Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI “GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI MẶT HÀNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀ XUẤT NHẬP KHẨU DHT TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 1.1 Tín
Trang 1Chương 1:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI “GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI MẶT HÀNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU
TƯ QUỐC TẾ VÀ XUẤT NHẬP KHẨU DHT TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Từ năm 2003, nền kinh tế nước ta đã bước vào giai đoạn hội nhập trong sự biến đổi
đa dạng của nền kinh tế toàn cầu với các diễn biễn phức tạp của thị trường như tìnhhình cung – cầu không ổn định, cạnh tranh khốc liệt và sự ảnh hưởng của chiến tranhTrung Đông Nước ta bước đầu thực hiện AFTA, CEPT tiến tới xóa bỏ toàn bộ cácbiện pháp hạn chế thương mại đồng thời với lộ trình cắt giảm thuế quan, hoạt động sảnxuất trong nước do đó cũng gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh Các doanh nghiệpViệt Nam một mặt đang đứng trước những cơ hội lớn từ quá trình hội nhập kinh tếquốc tế, mặt khác phải đối mặt với không ít thách thức
Là một công ty cổ phần bắt đầu đăng ký kinh doanh từ cuối năm 2006, chuyênkinh doanh xuất nhập khẩu, Công ty cổ phần đầu tư quốc tế và xuất nhập khẩu DHTcũng không đứng ngoài xu thế chung là hội nhập kinh tế thế giới và buộc phải chấpnhận cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa
Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần đầu tư quốc tế và xuất nhập khẩuDHT, nhận thấy mặt hàng thức ăn chăn nuôi là một trong những sản phẩm chủ lực củacông ty Ngay từ khi mới thành lập, mặt hàng thức ăn chăn nuôi đã được chú trọng đầu
tư vốn, và nguồn lực công ty để tìm kiếm nguồn hàng nước ngoài, nhập khẩu và bán ratrên thị trường nội địa Sản phẩm thức ăn chăn nuôi chiếm hơn 20% tổng sản lượngkinh doanh của công ty DHT Tuy nhiên, trong hai năm qua, phát triển thương mại cácsản phẩm thức ăn chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn Điều đó thể hiện qua tốc độ tiêuthụ của công ty còn chậm và sự đóng góp của mặt hàng thức ăn chăn nuôi vào tổngdoanh thu của công ty ngày càng giảm Nếu năm 2007 sự đóng góp của sản phẩm này
là hơn 36% tổng doanh thu thì sang năm 2008 chỉ còn 20,06% và năm 2009 xấp xỉ15% Vì lý do này, việc phát triển thương mại sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty
là thực sự cần thiết
Trang 2Đứng trước thực tế trên, đề tài “Giải pháp phát triển thương mại sản phẩm thức
ăn chăn nuôi của công ty cổ phần đầu tư quốc tế và xuất nhập khẩu DHT trên thị trường nội địa’’ la thực sự cấp thiết về lý luận cũng như thực tiễn.
Về lý luận, do đặc điểm doanh nghiệp mới thành lập được 5 năm, kinh nghiệm kinhdoanh chưa nhiều Nên doanh nghiệp cần có một định hướng cụ thể, và cái nhìn đầy
đủ về phát triển thương mại, đề tài sẽ tập trung đi sâu làm rõ các lý luận liên quan đếnphát triển thương mại sản phẩm thức ăn chăn nuôi
Về thực tiễn, thị trường nội địa ngày càng có vai trò quan trọng Trong thời gian qua
có nhiều doanh nghiệp trong nước chỉ chú trọng tới thị trường xuất khẩu Nhưng khikhủng hoảng tài chính thế giới bắt nguồn từ Mỹ xảy ra thì nhiều doanh nghiệp đã biếtchú trọng đến thị trường nội địa và họ đã có nhiều thành công Thêm vào đó, ViệtNam là nước có dân số đông, nền kinh tế nông nghiệp lâu đời, cho nên ngành thức ănchăn nuôi được coi là ngành có vị trí quan trọng của kinh tế quốc gia, được nhà nướcquan tâm và ưu đãi để phát triển, thị trường nội địa là thị trường tiềm năng lớn với cáccông ty kinh doanh thức ăn chăn nuôi
Như vậy, việc tìm hiểu thực tiễn phát triển thương mại các sản phẩm thức ăn chănnuôi, vạch ra những khó khăn, nguyên nhân và cơ hội thách thức, từ đó đưa ra các kiếnnghị, đề xuất phát triển thương mại trong thời gian tới cho doanh nghiệp là việc làmcần thiết
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài :
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu thực tế chúng tôi thấy có một số câu hỏiđược đặt ra như sau:
- Phát triển thương mại là gì? Phát triển thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi cónhững đặc điểm gì?
- Thực tiễn về thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi trên thị trường hiện nay nóichung và mặt hàng kinh doanh thức ăn chăn nuôi của công ty DHT nói riêng như thếnào?
- Trong phát triển thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi thời gian qua, công ty đãđạt được những thành công gì; còn những tồn tại gì, nguyên nhân do đâu?
- Để phát triển thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa trongthời gian tới thì doanh nghiêp cần làm gì?
