1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx

71 440 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rủi Ro Tín Dụng Tại NHNTVN Chi Nhánh Cần Thơ
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 730,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

I Sự cần thiết của đề tài: 1

II Mục tiêu của đề tài: 1

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: 2

IV Phương pháp nghiên cứu của đề tài: 2

V Cấu trúc nội dung nghiên cứu của đề tài: 2

VI Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu: 3

CHƯƠNG 1: RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1

I Rủi ro trong hoạt động của các NHTM: 1

1 Khái niệm về rủi ro trong hoạt động ngân hàng: 1

2 Đặc điểm của rủi ro trong hoạt động ngân hàng: 1

2.1 Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp: 1

2.2 Rủi ro có tính tất yếu: 1

3 Phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng: 1

II Rủi ro tín dụng trong hoạt động của các NHTM: 3

1 Khái niệm về rủi ro tín dụng: 3

2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng: 4

2.1 Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: 4

2.2 Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: 4

2.3 Rủi ro tín dụng có thể dự báo trước hoặc không thể dự báo: 5

3 Biểu hiện của rủi ro tín dụng: 5

4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng: 6

4.1 Nguyên nhân khách quan từ phía nền kinh tế và các cơ quan quản lý Nhà Nước: 6

4.1.1 Xuất phát từ hệ thống thông tin: 6

4.1.2 Xuất phát từ hệ thống văn bản luật: 7

4.1.3 Xuất phát từ công tác kiểm tra, thanh tra: 7

4.1.4 Xuất phát từ các cơ quan ban ngành liên quan: 8

4.2 Nguyên nhân chủ quan từ phía các NHTM: 9

Trang 2

4.2.1 Xuất phát từ cán bộ quản lý, cán bộ tín

dụng: 9

4.2.2 Xuất phát từ chính sách, quy trình tín dụng và sự vận dụng chính sách, quy trình tín dụng chưa nghiêm túc: 10

4.2.3 Xuất phát từ công tác thẩm định: 11

4.2.4 Xuất phát từ tài sản bảo đảm: 13

4.2.5 Xuất phát từ thông tin tín dụng: 15

4.2.6 Xuất phát từ hoạt động kiểm soát nội bộ: 15

4.3 Nguyên nhân từ phía khách hàng đi vay: 16

4.3.1 Đối với khách hàng là doanh nghiệp: 16

4.3.1 Đối với khách hàng là cá nhân: 17

4.4 Nguyên nhân khác: 17

5 Tác động của rủi ro tín dụng: 18

5.1 Tác động đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM: 19

5.2 Đối với nền kinh tế nói chung: 19

III Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại: 20

1 Khái niệm và mục tiêu của công tác quản trị rủi ro tín dụng:.21 2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng: 21 2.1 Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro tín dụng: 21

2.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng: 22 2.3 Quản trị rủi ro tín dụng tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của các NHTM: 22

3 Khung quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng: 22

3.1 Hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng: 23

3.2 Xác định rủi ro hiện có và rủi ro tiềm tàng: 23

3.3 Xây dựng các chính sách và quy trình tín dụng: 24

3.4 Giám sát và kiểm tra tín dụng: 24

3.5 Cơ cấu tổ chức: 24

Trang 3

3.6 Trách nhiệm cá nhân đối với chất lượng cho vay: 25

3.7 Hệ thống tính điểm tín dụng: 25

4 Nguyên tắc của Basel về quản trị rủi ro tín dụng: 25

4.1 Nguyên tắc 1: 25

4.2 Nguyên tắc 2: 25

4.3 Nguyên tắc 3: 26

4.4 Nguyên tắc 4: 26

4.5 Nguyên tắc 5: 26

4.6 Nguyên tắc 6: 27

4.7 Nguyên tắc 7: 27

4.8 Nguyên tắc 8: 27

4.9 Nguyên tắc 9: 27

5 Kinh nghiệm của các ngân hàng Thái Lan trong việc quản trị rủi ro tín dụng: 27

CHƯƠNG 2: ĐIỀU TRA KHẢO SÁT VÀ KẾT QUẢ 29

I Đề xuất bảng câu hỏi khảo sát: 29

1 Mục tiêu đề xuất bảng câu hỏi khảo sát: 29

2 Một số hạn chế khi thực hiện việc khảo sát: 29

II Kết quả khảo sát thực tế: 30

1 Khảo sát nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng: 31

2 Khảo sát giải pháp giúp hạn chế rủi ro tín dụng: 32

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CN CẦN THƠ 33

I Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội và hoạt động ngân hàng của TP.Cần Thơ trong thời gian qua: 33

