Là một giáo viên công tác tại địa bàn CuôrĐăng – nơi mà tỉ lệ học sinh là người đồng bào trên 70% thì câu hỏi làm thế nào để nâng cao chất lượng môn Văn cho các em luôn là câu hỏi thường
Trang 1MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1 Lí do chọn đề tài:
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của để tài:
I.3 Đối tượng nghiên cứu:
I.4 Giới hạn, phạm vi áp dụng của đề tài:
I.5 Phương pháp nghiên cứu:
II PHẦN NỘI DUNG:
II.1 Cơ sở lý luận:
II.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
II.3 Giải pháp, biện pháp:
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
c Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
d Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp
e Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiêncứu
II.4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học củavấn đề nghiên cứu
III PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
III.1 Kết luận
III.2 Kiến nghị:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1 Lí do chọn đề tài:
M Gorki đã nói: “ Học văn là học để làm người”, chừng ấy đủ
để cho ta thấy vai trò to lớn của môn Văn trong việc giáo dục và hình thành nhân cách cho học sinh Nhưng để việc học văn trở thành hứng thú, niềm say mê cho mỗi học trò quả thật không hề đơn giản Đặc biệt đối tượng học sinh đa số là con em đồng bào dân tộc thiểu số như địa bàn huyện Cưmgar của chúng ta, khi mà các em vào học lớp 6 vẫn đọc chưa thông, viết chưa thạo thì vấn
đề dạy cho các em thấy được cái hay, cái đẹp của môn học này quả là một vấn đề khó khăn
Là một giáo viên công tác tại địa bàn CuôrĐăng – nơi mà tỉ lệ học sinh là người đồng bào trên 70% thì câu hỏi làm thế nào để nâng cao chất lượng môn Văn cho các em luôn là câu hỏi thường trực trong tôi Vì thế trong quá trình dạy học tôi luôn chú ý đúc rút kinh nghiệm sau mỗi tiết dạy để từng bước giúp các em học sinh của mình đọc thông viết thạo từ đó các em cảm thụ cái hay cái đẹp của môn Ngữ văn
Dạy Ngữ văn thật sự là một công việc vất vả, khó khăn Đặcbiệt đối tượng học sinh là người đồng bào thiểu số Qua thực tếdạy học tại địa phương tôi thấy chất lượng học môn Ngữ văn củacác em học sinh là người đồng bào ở trường sở tại rất thấp Số họcsinh nắm vữngvà học khá bộ môn còn ít Các em hầu hết là ngườidân tộc tại chỗ, nơi mà đời sống kinh tế, xã hội còn rất khó khănnên khả năng nhận thức của các em chưa nhanh nhạy, hạn chếtrong việc cập nhật thông tin Những thao tác nhỏ cần thiết đểphục vụ cho việc học tốt môn Ngữ văn nhiều em cũng chưa thôngthạo Bản thân các em là người đồng bào nên tinh thần ham họccòn hạn chế Đối với các em động cơ và mục tiêu của việc học gầnnhư không có, đến trường, ghi chép, học bài như là điều bị épbuộc Cho nên có những học sinh ngồi trong lớp không chú ý,không chịu phát biểu xây dựng bài và hoàn toàn thụ động Vì vậysau khi học xong các em nắm bắt tác phẩm một cách hời hợt,chưa sâu sắc Hiểu về Tiếng Việt còn mơ hồ và gần như không biếttạo lập một văn bản chuẩn mực Sở dĩ có tình trạng trên là vì các
em không chịu tiếp xúc tác phẩm, không chuẩn bị bài, có chăngchỉ đối phó cho qua chuyện Sau khi học xong các em về nhàcũng không học lại bài cũ chủ yếu đi chơi hoặc tham gia lao độnggiúp gia đình Về phía phụ huynh cũng không quan tâm phó mặc
Trang 3cho nhà trường và giáo viên Vì thế chất lượng học tập của các em
về môn Ngữ văn nói riêng và các môn học khác nói chung còn rấtthấp
Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn đưa ra một vàikinh nghiệm nhỏ trong quá trình dạy học của mình, để bạn bèđồng nghiệp cùng trao đổi nhằm nâng cao chất lượng dạy họcmôn Ngữ văn tại những trường mà đa số học sinh là người đồngbào dân tộc như Trường THCS Đinh Tiên Hoàng, huyện CưM'garcủa chúng ta Đây có thể chưa phải là “ sáng kiến” nhưng lànhững kinh nghiệm - điều tôi tâm đắc và đúc rút trong quá trìnhdạy học của mình Tôi kính mong quý cấp lãnh đạo và bạn bèđồng nghiệp cùng chia sẻ và góp ý giúp tôi hoàn thiện hơn nữatrong công tác giảng dạy của bản thân