Trang 3Để phát triển một mặt hàng, doanh nghiệp kinh doanh cần giải quyết các vấn đề đi
từ việc tìm nguồn cung cho sản phẩm đến việc tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm nhưsau: khâu nhập hàng, vận chuyển hàng, đến khâu xúc tiến thương mại để tiêu thụ vàchiếm lĩnh thị phần Và doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế đất nước, chịu sựđiều tiết chung của nhà nước, do vậy cần phải nhận được những thuận lợi trong cácyếu tố luật pháp, quản lý vĩ mô để đảm bảo môi trường kinh doanh và cơ hội pháttriển tốt nhất Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng từ các yếu tố văn hóa,
xã hội, các yếu tố con người, nguồn nhân lực Từ sự cần thiết nghiên cứu đề tài vànhững câu hỏi cần giải đáp ở trên, trong quá trình thực tập tại công ty DHT, tôi nhậnthấy doanh nghiệp còn rất nhiều vấn đề trong kinh doanh trên thị trường nội địa,nhưng tôi chọn đề tài này vì nó phù hợp với chuyên ngành được đào tạo và là mộttrong những vấn đề cấp thiết hiện nay của doanh nghiệp
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài :
Mục tiêu của đề tài là tìm ra giải pháp để phát triển thương mại mặt hàng thức ănchăn nuôi trên thị trường nội địa Để đưa ra được giải pháp hợp lý chúng tôi đã tiếnhành nghiên cứu về cả lý thuyết và thực tiễn liên quan tới vấn đề phát triển thương mạimặt hàng thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa
Về lý thuyết: Tập hợp, hệ thống lại lý thuyết để làm rõ những vấn đề có liên quanđến phát triển thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa
Về thực tiễn: Vận dụng lý luận vào thực tiễn, làm rõ những vấn đề liên quan đếnphát triển thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa Cụ thể, đề tàitập trung đi tìm hiểu về thực trạng phát triển thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôicủa công ty DHT trên thị trường nội địa để từ đó phát hiện ra những thành công, tồntại và cơ hội, thách thức sau đó đưa ra những kiến nghị nhằm thúc đẩy phát triểnthương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa Việc phát triển thươngmại sản phẩm thức ăn chăn nuôi có những mục tiêu cụ thể như:
- Đối với doanh nghiệp thì mục đích mà chủ doanh nghiệp muốn hướng tới là : + Đạt mức tiêu thụ, thị phần lớn và uy tín sản phẩm trên thị trường mục tiêu
+ Tăng cường lợi ích cho khách hàng, đối tác
+ Phát triển bền vững các quan hệ với khách hàng và đối tác
+ Tối đa hóa hiệu quả sử dụng các nguồn lực
Trang 4- Đối với nền kinh tế-xã hội :
+ Mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cạnh tranh, hội nhập, giảiquyết các mục tiêu về xã hội như: lao động, thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống.Phát triển thương mại sản phẩm là tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng cuộcsống Đối với doanh nghiệp kinh doanh thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa, mụctiêu xã hội là tạo ra công ăn việc làm cho người lao động và cung cấp đầy đủ các sảnphẩm tối ưu giúp cho ngành chăn nuôi trong nước tăng trưởng, phát triển
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng, đề tài nghiên cứu những nguyên lý và các chính sách phát triểnthương mại đối với sản phẩm thức ăn chăn nuôi phục vụ cho nhu cầu của người tiêudùng Trên cơ sở đi sâu nghiên cứu thực tiễn phát triển thương mại các sản phẩm thức
ăn chăn nuôi, để đưa ra các kiến nghị nhằm phát triển thương mại các sản phẩm nàytrong thời gian tới
Về không gian, do đặc điểm, giới hạn của một bài chuyên đề nghiên cứu nên vấn
đề phát triển thương mại sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa đượcnghiên cứu ở công ty cổ phần đầu tư quốc tế và xuất nhập khẩu DHT
Về thời gian, đề tài nghiên cứu sự phát triển thương mại sản phẩm thức ăn chănnuôi trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2006 đến hết năm 2010; các kiến nghịđược đề xuất áp dụng trong khoảng thời gian 5 năm từ năm 2011 đến hết năm 2015
1.5 Một số khái niệm và phân định nội dung
a Một số khái niệm
- Khái niệm Thương mại :
Thương mại là tổng hợp các hiện tượng, các quan hệ kinh tế gắn và phát sinh cùngtrao đổi hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằm mục đích lợi nhuận
Theo đó đối tượng trao đổi của thương mại là hàng hóa và dịch vụ Chủ thể thamgia hoạt động thương mại bao gồm những người bán (người sản xuất hàng hóa, ngườicung ứng dịch vụ, thương gia) và những người mua (người sản xuất, thương gia,những người tiêu dùng) Tuy nhiên tham gia vào hoạt động thương mại còn có một sốthành phần khác như: môi giới, đại lý thương mại,…Hoạt động thương mại xảy ratrong khâu lưu thông trên thị trường với những điều kiện kinh tế, xã hội, luật pháp,
Trang 5chính trị và môi trường vật chất cụ thể Thương mại gồm thương mại hàng hóa vàthương mại dịch vụ.
