trợ và hoàn thiện lẫn nhau

Lễ: Theo từ điển tiếng việt, “lễ” là “Những nghi thức tiến hành nhằm

đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó” Trong thực tế,

lễ có sự hình thành khá phức tạp

Trong cuốn sách “Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam các tỉnh phía Bắc” của PGS.TS Hoàng Lương, ông cho rằng chữ “lễ” được hình thành và biết

tới từ thời Chu ( thế kỷ thứ XII trước Công Nguyên) Lúc đầu chữ lễ được hiểu

là lễ vật của các gia đình quý tộc nhà chu cúng tế thần tổ tông, gọi là tế lễ

Dần dần chữ Lễ được mở rộng nghĩa là “hình thức phép tắc để phân biệt trên dưới, hèn sang, thứ bậc lớn nhỏ, thân sơ trong xã hội khi đã phân hóa thành đẳng cấp” Theo tác giả Đoàn Văn Chúc trong cuốn sách “văn hóa học”.

Cho đến nay, trong một xã hội phát triển thì ý nghĩa của lễ càng được mở rộngnhư: Lễ Thành hoàng, lễ gia tiên, lễ khao vọng, lễ cưới, lễ cầu an, lễ cầu mưa, lễcầu tạnh, lễ cầu mùa…

Ngày nay do càng mở rộng phạm vi nên đến đây lễ đã mang ý nghĩa baoquát cho mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội

Trang 17

Như vậy, “Lễ là cách ứng xử của con người trước tự nhiên đầy bí hiểm và thách đố - những câu hỏi không dễ gì giải đáp” Các nghi thức, nghi lễ của lễ

toát lên sự cầu mong phù hộ, độ trì của các thần giúp con người tìm ra nhữnggiải pháp tâm lý Lễ ở Việt Nam chủ yếu tập trung trong các nghi thức nghi lễliên quan đến cầu mùa, cầu cho “nhân khang, vật thịnh” Có thể nói, “Lễ là phầnđạo – tâm linh của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và đảm bảo nềnnếp, trật tự cho hội được hoàn thiện hơn”

Hội: Theo từ điển tiếng Việt, “Hội là cuộc vui tổ chức chung cho đông

đảo người dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt” – hội là đám vui đông

người, gồm hai đặc điểm cơ bản là đông người tập trung trong một địa điểm vàvui chơi với nhau Nhưng nếu chỉ có vậy thì nhiều khi chưa hẳn đã thành hội.Muốn được gọi là hội theo nghĩa Dân tộc học phải gồm các yếu tố:

- Được tổ chức nhân dịp kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó và liênquan đến cộng đồng như làng, bản…

- Nhằm đem lại lợi ích tinh thần cho mọi thành viên của cộng đồng, mangtính cộng đồng cả ở tư cách tổ chức lẫn mục đích tổ chức có khi tính cộng đồng

đó được mở rộng đến các làng, bản khác (liên làng)

- Có nhiều trò vui đến mức hỗn độn, đến vô số, tả tơi cả người Đây là sựcộng cảm cần thiết của phương diện tâm lý sau những ngày tháng lao động vất

vả với những dồn nén cần được giải tỏa và thăng bằng trở lại

Như vậy, Hội là cuộc vui chơi bằng vô số các hoạt động giải trí côngcộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp có các cuộc lễ kỷ niệm một sự

kiện lịch sử xã hội hay tự nhiên nhằm “diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự lễ hội” “Nếu lễ là phần đạo thì hội là phần đời”, là khát vọng của mọi

thành viên trong cộng đồng nhằm vươn tới những điều tốt đẹp Những khát vọng

đó thường được khái quát hóa, lý tưởng hóa hay nhân cách hóa bởi những nghithức hay những hoạt động thật cụ thể, thật sinh động và rất đời thường Vì vậy,nên phần hội thường được kéo dài hơn phần lễ rất nhiều và thường diễn ra rấtsôi động với sự tham gia của đông đảo quần chúng Mọi người đều “vào hội” để

Trang 18

lãng quên đi nỗi vất vả nhọc nhằn quên đi sự bất công ngang trái… mà hướngtới niềm vui sống và những tương lai tốt đẹp trong thời gian sắp tới.

Lễ và Hội là hai yếu tố có mối quan hệ khăng khít không thể tách rời nhau

mà chúng luôn song song tồn tại, bổ sung, hỗ trợ và hoàn thiện lẫn nhau Giữa lễ

và hội khó có thể tách rời mà chúng quyện lại với nhau, có thể nói hội là từ dùng

để chỉ thành phần ngoài lễ hay hội có thể coi là hình thức của lễ

Lễ hội: theo từ điển tiếng Việt, lễ hội là cuộc vui chung, có tổ chức, có

các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống

Tóm lại, có thể hiểu Lễ hội là sinh hoạt văn hóa với sự tham gia đông đảocủa người đi hội Lễ hội gồm hai phần, phần một là phần lễ có tính cách nghiêmtrang để tưởng niệm công lao của nhân vật được thờ phụng mà ngày lễ hội đó đềcập đến, phần hai là phần hội là tổ chức vui chơi cho cộng đồng

1.1.2 Đặc trưng của lễ hội

Lễ hội cổ truyền gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, nó mang

“tính thiêng”, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời

sống trần gian, trần tục Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài

là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồnthực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên

nó vẫn thuộc về tính thiêng, như tôn sùng sinh thực khí mà hội Trò Trám (PhúThọ) là điển hình

Tính tâm linh và tính thiêng của lễ hội nó quy định “ngôn ngữ” của lễ hội

là ngôn ngữ biểu tượng, tính thăng hoa, vượt lên thế giới hiện thực, trần tục của

đời sống thường ngày Ví dụ, diễn xướng ba trận đánh giặc Ân trong Hội Gióng,diễn xướng cờ lau tập trận trong lễ hội Hoa Lư, diễn xướng rước Chúa gái (MỵNương) trong Hội Tản Viên… Chính các diễn xướng mang tính biểu tượng nàytạo nên không khí linh thiêng, hứng khởi và thăng hoa của lễ hội

Lễ hội cổ truyền là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các

phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín

Trang 19

ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng

dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm

thực, mua bán… Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước talại có thể sánh được với lễ hội cổ truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đadạng vừa nguyên hợp này

Chủ thể của lễ hội cổ truyền là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng

đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn

cả là cộng đồng quốc gia dân tộc Nói cách khác không có lễ hội nào lại khôngthuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định Cộng đồng chính làchủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội

Ba đặc trưng trên quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức, thái độ và hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội, phân biệt với các

loại hình lễ hội khác như lễ hội sự kiện, các loại Festival

Lễ hội cũng như bất cứ một hiện tượng văn hóa, xã hội nào cũng đều chịu

sự tác động bối cảnh kinh tế - xã hội đương thời và nó cũng phải tự thích ứngbiến đổi theo Tuy nhiên, với loại hình lễ hội truyền thống thì ba đặc trưng nêu

trên là thuộc về bản chất, là yếu tố bất biến, là hằng số, chỉ có những biểu hiện

của ba đặc tính trên là có thể biến đổi, là khả biến để phù hợp với từng bối cảnh

xã hội Khẳng định điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc phụchồi, bảo tồn và phát huy lễ hội trong xã hội hiện nay Việc phục dựng, làm mất

đi các đặc trưng trên của lễ hội cổ truyền thực chất là làm biến dạng và phá hoạicác lễ hội đó

1.1.3 Chức năng của lễ hội

*Chức năng cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng:

Lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó cóthể là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộngđồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội ĐềnHùng – quốc tế) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ chính lễ hội

Trang 20

là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kếtcộng đồng.

Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắnkết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữutài nguyên và lợi ích kinh tế (công hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phốicủa một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồngcảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hoá (cộng cảm)… Lễ hội làmôi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sứcmạnh cộng đồng

Ngày nay, trong điều kiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càngkhẳng định “cái cá nhân”, “cá tính” của mình thì không vì thế cái “cộng đồng”

bị phá vỡ, mà nó chỉ biến đổi các sắc thái và phạm vi, con người vẫn phải nươngtựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng Trong điều kiện như vậy, lễhội vẫn giữ nguyên giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự cốkết cộng đồng ấy

*Chức năng hướng về cội nguồn:

Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về nguồn Đó là nguồn cội tự nhiên

mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cộicộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá Hơnthế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uốngnước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” Chính vì thế, lễ hội bao giờcũng gắn với hành hương - du lịch

Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hoá, toàncầu hóa, con người bừng tỉnh về tình trạng tách rời giữa bản thân mình với tựnhiên, môi trường; với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hoá độc đáo đang bịmai một Chính trong môi trường tự nhiên và xã hội như vậy, hơn bao giờ hết conngười càng có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hoàmình vào với môi trường thiên nhiên; trở về, tìm lại và khẳng định cái nguồn gốccộng đồng và bản sắc văn hoá của mình trong cái chung của văn hoá nhân loại

Trang 21

Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội cổ truyền là một biểu tượng,

có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy Đó cũng chính là tính nhân bản bền vững vàsâu sắc của lễ hội có thể đáp ứng nhu cầu của con người ở mọi thời đại

*Chức năng cân bằng đời sống tâm linh:

Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đờisống tâm linh Đó là đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng -chân thiện mỹ - cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong đó cóniềm tin tôn giáo tín ngưỡng Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sốngtâm linh, tuy nhiên không phải tất cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng.Chính tôn giáo tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu vềđời sống tâm linh của con người, đó là “cuộc đời thứ hai”, đó là trạng thái

“thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu

Xã hội hiện đại với nhịp sống công nghiệp, các hoạt động của con ngườidường như được “chương trình hoá” theo nhịp hoạt động của máy móc, căngthẳng và đơn điệu, ồn ào, chật chội nhưng vẫn cảm thấy cô đơn Một đời sốngnhư vậy tuy có đầy đủ về vật chất nhưng vẫn khô cứng về đời sống tinh thần vàtâm linh, một đời sống chỉ có dồn nén, “trật tự” mà thiếu sự cởi mở, xô bồ, “tháokhoán” Tất cả những cái đó hạn chế khả năng hoà đồng của con người, làmthui chột những khả năng sáng tạo văn hoá mang tính đại chúng Một đời sốngnhư vậy không có “thời điểm mạnh”, “cuộc sống thứ hai”, không có sự “bùngcháy” và “thăng hoa”

Trở về với văn hoá dân tộc, lễ hội cổ truyền con người hiện đại dường nhưđược tắm mình trong dòng nước mát đầu nguồn của văn hoá dân tộc, tận hưởngnhững giây phút thiêng liêng, ngưỡng vọng những biểu tượng siêu việt cao cả -chân thiện mỹ, được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộngđồng, con người có thể phô bày tất cả những gì là tinh tuý đẹp đẽ nhất của bảnthân qua các cuộc thi tài, qua các hình thức trình diễn nghệ thuật, cách thức ănmặc lộng lẫy, đẹp đẽ khác hẳn ngày thường Tất cả đó là trạng thái “thăng hoa”

từ đời sống hiện thực, vượt lên trên đời sống hiện thực Nói cách khác, lễ hội đã

Trang 22

thuộc về phạm trù cái thiêng liêng của đời sống tâm linh, đối lập và cân bằng vớicái trần tục của đời sống hiện thực.

*Chức năng sáng tạo và hưởng thụ văn hóa:

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng củanhân dân ở nông thôn cũng như ở đô thị Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng

ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng vàhưởng thụ các giá trị văn hoá và tâm linh, do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấmđượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc Đặc biệt trong “thời điểm mạnh”của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hoà trong không khí thiêng liêng, hứngkhởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường dường như được xoánhoà, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá của mình

Điều này có phần nào đối lập với đời sống thường nhật của những xã hộiphát triển, khi mà phân công lao động xã hội đã được chuyên môn hoá, nhu cầusáng tạo và hưởng thụ văn hoá của con người đã phần nào tách biệt

Đấy là chưa kể trong xã hội nhất định, một lớp người có đặc quyền cótham vọng “cướp đoạt” các sáng tạo văn hoá cộng đồng để phục vụ cho lợi íchriêng của mình Đến như nhu cầu giao tiếp với thần linh của con người cũng tậptrung vào một lớp người có “khả năng đặc biệt” Như vậy, con người, đứng từgóc độ quảng đại quần chúng, không còn thực sự là chủ thể của quá trình sángtạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá một cách bình đẳng nữa Xu hướng đó phầnnào xói mòn tinh thần nhân bản của văn hoá, làm tha hoá chính bản thân conngười Do vậy, con người trong xã hội hiện đại, cùng với xu hướng dân chủ hoá

về kinh tế, xã hội thì cũng diễn ra quá trình dân chủ hoá về văn hoá Chính nềnvăn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội cổ truyền là môi trường tiềm ẩn nhữngnhân tố dân chủ trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá ấy

*Chức năng bảo tồn và trao truyền văn hóa:

Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hoá dân tộc, mà còn làmôi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hoá dân tộc ấy

Trang 23

Cuộc sống của con người Việt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội,

mà trong chu kỳ một năm, với bao ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, để rồi

“xuân thu nhị kỳ”, “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, cuộc sống nơi thôn quêvốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiếng trống chiêng, người người tụ hội nơi đình chùa

mở hội Nơi đó, con người hoá thân thành văn hoá, văn hoá làm biến đổi conngười, một “bảo tàng sống” về văn hoá dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và traotruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nếu như không có nghi lễ và hội hè thìcác làn điệu dân ca như quan họ, hát xoan ; các điệu múa xanh tiền, con đĩđánh bồng, múa rồng, múa lân ; các hình thức sân khấu chèo, hát bội, rối nước,cải lương ; các trò chơi, trò diễn: Đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật,bơi trải, đánh phết, trò trám sẽ ra đời và duy trì như thế nào trong lòng dân tộcsuốt hàng nghìn năm qua

Làng xã Việt Nam là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh văn hoá truyềnthống của dân tộc nhất là trong hoàn cảnh bị xâm lược và đồng hoá Trong cáilàng xã nghèo nàn ấy, ngôi đình mái chùa, cái đền và cùng với nó là lễ hội với

“xuân thu nhị kỳ” chính là tâm điểm của cái nôi văn hoá đó Không có làng xãViệt Nam thì cũng không có văn hoá Việt Nam

Điều này càng cực kỳ quan trọng trong điều kiện xã hội công nghiệp hoá,hiện đại hoá và toàn cầu hoá hiện nay, khi mà sự nghiệp bảo tồn, làm giàu vàphát huy văn hoá truyền thống dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, thìlàng xã và lễ hội Việt Nam lại gánh một phần trách nhiệm là nơi bảo tồn, làmgiàu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

1.2 Khái quát về lễ hội cướp phết

1.2.1 Khái quát về lễ hội cướp phết ở Việt Nam

Ở Việt Nam, lễ hội cướp phết có khá nhiều ở các làng người Việt và chủyếu tập trung ở các tỉnh miền Bắc trong đó tiêu biểu là hai tỉnh Phú Thọ và VĩnhPhúc Theo thống kê tài liệu hầu hết các huyện của hai tỉnh Phú Thọ và VĩnhPhúc đều có lễ hội cướp phết nhưng mỗi địa phương lại có những tục lệ và hìnhthức chơi phết khác nhau

Trang 24

Đánh phết là một hình thức cầm vào chiếc gậy mà đánh vào quả cầu đểđưa cầu đi, đòi hỏi sức mạnh của tập thể và tinh thần đồng đội Những ngườichơi phết chia làm hai phe, số người tham gia không hạn chế Trên bãi phết, mỗiđầu bãi có một cái hố tròn đứng ngập tới đầu gối Giữa bãi nhiều nơi còn đàomột hố nông làm vị trí để đặt quả cầu Quả cầu hay quả phết được làm bằng gỗthường làm bằng gố Mít, gỗ Xoan hay củ Tre to bằng quả bóng da ngày nay, cónơi gọi là ngọc cầu Các đấu thủ mỗi người cầm một gốc tre dài bằng chiếc đòngánh, gốc đẽo vát hình thìa được gọi là phết hay gậy phết Khi chơi người ta lấycây gậy phết đó mà đưa cầu, bên nào giành được cầu đánh cho lọt vào cái hốhay lò phết của phe mình là thắng.