II Tổng quan về Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Cần Thơ: 36

III Thực trạng công tác huy động và sử dụng vốn của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Cần Thơ trong thời gian qua: 37

1 Công tác nguồn vốn: 37

2 Công tác sử dụng vốn: 38

2.1 Tình hình sử dụng vốn qua 03 năm: 38

2.2 Tình hình phân loại nợ và trích lập dự phòng để xử lý rủi ro trong 03 năm, tổng hợp và xử lý nợ xấu: 40

Trang 4

IV Phân tích các nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng tại

NNTVN–CNCT trong thời gian qua: 43

1 Nguyên nhân khách quan: 43

1.1 Môi trường tự nhiên: 43

1.2 Văn bản luật: 43

1.3 Thông tin tín dụng: 44

2 Nguyên nhân chủ quan từ phía NHNTVN–CNCT: 45

2.1 Cán bộ tín dụng: 45

2.2 Thông tin tín dụng: 46

2.3 Tài sản bảo dảm: 46

2.4 Chính sách tín dụng, quy trình tín dụng: 48

2.5 Công tác thẩm định: 48

2.6 Nguyên nhân khác: 50

3 Nguyên nhân khách quan từ phía khách hàng vay vốn: 50

3.1 Đối với khách hàng là doanh nghiệp: 50

3.2 Đối với khách hàng là cá nhân: 52

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG 53

I Nhóm giải pháp đối với Chính Phủ và các cơ quan ngang bộ (Ngân hàng Nhà Nước, Bộ Tài Chính, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, ): 53

1 Các vấn đề liên quan đến văn bản luật: 53

2 Các vấn đề liên quan đến thông tin tín dụng: 53

3 Các vấn đề liên quan đến tài sản bảo đảm: 55

II Nhóm giải pháp đối với NHNTVN – CN Cần Thơ: 56

1 Các vấn đề liên quan đến cán bộ tín dụng: 56

1.1 Đối với bản thân cán bộ tín dụng: 56

1.2 Đối với ngân hàng: 57

2 Các vấn đề liên quan đến thông tin tín dụng: 58

3 Các vấn đề liên quan đến tài sản bảo đảm: 59

4 Các vấn đề liên quan đến chính sách tín dụng, quy trình tín dụng: 59

5 Các vấn đề liên quan đến công tác thẩm định: 63

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

-I Sự cần thiết của đề tài:

Thực tiễn hoạt động của các NHTMVN trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua

đã cho chúng ta thấy tình trạng khó khăn về tài chính của một ngân hàng thườngphát sinh từ những khoản cấp tín dụng khó đòi, điển hình như: việc đổ vỡ hàngloạt quỹ tín dụng, NHTMCP của những năm 1989-1990, việc đặt một số

NHTMCP vào tình trạng giám sát đặc biệt những năm 1999-2000, hay những vụ

án lớn và việc tiến hành xử lý một khối lượng nợ tồn đọng khá lớn của cácNHTMNN từ năm 2000 trở về trước đã chứng minh rất rõ điều này Thêm vào

đó, nhìn vào kết cấu tài sản của các NHTMVN chúng ta nhận thấy: tài sản sinhlời là các khoản cấp tín dụng luôn chiếm tỷ trọng khá lớn 60%-70% tài sản có,thậm chí có một số NHTM tỷ lệ này lên đến 80%

Chính vì vậy, tín dụng luôn được đánh giá là một trong các loại nghiệp vụngân hàng phức tạp và có độ rủi ro cao, và vấn đề quản lý rủi ro tín dụng là vấn