- Khái niệm thương mại hàng hóa :
Vì sản phẩm điện tử dân dụng là các sản phẩm hữu hình nên khái niệm thương mạihàng hóa là khái niệm được quan tâm
Thương mại hàng hóa là một trong hai bộ phận của thương mại, là lĩnh vực trao đổihàng hóa hữu hình, bao gồm tổng hợp các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạtđộng hỗ trợ các chủ thể thúc đẩy quá trình trao đổi đó diễn ra theo mục tiêu đã xácđịnh Đó là hoạt động kinh tế của các chủ thể người bán và người mua Người bán,người mua trong thương mại hàng hóa chính là các nhà sản xuất, người tiêu dùng vàthương nhân Do vậy mối quan hệ trao đổi trong thương mại hàng hóa bao gồm cácquan hệ chủ yếu giữa nhà sản xuất với nhà sản xuất, nhà sản xuất với thương nhân,thương nhân với nhau, nhà sản xuất và thương nhân với người tiêu dùng Ngoài ra chủthể tham gia vào thương mại hàng hóa còn có các nhà môi giới, tư vấn, giao nhận,quảng cáo,…Họ là những nhà cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và thúc đẩy thương mạihàng hóa phát triển
Xét về bản chất, thương mại hàng hóa là thương mại, nhưng đối tượng trao đổi làsản phẩm hữu hình
- Quan niệm phát triển thương mại :
Phát triển thương mại là sự phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu của các hoạtđộng kinh tế trong nền kinh tế Nó là quá trình phản ánh sự nỗ lực để tạo ra sự thay đổi
về quy mô, cơ cấu, chất lượng và hiệu quả hoạt động thương mại của các chủ thể trênthị trường theo hướng tối ưu, hiệu quả Như vậy, xét về bản chất thì phát triển thươngmại bao gồm:
+ Gia tăng quy mô: Sự gia tăng về quy mô có thể được xem xét ở trên cả 2 phạmvi: vi mô và vĩ mô của nền kinh tế Trên phạm vi vi mô, đó là sự gia tăng doanh thu,doanh số của sản phẩm Trên phạm vi vĩ mô, đó là sự gia tăng mức lưu chuyển hànghóa, việc gia tăng kim ngạch sản phẩm
+ Gia tăng về tốc độ thương mại: Điều này được thể hiện ở việc đạt được sự tăngtrưởng trong doanh thu, doanh số, tổng mức lưu chuyển hàng hóa năm sau cao hơnnăm trước
Trang 6Sự gia tăng về quy mô, tốc độ thương mại chính là sự mở rộng, sự phát triểnthương mại theo chiều rộng Song, đây không phải lúc nào cũng là sự lựa chọn tối ưucho ngành hàng bởi sự phát triển về chiều rộng cần phải phù hợp với tiềm năng vàphải phát huy được lợi thế của ngành hàng.
+ Thay đổi chất lượng của hoạt động thương mại: Điều này thể hiện ở việc có đạtđược tốc độ tăng trưởng ổn định, bền vững, đều đặn hay không? Thể hiện ở việc giatăng tốc độ thương mại phát triển sản phẩm một cách nhanh chóng và ổn định gắn vớiviệc dịch chuyển cơ cấu mặt hàng / sản phẩm, thị trường hợp lý
+ Tối ưu, hiệu quả: Là sự phát triển thương mại một cách bền vững theo hướnghài hòa các mục tiêu kinh tế - xã hội – môi trường Nó được thể hiện ở việc tốc độ kimngạch tăng cao và ổn định ở hiện tại và trong tương lai không bị ảnh hưởng hưởngnhiều bởi yếu tố bên ngoài Phát triển thương mại phải tạo ra được công ăn việc làm,nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, bảo vệ môi trường nhằm hướng tới mụctiêu phát triển bền vững
Từ bản chất của phát triển thương mại ở trên ta có thể thấy được vấn đề của pháttriển thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi gồm 2 hướng như sau:
Phát triển thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi theo chiều rộng: Đó là việc tăng
về phạm vi thị trường, đưa sản phẩm mới đến thị trường mới, khách hàng mới Cụ thể
là sự hiện diện của các sản phẩm thức ăn chăn nuôi tại các địa bàn chưa từng biết đếnsản phẩm này Bên cạnh đó cần phải khuyến khích, thu hút khách hàng hoàn toàn mới
có nhu cầu được thỏa mãn bằng sản phẩm tương tự như sản phẩm của địa bàn đã có.Phát triển thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi theo chiều sâu: Đó là việc giatăng về số lượng và giá trị sản phẩm trên thị trường hiện tại Cụ thể là doanh nghiệpphải khai thác mọi cơ hội, nguồn lực của mình và thông qua các nỗ lực marketing đểthu hút khách hàng mới Đối tượng của phát triển thương mại theo chiều sâu bao gồmtập khách hàng hiện tại, khách hàng của đối thủ cạnh tranh và những khách hàng chưatừng sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp
Phát triển thương mại sản phẩm là việc nâng cao hiệu quả thương mại Trên bìnhdiện vi mô, hiệu quả thương mại phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả hoạt độngtrao đổi, mua bán với chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt kết quả đó Thực chất
Trang 7của phát triển thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi chính là mở rộng quy mô vànâng cao chất lượng của thương mại mặt hàng thức ăn chăn nuôi
* Một số lý thuyết cơ bản ảnh hưởng đến phát triển thương mại :
Để đánh giá hiệu quả phát triển thương mại sản phẩm, các chỉ tiêu thường được sử
dụng là các chỉ tiêu về quy mô, chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng, sự chuyển dịch cơ cấu,giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị cung ứng, hiệu quả thương mại và sự phát triển bềnvững
+ Chỉ tiêu về quy mô : Chỉ tiêu này biểu hiện qua các tiêu chí tổng doanh thu, %tăng trưởng, thị phần của doanh nghiệp
Tổng doanh thu là tổng giá trị tính bằng tiền mà doanh nghiệp thu được nhờ bánhàng hóa Tổng doanh thu qua các năm càng tăng chứng tỏ quy mô của doanh nghiệptăng
Tổng doanh thu = Tổng khối lượng sản phẩm × Giá thành đơn vị sản phẩm
% tăng trưởng là tỷ lệ % giữa sản lượng tiêu thụ năm nay và sản lượng tiêu thụ nămtrước % tăng trưởng nhỏ hơn 100% thì quy mô giảm, bằng 100% thì quy mô khôngđổi, lớn hơn 100% tức là quy mô tăng
Thị phần = Doanh thu của doanh nghiệp / Tổng doanh thu của thị trường
+ Chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng : Tốc độ tăng trưởng cho biết doanh số thời kỳ này
so với thời kỳ trước tăng hay giảm bao nhiêu % Tốc độ tăng trưởng cao, ổn định, đềuđặn qua các năm là biểu hiện tốt của phát triển thương mại Ngược lại, nếu tốc độ tăngtrưởng thấp hoặc âm hoặc tăng trưởng không ổn định qua các năm là biểu hiện của sựphát triển thương mại chưa vững chắc, chưa hiệu quả
+ Sự chuyển dịch cơ cấu : Đó là sự chuyển dịch trong cơ cấu sản phẩm, chuyểndịch về cơ cấu thị trường, cơ cấu thành phần kinh tế, sự chuyển dịch về loại hìnhdoanh nghiệp tham gia phát triển thương mại sản phẩm Sự chuyển dịch này hợp lý là
Trang 8biểu hiện của sự phát triển thương mại có hiệu quả Một cơ cấu hợp lý là một cơ cấuthúc đẩy phát triển thương mại và tạo ra nhiều giá trị gia tăng.
+ Giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị cung ứng : Chỉ tiêu này thể hiện ở các giaodịch, các công đoạn mà các doanh nghiệp tham gia trong chuỗi cung ứng Trong chuỗigiá trị cung ứng có rất nhiều công đoạn như tổ chức nguồn hàng, vận chuyển, phânphối,…Một doanh nghiệp có thể tham gia vào một hoặc một số khâu trong chuỗi Điềuquan trọng là tham gia vào khâu nào có hiệu quả kinh tế, có uy tín và có lợi thế Từ đó,góp phần tăng giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị cung ứng
+ Hiệu quả thương mại : Hiệu quả thương mại phản ánh quan hệ so sánh giữa hiệuquả đạt được với chi phí bỏ ra của quá trình trao đổi hàng hóa trên thị trường Thựcchất, đó là trình độ sử dụng các nguồn lực trong thương mại nhằm đạt tới những mụctiêu đã xác định HIệu quả thương mại gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
+) Hiệu quả kinh tế : Trên tầm vĩ mô, nó phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quảkinh tế đạt được với chi phí về các nguồn lực tài chính, lao động và các yếu tố vật chất
kỹ thuật khác trong quá trình tổ chức trao đổi hàng hóa và cung cấp dịch vụ trên thịtrường Trên tầm doanh nghiệp, các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả kinh doanh được xácđịnh dựa vào kết quả như mức lưu chuyển, giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ, lợinhuận so với các chi phí về vốn cố định, vốn lưu động và vốn sức lao động
+) Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội phản ánh kết quả đạt được theo mục tiêu haychính sách xã hội so với các chi phí nguồn lực bỏ ra nhằm đạt được mục tiêu đó Hiệuquả xã hội của thương mại thể hiện tương quan giữa chi phí, nguồn lực bỏ ra nhằmthỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội về hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo chất lượng phục
vụ và các giá trị văn hóa, nhân văn, việc thu hút lao động và giải quyết việc làm, mức
độ hạn chế gia tăng thất nghiệp
+ Sự phát triển bền vững: Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển(WCED) thì “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại,nhưng không gây ảnh hưởng cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai’’ Theo đó,
sự phát triển bền vững các sản phẩm thức ăn chăn nuôi phải đảm bảo sự phát triển ổnđịnh, tạo ra nhiều công ăn việc làm trong hiện tại và tương lai
Trang 9- Khái niệm sản phẩm thức ăn chăn nuôi :
Thức ăn chăn nuôi la những nguyên liệu có nguồn gốc từ động vật, thực vật, visinh vật và hóa học mà có chứa các chất dinh dưỡng ở dạng có thể hấp thu được vàkhông gây ra những tác động có hại đến sức khỏe vật nuôi, chất lượng sản phẩm củachúng Những nguyên liệu này phải có chứa các chất dinh dưỡng ở dạng có thể hấpthu để trong quá trình tiêu hóa sẽ được vật nuôi sử dụng cho nhu cầu duy trì, xây dựngcác mô, cơ quan và điều hòa trao đổi chất Những nguyên liệu có chứa các chất độc,chất có hại cũng có thể được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi sau khi đã khử hoặc làm
vô hoạt hoàn toàn các yếu tố gây độc, gây hại cho sức khỏe vật nuôi, cho thế hệ sau vàcho chất lượng sản phẩm của chúng
Có nhiều cách để phân loại thức ăn chăn nuôi, đề tài đưa ra một hình thức phân loạithức ăn chăn nuôi khá phổ biến đó là phân loại theo nguồn gốc thức ăn, bao gồm :+ Thức ăn thực vật : Thức ăn xanh, các sản phẩm chế biến từ chúng, phụ phẩmtrồng trọt, các loại rau, củ, quả, hạt…
+ Thức ăn động vật : Sữa và các sản phẩm từ sữa, phụ phẩm chế biến thịt, cá, chănnuôi gia cầm, lò ấp…
+ Thức ăn nguồn khoáng chất : đại và vi lượng
+ Vi sinh vật : men TĂ chăn nuôi, chế phẩm sinh học giàu enzyme
+ Tổng hợp hóa học : thức ăn công nghiệp, thuốc phòng trị bệnh…
b Phân định nội dung :
Đã có rất nhiều đề tài làm về lĩnh vực này, nhưng đề tài này có cách tiếp cận vànghiên cứu phát triển thương mại thức ăn chăn nuôi ở góc độ vi mô trong doanhnghiệp, cụ thể là với công ty cổ phần đầu tư quốc tế và xuất nhập khẩu DHT