Hình thức chơi phết như trên gọi là “phết bộ”, hình thức phổ biến nhất ởcác hội làng Việt ở các tỉnh phía bắc Ngoài phết bộ còn có phết cưỡi ngựa Từtriều Lý phết đã là môn điền kinh dân tộc được ưa chuộng, từ vua, hoàng tộc đếnthường dân đều chơi phết

“Đánh phết” là hình thức đánh cầu bằng gậy còn “cướp phết” là hình thứcchơi cầu bằng tay không Trong cuốn sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” có miêu

tả hình thức chơi cầu của xã Điêu Lương huyện cẩm khê như sau:

Xã Điêu Lương huyện Cẩm Khê vào ngày mùng 4 tháng Giêng âm lịch hàng năm thường tổ chức lễ tế thần và rước bài vị thần ra ngoài nội đặt ở trước đàn, đào ba cái huyệt ở giữa và ở hai đầu tả hữu rồi đem quả cầu bằng gỗ sơn son bóng thả vào huyệt giữa, người già người trẻ chia nhau đứng ở hai bên chạy đến cái huyệt ở giữa để tranh nhau quả cầu Người bên hữu tranh được thì đem quả cầu đó về bên hữu, người bên tả tranh được thì đem quả cầu đó về bên tả gọi là cướp cầu.

Theo bà con kể lại sau này, cái hố giữa bãi đó địa phương gọi là “lò doanh” Bàn thờ thành hoàng đặt trước lò doanh Người vào cướp cầu là trai

đinh khỏe mạnh được chọn lựa kỹ càng Lúc cướp cầu khí thế rất hăng phải cósức khỏe mới tham gia được Có người khư khư ôm cầu trước bụng, các đấu thủ

Trang 25

xông vào đánh đấm để giành cầu, còn phe giữ cầu thì xúm lại để bảo vệ cầu đưa

về phía phe mình

Làng Nội Mật nay thuộc xã Tam Hợp, huyện Tam Đảo, tổ chức hội cướpcầu vào ngày tiệc Tam Nương (ba vị tướng của địa phương đã theo Hai BàTrưng khởi nghĩa) Cái hố đặt cầu ở giữa gọi là “lồ” Xã có bốn giáp chia làmhai phe Đông và Tây, mỗi giáp cử ra 10 trai đinh, vậy là mỗi phe có 20 đấu thủ

Thôn Đông Viên, xã Đông Phú (nay thuộc huyện Cẩm Khê) cướp cầu vàongày mùng 4 tháng Giêng âm lịch Chủ tế mặc áo thụng đóng khố, trịnh trọngnhấc quả cầu đặt trên bàn thờ rồi đi giật lùi ra sân đình Ở đây, trai 7 giáp xếpthành hai hay ba hàng đều mặc áo dài và đóng khố Một hồi chiêng trống nổilên, mọi người cởi khuy áo Hồi thứ hai mọi người cởi hết áo đặt trước mặt Tớihồi thứ ba chủ tế vẫn quay mặt vào bàn thờ, tung quả cầu ra sau lưng, trai làngxông vào cướp Lệ ở đây cấm không được để cầu rơi xuống và không đượcgiằng cầu ngang bụng, mọi người phải giơ cao tay để giữ và truyền cầu

Ngoài cầu gậy, cầu tay còn có một hình thức chơi cầu khác nữa đó là “cầugiỏ hay cầu giọ” Bãi cầu có chôn hai đầu hai cây tre mỗi cây có treo một cái giỏhay giọ thủng trôn Người dự đấu đóng khổ cởi trần chia làm hai phe, các pheđều cố giành lấy quả cầu ném cho lọt qua cái giỏ thủng bên phe mình là được.Những địa phương chơi cầu giỏ trong hội làng như là xã Xuân Huy, xã VựcTrường, xã Danh Hựu, xã Lương Lỗ

Còn một hình thức chơi cầu khác là đá cầu bằng chân được gọi là “đảcầu” giống như môn bóng đá ngày nay Những thôn chơi trò này như là Cựu Ấp,Liên Châu (xã Vĩnh Lại) mà đấu thủ là các cụ già

Mỗi địa phương lại có nhứng quy tắc, luật lệ riêng trong chơi phết tạo nênnhững nét đặc sắc cho mỗi địa phương, không nơi nào giống nơi nào

Lễ hội đánh phết xã Trương Xá (huyện Cẩm Khê) đánh quả phết bằng gỗ,

hố đặt phết được gọi là “cối” Các phe đấu giành nhau đưa quả phết về địa phậngiáp mình Họ tin rằng giáp nào giành được phết là năm đó làm ăn phấn chấn,gặp nhiều may mắn, mùa màng bội thu

Trang 26

Xã Hiền Quan (huyện Tam Nông) có hội phết lớn vào ngày 12, 13 thángGiêng hàng năm Chơi phết ở đây được tổ chức chơi ba ván gọi là ba bàn phếtvới luật chơi hay còn gọi là “lệ” khá nghiêm ngặt đó là khi chơi phết lúc nàocũng phải để cho phết sệt đất, không được hất tung lên khỏi mặt đất.

Ngược lại với Hiền Quan, lệ phết Thượng Lạp (nay thuộc xã Vĩnh Lạihuyện Lâm Thao) buộc đấu thủ phải hất tung quả phết lên, không được để phết

lê sệt đất Quả phết xã này làm bằng gỗ Xoan, sơn son thếp vàng Xong một bànphết, các đấu thủ lại chạy vòng vèo trên bãi vài vòng rồi nghỉ trước khi vào bànsau Đó có lẽ là cách vận động cho dãn xương cốt, cho thân thể thoải mái hơntrước khi vào một ván đấu mới

Xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch cũng có hội phết rất độc đáo Lễ hội được

tổ chức vào ngày 6, 7 tháng giêng hàng năm Xã có ba thôn Đông Lai, TrụThạch, Ngọc Xuân, thường thì năm nào cả ba thôn cũng tổ chức đánh phết Tuynhiên, năm nào mất mùa chỉ có duy nhất thôn Đông Lai mở hội Hội phết BànGiản xưa kia quả phết được làm bằng gỗ Mít có khía cạnh hình múi và người talấy rào cắm thành một con đường từ cửa đình ra gò đất gọi là “mô cắc phết”,cuộc đấu phết chỉ diễn ra trong con đường cắm rào đó Ngày nay cũng như hộiphết khác cướp phết Bàn Giản là cướp phết bằng tay không trên bãi rộng, thậmchí là ở khắp làng và quả phết không còn khía múi như trước

Hội phết Sơn Vi cũng là hội phết lớn của huyện Lâm Thao xưa Quả phết

to như cái ủ ấm lại bằng gỗ Lim nên rất nặng Giữa bãi đào một hố sâu ngập đầungười, đường kính khoảng 1,5m Chủ tế đọc bài giáo phết rồi thả quả cầu xuống

hố, dưới hố có hai người của hai phe đã đợi sẵn để đón cầu Khi họ mang cầunhảy lên miệng hố là hai bên đấu thủ xông vào tranh cướp Điều khác so vớicướp phết ở các nơi là Sơn Vi vừa cướp cầu truyền tay vừa đánh cầu bằng gậynhưng phần cướp tay là nhiều hơn Ngày thứ nhất, mồng một Tết chơi một bànphết, mồng hai chơi hai bàn và mồng ba chơi hai bàn rồi kết thúc bàn phết Lệchơi ở đây cứ bên nào đưa được cầu về địa phận thôn mình là thắng Theo

Trang 27

truyền thuyết phết Sơn Vi là hình thức luyện quân trước khi cất quân đánh Thụcchúa của Tản Viên và Mộc Sanh, những nhân vật thần thoại địa phương.