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Qua đề tài nghiên cứu này có thể giúp người giáo viên cónhững định hướng, dẫn dắt học sinh cảm thụ, bình giá được nộidung và nghệ thuật của tác phẩm, có hệ thống gợi mở, phát huytích tích cực, chủ động, sáng tạo và say mê chiếm lĩnh tri thứctrong mỗi tiết học Ngữ văn
Dạy Ngữ văn là một công việc hết sức khó khăn, vất vả Nó đòihỏi cả người dạy và người học phải kiên trì, nhẫn nại và có lòngđam mê Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra các giải pháp vàhình thức dạy học hiệu quả đối với đối tượng học sinh là ngườiđồng bào thiểu số Làm được điều này sẽ kích thích được niềm say
mê văn học, lòng yêu ngôn ngữ dân tộc, ý thức vươn lên của các
em học sinh vốn được xem là hay tự ti, ỉ lại, chậm hiểu nhưng lạichiếm một tỉ lệ rất lớn trên địa bàn huyện nhà
I.3 Đối tượng nghiên cứu:
Căn cứ vào nhiệm vụ, nội dung và yêu cầu đề tài, tôi chọn đốitượng nghiên cứu là bộ môn Ngữ văn ở cấp THCS và học sinh trongtrường, cụ thể là học sinh hai lớp 9ª6 và 9ª8 Trường THCS ĐinhTiên Hoàng năm học 2010 – 2011 mà tôi được phân công giảngdạy
I.4 Giới hạn, phạm vi của đề tài:
Nội dung đề tài tôi nghiên cứu luôn được đông đảo đồngnghiệp quan tâm và nó có thể vận dụng ở toàn cấp học, ở mọikhối lớp Nhưng vì khả năng hạn chế và điều kiện chưa cho phépnên tôi chỉ vận dụng vấn đề nghiên cứu ở hai lớp tôi trực tiếp
Trang 4giảng dạy Đó là lớp 9ª6 sĩ số 37 học sinh, 9ª8 sĩ số 40 học sinhTrường THCS Đinh Tiên Hoàng, huyện CưMgar – Năm học 2010-2011
I.5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp khảo sát kĩ năng, qua quá trình dạy học đúc rútkinh nghiệm
Trao đổi học hỏi thêm từ đồng nghiệp tìm ra các giải pháp hiệuquả
II PHẦN NỘI DUNG:
II.1 Cơ sở lí luận:
Cùng với các môn học khác, môn Ngữ văn góp phần hìnhthành, phát triển và hòa thiện nhân cách cho học sinh Từ việckhám phá ý nghĩa của các tác phẩm học sinh có thể tự ý thức vềmình, sống có nhân cách, trong sạch và cao thượng Bộ môn Ngữvăn bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương đất nước, lòng tựhào dân tộc, yêu lao động và những đức tính tốt đẹp cần có ở conngười thời đại mới
Đối với các em học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số thìviệc nói và viết tiếng Việt đã là một việc khó khăn còn để khámphá vẻ đẹp lấp lánh của các áng văn chương cũng như để tạođược một văn bản hoàn chỉnh truyền tải được một nội dung cụ thểthì thật quả là một vấn đề không nhỏ Môn Ngữ văn sẽ giúp các
em có vốn từ phong phú, đồng thời rèn các kĩ năng nghe, nói, đọc,viết; rèn luyện năng lực ngôn ngữ và tư duy như một công cụ đểhọc tập các môn học khác Từ đó các em có thể tự tin trong mọihoàn cảnh giao tiếp của cuộc sống
II.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
Hai lớp 9 do tôi trực tiếp giảng dạy gồm 77 em thuộc các xãCuôrĐăng, Adrơng – vùng đồng bào dân tộc Êđê chiếm đa số(80%) Đời sống kinh tế hết sức khó khăn, gia đình ít quan tâm nênảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của các em Rất ít học sinh có
ý thức tự giác, say mê khám phá khoa học Đặc biệt là những mônthuộc khoa học xã hội, vì theo các em nó dài, vừa khó học lại khónhớ mà bản thân các em là người đồng bào nên tính kiên trì nhẫnnại gần như không có Đặc biệt môn học mang tính tư duy trừutượng như môn Ngữ văn thì đối với các em lại càng khó khăn Các
em cho rằng môn học này là môn học khó hiểu, khó nhớ lại đòi hỏi
Trang 5phải liên tưởng tưởng tượng Các em thấy khá phức tạp nênthường học qua loa đối phó
Dạy tại một địa bàn như ở CuôrĐăng chúng tôi luôn được sựquan tâm chia sẻ của lãnh đạo nghành, sự giúp đỡ của BGH nhàtrường, sự đồng thuận, tin tưởng của phụ huynh và sự yêu quývâng lời của các em học sinh đã phần nào giúp sức cho chúng tôi
có thêm nghị lực, niềm tin để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giaophó Bên cạnh đó bản thân chúng tôi giảng dạy tại địa bàn đượcxem là “ vùng trũng” của giáo dục thì khó khăn, vất vả là khôngcùng Ví như tại trường tôi nói chung và hai lớp tôi dạy nói riêng sốhọc sinh người đồng bào trình bày hoàn chỉnh một văn bản là rấthạn chế Các em rất thụ động, không tự giác tìm tòi khám phá Đa
