Phân loại các tướng hồ• Bốn kiểu chính đã được xác định qua đối chiếu với địa hình vùng đất bên trong và khí hậu: Địa hình cao, ẩm Thường xuyên gặp các bùn bể cùng với các trầm tích đe
Trang 3CÁC LẮNG ĐỌNG DO GIÓ
Trang 4ĐỊNH NGHĨA
Là những tích tụ cát do gió, thường là cát
thạch anh, với những hạt gần như tròn, chọn lọc khá và ít bị gắn kết ximăng
Chúng biểu hiện dưới dạng những thể không
đối xứng gọi là đụn (dune), cao từ vài mét đến
vài chục mét, với một triền dốc thoãi về
hướng gió, còn triền mặt dưới gió đứng hơn và phân lớp xiên chéo
Trang 6CÁC DẠNG ĐỤN
Saif hoặc đụn dọc
Ngoài ba kiểu trên còn gặp
Luống bãi biển
Trang 7Các ripple không đối xứng
trên mặt đụn cát chỉ hướng
gió từ trái sang phải
Các ripple dòng chảy chỉ hướng của dòng chảy
không đối xứng
Trang 8Đây là cảnh quan của các đụn cát trắng
gypsum Đài kỷ niệm quốc gia Hướng gió thổi của đụn cát là
hướng mặt trời chiếu vào
Trang 9Các đụn cát gặp ở sa mạc Gobi là kiểu địa
hình thành tạo do gió (eolian)
Trang 10ĐẶC TÍNH CÁT ĐỤN
Các trầm tích do gió chủ yếu là những loại cát với kích thước thay đổi giữa 0,06 và 2 mm
Phần sét và các mica đã bị sàng sảy
Các hạt đã trở thành tròn và đục hơn, các cuội
bị mài thành nhiều mặt (gọi là windkanter).
Trang 11ĐẶC TÍNH CÁT ĐỤN
Sự chọn lựa tốt hơn
Sự phân lớp dẩn đến các lamina xiên, thường
trình mặt lỏm lên trời, Độ dốc lớn có thể đạt 300, nhưng hướng cắm của chúng thay đổi nhiều do chế độ gió thường không ổn định và thay đổi
luôn
trên mặt các đụn, nhưng không bao giờ gặp
những mặt nhăn dao động
Trang 12Các đụn cát gặp ở sa mạc Gobi là kiểu địa
hình thành tạo do gió (eolian)
Trang 13Đụn cát sa mạc
Trang 14Các tiêu chí để chuẩn đoán dưới
mặt đất
Thạch học trầm tích : nhiều loại khác nhau, cát bột
đỏ (hoàng thổ), bao gồm hạt cát sinh vật biển, cát thạch cao và cát thạch anh Cát mịn vừa, chọn lọc
tốt, có độ tròn tốt, đỏ sạch, hồng hoặc trắng của cát kết
Kiến trúc trầm tích : khối, lớp phẳng, và lớp xiên
Trang 15Các tiêu chí để chuẩn đoán dưới
mặt đất
Cổ sinh vật học : vắng hoá đá trong cát thạch anh sa mạc Nếu là các đụn ở các đảo-barie cacbonat thì có thể gặp hoá đá biển
Hoa tiết độ cấm : lên trên các mẩu xanh tăng sắp
xếp ở tầng cao các tập Hướng cấm đi với hướng gió không phải với sườn c ổ
Trang 16Mặt cắt đụn cát hình lưỡi liềm hay đụn cát ngang
cho thấy các dạng bed khác nhau và bề mặt trượt.
Trang 17Mẫu lõi:
Các ví dụ mặt cắt trầm tích do gió bao gồm phổ biến là cát thạch anh sạch, chọn lọc tốt Tập địa tầng thẳng đứng của đụn cát do gió và các trầm tích giữa đụn.
Trang 18các motif log cho các đụn cát do gió.
Các dạng màu xanh của các độ dốc tăng dần dọc theo các sự chuyển từ phần đuôi đến phần đầu trong các đơn
vị đụn cát
riêng lẻ.