đề luôn được các NHTMVN quan tâm hàng đầu, nhất là hiện nay khi Việt Namđang trong giai đoạn đầu của quá trình hội nhập vào Tổ chức thương mại thếgiới (WTO)

Với mục tiêu hướng tới xây dựng mô hình một NHTM đạt tiêu chuẩn quốc

tế, hiện đại và vững mạnh, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam nói chung vàNgân hàng Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Cần Thơ nói riêng trong quátrình chuyển đổi của mình luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu đối với vấn đềkiểm soát tốt các loại rủi ro, trong đó đặc biệt là rủi ro tín dụng

Đó cũng là lý do Tác giả chọn đề tài “Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam Chi nhánh Cần Thơ - Thực trạng và giải pháp”.

II Mục tiêu của đề tài:

Đề tài nghiên cứu muốn hướng đến các mục tiêu:

- Góp phần làm rõ hơn các lý luận về hoạt động tín dụng và rủi ro tronghoạt động tín dụng

- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và các nguyên nhân dẫn đến rủi

ro tín dụng tại NHNTVN-CNCT

Trang 6

- Trên cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề tài nêu ra một

số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro cho hoạt động tín dụng tại NHNTVN-CNCTnói riêng và các NHTMVN nói chung

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến rủi rotín dụng và các giải pháp góp phần hạn chế rủi ro tín dụng để có thể góp phầnnâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại NHNTVN-CNCT

Phạm vi nghiên cứu: tác giả nghiên cứu giữa lý luận và thực tế nguyênnhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong thời gian ba năm qua (2004-2006) tại

NHNTVN-CNCT, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm để hạn chế rủi ro tín dụng

IV Phương pháp nghiên cứu của đề tài:

Cùng với việc nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành kinh tế, tàichính, ngân hàng, đề tài nghiên cứu đã được thực hiện trên cơ sở:

- Thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế về hoạt động tín dụng tại

NHNTVN-CNCT

- Ghi nhận các ý kiến, nhận định của các cán bộ tín dụng thông qua cácmẫu điều tra về nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các giải pháp góp phầnhạn chế rủi ro tín dụng

- Trao đổi kinh nghiệm với các cán bộ tín dụng công tác tại CNCT, và các cán bộ công tác trong ngành tài chính, ngân hàng nói chung

NHNTVN Trên cơ sở lý luận, các số liệu thực tế tổng hợp được, kết quả các mẫuđiều tra, và các ý kiến nhận định của các cán bộ tín dụng, tác giả sử dụng cácphương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hoạtđộng tín dụng của NHNTVN-CNCT, tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến rủi rotín dụng và đưa ra giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng

V Cấu trúc nội dung nghiên cứu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu được tác giả trình bàygồm bốn chương:

Trang 7

- Chương 1: Rủi ro tín dụng trong hoạt động của các NHTM.

- Chương 2: Điều tra khảo sát và các kết quả đạt được

- Chương 3: Thực trạng về hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại CNCT

NHNTVN Chương 4: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNTVNNHNTVN CNCT

VI Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu dựa trên thực trạng hoạt động tín dụng của hệ thốngNHTM nói chung và NHNTVN-CNCT nói riêng Tác giả phân tích thực trạngkết hợp với các nghiên cứu, lý luận, tư duy của nhiều nhà nghiên cứu, chuyêngia ngân hàng cũng như kinh nghiệm bản thân, đồng nghiệp trong quá trình thamgia hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng để đưa ra các ý kiến, nhận định, giảipháp, nhằm đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực trong hoạt động kinh doanh củangân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng

Qua việc nghiên cứu các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tíndụng và đề xuất giải pháp nhằm hạn chế rủi ro, tác giả mong muốn những suynghĩ, đề xuất và những gì mình học hỏi được sẽ giúp ích cho công việc thực tế,

từ đó góp phần nâng cao mức độ hiệu quả và an toàn trong hoạt động tín dụngnơi NHTM tác giả đang công tác, và xa hơn nữa, mong muốn đề tài nghiên cứu

sẽ được áp dụng trong hoạt động của các NHTMVN

Trang 8

CHƯƠNG 1: RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I Rủi ro trong hoạt động của các NHTM:

1 Khái niệm về rủi ro trong hoạt động ngân hàng:

Định nghĩa truyền thống: Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là những biến

cố không mong đợi xảy ra, gây mất mát, thiệt hại tài sản, thu nhập của ngânhàng trong quá trình hoạt động

Định nghĩa hiện đại: Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là khả năng những

sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể là các NHTM khôngthể đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng như chi phí

cơ hội của việc làm mất đi những cơ hội thị trường

2 Đặc điểm của rủi ro trong hoạt động ngân hàng:

2.1 Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp:

Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng và phức tạp của các nguyên nhân dẫnđến rủi ro, cũng như các hậu quả do rủi ro gây ra Nhận thức và vận dụng đặcđiểm này, khi thực hiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro cần áp dụng đồng bộ nhiềubiện pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào Bên cạnh đó,trong quá trình xử lý hậu quả rủi ro cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất vàhậu quả của rủi ro để đưa ra biện pháp phù hợp

2.2 Rủi ro có tính tất yếu:

Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, hoạt động kinh doanh ngânhàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp để đạt được mức lợi nhuậntương ứng Trong từng nghiệp vụ ngân hàng có rất nhiều nguyên nhân chủ quan

và khách quan dẫn đến rủi ro Việc tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với từng hoạtđộng ngân hàng là điều mang tính tất yếu

3 Phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng:

Do đặc thù ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và cung ứng cácdịch vụ ngân hàng theo Luật các TCTD nên tính chất hoạt động và rủi ro cónhững khác biệt so với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác Có

Trang 9

thể nói, hoạt động ngân hàng liên quan đến việc chấp nhận rủi ro chứ không phải

né tránh rủi ro Các NHTM cần đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mốiquan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứngđáng với mức rủi ro chấp nhận Các NHTM sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro màngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được, đồng thời nằm trong phạm vi,khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của mình

Hoạt động kinh doanh của các NHTM không chỉ bao gồm nghiệp vụ huyđộng vốn và cấp tín dụng mà còn rất nhiều lĩnh vực hoạt động khác như bảolãnh, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán, góp vốn liên doanh, dịch vụ thẻ Chính vì vậy nên rủi ro trong hoạt động của các NHTM cũng rất đa dạng:

- Rủi ro tín dụng: là rủi ro về sự tổn thất tài chính, phát sinh từ việckhách hàng đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trả

nợ đúng hạn theo cam kết hoặc việc khách hàng mất khả năng thanh toán Điềunày có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc và lãi vay có thể bịtrì hoãn, thậm chí là không được hoàn trả, và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bịtổn thương trong hoạt động của ngân hàng Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ởhoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụngkhác như tài trợ thương mại, thấu chi, bao thanh toán…

- Rủi ro lãi suất: là rủi ro làm giảm lợi nhuận ròng khi lãi suất biến độngtheo chiều hướng bất lợi Rủi ro lãi suất xảy ra khi có sự chênh lệch giữa kỳ hạnbình quân của các tài sản và các khoản nợ của ngân hàng trong điều kiện lãi suấtthị trường thay đổi ngoài dự kiến của ngân hàng dẫn đến khả năng giảm thu nhậpcủa ngân hàng so với dự tính

- Rủi ro thanh khoản: là rủi ro phát sinh chủ yếu từ xu hướng của cácNHTM là huy động ngắn hạn và cho vay dài hạn, hay nói cách khác là rủi ro khicác NHTM không đáp ứng được cho các khoản phải trả khi đến hạn thanh toán

do tài sản của ngân hàng không có khả năng thanh khoản hay không thể huyđộng vốn Trường hợp này thường xảy ra nếu như các khoản huy động về mặt

kỹ thuật sẽ phải hoàn trả theo yêu cầu của người gửi tiền Đặc biệt, như chúng ta

đã thấy trong bất cứ một cuộc khủng hoảng nào thì người gửi tiền sẽ rút tiền củamình ra nhanh hơn việc người đi vay sẵn sàng trả nợ