số học sinh không yêu thích môn Ngữ văn, không say mê hứng thútrong học tập Nên giáo viên phải làm gì để giúp các em thật sự có
ý thức, tích cực, chủ động trong học tập môn Ngữ văn là câu hỏithường trực trong mỗi giáo viên dạy tại địa bàn đặc thù như địabàn xã CuôrĐăng Đó cũng là điều tôi hằng trăn trở và luôn cógắng tìm tòi các giải pháp để khắc phục
II.3 Các giải pháp, biện pháp:
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, đổi mới phương pháp, nângcao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn cho đối tượng học sinh làngười đồng bào, đảm bảo được những nguyên tắc cơ bản trongdạy học Ngữ văn bậc THCS
+ Nguyên tắc tiếp cận giao tiếp và quan điểm lịch sử
+ Nguyên tắc tích hợp trong vận dụng kiến thức và kĩ năng+ Nguyên tắc rèn luyện và phát triển các loại hình tư duy: tưduy logic và tư duy hình tượng
+ Nguyên tắc xây dựng bản sắc cá nhân, phát triển nhân cách(cá thể) trong mối quan hệ thống nhất với cộng đồng
+ Nguyên tắc khai phóng tư duy, phát huy tính tích cực, chủđộng của người học
Đặc biệt giúp các có niềm say mê, yêu thích bộ môn
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
b.1 Hướng dẫn học sinh soạn bài ở nhà:
Trang 6Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy đa số các em học sinh làngười đồng bào thiếu số có tính ì, không chịu tham gia phát biểu ýkiến xây dựng bài Sở dĩ có hiện tượng này là các em không chịusoạn bài, hoặc có soạn cũng sơ sài đối phó, cho qua chuyện Đếnlớp nghe cô giảng bài cũng như lần đầu tiên đọc tới bài học, tất cảđều mới mẻ xa lạ Như vậy làm sao có thể phát huy tính chủ động,tích cực, nâng cao chất lượng bộ môn Để phần nào khắc phục tìnhtrạng này tôi coi trọng việc hướng dẫn học sinh soạn bài ở nhà.Đối với phần văn bản, trước hết xác định cho các em thấy rõviệc tiếp xúc với văn bản là hết sức cần thiết và quan trọng Vì đọc
là hành động đánh thức tác phẩm với đầy đủ ý nghĩa của nó Đọcvăn là bước khởi động để đi vào thế giới tác phẩm Đọc để hiểu đểcảm thụ tác phẩm Cần phải đọc chậm, vừa đọc vừa ngẫm nghĩ.Không chỉ đọc văn bản mà còn đọc cả tiểu sử của tác giả, tácphẩm Giáo viên cần thường xuyên nhấn mạnh cho học sinh thấytác dụng to lớn của việc làm này để giúp các em bước đầu tự docảm thụ văn bản Từ việc cảm thụ sẽ dẫn dắt các em đến việchiểu ý nghĩa của bài văn Khi ít nhiều có sự hiểu biết về bài vănrồi, các em chuyển sang giai đoạn thứ hai là suy nghĩ các câu hỏitrong phần đọc hiểu văn bản ở SGK Sau đó trả lời các câu hỏi ấytheo cách hiểu của bản thân
Đối với phần Tiếng Việt và Tập làm văn cũng vậy, nếu khâuchuẩn bị bài trước ở nhà của học sinh mà chu đáo thì viêc học trênlớp thật sự rất hiệu quả
Qua quá trình dạy học tại đây tôi thấy tuy các em học sinh làngười đồng bào thiếu số ý thức chuẩn bị bài ở nhà là rất hạn chế.Nhưng nếu người giáo viên tận tình, khéo léo hướng dẫn cho các
em có hệ thống câu hỏi chi tiết cụ thể thì việc soạn bài lại đượccác em tích cực chú trọng Để việc soạn bài thật sự có hiệu quả vàhữu ích thì bản thân người giáo viên phải thật sự nhiệt tình hướngdẫn học sinh soạn đúng và đủ theo tinh thần là tìm hiểu trước.Nhắc các em không được chép sách giải hay viết dài vào vở soạncho có lệ mà cần chuẩn bị thật tốt những gì để thầy và trò cùng cómột giờ khám phá hiệu quả Muốn làm được điều đó – để truyềnđược ngọn lửa đam mê văn học vào các em thì người giáo viêncũng cần làm tốt công tác chuẩn bị của mình Tôi tin chắc rằngmột giáo viên không nghiên cứu trước bài, không chuẩn bị tốt thìcũng không thể hướng dẫn học sinh chuẩn bị tốt được Vì thế đểhướng dẫn các em chuẩn bị tốt bản thân ta cần chuẩn bị tốt đã.Đặc biệt là dạy phần văn bản giáo viên cần đọc kĩ tác phẩm trước,
Trang 7nghiền ngẫm bằng cả tâm hồn để khám phá cái hay cái đẹp về nộidung và nghệ thuật Cũng cần nghiên cứu kĩ về phần tác giả, hoàncảnh ra đời của tác phẩm để thấy được thông điệp mà văn bảnmuốn gửi gắm Sau đó hướng dẫn các em thông qua hệ thống câuhỏi mà SGK đề cập.
Ta có thể đặt ra cho các em các câu hỏi buộc các em phảichuẩn bị trước để trả lời được như: - Tác phẩm viết về điều gì?
- Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh nào?
- Tác giả sử dụng cách viết như thế nào?