Trang 20Ý nghĩa kinh tế
Tướng do gió giống như tướng phù sa bện ở chổ độ rổng và độ thấm cao, các tầng chứa dày mở rộng ngang với tỉ số cát : sét cao
Nhưng chúng thường ở xa các tầng trầm tích biển có khả năng sinh
thường di cùng với các không chỉnh hợp
Trang 21CÁC LẮNG ĐỌNG HỒ
Trang 22Lắng đọng trầm tích trong môi trường hồ tùy thuộc vào khí hậu và các nguồn do nước các mang sông suối mang đến
Sự phân tầng của trầm tích thường phẳng và song song
Các lắng đọng có xu hướng sắp xếp thành vòng đồng tâm với độ hạt giãm dần từ bờ về phía trung tâm của hồ
Trang 23Các trầm tich thường là sét hoặc vôi.
Một khí hậu khô cằn gây nên sự kết tủa của các evaporit hoặc hoặc sự tập trung của một số khoáng vật như quặng sắt
Các động vật hồ nói chung nghèo về loài giống so với giới động vật biển Các dạng thường gặp nhất là những lamellibranchiata và gastropoda nước
ngọt và cá
Trang 24Các sinh vật đào bới thường hiếm vì trầm tích thiếu sự thông gió cần thiết
Các thực vật phát triển chủ yếu ven bờ
Các lắng đọng hồ thường gặp trong các bể giữa núi và giữa craton và đôi khi là một bể riptơ có tầm quan trọng lớn
Trang 25Phân loại các tướng hồ
• Bốn kiểu chính đã được xác định qua đối chiếu với địa hình vùng đất bên trong và khí hậu:
Địa hình cao, ẩm
Thường xuyên gặp các bùn bể cùng với các trầm tích đenta vụn rìa và bãi cát
Địa hình cao, khô cằn
Đó là những hồ nhất thời Thường gặp các trầm tích tướng Fanglomêrat rìa chuyển sang bện , và/hoặc đụn sang bột playa đỏ và evaporit.
Trang 26Phân loại các tướng hồ
Địa hình thấp, khô cằn
Cũng là những hồ nhất thời Tướng trầm tích hoá học rỏ nét Thông thường là các trầm tích cacbonat và sabkha evaporit.
Đó là những kiểu hồ thường xuyên Ở đây thường gặp các đầm lầy than bùn rìa hoặc bùn cacbonat và bãi cát xương, sét và macnơ bể.
Trang 27Tiêu chí chuẩn đoán dưới mặt đất
Thạch học trầm tích : hoàn toàn không thể
chuẩn đoán được, bất kỳ trầm tích gì đều có thể có, từ cuội kết đến evaporit
Nhưng trong trường hợp tầng D ở bể Cữu Long do điều kiện hồ nước sâu và nước lợ nên trầm tích
chủ yếu là sét giàu vật chất hữu cơ.
Trang 28Tiêu chí chuẩn đoán dưới mặt đất
Các kiến trúc trầm tích : hoàn toàn không thể chuẩn đoán được, có thể bao gồm các loạt và tập trầm tích đenta, bãi và turbiđit Chung tất
cả, hình mẩu thoái lùi (regressive ) hạt thô
dần lên trên là điển hình
Trang 29Tiêu chí chuẩn đoán dưới mặt đất
Cổ sinh vật học : Tiêu chuẩn duy nhất để
chuẩn đoán là : bào tử phấn hoa, vụn phong hoá thực vật, động vật có xương sống không
biển và không có xương sống Hoàn toàn vắng mặt các hoá đá biển
Trang 30Ý nghĩa kinh tế
Hiếm có tầm quan trọng lớn
Nhưng có thể tạo thành các bùn giàu chất hữu
cơ Hình thành tầng sét chứa dầu
tế địa phương
Trang 37Đá phiến sét
Đá bụi
Trang 38CÁC LẮNG ĐỌNG MÔI TRƯỜNG BĂNG GIÁ
Trang 39ĐỊNH NGHĨA
Môi trường băng giá được đặc trưng bởi
những lắng đọng trên các lục địa, trong các hồ, hoặc trong các biển hoặc đại dương do sự tan của một khối băng đã vận chuyển
những vật liệu vụn - kết quả của những đất trượt, tuyết lở, hoặc tróc do xâm thực và mái mòn của những đá ở đáy các lòng sông
băng trong quá trình di chuyển của chúng
Trang 40ĐỊNH NGHĨA
Các lắng đọng băng giá thường được gọi là
băng tích (moraine hay drift ) với một loạt đá vụn thành phần thạch học khác nhau từ các mảnh đá macma, biến chất, trầm tích đến các sét
Trang 41Các dạng mơi trường lắng đọng
của sơng băng
Sông băng là một khối băng hình thành do sự tích
tụ của tuyết Người ta phân biệt :
1. các inlandsis : những lớp băng dày bao phủ những
diện tích lục địa quan trọng gần các địa cực và từ đó có những nhánh đi về phía biển , và phân đoạn
thành những núi băng trôi (iceberg),
2. các mủ băng (ice cap) bao phủ hoàn toàn các đỉnh
núi
Trang 42Các dạng mơi trường lắng đọng
của sơng băng
3. các sông băng đai vòng (circus glacier ), chiếm
những trũng giữa các đỉnh núi cao,
4 các sông băng thung lũng từ đó tách một nhánh
băng và nhập với nhiều nhánh khác để tạo nên những sông băng lớn tương tự như một mạng suối
Các tảng đá hai bên sườn rơi xuống tạo nên những băng
tích sườn (lateral moraine)
Khi hai nhánh giao nhau, các dải băng tích sườn sẽ hợp lại
tạo nên dải băng tích giữa ( median moraine) của sông
băng hợp nhất.