- Rủi ro ngoại hối: là rủi ro phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn củacác khoản ngoại hối mà các NHTM đang nắm giữ, và vì thế làm cho các NHTM

có thể phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động

Trang 10

- Rủi ro hoạt động: là rủi ro liên quan đến công nghệ, cơ sở hạ tầng, quytrình, con người trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng, hay nói cáchkhác rủi ro hoạt động bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức

mà một NHTM điều hành các hoạt động của mình

- Rủi ro luật pháp: là rủi ro ngân hàng có thể bị khởi kiện vì để xảy ranhững sai sót hoặc sự cố trong quá trình hoạt động kinh doanh gây thiệt hại chokhách hàng và đối tác Rủi ro luật pháp mà các NHTM phải đối mặt có thể tiềm

ẩn trong nhiều lĩnh vực kinh doanh Nguyên nhân dẫn đến rủi ro luật pháp có thể

là do con người hoặc do công nghệ máy móc Thậm chí, NHTM có thể gặp phảirủi ro luật pháp ngay cả khi ngân hàng không phải là bên gây thiệt hại

- Rủi ro chiến lược: là rủi ro phát sinh từ những thay đổi trong môitrường hoạt động của các NHTM trên phạm vi rộng hơn về mặt kinh doanh vàtài chính Rủi ro chiến lược cũng có thể phát sinh từ các hoạt động của bản thâncác NHTM

- Rủi ro uy tín: là rủi ro khi các NHTM bị dư luận đánh giá xấu, gây khókhăn nghiêm trọng cho hoạt động của ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốnhoặc khách hàng rời bỏ ngân hàng

- Rủi ro thị trường: là loại rủi ro tổn thất tài sản, xảy ra khi lãi suất, tỷ giáhay giá cả thị trường biến động theo chiều hướng xấu Nói cách khác, rủi ro thịtrường xảy ra khi có sự thay đổi của các điều kiện thị trường hay những biếnđộng của thị trường

II Rủi ro tín dụng trong hoạt động của các NHTM:

1 Khái niệm về rủi ro tín dụng:

Có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng:

- Rủi ro tín dụng: là rủi ro về sự tổn thất tài chính, phát sinh từ việckhách hàng đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trả

nợ đúng hạn theo cam kết hoặc việc khách hàng mất khả năng thanh toán Điềunày có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc và lãi vay có thể bịtrì hoãn, thậm chí là không được hoàn trả, và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bịtổn thương trong hoạt động của ngân hàng Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ởhoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụngkhác như tài trợ thương mại, thấu chi, bao thanh toán…

Trang 11

- Rủi ro tín dụng: theo Điều 2 “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sửdụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng” ban hành kèm theo Quyết định số

493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN, rủi ro tín dụng làkhả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàngkhông thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết

xảy ra do nguyên nhân

khác nhau khó lường trước

Phải chấp nhận rủi ro

Ngân hàng chỉ có thểchấp nhận một mức độrủi ro nhất định

Quản lý rủi ro tín dụngphải được xem làvấn đề sống còn

Đòi hỏi trình độ chuyên môncao của cán bộ tín dụng

2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng:

2.1 Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp:

Tính chất đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng biểu hiện ở sự đa dạng

và phức tạp của các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, cũng như các hậu quả

do rủi ro tín dụng gây ra Nhận thức và vận dụng đặc điểm này, khi thực hiện

phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp,

không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào Bên cạnh đó, trong quá trình

xử lý hậu quả rủi ro tín dụng cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quảcủa rủi ro để đưa ra biện pháp phù hợp

2.2 Rủi ro tín dụng có tính tất yếu:

Các chuyên gia kinh tế đều cho rằng hoạt động kinh doanh ngân hàng thựcchất là quản lý rủi ro (chủ yếu là rủi ro tín dụng) ở mức độ phù hợp để đạt đượcmức lợi nhuận tương ứng Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn

Trang 12

đến rủi ro, đặc biệt do không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụngvốn vay cho hoạt động kinh doanh của khách hàng vay, nên bất cứ khoản chovay nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với hoạt động tín dụng của các NHTM.