Ngoài các địa phương trên còn một số địa phương khác cũng chơi phếttrong hội làng như là thôn Cự Ấp xã Liên Châu (xã Vĩnh Lại ngày nay), xã DữuLâu (Việt Trì) ở đây còn gọi là đánh “lốc”, xã Tích Sơn (nay thuộc thành phốVĩnh Yên), thôn Trấn Yên xã Đông Đạo (nay thuộc huyện Tam Đảo)

Cho đến ngày nay, Lễ hội cướp phết chỉ còn tồn tại ở hai địa phương đó là

lễ hội cướp phết xã Hiền Quan huyện, Tam Nông và lễ hội cướp phết xã BànGiản, huyện Lập Thạch

1.2.2 Khái quát về lễ hội cướp phết ở xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ và xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

1.2.2.1 Khái quát về lễ hội Cướp Phết ở xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

Hiền Quan là làng cổ, nguyên có tên là làng Song Quan, thuộc huyện CổNông, nay là huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

Làng Hiền Quan thờ bà Thiều Hoa, nữ tướng của Hai Bà Trưng Tươngtruyền, ở động Lăng Xương ven sông Đà có hai vợ chồng nghèo làm nghề kiếmcủi Một hôm, ông bà qua sông sang núi Tản, trưa nắng ông bà nằm ngủ dướigốc Tùng cùng nằm mơ thấy thánh Tản Viên đến cho một người con gái Khi về

bà mang thai và ít lâu sau sinh ra Thiều Hoa Mười tuổi cô gái Thiều Hoa đã cósức khỏe hơn người, biết chèo chống lũ, vượt sông, lặn và bơi giỏi như cá Năm

13 tuổi, Thiều Hoa đã cầm đá ném hai tên lính Hán đi cướp của dân chài, 14 tuổinàng mồ côi cả cha lẫn mẹ phải đi ở chăn trâu Khi đi thả trâu, Thiều Hoa đã bàytrò chơi đánh phết chơi với lũ trẻ trong làng Năm 16 tuổi, Thiều Hoa đến tu tạichùa Phúc Thánh (Hiền Quan) Nghe tin Trưng trắc dấy binh khởi nghĩa, ThiềuHoa tập hợp được một đội quân 500 người, hàng ngày luyện tập võ nghệ, chơitrò đánh phết, phóng lao để rèn luyện nghĩa binh rồi về Hát Môn tụ nghĩa Đểtưởng nhớ nữ tưỡng Thiều Hoa, người dân ở xã Hiền Quan, huyện Tam Nông đãlập đền thờ Bà Hàng năm để tưởng nhớ Bà, tại đền thờ nữ tướng Thiều Hoa ở

Trang 28

xã Hiền Quan có tổ chức lễ hội Cướp Phết vào ngày 12 – 13 tháng Giêng âmlịch.

Ngày 12 là ngày cáo hội hay còn gọi là cáo tế Buổi sáng ngày 12 dânlàng rước kiệu và án nhang từ đền thờ Thiều Hoa về đình, trên kiệu có đặt longngai và quả phết, đám rước vừa đi vừa hú Sau khi tế lễ thì tổ chức điểm binh –kéo quân rồi đánh thử hai bàn phết Sáng ngày 13 là hội chính, khi có ánh nắngmặt trời (khoảng giờ Ngọ) thì lễ rước kiệu bắt đầu Cũng như ngày hôm trước,dân làng rước kiệu, long ngai và án nhang ra đình Phía sau là một đoàn traithanh gái tú thắt lưng màu xanh đỏ, tay giơ cao dùi phết, cờ quạt, vừa đi vừa húvừa hò reo cùng tiếng trống chiêng vang động, tưng bừng rộn rã [4]

Sau lễ dâng hương tưởng niệm dân làng làm lễ trước sân đình theo nghithức truyền thống tôn nghiêm và thành kính Cuộc tế lễ được kéo dài cho tớitrưa, buổi chiều là phần cướp phết Cướp phết là phần hấp dẫn nhất của ngàyhội, đó là trò kéo quân đánh phết hay còn gọi là luyện quân, đả quân Trai làngđược chia làm hai phe mỗi phe có một người chỉ huy dẫn đầu, trong tay cầm cờlệnh điều khiển đội Mỗi phe khoảng 50 – 60 người xếp thành hai hàng dọctrước bàn thờ, tay cầm dùi phết, cờ quạt, gươm giáo Các chàng trai mặc quầndài cởi trần áo, thắt lưng màu bỏ múi, mỗi phe chọn một màu thắt lưng để dễphân biệt Đứng đầu hai hàng có hai cụ già tay cầm cờ đuôi nheo, đầu chít khăn

đỏ Sau khi làm lễ trước bàn thờ các cụ cầm cán cờ đưa chéo ngang đầu, đi dọchai hàng quân như điểm binh hay điểm kỳ binh pháp, sau đó các cụ dẫn hai hàngquân chạy ra bãi hội Đi đầu là hàng cờ, giáo gươm rực rỡ, theo sau là hai cánhquân vừa đi vừa giơ cao dùi phết móc từng đôi vào nhau, tầng tầng lớp lớp Mỗicánh quân kéo 3 vòng lớn vừa chạy vừa reo hú trong tiếng trống chiêng, giục giãliên hồi Kéo xong 3 vòng, hai cánh quân tụ lại xếp thành vòng xoáy trôn ốctrước bàn thờ, tương truyền đây là cuộc kéo quân vây thành, rồi lại được gỡ rabên nào tiến về bên ấy xếp thành hai hàng đứng trước sân đình, mặt quay vàonhau tay cầm dùi phết móc vào nhau thành từng đôi

Trang 29

Bắt đầu trò cướp phết, thoạt tiên chủ tế làm lễ rước bàn thờ rồi rước mộtquả phết ra bãi Xung quanh có các chàng trai đan tay nhau thành hàng rào hộtống Khi cả đoàn tiến ra giữa bãi, chủ tế đứng bên lò phết (một hố sâu khoảng60cm) đọc bài hò phết, còn gọi là pháo phết, căn dặn quả phết Nội dung bài văntrình bày về việc đánh phết hàng năm của làng như một tục lệ bất di bất dịch,nhằm nhớ ơn đức thánh bà Thiều Hoa Qua nghi lễ này, để cầu mong đức thánhphù hộ, giúp cho dân làng được “già già sức khỏe, trẻ trẻ bình an, lục súc thànhphần, chư tai tống viễn, lúa tốt bằng đầu, dâu tốt bằng mạ” Đọc bài văn xongông thả quả phết xuống lò phết Khi đó hai đội cử mỗi bên một người cầm gậyphết ngoắc sẵn vào nhau để dưới lồ phết Khi phết được thả xuống hai người từ

từ cầm gậy phết lên lần thứ nhất dò 3 lần, lần thứ hai dò 5 lần, lần thứ ba dò 10lần Trong những lần thả xuống ngoắc lên như vậy, khi nào ngoắc được quả phếtlên thì hai bên bắt đầu thi nhau tranh cướp Đây là phần gay go, hào hứng và hấpdẫn nhất trong ngày hội Quả phết được đánh bổng lên, hàng trăm gậy phết nhấpnhô trên đầu người chờ đón quả phết Quả phết cứ như thế bay ngược bay xuôiliên hồi trên không trung qua lại ở hai bên Trong sân chơi người ta cắm mốcquy định cho từng phe, bên nào để quả phết bay khỏi giới hạn của mình là thua

Do đó tất cả phải hết sức chú ý đánh sao cho quả phết không bay ra khỏi giớihạn của mình đồng thời phải cướp và đánh quả phết bay ra khỏi giới hạn của đốiphương hoặc đưa vào lồ phết phe mình, như vậy là thắng Xưa kia, trên bãi hộiđào ba lò phết, một lò ở giữa và hai lò hai bên, cả hai phe phải ra sức dùng dùiphết đánh quả phết rơi vào lò phết bên mình Bên nào thắng sẽ được thưởng,mỗi lần quả phết bay quá giới hạn của sân phe nào hoặc phe nào đưa được phếtxuống lồ của bên mình thì kết thúc một bàn Cứ lặp lại như vậy cho tới bàn hai,bàn ba Sau ba bàn phết chủ tế vào làm lễ rồi rước ba quả chúi trên mâm phủ lụcđiều đến bãi hội, chủ tế ném từng quả về ba phía theo hướng xuôi dòng sông.Một lần nữa hàng trăm người lại tham gia vào cuộc tranh cướp chúi để mongnhận được quả lộc đem về