- Trong tác phẩm, em có ấn tượng nhất với chi tiết (sự việc)nào?
- Tác phẩm gợi cho em những suy nghĩ gì?
VD: khi dạy hướng dẫn học sinh chuẩn bị soạn các bài: “ Mùaxuân nho nhỏ, Viếng lăng Bác” ngoài các câu hỏi trong SGK giáoviên có thể gợi ý thêm các câu hỏi khác như: Thanh Hải sáng tácbài thơ Mùa xuân nho nhỏ trong hoàn cảnh nào? Hoàn cảnh ấy cótác dụng gì khi thể hiện chủ đề, tư tưởng của bài thơ?
Tác giả Viễn Phương sáng tác bài thơ Viếng lăng Bác vào thờigian nào? Hoàn cảnh ra sao? Hoàn cảnh ấy tác động đến cảm xúccủa tác giả như thế nào?
Còn đối với phần Tập làm văn và phần Tiếng Việt nếu giáoviên không hướng dẫn các em soạn bài trước thì với 45 phút không
đủ để các em nắm được kiến thức và vận dụng nó vào thực hành
Vì vậy với bất kì tiết học nào cũng cần hướng dẫn cho học sinhxem trước và soạn bài ở nhà Đồng thời chúng ta cần kiểm tra việcchuẩn bị của các em qua khâu kiểm tra bài cũ
b.2 Cách thức ổn định tổ chức và kiểm tra bài cũ:
Khi bắt đầu tiết học giáo viên thường hỏi: “ Lớp hôm nay vắngmấy, lớp trưởng? Đó là những bạn nào?” Theo tôi thay vì hỏi nhưvậy người giáo viên khi đã nhận lớp một vài tuần hãy cố gắng nhớtên từng học sinh, kết hợp với sơ đồ chỗ ngồi có thể kiểm tra sĩ sốbằng việc quan sát lớp nêu tên học sinh vắng và tìm hiểu nguyênnhân về sự vắng mặt của các em rồi ghi lại vào sổ theo dõi củamình để tiết học sau có thể nhắc nhở các em đi học chuyên cầnhơn Đối với học sinh là người đồng bào dân tộc thì việc các emvắng học, bỏ tiết là chuyện rất thường tình Các em học yếu,không thích những nội quy gò bó nên thường trốn học Nếu giáoviên mà la mắng, bắt phạt thì các em bỏ học luôn Với đặc thù
Trang 8vùng CuôrĐăng nói riêng và CưM'gar nói chung công tác duy trì sốlượng có tốt mới có thể từng bước nâng cao chất lượng Vì vậy việckiểm tra sĩ số hằng ngày và động viên các em kịp thời có ý nghĩarất quan trọng trong việc “ ngăn dòng bỏ học” Từ việc tìm hiểunguyên nhân ta gần gũi nhẹ nhàng khuyên bảo và giúp các emhiểu sự cần thiết của việc học tập
Còn việc kiểm tra bài cũ là rất cần thiết và có ý nghĩa to lớnnhưng áp dụng với vùng đặc thù như địa bàn của chúng ta thì đòihỏi người giáo viên cần hết sức khéo léo và linh hoạt Ta có thể ví
nó “như con dao hai lưỡi” nếu không kiểm tra lâu dần khiến họcsinh có ý thức lười biếng, không học bài, không soạn bài cũ màcũng chẳng làm bài tập Và như vậy chắc chắn không thể nângcao chất lượng môn Ngữ văn lên được Nhưng nếu ta thườngxuyên kiểm tra mà thực hiện một cách máy móc, cứng nhắc sẽgây áp lực, sự lo lắng cho học sinh Đặc biệt học sinh là ngườiđồng bào dân tộc kĩ năng nhớ và diễn đạt còn rất yếu đặt vào tìnhhuống giáo viên quá nghiêm nghị sẽ khiến các em không nói được
gì đồng thời còn rất căng thẳng ảnh hưởng không tốt đến cả tiếthọc Để việc kiểm tra bài cũ có hiệu quả theo tôi giáo viên khôngnên đặt những câu hỏi dài, có nội dung buộc học sinh thuộc lòngkiến thức mà nên sử dụng những câu hỏi dạng bài tập trắcnghiệm, vừa đảm bảo thời gian vừa khái quát được nội dung bài cũ
và đồng thời phù hợp với đặc điểm học sinh địa bàn huyện chúng
ta Các em rất hứng thú với câu hỏi, bài tâp dạng này vì khá dễ trảlời lại ngắn gọn dễ nhớ Nên khi đưa ra các dạng bài tập để làmcâu hỏi kiểm tra bài cũ đa số các em sôi nổi xung phong trả bài.Nhưng để làm được điều này đòi hỏi người giáo viên cần chuẩn bịtốt có thể viết vào bảng phụ, hoặc làm phiếu học tâp
Tôi lầy ví dụ khi kiểm tra bài cũ tiết 16, 17 bài Chuyện người
con gái Nam Xương ( Trích Truyện kì mạn lục – Nguyễn Dữ).