Về lý luận, đề tài đi sâu nghiên cứu các lý luận liên quan đến vấn đề phát triểnthương mại sản phẩm Phát triển thương mại không chỉ đơn thuần là tăng khối lượngbán mà còn là sự cải thiện về chất lượng thương mại và mở rộng quy mô, thị phần trênthị trường
Về giải pháp, các kiến nghị đưa ra cho công ty DHT, ngành thức ăn chăn nuôi và
cơ quan quản lý nhà nước nhằm phát triển thương mại sản phẩm thức ăn chăn nuôi ởtầm vi mô cho công ty DHT Các kiến nghị, đề xuất trong khoảng thời gian 5 năm từ
2011 đến hết năm 2015
Trang 10Chương 2:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SẢN PHẨM THỨC ĂN CHĂN NUÔI NÓI CHUNG VÀ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DHT
TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
2.1 Phương pháp nghiên cứu :
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu :
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu chưa qua xử lý, được thu thập lần đầu, và thu thậptrực tiếp từ các đơn vị của tổng thể nghiên cứu thông qua các cuộc điều tra thống kê
Để thu thập các số liệu sơ cấp, các phương pháp được sử dụng là phương pháp quansát gián tiếp,cụ thể như sau:
Quan sát kết quả hay tác động của hành vi mua hàng, chứ không trực tiếp quan sáthành vi mua hàng Tiến hành chọn mẫu và nghiên cứu hồ sơ về doanh số bán trongtừng ngày của một số cửa hàng, đại lý phân phối để có thể thấy được xu hướng tiêudùng của khách hàng trong từng thời kỳ Nghiên cứu về hồ sơ ghi lại hàng tồn kho cóthể thấy được xu hướng chuyển dịch của thị trường
Phương pháp quan sát được sử dụng vào phần 2.2.2 và phần 3.3 trong chuyên đề,quan sát để thu thập dữ liệu sau đó đưa ra đánh giá những xu thế của người tiêu dùng
có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển thương mại sản phẩm thức ăn chăn nuôi và sau
đó là các kiến nghị đề tài đưa ra đối với công ty cổ phần DHT để phát triển thương mạisản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty trên thị trường nội địa
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp :
Khác với số liệu sơ cấp, số liệu thứ cấp là các số liệu đã qua xử lý Đề tài có sửdụng các thông tin từ sách, báo, internet, báo cáo tài chính của công ty đầu tư quốc tế
và xuất nhập khẩu DHT, các đề tài luận văn tốt nghiệp Phương pháp thu thập dữ liệuthứ cấp được sử dụng vào phần 2.2 : thực trạng kinh doanh sản phẩm thức ăn chănnuôi trên thị trường nội địa
Trang 11Tất cả những nguồn dữ liệu đó tạo thành nguồn thông tin tổng hợp phục vụ cho việchoàn thành đề tài này Với nguồn dữ liệu khá phong phú, đề tài đảm bảo có tính khoahọc cao và đáng tin cậy.
2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu :
Để có cái nhìn trực quan vấn đề nghiên cứu, để tìm hiểu xu thế, sự biến động củavấn đề nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp sau :
- Phương pháp thống kê : Thống kê là việc thu thập dữ liệu và thiết kế các nghiên cứuđịnh lượng Tóm tắt thông tin nhằm hỗ trợ quá trình tìm hiểu về một vấn đề hoặc mộtđối tượng nào đó Việc thống kê như vậy giúp đưa ra những kết luận dựa trên số liệu,ước lượng hiện tại hoặc dự báo tương lai Các số liệu thu được trong quá trình tìmhiểu, quan sát, thu thập sẽ được biểu hiện dưới dạng bảng để dễ theo dõi, so sánh.Bảng chính là một công cụ hữu hiệu cho việc phân tích dữ liệu
- Phương pháp so sánh : Sau khi thống kê, các số liệu của cùng một chỉ tiêu được sosánh với nhau, hoặc có thể so sánh các bộ phận với tổng thể từ đó chúng ta có thể phântích và đưa ra kết luận
- Phương pháp tổng hợp : Các số liệu sau khi thực hiện thống kê, so sánh sẽ được tổnghợp dưới dạng các biểu đồ, bảng biểu để có cái nhìn trực quan, rõ ràng hơn về tìnhhình kinh doanh và các biến động trong từng thời kì của doanh nghiệp
2.2 Đánh giá tổng quan thực trạng kinh doanh và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến phát triển thương mại sản phẩm thức ăn chăn nuôi nói chung và của công ty
cổ phần đầu tư quốc tế và xuất nhập khẩu DHT trên thị trường nội địa.
2.2.1 Đánh giá khái quát thực trạng kinh doanh sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa.
a Khái quát hoạt động kinh doanh sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa.