Trang 30

Về sau, mọi người nhận thấy, việc hất phết bằng gậy như vậy rất nguyhiểm nên người ta chuyển sang cướp bằng tay Tuy nhiên, để đảm bảo phongtục, mở đầu cuộc chơi vẫn giữ nguyên nghi lễ, vẫn phải có dùi phết để làm nghi

lễ tượng trưng Về lệ chơi ngày nay, đơn giản hơn rất nhiều, chơi phết bằng hìnhthức cướp tay và chỉ cần cướp được quả phết rồi chạy qua giới hạn là thắngcuộc

Trước đây, lệ làng quy định những người tham gia cướp phết phải lànhững người trong làng, tất cả trai tráng trong làng từ 18 tuổi trở lên nếu khôngphải làm cỗ thờ, chân kiệu hay những người lo việc chuẩn bị sân bãi, dọn dẹpđình đền đều phải tham gia cướp phết Nếu ai không tham gia sẽ bị làng phạt vạbằng trầu cau, nộp phạt tuy không lớn nhưng mang tiếng với cả làng, có lỗi vớithánh và “mất dông” cả năm đó Ngày nay, các xã ngoài cũng có thể tham giacướp phết cầu may, bất cứ ai cũng có thể tham gia

Ngày nay, do sự mở rộng về quy mô nên lễ hội cướp phết Hiền Quan cónhững thay đổi Lễ tế ngày chính hội được diễn ra tại đền thờ bà Thiều Hoa, sânhội cướp phết là một bãi sông rộng ngay phía trước đền Ngày 11 tháng Giêngkhoảng giờ Ngọ (khoảng 11h – 12h trưa) các cụ làm lễ tế ở đình sau đó làm lễrước kiệu, long ngai, hương án ra đền cách đó khoảng 1km, tổ chức tế lễ tại đền.Trưa ngày 12 tháng giêng các cụ ra đền làm lễ cáo tế, điểm binh kéo quân vàcho cướp 3 quả chúi sau đó làm lễ và rước kiệu, long ngai hương án về đình.Ngày 13 tháng giêng, ngày chính hội kiệu, long ngai, hương án lại được rước từđình ra đền như hôm trước Các nghi thức, nghi lễ vẫn giữ nguyên như ngày xưa

từ tế lễ, điểm binh, kéo quân, rước phết ra bãi và cướp phết

Cuộc cướp phết kết thúc, người giành được phết mang về đền làm lễ tạ

và các cụ làm lễ kết thúc hội Ngày hôm sau, tức ngày 14 tháng Giêng kiệu, longngai, hương án lại được rước về đình chờ ngày mở hội năm sau

Hội phết Hiền Quan tuy không có giải như những trò chơi thể thao khácnhưng vẫn thu hút đông đảo người dân tham gia với mong muốn cầu mong sựmay mắn ấm no Ngày nay, hội cướp phết đã vượt danh giới ra ngoài bãi hội

Trang 31

xuống tận cánh đồng bờ sông và kéo dài đến tận chiều tối Tan hội dân làng làm

lễ tạ rồi rước kiệu từ đền về đình với niềm vui phơi phới chờ mùa hội năm sau

1.2.2.2 Khái quát về lễ hội cướp phết ở xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

Bàn Giản là một làng cổ, xưa có tên là trang Bàn Giản nay thuộc huyệnLập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Bàn Giản thờ các vị tướng đã có công dẹp loạn từthời Hùng Vương, mùng 7 tháng Giêng âm lịch hàng năm thường mở hội cướpphết để tưởng nhớ công lao của các vị tướng này

Vào thời đại Hùng Vương dựng nước quốc hiệu Văn Lang nước ta đượcchia làm 15 bộ Thuở đó loạn lạc, giặc giã nổi lên ở khắp nơi, Hùng Vương đờithứ 3 giao cho 4 vị tướng lĩnh là các con trai của mình: Đệ nhất tên là Xá Sơn,

Đệ nhị tên là Lê Sơn, Đệ tam tên là Tròn Sơn, Đệ tứ tên là Xui Sơn về trấn ảimiền Đông Lai, Bàn Giản, Lập Thạch để dẹp loạn chấn an đất nước, hộ quốcphù dân Thực hiện chỉ dụ, 4 vị tướng đã trải qua nhiều trận chiến với nhiềuchiến công oanh liệt bảo toàn thành cổ Văn Lang, xây dựng và giữ gìn đất nước

Trong thời gian chiến tranh liên miên, để rèn luyện sức khỏe, tài khéo léocho binh sĩ, các vị tướng đã nghĩ ra một trò chơi khá độc đáo, hấp dẫn: Đẽo gọtmột quả cầu gỗ nhẵn, tròn tựa quả bưởi lớn rồi cho lăn ra giữa sân Các binh lính

sẽ tranh cướp nhau, ai giành được quả cầu đem về đặt ở nơi quy định sẽ giànhđược phần thưởng lớn Trò chơi này không những cổ vũ tinh thần binh sĩ saunhững trận chiến căng thẳng, quyết liệt mà còn tạo ra không khí vui vẻ, lạc quannơi chiến trường khói lửa Đồng thời, qua đó cũng khẳng định đức độ, tình yêuthương, quan tâm, san sẻ gánh nặng của các vị tướng lĩnh đối với quân dân

Về sau, nhân dân trong vùng đã lập 4 ngôi đình để thờ 4 vị tướng, gồm:Đông Lai, Trụ Thạch, Ngọc Xuân và Vườn Đào Trên mỗi ngôi đình có khắc 1quả cầu như một lời nhắc nhở con cháu sau này phải luôn khắc ghi công lao của

4 vị tướng anh hùng Trước kia, làng Tây Hạ vốn thuộc địa phận xã Liên Hòasau đó gộp vào địa phận xã Bàn Giản cũ vì vậy hai làng Tây Hạ và Đông Laithuộc xã Bàn Giản có những khác biệt trong phong tục văn hóa Hai làng đều có

Trang 32

lễ hội cướp phết với diễn trình tương đối giống nhau nhưng mỗi làng lại có mộttruyền thuyết về nguồn gốc của hội phết khác nhau, thờ thành hoàng làng khácnhau.

Làng Tây Hạ: Trong thần tích, ngọc phả của đình Tây Hạ còn ghi:

Làng thờ vị thần là nhân vật thời Hùng Duệ Vương, người đã cùng 3 vị

“Tản Viên Sơn tam vị đại vương” có công trong cuộc chiến tranh Hùng Thục.Ông tên là Trương Định Xá, sau ngày ông chiến thắng quân Thục Phán, HùngDuệ Vương phong cho ông ăn lộc ở đất khu Tây, nay là làng Tây Thượng xãLiên Hòa và làng Tây Hạ xã Bàn Giản Sau khi ông mất, nhân dân lập miếu đìnhthờ ông Có ngày tiệc đầu xuân hồi cố sự kiện ngày ông kén tướng, luyện quânvới trò chơi “bố dương cầu quả” nay gọi là trò “cướp phết”

Ngoài ra, dân gian trong vùng còn kể câu chuyện đầy màu sắc đã đượctruyền miệng từ đời này sang đời khác ở nơi đây, câu chuyện đó như sau:

Thời Hùng Vương thứ 18 Hùng Duệ Vương có hai vợ chồng nọ làm nghề chài lưới lên Tây Thiên cầu tự Hai vợ chồng ăn ở phúc đức nên thánh thần ứng linh cho người vợ mang thai Từ Tây Thiên xuôi về hai vợ chồng gặp mưa bão lớn, nước chảy từ núi xuống thành dòng thác lớn cuốn hai vợ chồng đi, may nhờ làm nghề chài lưới mà hai vợ chồng thoát chết, dạt vào ven bờ thuộc địa phận thôn Tây Hạ xã Bàn Giản bây giờ Ít lâu sau người vợ sinh hạ người con trai, mặt mũi khôi ngô thông minh tuấn tú Hai vợ chồng vất vả nuôi con khôn lớn, làm nghề chài lưới sống qua ngày Cậu bé ngày càng khôn lớn khỏe mạnh hơn người, thích luyện binh đao, giỏi võ nghệ và chữ nghĩa, bố mẹ cậu rất hài lòng.