Vì vậy trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, các NHTM cần chủ động cócác biện pháp thích hợp để xác định rủi ro, định lượng rủi ro, quản lý rủi ro vàkiểm soát rủi ro

2.3 Rủi ro tín dụng có thể dự báo trước hoặc không thể dự báo:

Các rủi ro có thể dự báo trước: danh mục cho vay hay đầu tư của mộtNHTM luôn luôn có một số khoản thất thoát tiềm tàng chưa được xác định Tuynhiên, nếu giả định rằng các đặc điểm chung của danh mục cho vay nhìn chungvẫn giống nhau trong một giai đoạn hợp lý thì các NHTM có thể dự báo cáckhoản thất thoát này với một mức độ tương đối chính xác bằng cách nghiên cứucác đặc điểm diễn biến của danh mục cho vay theo thời gian

Các rủi ro không thể dự báo trước: có nhiều sự kiện nằm ngoài tầm kiểmsoát của các NHTM, các cú sốc ngoại sinh do các điều kiện chưa phát sinh tạithời điểm ký kết một thỏa thuận kinh doanh, là những nguyên nhân có thể dẫnđến rủi ro mà các NHTM không thể dự báo trước

3 Biểu hiện của rủi ro tín dụng:

Vì rủi ro tín dụng là khả năng (xác suất) vỡ nợ của khách hàng nên:

- Những khách hàng phá sản, lừa đảo, chây ỳ trong việc trả nợ là biểuhiện rõ nhất

- Bên cạnh đó, các khoản nợ không trả được khi đến hạn ở các cấp độkhác nhau cũng thể hiện các khả năng vỡ nợ khác nhau

Từ thước đo rủi ro tín dụng cho thấy rủi ro ở độ rộng với những tầng nấckhác nhau Vấn đề không phải là ở con số nợ xấu chiếm bao nhiêu % tổng dư

nợ, mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay hẹp Dù áp dụng phương phápnào, tính chính xác của kết quả phụ thuộc rất nhiều vào việc cán bộ tín dụng cáccấp có thực sự nghiêm túc trong việc nhìn nhận rủi ro tín dụng và chính sáchquản lý rủi ro có nhằm mục tiêu tạo nên tính minh bạch trong việc xác định rủi

ro hay không

Có nhiều tiêu chí phản ảnh rủi ro tín dụng của các NHTM như:

Trang 13

- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, trên vốn chủ sở hữu, trên quỹ

dự phòng tổn thất

- Nợ đáng nghi ngờ (có vấn đề): khả năng chuyển thành nợ xấu cao

- Nợ không có tài sản bảo đảm

Hiện tại, nếu áp dụng phân loại nợ theo các chuẩn mực kế toán quốc tếđược thừa nhận (IAS) thì tình hình nợ quá hạn và nợ xấu của các NHTMVNnghiêm trọng hơn nhiều lần so với báo cáo của từng ngân hàng, vì:

- Nhiều khoản nợ các NHTM đang hạch toán ở tài khoản nợ trong hạnnhưng thực tế đã là nợ xấu vì khách hàng kinh doanh thua lỗ hoặc đã khó khăntrong việc trả nợ đầy đủ, đúng hạn

- Không ít khoản vay trong danh mục tín dụng của các NHTM là nợtrong hạn song đã được ngân hàng gia hạn hoặc đảo nợ do người vay không đủkhả năng thanh toán

Do phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro xử lý nợ xấu chưa nhất quánvới thông lệ quốc tế nên hiện nay, việc đánh giá chất lượng tín dụng thực chấtnhư thế nào là hết sức khó khăn, thậm chí không thể làm được Đây là trở ngạirất lớn đối với các NHTMVN khi bước vào cạnh tranh và hội nhập với các ngânhàng có yếu tố nước ngoài Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp đánh giáchất lượng tín dụng, áp dụng dần các chuẩn mực IAS trong phân loại nợ và tríchlập dự phòng rủi ro xử lý nợ xấu là vấn đề hết sức cấp thiết đối với hệ thống cácNHTMVN