Trang 435 Những tảng đá bị sông băng cuốn theo ở dưới đáy tạo
nên băng tích đáy còn nước băng tan chảy dưới đáy sông băng tạo nên một suối đáy sông băng
Sông băng chảy rất chậm và các lực căng bên trong khối
băng sẽ làm cho khối sông băng nứt nẻ hình thành các sêrac.
5 Các sông băng thung lủng ở chân núi còn được gọi là
sông băng chân núi (piedmont glacier)
Trang 44Các thời kỳ băng giá cổ
Người ta phân biệt trong thời kỳ băng giá
(1) giai đoạn băng hà sớm (anaglacial phase) đánh
dấu bởi một sư phát triển của băng giá gây nên một sự hạ thấp của mực biển tức là ứng với một pha biển lùi và
(2) giai đoạn băng hà muộn (cataglacial phase) trong
đó các sông băng giảm đi nhanh chóng tức là trùng với một sự tan băng làm cho mực biển dâng lên tức là ứng với một pha biển tiến mang tính toàn cầu.
Trang 45Những đồng tuyết ở Bowland Fells và những hồ nước ngọt nông hình thành do băng tan Trên bề mặt đất có
các vùng đá do hoạt động phủ sương giá
Trang 48Quan cảnh của công viên băng quốc gia ỡ Garden Wall Một đỉnh núi nhọn hình thành khi hai sông băng hoạt động ở hai
phía ngược nhau của một bức tường.
Trang 49Đây là công Fall River Pass ở công viên quốc gia núi của Colorado, một sông băng khoét thành đài vòng trong một
vùng bán bình nguyên.
Trang 50MÔ HÌNH TƯỚNG SÔNG BĂNG
các mảnh đá macma, biến chất hoặc trầm tích, đến sét
o Sự phân hạng theo độ hạt rất xấu trong các lắng đọng
không phân lớp.
o Hình dạng của chúng có góc cạnh, đặc biệt trong phân
đoạn cát Các cuội và sỏi tròn hơn và bị xước thành xọc ở mặt ngoài
o Các trầm tích trên đồng bằng được phân hạng tốt hơn
Trang 51MÔ HÌNH TƯỚNG SÔNG BĂNG
– Trong các trầm tích không phân lớp thường vắng
các kiến trúc trầm tích
– Trong các trầm tích phân lớp có thể quan sát những
phân lớp xiên chéo hoặc nghiêng, những hình đào khoét và lấp đầy.
Ranh giới dưới thường là đột ngột và xâm thực
Trang 52MÔ HÌNH TƯỚNG SÔNG BĂNG
Các tillit có thể tích tụ thành gò hoặc gờ (eskers)
với kích cở và những dạng khác nhau ( dạng sừng bò hoặc uốn khúc ), hoặc thành đồi kéo dài với dốc thoải (drumlin)
Các drumlin gặp thành đám với trục dài song
song với hướng chảy của sông băng
Các varve điển hình của các lắng đọng sông
băng-hồ trong i u ki n n c ng yên Trung đ ề ệ ướ đứbình dày từ 6 đến 10 cm
Trang 53(A) Các lắng đọng của sông băng (B) Các tướng sông băng
Trang 54Các băng tích này được phân thành hai nhóm lớn :
các băng tích không phân lớp (unstratified) gồm các
mảnh đá các loại, tách ra, vận chuyển và lắng đọng trực tiếp từ sông băng
các băng tích phân lớp (stratified) là những trầm tích
vận chuyển bởi sông băng nhưng được rửa và phân hạng bởi nước băng tan theo độ hạt
Trang 55Các môi trường quanh sông băng
Trang 58CÁC THỂ TRẦM TÍCH ĐẦU NGUỒN
CÁC QUẠT PHÙ SA
Trang 60Định nghĩa
Trên đầu nguồn mỗi sông nhỏ và nhánh sông đều có một bồn gom nước
Nếu là một bể trầm tích kiểu riptơ thì tồn tại một
vách đá (scarp) tạo nên bởi một đứt gãy, thì trên
địa hình cao nước trên mặt được gom lại thông qua một mạng suối nhỏ thành một suối lớn đổ xuống
đáy bồn trũng vừa được hình thành và dưới chân suối này sẽ tập trung các vật liệu vụn thô tạo nên một quạt phù sa chân núi
Trang 61Sơ đồ mô phỏng quá trình sụp lún Quá trình đã hình thành nhiều loại đá được tìm thấy ở khu vực chân núi của Bắc
Carolina.