Bấy giờ có quân nhà Thục ở phương Bắc đem quân sang xâm lược nước ta, giặc giã hoành hành khắp nơi, cướp bóc đốt phá làm cho đời sống nhân dân cực khổ.

Chàng trai đã tới tuổi trưởng thành càng tỏ rõ phí phách anh hùng xuất chúng Chàng đã chiêu binh cầm quân đánh giặc, trở thành vị tướng tài giỏi dưới thời Hùng Duệ Vương Chàng xuất binh trăm trận trăm

Trang 33

thắng, chẳng mấy chốc đã đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi mang lại bình yên cho xóm làng Thắng giặc trở về, chàng nghỉ ngơi nơi bờ sông, nơi mẹ đã sinh ra chàng, bỗng trên trời có tấm lụa đào buông xuống, chàng trai vốn là thánh thần nên theo đó về trời Nhân dân nhớ ơn người anh hùng đã có công đánh giặc nên lập bài vị thờ cúng, tôn làm Thành hoàng làng Đền thờ và đình được chọn theo hướng quay ra hướng sông, riêng ngôi đền tương truyền là được lập tại nơi cha mẹ đã nuôi thần trưởng thành Vị thần thánh ấy chính là Trương Định Xá, tướng quân của vua Hùng, người có công lớn trong công cuộc dẹp giặc Thục”.

Làng Đông Lai: Theo ngọc phả đình Đông Lai, phần cước thuyết được

dịch từ chữ nho vào năm 1990

Thời vua Trần Thái Tông (1225 – 1257), có người Nguyên xâm lấn nước

ta với thế lực rất mạnh Kinh thành bị chiếm, vua cùng quân và các tướng sĩ đãlập mưu chiếm lại kinh thành Cuộc đấu tranh trong tình thế địch mạng ta yếunhưng quân sĩ đánh trả rất quyết liệt và anh dũng truy kích quân địch

Trần Quốc Tuấn (1226 – 1300) vâng lệnh khẩn cầu bách thần ở các đền.Khi đến Sơn Tây đạo – Tam Đái phủ - Lập Thạch huyện, ông tới Bàn Giản,Đồng Ngõ thấy có một đột cao (đống mả cao), ông gặp tứ nam nhân dung mạo

kỳ dị đang đả cầu (đánh một quả cầu) hí tiếu (vui đùa) Trần Quốc Công đoánrằng là nãi quái, ông đến vấn hỏi bốn người:

- Người là ai? Ở đâu đến?

Quốc công hỏi chưa dứt lời bốn người đã biến mất, bốn bên tứ phía mâylên khói tỏa khí lành ngùn ngụt giữa khí trời mùa xuân ngày 15 tháng 2 Trầnquốc công cho rằng điềm tốt trời ban, tức nhận cho binh sĩ trú tại đất này xemtình ý ra sao

Tối hôm đó ông vào yết thần tại đền, cầu thần xin thần giáng phúc ân phùđánh giặc chóng yên Đêm cuối canh ba Quốc công mơ màng nhắm mắt đi, vụtthấy bốn lão tre mặt, mặc áo sắc vàng kỳ lạ đi từ bên đường lại và tự xưng làLạc Long Quân chi tử (con vua Lạc Long Quân) chi quan bốn vị:

Trang 34

Sáng hôm sau, Trần Quốc Công triệu tập các bô lão trang Bàn Giản lạihỏi:

- Trang đây thờ thần hiệu gì?

Các cụ bô lão trang Bàn Giản tâu rằng:

- Chúng tôi thờ phụng bốn vị thần ấy từ lâu.

Trần Quốc Công quay về đề binh xuất Nguyên Binh – thực hẳn đánhthắng phá tan được giặc Ô Mã Nhi, bắt được cả tướng giặc Vâng mệnh trên,tống về kinh sư khải hoàn hậu hưởng cùng tướng sĩ Trần Quốc Công vào tâuvua rằng:

- Giặc sớm yên là có “âm phù thần trợ”.

Vua Trần Thái Tông liền gia phong bách thần tặng phong 4 vị:

“Bản cảnh thành hoàng Linh phù chi thần

Sắc phong nguyên tự thần hiệu:

Nhất phong: Xá Sơn linh quang đại vương Nhất phong: Lê Sơn linh quang đại vương Nhất phong: Tròn Sơn linh quang đại vương Nhất phong: Xui Sơn linh quang đại vương”

Làm lễ mặc áo vàng đỏ, sắc phong Bàn Giản trang tượng tu sửa miếu, đềnthờ phụng Từ đấy về sau có nhiệm tin nhiều đế vương gia phong mĩ tự Nhữngtruyền thuyết trên tuy là nửa thực nửa hư nhưng phần nào cho thấy lễ hội cướpphết Bàn Giản là một lễ hội gắn với truyền thống yêu nước của dân tộc

Trang 35

Ngày nay, lễ hội lớn thường tổ chức hàng năm tại đình, đền Đông Lai xãBàn Giản và được huyện Lập Thạch chỉ đạo tổ chức Vào mùng 7 tháng Giênghàng năm, tại đền Đông Lai, dân làng lại mang quả cầu ra sân bãi mở hội, táihiện lại tích xưa bằng trận “đả cầu cướp phết” nhằm tưởng nhớ công lao của 4 vịtướng trong không khí đầy sôi động với niềm tin, lễ hội sẽ khởi đầu cho mộtnăm mới đầy tốt lành, may mắn.

Khởi nguồn từ một trò chơi cướp cầu trong luyện binh ngày xưa, ngườidân Bàn Giản đã có những tiếp thu sáng tạo để xây dựng lễ hội văn hóa độc đáo,đặc sắc như ngày hôm nay Mở đầu cho lễ hội là nghi thức tế Thành hoàng làng.Theo quy định của lệ làng, hai loại lễ vật không thể thiếu khi tế lễ là cỗ bánhDày và cỗ Ông Gà (còn được gọi là cỗ gà thiến) Làng Đông Lai xưa có 4 giáp,mỗi giáp được cấp hai sào ruộng công chỉ dành riêng cho việc cấy lúa nếp, dùnghoa lợi để làm bánh giầy phục vụ lễ tế Mỗi vụ lúa trong giáp sẽ cử riêng ngườicày, cấy, chăm sóc và thu hoạch Gạo được chọn để làm bánh Dầy phải là gạothật ngon, được chọn lọc kỹ càng, giã đến khi nào trắng xanh mới đạt tiêuchuẩn Đến ngày làm bánh mới đem vo kỹ, đồ thành xôi chín rồi mới đem ra giã.Bánh Dầy được chuẩn bị từ ngày mùng 6, đến ngày mùng 7 sẽ được đặt lênkiệu, rước ra đình làm lễ tế Riêng gà tế, mỗi giáp sẽ cử ra người cực kỳ thôngthạo, chọn mua giống gà mía to, đẹp, nặng từ 5-6kg Sau đó, sẽ chọn ra một giađình nhận công việc chăm sóc, nuôi gà Từ đây, gà sẽ được gọi là “Ông Gà” vàđược nuôi theo chế độ đặc biệt, sao cho đến ngày tế, gà được béo tốt nhất Tốimùng 6, khi nghe đình làng gióng lên tiếng chiêng, trống hối thúc thì dân lànglại háo hức, đổ xô đi xem lễ vật Ông Gà Đây được coi là công việc thiêng liêngcủa đấng mày râu, không có sự tham gia của phụ nữ

Sáng ngày mùng 7, dân làng sẽ hội tụ để xếp lễ vật của mình vào kiệu vàrước lên đình, dâng lên làm lễ tế Thành hoàng làng Mỗi giáp sẽ có hai cỗ gà tế,được gọi là Ông Nhất và Ông Nhì Hiện nay, lễ tế đã được phát triển hơn trướcvới sự tham gia của ba thôn: Đông Lai, Xuân Me và Trụ Thạch Các cỗ gà tế sẽđược chấm điểm với các tiêu chí: Bánh Dầy tròn, trắng, xôi dẻo, thơm; gà béo,

Trang 36

cổ cao, Tuy đây chỉ là những lễ vật rất bình dị, thân thuộc trong sinh hoạtthường ngày của quần chúng nhân dân nhưng lại hàm chứa những giá trị tinhthần sâu sắc, văn minh.