4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng:

4.1 Nguyên nhân khách quan từ phía nền kinh tế và các cơ quan quản lý Nhà Nước:

4.1.1 Xuất phát từ hệ thống thông tin:

Thông tin tín dụng bao gồm thông tin lịch sử, thông tin hiện tại và xuhướng phát triển của khách hàng trong tương lai (gồm cả thông tin về tài chính

và phi tài chính) và đặc biệt là các thông tin thống kê về các chỉ tiêu trung bìnhngành phục vụ cho việc xếp loại khách hàng vay

Hiện nay, các NHTM không chỉ quan tâm đến việc hỏi tin về xếp hạngdoanh nghiệp nhằm đánh giá khách hàng có quan hệ tín dụng mà còn sử dụng

Trang 14

thông tin vào những mục đích khác như mở rộng đối tượng cho vay, thực hiệncông tác marketing đến khách hàng truyền thống, khách hàng tiềm năng, và mởrộng thị phần trên thị trường Tuy nhiên:

- Hệ thống thông tin của Việt Nam hiện nay còn khá nhiều bất cập, ViệtNam chưa có cơ chế công bố thông tin đầy đủ Trong thời gian qua, Trung tâmthông tin tín dụng (CIC) trực thuộc NHNN hoạt động đã đạt được những kết quảbước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin về tình hình hoạt độngtín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp hoạtđộng một cách độc lập và hiệu quả

- Vai trò nối kết các NHTM của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) cònlỏng lẻo, chưa đạt được kết quả như mong muốn

Đây chính là thách thức cho các NHTMVN trong việc mở rộng và kiểmsoát hoạt động tín dụng Nếu các NHTM cố gắng chạy theo thành tích, mở rộngtín dụng trong điều kiện môi trường thông tin bất cân xứng thì sẽ gia tăng nguy

cơ nợ xấu

4.1.2 Xuất phát từ hệ thống văn bản luật:

Về cơ bản, hoạt động tín dụng của các NHTM đã được Luật hóa trong cácvăn bản Luật và các văn bản pháp quy của Chính Phủ, NHNN Tuy nhiên, quanghiên cứu, phân tích, đồng thời, đúc kết từ những trường hợp rủi ro trong thực

tế hoạt động của các NHTM cho thấy vẫn còn những “lỗ hỏng” khá nguy hiểm,

đó vừa là những nguyên nhân sâu xa, vừa là những nguyên nhân ảnh hưởng trựctiếp đến rủi ro tín dụng của các NHTM

- Hoạt động tín dụng của các NHTM hiện nay chịu sự điều chỉnh, chiphối của khá nhiều luật, văn bản dưới luật chồng chéo, không rõ ràng, khônghợp lý, thiếu tính chặt chẽ và chưa thật sự hoàn chỉnh

- Chính Phủ thường xuyên ban hành mới các chính sách về thuế, về xuấtnhập khẩu, hoặc các quy định về đất đai, nhà ở…Khi một chính sách bị thay đổiđột ngột sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng đến kếhoạch, cũng như khả năng dự báo sức tiêu thụ trên thị trường của các doanhnghiệp Việc định hướng chiến lược sản xuất, kinh doanh không phù hợp, khôngchính xác sẽ dẫn đến sản xuất cung vượt cầu, hàng hóa khó tiêu thụ, giá bán hạ,thua lỗ, khách hàng sẽ không đảm bảo nguồn tiền trả nợ cho các NHTM

4.1.3 Xuất phát từ công tác kiểm tra, thanh tra:

Trang 15

Hiện nay, bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanhtra, kiểm tra, giám sát của NHNN đối với các NHTM chưa thật sự có hiệu quả:

- Năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậmchí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới thanh tra còn chưa nắm bắtkịp thời

- Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát còn lạc hậu, chậm đượcđổi mới, hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít cókhả năng ngăn chặn, phòng ngừa rủi ro và vi phạm