- Về quy mô :
Thị trường nội địa là thị trường tiềm năng và sôi động với phát triển thương mạithức ăn chăn nuôi Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam Tổng diệntích đất nông nghiệp khoảng 26,22 triệu ha Năm 2009, giá trị sản lượng của nôngnghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng (giá so sánh với năm 1994), tăng 1,32% so với năm
2008 và chiếm 13,85% tổng sản phẩm trong nước Trong năm 2005, có khoảng 60%
Trang 12lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, và thuỷ sản Chăn nuôi là mộtnghành quan trọng của nông nghiệp hiện đại, nuôi lớn vật nuôi để sản xuất những sảnphẩm như: thực phẩm, lông, và sức lao động Ngành chăn nuôi Việt Nam có đóng gópkhoảng 6% vào GDP Số liệu thống kê của Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam cho thấy, cảnước hiện có 256 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi Trong đó có
225 doanh nghiệp có nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm Số còn lại
là các doanh nghiệp chỉ kinh doanh thương mại mặt hàng này Năm 2008, tổng doanhthu của toàn ngành là khoảng 50.000 tỷ, sang năm 2009 con số này đã là gần 60.000 tỷđồng Tuy nhiên, theo đánh giá của Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn) thì sản xuất trong nước tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêuthụ Số liệu thống kê cho thấy sản lượng thức ăn chăn nuôi của toàn ngành năm 2010cũng chỉ là 10,6 triệu tấn và năm 2011 là 11,3 triệu tấn Như vậy, hàng năm lượngthiếu hụt vào khoảng 4-5 triệu tấn Để đáp ứng nhu cầu trên thị trường, trong một vàinăm tới dự kiến giá trị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi vẫn khoảng từ 300- 400 triệuUSD/năm
- Về chất lượng
Trong những năm vừa qua, ngành TACN đã có sự chuyển dịch cơ cấu đáng kể từsản xuất thức ăn chăn nuôi theo gia công, mang tính nông nghiệp sang sản xuất thức
ăn chăn nuôi công nghiệp, chất lượng cao, hiệu quả tăng mạnh Tuy nhiên, hiện nay do
sự quản lý lỏng lẻo của cơ quan quản lý cho nên tình trạng thức ăn chăn nuôi kém chấtlượng, không rõ xuất xứ tràn lan trên thị trường nội địa Hầu hết những loại thức ănnày đều có hàm lượng đạm, chất dinh dưỡng không đúng chỉ tiêu trên bao bì và chỉtiêu chất lượng an toàn thực phẩm Giá bán các sản phẩm này lại rẻ hơn hẳn so với sảnphẩm đạt tiêu chuẩn nên người tiêu dùng, vì vậy tình trạng hàng kém chất lượng, hànggiả, hàng nhái lưu hành không kiểm soát sẽ gây ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triểnthương mại thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa
- Tốc độ tăng trưởng :
Từ năm 2008, tốc độ tăng trưởng ngành thức ăn chăn nuôi trong nước có xu hướnggiảm, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và cuộc khủng hoảng giáthức ăn chăn nuôi ở các nước nguồn nguyên liệu khiến cho các doanh nghiệp trongnước lao đao Giá cao kéo theo hàng loạt các vấn đề trong khâu nhập khẩu nguồn hàng
Trang 13và lượng cầu nội địa Tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nămtháng đầu năm 2009 đạt khoảng 832 triệu Đô la Mỹ, giảm 27,84% so với cùng kỳ nămtrước; trong đó giảm nhiều nhất quí 1 với mức 37,81% so với cùng kỳ năm 2008.
Có thể nhận thấy tác động rõ nét của cuộc khủng hoảng kinh tế từ cuối năm 2008đối với tình hình nhập khẩu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam Tháng 1/2009, nhậpkhẩu giảm mạnh nhất, chỉ đạt hơn 90 triệu Đô la Mỹ, tức là chưa bằng 45% so vớitháng 1/2008 Bên cạnh đó, số lượng khách hàng nội cũng giảm trầm trọng, do thunhập người tiêu dùng không đáp ứng nổi tình trạng ‘’bão giá’’ trên thị trường
- Thành phần tham gia :
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các công ty, các cơ sở kinh doanh sản phẩmthức ăn chăn nuôi Trong đó, có những công ty chuyên doanh các sản phẩm này nhưcông ty cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Thắng, công ty thương mại Phổ Bình,…ngoài
ra còn có rất nhiều các hệ thống đại lý chuyên doanh thức ăn chăn nuôi và các cơ sởsản xuất và kinh doanh nhỏ khác Sự đông đảo của các nhà cung ứng trên thị trườnglàm cho nguồn cung trên thị trường phong phú Người tiêu dùng vì thế có nhiều sự lựachọn hơn Tuy nhiên, sự đông đảo của các nhà cung ứng cũng làm cho sự cạnh tranhtrở nên gay gắt các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi có vốn nước ngoài đangchiếm tới 75% thị phần thức ăn chăn nuôi của cả nước Sự đa dạng của các nhà cungứng cũng làm cho giá cả cạnh tranh hơn, có nhiều loại sản phẩm với nhiều mức giákhác nhau để người tiêu dùng có thể lựa chọn
Trang 14- Những văn bản pháp luật tác động đến phát triển thức ăn chăn nuôi trên thị trườngnội địa :
Việt Nam có khoảng 72% dân số sống ở khu vực nông thôn, do vậy ngành chănnuôi đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc gia Đứng ở vị trí là ngành
hỗ trợ trực tiếp cho ngành chăn nuôi, ngành thức ăn chăn nuôi nhận được nhiều quantâm và ưu đãi của Nhà nước Quản lý nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách, nghị quyết
để quản lý nhằm thúc đẩy sự phát triển thương mại ngành thức ăn chăn nuôi Theo
‘’nghị định số 08/2010/NĐ-CP về thức ăn chăn nuôi’’, áp dụng đối với tổ chức, cánhân trong nước và nước ngoài hoạt động liên quan đến thức ăn chăn nuôi trên lãnhthổ Việt Nam là nghị định tổng quát và bao trùm nhất của chính phủ, quy định toàn bộhoạt động liên quan đến sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi Thông qua nghịđịnh, nhà nước đã đưa ra các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho ngành TACN về công nghệ,
hỗ trợ vốn và kiểm soát giá thức ăn chăn nuôi đang biến động mạnh mẽ trên thịtrường hiện nay Nhà nước cũng đưa một số mặt hàng TACN vào diện bình ổn giá, sửađổi chính sách thuế (Công văn 3074/VPCP-KTTH) cho các doanh nghiệp kinh doanhnhập khẩu TACN Bên cạch đó, nghị định còn đưa ra các hình thức kiểm soát chấtlượng (Điều 9, điều 1NĐ 08/2010/NĐ-CP) đối với các doanh nghiệp, các cá nhân và
cơ sở tham gia sản xuất và kinh doanh TACN
Tuy nhiên, các chính sách và nghị quyết của nhà nước đưa ra vẫn còn mang tínhchất trên văn bản, giấy tờ, chưa có các hình thức kiểm tra, kiểm soát, và quản lý chặtchẽ trong quá trình thực hiện, cho nên thị trường thức ăn chăn nuôi hiện nay vẫn đangtrong tình trạng khó khăn và bế tắc và chưa có các tín hiệu cho thấy sự vực dậy khủnghoảng của thị trường TACN Chính vì vậy, sau việc đưa ra các văn bản pháp luật quyđịnh, nhà nước cần chú trọng thực thi chính sách trong thực tế, tránh sự quản lý lỏnglẻo làm kém hiệu quả gây ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển thương mại thức ăn chănnuôi trên thị trường nội địa
b Khái quát thực trạng hoạt động kinh doanh mặt hàng thức ăn chăn nuôi của công
ty DHT trên thị trường nội địa.