Trang 63Hồ Galilee – một vài quạt chân núi tỏa ra từ một dãy về phía Tây và kết hợp lại hình thành apron chân núi mở rộng.
Trang 64Một sông chân núi uốn khúc qua đồng bằng phù sa
Trang 65Đặc điểm trầm tích
Các lắng đọng này được nhận dạng bởi những nét đặc trưng :
o các vật liệu ít bị phá hủy vì hêt dòng này đến dòng khác liên tục đổ xuống các vật liệu mới phủ lên trên các vật liệu vừa mới lắng đọng, làm cho chúng chưa kịp bị ăn mòn, hủy hoại bởi các tác nhân khí tượng;
o vật liệu trầm đọng thường là thô và chưa bị làm mòn vì nguồn gốc chúng là ngay tại chổ chưa kịp bị vận chuyển
đi : chúng là trầm tích không trưởng thành (immature),
o các phần tử chưa bị phân hạng và sự phân lớp kém
Trang 66PHÂN LOẠI CÁC QUẠT PHÙ SA
Các quạt phù sa thường được phân loại theo vị trí của chúng trên bề mặt địa hình thành :
các quạt cuội kết (fanglomerate) theo Selley , phân bố trên triền sườn và thường chiếm phần trên đầu nguồn,
các quạt chân núi (piedmont fan ), ở chân núi hay là
phần cuối nguồn (distal part) tựa vào sườn núi đồi và
đổ trên thung lủng phù sa.
Trang 68QUẠT CUỘI KẾT
Quá trình lắng đọng : Trượt do trọng lựợng,
dòng chảy bùn và lớp phủ
Về thạch học : cuội kết, cát hạt thô chứa sét,
chọn lọc kém Màu oxyt sắt đỏ
Kiến trúc trầm tích : Dạng khối hoặc phân lớp
yếu Có thể có dốc cấm toả theo nón phù sa Xiêng chéo ở phần chân nón
Trang 69QUẠT CUỘI KẾT
Cổ sinh vật học : Vắng hoàn toàn hoá đá lớn Có
thể gặp bào tử-phấn (phổ biến bị oxy hoá)
Môtíp log cấm (Dip motif ): “Túi đinh” trong phần
Trang 70CÁC QUẠT CHÂN NÚI
Các quạt phù sa thường được cấu thành bởi các
trầm tích hạt thô, và các cuội kết là phổ biến Các lắng đọng thường sắp xếp theo độ hạt giãm dần từ thượng lưu (proximal) , hoặc điểm đỉnh
(apex), xuống vùng cuối nguồn (distal ).
Đới đầu nguồn của các nón, các lắng đọng rất thô, không đồng nhất và chọn lọc kém
Trang 71CÁC QUẠT CHÂN NÚI
Lắng đọng trầm tích thường được thực hiện bằng cách tích tụ những dòng bùn để lại những cuội kết hình khối, không phân lớp , thường với một nền bột- sét
Các trầm tích sắp xếp đè lên nhau với các lắng
đọng lạch suối, thường thô, nhưng tổ chức tốt hơn thành những tập mịn dần lên trên, và một sự phân lớp bên trong và chọn lọc tốt hơn
Trang 72CÁC QUẠT CHÂN NÚI
Về phía hạ lưu của nón, các dòng bùn hiếm hơn, và các lắng đọng lạch và do lủ chiếm ưu thế
Các trầm tích là cát và cuội, sỏi với những suối xói
mòn và kiến trúc dòng chảy
Đới xa nguồn nhất được đánh dấu bởi các bột và sét của đồng bằng ngập lụt, với những lắng đọng lạch suối, hoặc bởi các evaporit, hay những lắng đọng ven bờ của hồ hoặc biển
Trang 73CÁC QUẠT CHÂN NÚI
Các tập trầm tích của từng nón cá thể có chiều dày thay đổi từ 10 đến 75 mét, và thường tạo thành một tập lấn theo kiểu thô dần và dày dần khi lên trên
Trang 74 Hình 1 : Qụat phù sa trong sa mạc Mohave , Califocnia Mổi quạt
đã được lắng đọng ở chân núi đổ xuống từ một khe núi và thung lủng xuống một đồng bằng, nơi mà độ dốc địa hình thay đổi đột ngột (ảnh của Balsley, trong Press & Siever, 1978).