Tôi đưa ra phiếu trắc nghiệm như sau để các em có thể hệ thốnglại kiến thức cũ một cách nhanh nhất và dễ nhớ, các em dễ dànglàm được, dễ đạt điểm cao tạo tâm thế vui vẻ, ham học và tích cực
ở các em
Đây chỉ là những câu hỏi gợi ý, còn tùy vào thời gian để giáoviên lựa chọn bao nhiêu câu, nội dung nào cho phù hợp Điều đócần sự vận dụng linh hoạt của mỗi giáo viên
PHIẾU TRẮC NGHIỆM KIỂM TRA BÀI CŨ
Chuyện người con gái Nam Xương
Trang 9( Trích Truyện kì mạn lục – Nguyễn Dữ)
1 Em hiểu thế nào về tên tác phẩm "Truyền kì mạn
lục" của Nguyễn Dữ ?
A Những câu chuyện hoang đường.
B Ghi chép lại những câu chuyện kì lạ.
C Ghi chép lại những câu chuyện kì lạ được lưu
truyền
D Ghi chép tản mạn những chuyện kì lạ được lưu
truyền (trong dân gian)
2 "Truyền kì mạn lục" được viết bằng:
A Chữ Hán.
B Chữ Nôm.
C Chữ Quốc ngữ.
3 Ý kiến nào là xác đáng, trong 4 ý kiến cho rằng
"Truyền kì mạn lục" là tập truyện có đặc điểm:
A Văn xuôi cổ viết bằng chữ Hán.
B Văn xuôi cổ (lối văn biền ngẫu), viết bằng chữ Hán.
C Văn xuôi cổ (biền ngẫu), viết bằng chữ Hán, sử
dụng nhiều thi liệu, văn liệu và điển tích
D Văn xuôi cổ (văn biền ngẫu), viết bằng chữ Hán, sử
dụng nhiều thi liệu, văn liệu và điển tích; cuối mỗi truyện
có lời bình; một số truyện có xen câu thơ, bài thơ
4 Theo em, trong các ý kiến sau, ý kiến nào là xác đáng ?
A "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ
và bài thơ "Lại bài viếng Vũ Thị" của Lê Thánh Tông là 2 tác phẩm khác nhau.
B "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ
và bài thơ "Lại bài viếng Vũ Thị" của Lê Thánh Tông là 2 tác phẩm giống nhau.
C "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ
và bài thơ "Lại bài viếng Vũ Thị" của Lê Thánh Tông vừa
có điểm giống nhau, vừa có điểm khác nhau:
Trang 10- Giống nhau về đối tượng (nhân vật Vũ Nương) về đề tài (số phận của người phụ nữ), về cảm hứng nhân đạo.
- Khác nhau về ngôn ngữ (chữ Hán, chữ Nôm), về thể loại (truyện văn xuôi cổ/ thơ thất ngôn bát cú Đường luật), vv…
5 Nhân vân chính của "Chuyện người con gái Nam
Xương" là ai ?
A Trương Sinh
B Vũ Nương và Trương Sinh.
C Bé Đản.
D Phan Lang và Linh Phi.
6 Phần 2 của "Chuyện người con gái Nam Xương" có ý
nghĩa gì về nội dung và nghệ thuật ?
A Câu chuyện có hậu , cái kết có hậu.
B Làm nổi bật chất thần kì của câu chuyện.
C Khắc hoạ, tô đậm, hoàn chỉnh vẻ đẹp nhân cách
nữ lí tưởng ngày xưa ?
A Chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ
đem trăm lạng vàng cưới về
B Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính
đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp
C Có lẽ không thể giữ hình ẩn bóng ở đây, để mang
tiếng xấu xa Vả chăng, ngựa Hồ gầm gió bắc, chim Việtđậu cành nam Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày
D Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết Tô son điểm
phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề béngót
8 Câu này nói lên ước mong gì của Vũ Nương khi tiễn chồng lên đường ra trận ?
Trang 11"Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấnphong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mangtheo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi".
A Vũ Nương không màng công danh phú quý.
B Vũ Nương chỉ cầu mong ngày chồng trở về bình
yên, vợ chồng đoàn tụ hạnh phúc
C Cả A và B.
9 Câu văn này nói lên tâm trạng gì của Vũ Nương ?
"Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh, mưa tan, sen rũ trong
ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêuxuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lênnúi Vọng Phu kia nữa"
A Lời tự thương đau khổ.
B Lời oán trách chàng Trương.
C Tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng trước bi kịch, cảm
thương mình mệnh bạc
D Khao khát được sống trong yên vui, hạnh phúc.
10 Câu văn biền ngẫu là câu văn có hai hay nhiều vế đối Những câu văn này có phải là câu văn biền ngẫu không ?
- Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa;// trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú.
- Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ.// Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ…
- Nhà cửa tiên nhân của nương tử, cây cối thành rừng,// phần
mộ tiên nhân của nương tử, cỏ gai rợp mắt…
A Đúng là câu văn biền ngẫu.
B Không đúng.
11 Các chi tiết nghệ thuật sau đây cho thấy bút pháp đặc sắc gì của Nguyễn Dữ ?
- ngõ liễu tường hoa
- bình rơi trâm gãy
Trang 12- sen rủ trong ao, liễu tàn trước gió
- khóc tuyết bông hoa rụng cuống
- kêu xuân cái én lìa đàn.