Sau khi làm lễ trình thánh, hội cướp phết sẽ được chính thức bắt đầu.Theo lời của các chức sắc trong làng và người dân nơi đây thì, ai chạm tay đượcvào quả phết sẽ may mắn cả năm nên ai đến tham dự lễ hội cũng muốn một lầnđược chạm tay vào quả phết Phần hội được tổ chức sôi động với các trò chơinhư: Cờ tướng, bịt mắt bắt dê, đu tiên Trong đó, phần thi đông nhất, hấp dẫnnhất, thu hút tới hàng nghìn người tham dự là trò cướp phết Thanh niên traitráng trong và ngoài làng hùng hục lao vào, kẻ hô, người hét, chen lấn, xô đẩynhau trong tiếng reo hò, cổ vũ của dân làng để cướp được quả phết

Quả phết được làm bằng gỗ quý, với đường kính khoảng 35cm Mồngphết là cây gậy làm bằng gốc tre cong, dài 1,2m, có trổ hình đầu ngựa Hìnhthức cướp cầu bằng mồng phết là tượng trưng cho kỵ binh, cướp cầu bằng tay làtượng trưng cho bộ binh Cả hai hình thức đều được tổ chức đồng bộ và tiếnhành song song Quả phết và hai mồng phết được đặt lên kiệu Thánh và rướcđến trước sân đình, các trai đinh sẽ lần lượt đi theo sau Sau khi ông Mệnh đánhmột hồi trống dự báo, các trai đinh sẽ tiến hành làm lễ trước kiệu Thánh: Lễ 4vái, vuốt tóc, ăn trầu, vắt hai tay lên vai, cầm mồng phết giơ cao reo hò chiếnthắng Sau đó, đoàn rước sẽ tiếp tục di chuyển đến giữa sân hội Lúc này, ôngMệnh sẽ tung quả phết, một trai đinh mặc áo nẹp, thắt đai đỏ phất cờ sai tượngtrưng cho xung trận Thời điểm tranh cướp quả phết cũng chính thức được diễn

ra Một đám đông chồng chất chen lấn, xô đẩy nhau trong tiếng reo hò, cổ vũ,tiếng giục giã của chiêng, trống tạo nên một trận địa hết sức náo nhiệt

Sau này do nhận ra sự bất tiện và nguy hiểm của việc dùng mồng phết đểđánh phết nên chỉ phổ biến hình thức chơi phết bằng tay Hình thức này tượngtrưng cho bộ binh, mồng phết hiện nay vẫn còn được lưu giữ tuy nhiên chỉ mangtính chất nghi lễ tượng trưng

Trang 37

Cuộc diễn tích toàn dân đánh trận kéo dài cả buổi chiều và chỉ dừng lạicho đến khi có một người nào đó cướp được quả phết, đặt vào nơi quy định Cáctrai làng người đầy bùn đất, thở hổn hển nhưng vẫn rất hào hứng, vui vẻ thamgia Đặc biệt, ai cướp được quả phết, đem vào làm lễ trước cửa đền sẽ được dânlàng trao thưởng Phần thưởng tuy nhỏ nhưng ai cũng tin rằng người cướp đượcquả phết sẽ gặp nhiều may mắn, hạnh phúc và thành đạt trong cả năm Có lẽ vìvậy mà hàng năm lễ hội vẫn thu hút rất đông du khách đến tham dự, ai cũng cầumong mình sẽ cướp được phết, hay chí ít là được chạm tay vào quả phết.

Tóm lại, có thể khẳng định lễ hội cướp phết là một biểu hiện đặc sắc củavăn hóa truyền thống Việt Nam, gắn liền với truyền thống yêu nước chống giặcgiữ nước, giữ làng Lễ hội cướp phết chứa đựng những tâm thức văn hóa, quanniệm đặc sắc của dân tộc Lễ hội cướp phết vừa thể hiện cho tín ngưỡng sùngbái con người, trong sâu xa nó còn thể hiện cho tín ngưỡng thờ mặt trời của cưdân nông nghiệp Lễ hội là sự thể hiện cho truyền thống “uống nước nhớnguồn”, biết ơn các vị anh hùng lịch sử đã có công với nước với làng đồng thờicũng nhằm bày tỏ sự sùng bái tin tưởng trước đấng siêu nhiên thể hiện qua hànhđộng thờ cúng với những ước mơ mong muốn, cầu cho nhân khang vật thịnh,bình an may mắn, mùa màng tốt tươi Lễ hội cướp phết là một lễ hội cổ truyền

có sự kết tinh, hội tụ nhiều ý nghĩa tốt đẹp, là biểu hiện cho tinh thần thượng võ

sự đoàn kết của cộng đồng, là lễ hội còn giữ lại được nhiều giá trị văn hóa cổ,truyền thống của dân tộc mà ngày nay không nhiều lễ hội còn làm được, đó cũngchính là yếu tố tạo nên sự trường tồn của lễ hội cướp phết

Trang 38

Chương 2

LỄ HỘI CƯỚP PHẾT XÃ HIỀN QUAN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ VÀ LỄ HỘI CƯỚP PHẾT XÃ BÀN GIẢN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC – NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT

2.1 Quan điểm so sánh

Lễ hội từ trước đến nay đã được nghiên cứu trên nhiều phương diện: khảo

tả, tìm hiểu giá trị văn hóa, tìm hiểu khám phá những nét đặc sắc Trong quátrình tiến hành những nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu chắc chắn không ít thìnhiều đều từng làm công việc so sánh “Tất cả đều được nhận thức bằng sosánh”, câu cách ngôn cổ đó đã trở nên phổ biến Tất nhiên không phải tất cả mọi

sự vật đều có thể đem ra so sánh được, thật vô nghĩa khi chúng ta đem so sánhhai sự vật hoàn toàn chẳng liên quan gì với nhau, chẳng có một mối tương đồngnào Tuy nhiên khi sự so sánh là hợp lý và chính đáng, nó có thể trở thànhphương tiện nhận thức thật sự, giúp người ta xác định các đặc tính của nhữnghiện tượng có liên quan đến nhau và từ đó đánh giá được các giá trị hay tìm ranhững quy luật phát triển chung hay đặc thù

Lễ hội được so sánh về nhiều mặt ở nhiều mức độ khác nhau như nguồngốc, mục đích, không gian, thời gian, quy mô tổ chức….Lễ hội có thể đượcnghiên cứu trong mối quan hệ với lễ hội khác cùng loại hình với phương pháp sosánh lịch sử, phương pháp so sánh loại hình….So sánh loại hình và so sánh lịch

sử là hai phương pháp dựa trên quan điểm triết học duy vật biện chứng, xem xét

lễ hội như một phạm trù lịch sử bao gồm mối quan hệ bên trong và mối quan hệbên ngoài

Tất cả các lễ hội văn hóa đều được hình thành trong một bối cảnh lịch sửdân tộc cụ thể Các nhà nghiên cứu loại hình lễ hội cho rằng những quy luậtchung của quá trình phát triển lịch sử cho phép nói đến những hiện tượng tươngđồng xuất hiện trong các lễ hội cùng loại hình mà không phải là kết quả của sựgiao lưu trực tiếp và từ đó có thể nói đến quy luật phát triển chung của hai lễ hộicùng loại hình

Trang 39

Nghiên cứu lễ hội khác với các khoa học khác, nhưng như thế không cónghĩa là nghiên cứu lễ hội không cần đi tìm những cái mang tính chất quy luật,phổ biến Cái khác biệt của nghiên cứu lễ hội văn hóa là tìm thấy cái chung, cáiphổ biến mang tính quy luật trong sự thống nhất hữu cơ với cái cá biệt đặc thù.