Trang 75CÁC QUẠT CHÂN NÚI
Thành phần: gồm có những mảnh đá, cở các sỏi hoặc cuội, thành phần tùy theo đá gốc, và cát, sét làm vật liệu gắn kết, có thể gặp những mảnh thực vật
Cấu tạo: Hình dáng các hạt thay đổi từ sắc cạnh đến rất tròn Kích cở của các hạt thường giãm từ thượng lưu xuống hạ lưu của quạt
Kiến trúc: Kiến trúc trầm tích chủ yếu quan sát
trong các hạt sỏi của các cuội kết bởi hạt chạm nhau là một sự phân lớp xiên lõm
Trang 76CÁC QUẠT CHÂN NÚI
Ranh giới tầng: Tiếp xúc dưới thường không đều và thuộc kiểu bào mòn tức là có không chỉnh
hợp, còn tiếp xúc trên thuộc loại chuyển tiếp
Theo chiều ngang tướng trầm tích này cho thấy một sự chuyển tiếp sang các lắng đọng sông
suối gắn liền với một mạng dòng chảy bện và những lắng đọng kiểu đồng bằng ngập lụt
Trang 77CÁC QUẠT CHÂN NÚI
Thông thường các lắng đọng có dạng một nón hay quạt
Hướng chung của dòng chảy là toả tia, càng
xuống dưới chân quạt càng rộng ra và rồi có thể hoà với các quạt kế cận ngày càng mở rộng ra, để rồi nhập với các trầm tích trong thung lủng phù sa thành một tầng trầm tích
Trang 80CÁC LẮNG ĐỌNG PHÙ SA
Trang 81THUNG LỦNG PHÙ SA
Thung lũng phù sa do một con sông đào và bồi đắp phù sa sau mỗi mùa lũ hàng năm và nối hoặc chuyển tiếp về hạ lưu với đồng bằng phù sa
Các thung lũng phù sa được đặc trưng bởi các
dòng sông mạng lưới, một građient địa hình còn cao do đó thường phát triển các sông bện
Trang 82Các yếu tố chính của hệ thống sông bện (Cant &
Walker, 1978)
Trang 83ĐỒNG BẰNG PHÙ SA
Các đồng bằng phù sa nằm về phía hạ lưu thung lũng phù sa và tiếp cận về phía hạ lưu với đồng
bằng đenta (delta plain) đôi khi với một đồng bằng
ven biển (coastal plain).
Đồng bằng phù sa với một độ dốc rất thấp được
phủ bởi một lớp phù sa do một con sông lớn và
các phụ lưu mang đến qua các trận lụt hàng năm
Trang 84ĐỒNG BẰNG PHÙ SA
Đây là một môi trường trầm tích đặc trưng bởi các hồ, đầm lầy có tích tụ than bùn , các uốn khúc
sông (meander) với các cồn bờ lồi (point-bar) , các hồ sót dạng sừng trâu (oxbow lake) , các đê sông tự nhiên (natural levee) và các trầm tích tràn bờ
(overbank) trên đồng bằng ngập lụt (flood plain)
Đặc biệt đồng bằng phù sa không chịu ảnh hưởng của nước mặn hay nước lợ, nếu có thì không lớn ở phần tiếp cận với đồng bằng đenta
Trang 85Các yếu tố địa hình chính của hệ thống sông uốn
khúc (Walker, 1984).
Trang 86Các đá bụi đồng bằng ngập lục (màu đỏ đậm), caliche (màu trắng), và các đá cát kết rộng mỏng (màu đỏ nhạt) Các lắp đầy dạng chữ U của kênh lạch miền đất thấp vùng đầm lầy trong
phần dưới của outcrop.