Trước hết, về doanh thu của doanh nghiệp, tính từ năm 2007 đến hết năm 2010 có
sự biến động qua các năm Nhìn vào biểu đồ 2.2.1 (biểu đồ doanh thu của công tyDHT từ năm 2007 đến hết năm 2010) ta thấy doanh thu năm 2007 của DHT là gần
Trang 1549,4 tỷ (VNĐ) đến năm 2008 doanh thu công ty tăng đến gần 84,1 tỷ (VNĐ), bằng70% năm 2007 Sở dĩ có sự tăng trưởng về doanh số cao như vậy là do năm 2007 công
ty vừa mới thành lập, về số lượng cũng như chủng loại kinh doanh chưa nhiều vì khảnăng tìm nguồn cung và nguồn cầu chưa cao Nhưng đến năm 2009, doanh thu giảmhơn 4%, chỉ còn hơn 80 tỷ (VNĐ) do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giớinăm cuối năm 2008 tại Việt Nam Năm 2010 doanh thu của công ty vẫn ổn định ở mứchơn 80 tỷ(VNĐ) không có sự tăng trưởng so với năm 2009
Biểu đồ 2: Doanh thu của công ty DHT từ năm 2007-2010
0 10,000 20,000 30,000 40,000 50,000 60,000 70,000 80,000 90,000
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
ở các nước phát triển kéo theo cuộc ‘’bão giá’’ trên thị trường thức ăn chăn nuôi thếgiới, giá tăng do chi phí tăng nhanh, khiến cho lợi nhuận thu được từ mặt hàng nàygiảm trầm trọng, thậm chí là lợi nhuận âm trong năm 2009 Như vậy, nhìn vào biểu đồdoanh thu qua các năm và tình hình biến động của lợi nhuận, có thể đưa ra nhận xétrằng từ năm 2007 đến 2008 công ty DHT có sự tăng trưởng mạnh về tình hình kinhdoanh nhưng từ sau năm 2008 đến nay doanh nghiệp chưa có sự tăng trưởng, thậm chí
Trang 16từ năm 2009 đến 2010 doanh nghiệp tăng trưởng âm nhưng không đáng kể, nhìnchung thì kinh doanh ở mức ổn định.
Về quy mô và chủng loại kinh doanh của doanh nghiệp, là một doanh nghiệp mớigia nhập ngành kinh doanh xuất nhập khẩu được 5 năm, công ty DHT kinh doanh dướihình thức nhập hàng hóa từ các nguồn cung trên thế giới để bán ra trên thị trường nộiđịa Thị phần của công ty tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Nam và miền Trung.Phương thức bán hàng chủ yếu của công ty là bán hàng qua kho Bên cạnh đó, một sốmặt hàng cũng được bán theo hình thức vận chuyển thẳng, nghĩa là công ty mua hàngcủa bên cung cấp và giao bán thẳng theo hợp đồng đến tận tay người tiêu dùng cuốicùng hay đến các đại lý phân phối và các cơ sở chuyên doanh bán lẻ Các mặt hàngkinh doanh chính của công ty là : hóa chất, thức ăn chăn nuôi, và các loại linh kiệnđiện tử Trong đó, mặt hàng thức ăn chăn nuôi và hóa chất luôn chiếm tỷ trọng caotrong tổng doanh thu của công ty trong những năm qua
Về chất lượng sản phẩm, các mặt hàng kinh doanh của công ty đều được nhậpkhẩu từ các nguồn hàng có uy tín trên thế giới Nguồn cung tập trung chủ yếu ở TrungQuốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Tuy nhiên, những sản phẩm này chỉ mới đạt tiêu chuẩn antoàn thực phẩm của cục chăn nuôi, chưa phải là nguồn chất lượng tốt nhất Nguyênnhân là do vốn của công ty chưa đủ mạnh và thu nhập của người dân nước ta còn hạnchế nên chỉ đủ khả năng tiêu thụ mặt hàng có giá cả trung bình trên thế giới
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại thức ăn chăn nuôi
a Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến phát triển thương mại thức ăn chăn nuôi.
- Chính sách vĩ mô của nhà nước :
Các chính sách vĩ mô của Nhà nước có thể kể đến như chính sách thuế, lãi suất, xúctiến thương mại, thương mại nội địa, chính sách thương mại quốc tế…Hiện nay, cácdoanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi chủ yếu đều phải nhập khẩu nguyên liệu.Ngành sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi đang phải đối mặt với khủng hoảng
vì giá nguyên liệu tăng liên tục trong thời gian gần đây Tính bình quân 3 tháng đầunăm 2011 tăng gần 80% so với năm 2009 và 35,5% so với năm 2010 Vì vậy, thuếnhập khẩu sẽ là yếu tố tác động lớn đến giá trị gia tăng và vì thế sẽ tác động đến pháttriển thương mại đối với sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa Ngoài ra,
sự hỗ trợ của nhà nước trong việc đưa ra các chính sách hỗ trợ kinh doanh, hỗ trợ bộ
Trang 17phận người dân chăn nuôi, trong việc phòng chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chấtlượng là yếu tố thúc đẩy phát triển thương mại thức ăn chăn nuôi Như vậy, sự canthiệp của Nhà nước đúng mức sẽ là nhân tố thúc đẩy phát triển thương mại sản phẩmthức ăn chăn nuôi.