A Hình ảnh so sánh, ẩn dụ.
B Hình ảnh tượng trưng.
C Điển tích.
D Thi liệu, văn liệu (cổ điển).
12 Ý kiến nào chính xác nhất nói lên giá trị nội dung
tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm "Chuyện
người con gái Nam Xương" ?
A Giàu giá trị nhân đạo
B Cốt truyện li kì, hấp dẫn, chặt chẽ.
C Kết hợp hài hoà yếu tố tự sự và trữ tình.
D Khắc hoạ tâm lí nhân vật sâu sắc làm nổi bật bi
kịch điển hình về người phụ nữ thời loạn lạc
Qua bài thơ “ Con cò” em cảm nhận những điều cao đẹp nàocủa tình mẹ và những lời ru? Qua đó ta giáo dục các em về tìnhcảm gia đình, tình yêu thương cha me
Bài thơ “ Viếng lăng Bác” đã nói hộ lòng ta những tình cảmnào đối với Bác Hồ? Từ câu hỏi bài cũ ta có thể giáo dục đạo đức,nhân cách cho học sinh Đó là giáo dục lòng biết ơn kính trọng
Trang 13Bác, ý thức học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Người vàsống xứng đáng
Song song với việc kiểm tra bài cũ ta cũng cần kiểm tra việcsoạn bài và làm bài tập ở nhà của các em Cần chú ý vì có nhiều
em soạn qua loa đối phó, chép sách giải, chép bài của bạn Những trường hợp này cần nhắc nhở phê bình còn những học sinhchuẩn bị tốt ta có thể tuyên dương cộng điểm, cũng cần thu vởsoạn của cả lớp chấm theo đợt
Ta nên nhớ rằng các em là học sinh vùng đặc biệt này khôngthể lấy việc kiểm tra bài cũ, theo dõi sự vắng mặt của các em đểđưa ra các biện pháp mạnh: “đình chỉ học, hạ hạnh kiểm, mời phụhuynh, phạt lao động ” như đối với các học sinh người kinh nơithành thị Với học sinh là người đồng bào dân tộc rất hay tự ti và
tự ái nên chúng ta phải thật khéo léo làm thế nào để các em hiểuđược tất cả việc chúng ta làm là mong muốn mang lại điều tốt đẹpcho các em Người giáo viên cần duy trì thái độ vui vẻ, thân thiện,chân thành, cởi mở tạo tâm thế tự tin, chủ động hào hứng cho các
em từ đầu tiết học và thật sự nhiệt tình với học sinh trong suốtquá trình truyền tải kiến thức Và để bắt đầu vào giờ học khâu giớithiệu bài giáo viên cũng cần chú ý không nên bỏ qua
b.3 Khâu giới thiệu bài:
Chúng ta không nên bỏ qua bước này Vì nó được xem nhưhình thức “quảng cáo, tiếp thị” Nếu làm tốt sẽ tạo được hứng thú,gợi trí tò mò và gợi cảm xúc cho học sinh Các em sẽ khát khaoháo hức giờ học đề tìm đến với những điều kì diệu, bí ẩn, cái haycái hưu ích
VD: Khi dạy bài “Mùa xuân nho nhỏ” hay bài “ Viếng lăng Bác”chúng ta nên cho các em nghe bài hát đã được phổ nhạc từ hai bàithơ này Từ cảm xúc dạt dào đó ta có thể dẫn dắt vào bài bằngcách giới thiệu hoàn cảnh sáng tác bài thơ Hoặc khi dạy bài “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” ta có thể treo hai bức tranhchụp lại hai thành phố của Nhật Bản là Hi-rô-xi-ma và Na-ga-xa-ki
bị Mĩ ném hai quả bom nguyên tử cho học sinh quan sát:
Trang 14Hirosima – 1945: 140.000 người chết
Đám mây hình nấm do quả bom nguyên tử Fat Man némxuống Nagasaki, Nhật Bản cao đến 18 km – Hơn 70.000
Trang 15người chết
Và đặt các câu hỏi:
Em có biết hai bức tranh này không?
Nhờ đâu mà em biết? (có thể qua tivi, đài, báo )
Nó gợi cho em những suy nghĩ gì?