Theo chúng tôi phương pháp so sánh lịch sử và phương pháp so sánh loạihình là những phương pháp quan trọng mang lại hiệu quả đối với việc nghiêncứu so sánh So sánh được tiến hành với lễ hội cùng loại hình nhất là khi lễ hộiđược chọn để so sánh với nhau là lễ hội không có sự giao lưu trực tiếp với nhau.Trong một số trường hợp rất khó giải thích sự tương đồng giữa các lễ hội chỉbằng những lý do ảnh hưởng Thế nhưng, có thể tìm thấy và lý giải nguyên docủa những tương đồng đó khi nhìn vào những điều kiện lịch sử xã hội từ đó cóthể rút ra kết luận về tính quy luật của sự phát triển các lễ hội, đồng thời thấyđược vị trí vai trò của lễ hội trong đời sống nhân dân

Đối tượng của nghiên cứu so sánh loại hình nói chung cũng không chỉđơn thuần là những tương đồng Việc nghiên cứu những khác biệt giữa các lễhội cũng vô cùng quan trọng Một mặt, giúp xác định sự phân thuộc của lễ hộitrong các loại hình lễ hội Mặt khác, nó còn cho thấy những tính chất đặc thù,riêng biệt của từng lễ hội, là điều kiện hết sức quan trọng Sự giống và khácnhau giữa hai lễ hội cùng loại hình không phải là sự giống nhau và khác rànhmạch, đơn giản mà thường phức tạp Bởi trong những lễ hội văn hóa, bên cạnhnhững tiếp thu, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc thì cái độc đáo, cái đặcsắc, cái không lặp lại vẫn luôn là giá trị quan trọng khiến chúng trở thành bấtdiệt

Phương pháp so sánh loại hình như đã nói là nhằm tìm ra những quy luậtchung, nguồn gốc của lễ hội nhưng cũng không bỏ qua những nét riêng biệt, đặc

thù Việc so sánh để định giá trị hơn kém, cao thấp giữa các lễ hội văn hóa hoàn toàn không phải là mục đích của việc so sánh loại hình Như vậy khi sử

dụng phương pháp nghiên cứu này đòi hỏi người nghiên cứu bên cạnh những

Trang 40

vốn kiến thức cấn thiết còn phải hết sức cẩn trọng và tinh tế khi tiến hành côngviệc nghiên cứu của mình.

2.2 Những tương đồng

2.2.1 Mục đích của lễ hội

Lễ hội cướp phết Hiền Quan và lễ hội cướp phết Bàn Giản đã có từ lâuđời và tồn tại cho đến ngày nay, tuy khác nhau về thời gian, về tính chất nhưngđều giống nhau về mục đích tổ chức lễ hội

Cả hai lễ hội cướp phết Hiền Quan và Bàn Giản tuy mang đặc trưng của

lễ hội đua tài đấu sức nhưng mục đích sâu xa của hai lễ hội cướp phết này vẫn làthờ phụng các vị thần đã có công đánh giặc giữ nước, giữ làng và bảo vệ cuộcsống cho con người Đó là công chúa Thiều Hoa nữ tướng thời Hai Bà Trưng, vịnhân thần đã có công đánh giặc bảo vệ nhân dân Bà còn là chủ nhân sáng tạo ratrò chơi cướp phết để luyện binh ở vùng đất Tam Nông; đó là Đệ nhất tên là XáSơn, Đệ nhị tên là Lê Sơn, Đệ tam tên là Tròn Sơn, Đệ tứ tên là Xui Sơn - bốn vịtướng thời Hùng Vương đã có công đánh giặc bảo vệ giang sơn bờ cõi, đã từngdùng đả phết, cướp phết để rèn luyện quân lính

Cũng như bao lễ hội truyền thống khác, bên cạnh nhu cầu vui chơi giải trí,tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm, cả hai lễ hội cướp phết Hiền Quan và Bàn Giản

tổ chức cũng không nằm ngoài ước nguyện về một cuộc sống no đủ, giàu có vàbình an, cụ thể là “nhân khang vật thịnh”, mùa màng bội thu, gặp may mắn cảnăm, cầu được ước thấy….Những ước mong ấy của bà con được gửi gắm tronglời cầu khấn và lễ vật dâng cúng – là những mâm bánh dầy dẻo, gà béo (ở BànGiản); lương khô, chè lam (ở Hiền Quan) lên các vị Thành Hoàng làng mình

Đó là sự gửi gắm những ước mơ, niềm tin và hi vọng của bà con trong cả nămđó

Có thể nói, lễ hội cướp phết Hiền Quan là nơi biểu hiện tư tưởng, tìnhcảm, ước mơ và nguyện vọng của nhân dân hai địa phương Hiền Quan và BànGiản Đó là tinh thần thượng võ (kế thừa truyền thống luyện binh qua hình thức

Ngày đăng: 20/12/2014, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Kim Biên (1999), Văn hiến làng xã vùng đất Tổ Hùng Vương, Sở Văn hoá Thông tin Thể thao Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hiến làng xã vùng đất Tổ Hùng Vương
Tác giả: Vũ Kim Biên
Năm: 1999
2. Chu Xuân Diên (1997), Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hóa dân gian, Tạp chí Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hóadân gian
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1997
4. Đoàn Hải Hưng, Trần Văn Thục, Nguyễn Phi Nga (2010), Những làng văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ, NXB Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những làng vănhóa, văn nghệ dân gian đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Đoàn Hải Hưng, Trần Văn Thục, Nguyễn Phi Nga
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
Năm: 2010
6. Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (1993), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện tại, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống trong đời sống xãhội hiện tại
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1993
7. Đinh Gia Khánh, Tổng tập về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam, sở VHTTDL Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam
8. Nguyễn Xuân Lâm (2000), Địa chí vĩnh phúc, sở VHTTDL Vĩnh phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí vĩnh phúc
Tác giả: Nguyễn Xuân Lâm
Năm: 2000
9. Phan Huy Lê (1998), Tìm về cội nguồn, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về cội nguồn
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 1998
10. Thu Linh - Đặng Văn Long (1984), Lễ hội truyền thống và hiện đại, NXB Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống và hiện đại
Tác giả: Thu Linh - Đặng Văn Long
Nhà XB: NXB Vănhoá
Năm: 1984
11. Hoàng Lương (2002), Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc, NXB Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam khu vựcphía Bắc
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2002
12. Phan Đăng Nhật (1992), Lễ hội cổ truyền (chương I), NXB Viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền
Tác giả: Phan Đăng Nhật
Nhà XB: NXB Viện khoa học xãhội
Năm: 1992
15. Trần Ngọc Thêm (1994), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
16. Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB TP. Hồ ChíMinh
Năm: 1996
17. Lê Ngọc Thăng - Lê Bá Nam (1990), Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Thăng - Lê Bá Nam
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 1990
18. Bùi Thiết (2001), Nữ Tướng thời Hai Bà Trưng, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ Tướng thời Hai Bà Trưng
Tác giả: Bùi Thiết
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2001
19. Bùi Thiết (2000), Từ điển lễ hội Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển lễ hội Việt Nam
Tác giả: Bùi Thiết
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
20. Ngô Đức Thịnh (1994), Mấy nhận thức về lễ hội cổ truyền – TC Văn hóa nghệ thuật số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nhận thức về lễ hội cổ truyền
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Năm: 1994
21. Trần Văn Thục (2004), Truyền thuyết Hùng Vương với tín ngưỡng phồn thực ở tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sỹ khoa học Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết Hùng Vương với tín ngưỡng phồnthực ở tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Trần Văn Thục
Năm: 2004
22. Lê Kim Thuyên (2006), Lễ hội Vĩnh Phúc, sở VHTTDL Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Vĩnh Phúc
Tác giả: Lê Kim Thuyên
Năm: 2006
23. Lê Thị Nhâm Tuyết (1/1984), Nghiên cứu về hội làng cổ truyền, Tạp chí văn hoá dân gian Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về hội làng cổ truyền
24. Bùi Đăng Sinh, Văn hóa dân gian, sở VHTTDL Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w