- Đối thủ cạnh tranh :
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp tham gia kinh doanh sản phẩmthức ăn chăn nuôi Ngoài các doanh nghiệp trong nước, còn có các doanh nghiệp liêndoanh nước ngoài tham gia vào thị trường Các doanh nghiệp liên doanh nước ngoài lànhững đối thủ mạnh về tài chính, trình độ quản lý tạo điều kiện cho phát triển thươngmại sản phẩm thức ăn chăn nuôi Tuy nhiên điều này cũng có thể làm các doanhnghiệp vừa và nhỏ phải rút lui khỏi thị trường nếu không đủ sức cạnh tranh chiếm lĩnhthị phần
- Xu thế của người tiêu dùng
Người tiêu dùng là yếu tố đầu tiên cần quan tâm vì doanh nghiệp sản xuất và kinhdoanh là để phục vụ khách hàng Các yếu tố cần quan tâm về khách hàng là quy mô và
cơ cấu nhu cầu; thu nhập và hướng sử dụng thu nhập; quyết định mua; sự ổn định vàphát triển của khách hàng; sự sẵn sàng mua và trả giá; tập quán, thói quen và sự tínnhiệm của khách hàng; sự liên kết giữa khách hàng và nhà cung cấp Tất cả các yếu tố
đó đều có tác động tới phát triển thương mại sản phẩm
b Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến phát triển thương mại thức ăn chăn nuôi
- Hệ thống quản lý trong doanh nghiệp
Hệ thống quản lý trong doanh nghiệp là bộ máy lãnh đạo từ trên xuống dưới trongmột doanh nghiệp Bao gồm các cấp quản lý, có chức năng định hướng, giám sát quản
lý mọi hoạt động trong doanh nghiệp và đưa ra các chiến lược phát triển doanh nghiệp.Hiện nay trên thị trường Việt Nam chủ yếu có hai thành phần kinh doanh thức ăn chănnuôi Thứ nhất là các doanh nghiệp tham gia sản xuất và kinh doanh, đây hầu hết làcác doanh nghiệp có quy mô lớn, liên doanh nước ngoài, có tiềm lực và bộ máy quản
lý chuyên nghiệp Thứ hai là bộ phận các doanh nghiệp chỉ tham gia nhập hàng vàkinh doanh, hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Họ chưa có một hệ thống quản lýhoàn thiện, chưa phát huy được hết mọi nguồn lực và lợi thế cạnh tranh trong doanhnghiệp của mình vì thế tính cạnh tranh còn chưa cao Như vậy, hệ thống quản lý trong
Trang 18doanh nghiệp là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển thương mại các sản phẩmtrong doanh nghiệp.
- Trình độ nguồn nhân lực :
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định hàng đầu, quan trọng nhất trong quá trìnhphát triển của một doanh nghiệp Phát triển nguồn nhân lực sẽ góp phần cải thiện môitrường làm việc, nâng cao chất lượng kết quả kinh doanh, là nhân tố ảnh hưởng quantrọng đến sự phát triển thương mại mặt hàng của mỗi doanh nghiệp Các doanh nghiệpkinh doanh thức ăn chăn nuôi tuy đã chú trọng đầu tư vào con người nhưng thực tế chothấy chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp còn thấp, lao động phổ thôngnhiều nhưng lại thiếu nhân lực có tâm huyết với nghề, có trình độ chuyên môn cao
- Môi trường làm việc trong doanh nghiệp
Môi trường làm việc trong doanh nghiệp hay còn gọi là văn hóa doanh nghiệp liênquan đến tính chuyên nghiệp, chuyên môn hóa, khả năng phát huy hết giá trị củanguồn nhân lực cho sự phát triển của công ty Việc tạo ra môi trường làm việc hiệnđại, phong cách làm việc tiên tiến đòi hỏi khả năng tổ chức quản lý của doanh nghiệptốt, trình độ nhân viên cao, có khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại.Thực tế thì chỉ có một bộ phận nhỏ doanh nghiệp kinh doanh thức ăn chăn nuôi xâydựng được môi trường làm việc trong công ty tương đối tốt, phần lớn là các doanhnghiệp nhỏ, các cơ sở kinh doanh sử dụng lao động phổ thông nhiều, mang tập tínhlàm việc truyền thống, chưa bắt kịp được Đây là điểm hạn chế lớn của doanh nghiệp,không phát huy được hiệu quả tối đa nguồn nhân lực, ảnh hưởng không tốt đến sự pháttriển thương mại sản phẩm của mình
2.3 Kết quả phân tích các dữ liệu thu thập :
2.3.1 Kết quả phân tích thực trạng phát triển thương mại sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên thị trường nội địa.
* Về tốc độ tiêu thụ :
Ngành thức ăn chăn nuôi được coi là ngành có triển vọng, rất phát đạt trong nhiềunăm Tuy nhiên năm 2010, tình hình tiêu thụ sản phẩm của ngành thức ăn chăn nuôigặp nhiều khó khăn do giá nguyên liệu nhập khẩu tăng cao khó kiểu soát Sức cungkhá dồi dào nhưng cầu trì trệ đã làm cho tình hình tiêu thụ thức ăn chăn nuôi của cácdoanh nghiệp gặp khó khăn, tồn kho cao Theo tổng cục thống kê, mức độ tồn kho