Từ đó ta có thể giới thiệu: đầu tháng 8 năm 1945 Mĩ đã némhai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố của Nhật Bản là Hi-rô-xi-ma và Na-ga-xa-ki làm hơn hai triệu người dân Nhật Bản thiệtmạng và còn di họa đến bây giờ Thế kỉ XX, thế giới phát minh ranguyên tử hạt nhân đồng thời cũng phát minh ra vũ khí hủy diệt,giết người hàng loạt khủng khiếp Từ đó đến nay và cả trong tươnglai mai sau nguy cơ một cuộc chiến tranh hạt nhân tiêu diệt cả thếgiới luôn luôn tiềm ẩn và đe dọa nhân loại Đấu tranh vì một thếgiới hòa bình luôn là những nhiệm vụ vẻ vang nhưng cũng khókhăn nhất của nhân dân các nước Hôm nay chúng ta nghe tiếngnói của một nhà văn nổi tiếng Nam Mĩ ( Cô-lôm-bi-a) đã đạt giảithưởng Nô ben văn học, tác giả của những tiểu thuyết hiện thựchuyền ảo lừng dang: Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két
Để tiết học thật sự sôi nổi, lí thú cho các đối tượng học sinhvốn rất thụ động theo tôi nghĩ bản thân người thầy phải vững kiếnthức, lòng đam mê và nhiệt huyết với nghề Có người nói muốndạy văn hay bản thân người thầy phải có tâm hồn nghệ sĩ – tôithấy rất đúng Chúng ta cần truyền ngọn lửa đam mê đó sang họcsinh ngay từ đầu tiết học Khâu giới thiệu bài hay, hấp dẫn sẽ gợitrí tò mò cho học sinh, chính vì vậy mà tiết học sẽ thú vị Học sinh
sẽ tích cực đọc, tìm hiểu văn bản như lời thầy giới thiệu
b.4 Hướng dẫn học sinh đọc văn bản:
Trong dạy Ngữ văn nói chung và dạy phân môn văn bản nóiriêng thì khâu đọc rất quan trọng đối với hoạt động tiếp nhận vănbản Đọc là tiếp nhận thông tin qua mắt nhìn và truyền thông tinqua giọng đọc Đọc có nhiều cách: đọc thầm, đọc thành tiếng, đọcphân vai, đọc diễn cảm Đọc là khâu quan trọng để hiểu bài
Thực tế cho thấy đọc tốt mới cảm thụ văn bản tốt Đọc với ýthức là thể hiện tình cảm trong tác phẩm – đặc biệt là tác phẩmtrữ tình, đọc đúng, đọc diễn cảm mới thấy được cái hay cái đẹpcủa văn bản Vì vậy nên hướng dẫn cho các em phát âm đúng, đọc
to, rõ ràng, ngắt nghỉ đúng dấu câu, tròn vành rõ chữ
Trang 16Đối với trường tôi đối tượng học sinh phần đa là người đồngbào thiếu số tôi thấy các em đều đọc chưa thông còn sai dấu vàlủng củng vì vậy các em ngại đứng đọc trước lớp Đọc lí nhí, không
tự tin Em bàn trên đọc thì em bàn dưới không nghe thấy, em cuốilớp đọc thì bản thân tôi không nghe được gì Khi các em đọc nhữngchỗ sai dấu, sai chữ thì một vài em người kinh ở trong lớp lại cười ồlên Và vì đọc sai nên các em học sinh người đồng bào rất hay viếtsai Qua việc chấm bài của các em tôi thấy 100% học sinh viết sailỗi chính tả Như vậy làm sao có thế cảm thụ được văn bản, giờhọc làm sao có hiệu quả
Tôi tìm hiểu nguyên nhân thực chất của hiện tượng này và đểtìm ra một vài giải pháp để từng bước khắc phục nó Do các em làngười đồng bào thiếu số vốn phát âm chưa chuẩn lại đọc chậmnên giáo viên ngại gọi các em đọc trước lớp vì sợ mất thời gian sợảnh hưởng đến tiết học Để khắc phục tình trạng trên tôi phảithường xuyên gọi các em đứng dậy đọc trước lớp Ban đầu tôi chocác em đọc đoạn ngắn, đọc chậm, to để uốn nắn, sửa chữa chỗđọc sai, hướng dẫn các em đọc lại cho đúng Các em đọc nhỏ là dochưa mạnh dạn Đối với những học sinh này tôi khuyến khích các
em tính mạnh dạn, tự tin trước lớp bằng cách cộng điểm cho các
em những lần các em xung phong đọc bài và đọc trôi chảy để từ
đó nhắc các em đọc to, rõ ràng và mạnh dạn hơn Bên cạnh đó tôicũng hướng dẫn các em đọc thầm, cách đọc này làm tăng sốlượng người đọc trong một giờ gọc Ví dụ tôi gọi một em đọc thìyêu cầu các em còn lại phải đọc bằng mắt, không thành tiếng chú
ý đọc kịp với bạn đọc to, để khi tôi gọi bất kì em nào cũng có thếđọc tiếp đựơc Việc này nghe có vẻ rất cũ và nhỏ nhặt nhưng đốivới cá nhân tôi thì lúc nào cũng chú trọng thực hiện và không baogiờ quên nhắc các em vì đối tượng học sinh của tôi là những đứatrẻ rất e ngại việc học tập và rèn luyện Các em thường ít chú ý,không quan tâm đến hiệu quả giờ học, chỉ mong thật sự nhanhchóng hết tiết học để được ra chơi, nên tôi phải thường xuyên,kiên trì rèn luyện cho các em những thói quen dù là nhỏ nhất
Còn đối với các em đọc tốt thì tôi yêu cầu cao hơn, như đòi hỏicác em phải chú ý đến câu, nhịp điệu, hình ảnh VD khi đọc cácđoạn văn: “ Nắng bây giờ đã đã bát đầu len tới, đốt cháy rừng cây.Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngóntay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của cây tử kinh thỉnh thoảngnhô cái đầu màu hoa lên trên màu xanh của rừng Mây bị nắngxua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơixuống đường cái, luồn cả vào gầm xe Giữa lúc đó, xe dừng sít
Trang 17lại ” “ Hai ông con theo bậc cấp bước xuống đồi, đến mặt đườngnhìn lên, không thấy người con trai đứng đấy nữa Anh ta đã vàonhà trong Ông xách cái làn trứng, cô ôm bó hoa to Lúc bấy giờ,nắng đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực như một
bó đuốc lơn Nắng chiếu làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làmcho cô gái cảm thấy mình rực rỡ theo ” trong văn bản “ Lặng lẽSapa” của Nguyễn Thành Long
Với những đoạn văn này phải đọc thật sự trôi chảy, mạch lạc,nhẹ nhàng, uyển chuyển mới cảm nhận được phần nào cảm xúcdạt dào của tác giả trong một tác truyện ngắn đầy chất thơ
Đọc đúng và truyền cảm không chỉ có tác dụng với phân mônVăn mà cả phân môn Tập làm văn, Tiếng Việt cũng cần thiết Nếucác em đọc không đúng, không hay các ngữ liệu thì việc phân tích
để tìm ra các đơn vị kiến thức sẽ rất khó khăn
VD văn bản mẫu: “ Khát vọng hòa nhập, dâng hiến cho đời”của tiết 126 bài “Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ” SGK Ngữ văn
9 tập 2 trang 76, 77 Đây là một văn bản hay, giàu cảm xúc, hìnhảnh Nếu đọc tốt các em đã cảm nhận được vẻ đẹp lấp lánh củamột bài nghị luận văn hoc Và từ đó kích thích sự tò mò khám phá
ở các em và chúng ta dễ dàng dẫn dắt học trò đi vào tìm hiểu cácđơn vị kiến thức khác như: Khái niệm nghị luận về một đoạn thơ,bài thơ; yêu cầu về nội dung và hình thức của bài nghị luận về mộtđoạn thơ, bài thơ
Học sinh là thế - đặc biệt là học sinh người đồng bào, việc gìcác em thích thú các em mới tự giác và tích cực Do vậy nhờ giọngđọc chuẩn mực, diễn cảm và sự nhiệt tình hướng dẫn các em đọctốt chắc chắn giờ học Ngữ văn sẽ trở nên hấp dẫn thú vị, lôi cuốnhọc sinh Bên cạnh đó muốn giờ học thật sự có chất lượng đòi hỏingười giáo viên cần chuẩn bị được hệ thống câu hỏi phát triển tưduy cho các em
b.5 Đưa hệ thống câu hỏi để phát triển tư duy cho học sinh:
Tư duy có tư duy bậc thấp và tư duy bậc cao
Tư duy bậc thấp gồm biết và hiểu:
- Biết: Là khả năng nhận biết và nhớ lại thông tin
- Hiểu: Là khả năng hiểu được ý nghiã của các khái niệm, hiện tượng…
Tư duy bậc cao: Gồm
- Vận dụng : Sử dụng khái niệm trong các tình huống mới
Trang 18- Phân tích: Chia nhỏ thông tin thành các phần có liên quan với nhau
- Tổng hợp: sắp xếp thông tin để tạo ra một tổng thể mới
- Đánh giá: Định giá trị dựa trên các tiêu chí
Thực tế tại trường tôi học sinh là người đồng bào thiếu số các
em rất thụ động, ỷ lại Muốn phát huy tính tích cực, chủ động củahọc sinh thì trong giờ học cần có hệ thống câu hỏi đa dạng vàphong phú, phù hợp với đối tượng học sinh Căn cứ vào tính chấthoạt động nhận thức có thể có các loại vấn đáp như:
- Vấn đáp tái hiện (dựa vào trí nhớ không cần suy luận được sửdụng khi cần tái hiện, củng cố thiết lập mối quan hệ với nhữngkiến thức đã học)
- Vấn đáp giải thích minh họa (nhằm làm sáng tỏ một vấn đề nào
Các kiểu câu hỏi tương ứng cho từng giai đoạn như sau:
- Loại câu hỏi, bài tập nhận biết phát hiện
- Loại câu hỏi, bài tập kích thích tư duy liên tưởng, tưởngtượng
- Loại câu hỏi, bài tập tái hiện kiến thức
- Loại câu hỏi, bài tập phân tích đánh giá hay tổng kếtkhái quát các vấn đề văn học
- Loại câu hỏi, bài tập sáng tạo ( trình bày những suy nghĩ
cá nhân, vận dụng linh hoạt những gì đã học vào các ngữ cảnhkhác nhau)
Theo tôi cũng có thể xây dựng hệ thống câu hỏi căn cứ trênnhiệm vụ cụ thể của mỗi giờ Ngữ văn Làm thế nào đó để có hệthống câu hỏi phù hợp với mỗi giờ học và phát huy một cách cóhiệu quả, giúp học sinh tích cực tham gia vào hoạt động học tậpsôi nổi có hứng thú Các bước chuẩn bị cũng rất quan trọng nhưngtiết học có thành công, hiệu quả hay không phụ thuộc chủ yếu vào