4.1.4 Xuất phát từ các cơ quan ban ngành liên quan:

Hoạt động của các cơ quan ban ngành có liên quan đến hoạt động tín dụngcủa các NHTM hiện nay có thể nói còn nhiều vấn đề cần bàn luận:

- Quản lý doanh nghiệp còn lỏng lẻo, cấp phép tràn lan

- Công chứng tài sản thế chấp sai pháp luật

- Cơ quan thi hành án thông đồng với người thi hành án, trung tâm bánđấu giá tài sản thế chấp tiêu cực

- Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương: Trong nhữngnăm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính Phủ, NHNN và các

cơ quan ban ngành có liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướngdẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng Tuy luật và cácvăn bản hướng dẫn đều đã được ban hành song việc triển khai vào hoạt độngngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc Các cơquan pháp luật lại chậm chạp trong quá trình thực thi chức năng của mình

- Sự can thiệp không chính thức của các cơ quan công quyền trong việccho vay, cản trở việc đánh giá khách hàng của các NHTM Có thể phân tích ởhai khía cạnh đó là: các NHTM không thể từ chối cho vay nên việc thẩm địnhcác khoản vay, đánh giá năng lực thật sự của khách hàng chỉ mang tính thủ tục;

và do có sự can thiệp của các cấp chính quyền trong việc cấp tín dụng mà chủ yếu

là các DNNN nên các NHTM có tâm lý ỷ lại, vì khi có rủi ro xảy ra thì nhà nướccũng có cơ chế xử lý Tâm lý trên đã làm giảm chất lượng công tác thẩm định,khoản vay vì vậy mang nhiều rủi ro, làm tăng nợ xấu

- Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng - Bộ Tài chính (DATC) hoạtđộng chưa hiệu quả

Trang 16

4.2 Nguyên nhân chủ quan từ phía các NHTM:

4.2.1 Xuất phát từ cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng:

Đạo đức của cán bộ tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng để giảiquyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng Một cán bộ hạn chế về năng lực có thểđược bồi dưỡng thêm để nâng cao trình độ, nhưng một cán bộ tha hóa về đạođức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật sự nguy hiểm khi được bố trí trongcông tác tín dụng Điều này có thể nhận thấy qua các vụ án kinh tế lớn trong thờigian vừa qua có liên quan đến hoạt động ngân hàng đều có sự tiếp tay của nhữngcán bộ tín dụng cùng với khách hàng hoặc bản thân cán bộ tín dụng cố ý:

- Thực hiện trái với qui trình tín dụng

- Trực tiếp thu nợ nhưng không nộp mà dùng cho mục đích cá nhân

- Lập hồ sơ giả để vay tiền cá nhân, nhờ người vay hộ,…

- Tẩy xóa, sửa chữa chứng từ có giá để thế chấp vay tiền

- Định giá TSBĐ không đúng giá trị thực do thông đồng với khách hàng.Bên cạnh vấn đề đạo đức, năng lực, trình độ, kinh nghiệm của một bộ phậncán bộ tín dụng hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu công việc Điều này có thể thấytrong thực tế qua việc bố trí công việc chưa phù hợp với trình độ chuyên môn,bản thân từng cán bộ chưa có ý thức tự nâng cao nghiệp vụ Ngoài ra có thể nhậnthấy rõ nét nhất là công tác phân công cán bộ tín dụng quản lý khách hàng củacác NHTM hiện nay không theo chuyên ngành kinh tế, từ đó dẫn đến việc:

- Cán bộ tín dụng làm việc theo kiểu đa năng, không chuyên sâu vào mộtngành nghề cụ thể nào nên không có nhiều kiến thức chuyên ngành Khách hàngkhi cung cấp các dự án, có nhiều thông số kỹ thuật máy móc chuyên ngành hoàntoàn xa lạ với cán bộ tín dụng Thuê chuyên gia đánh giá đòi hỏi chi phí cao nênchủ yếu mà các ngân hàng thường làm trong những trường hợp này là tự tìmhiểu thông tin thông qua sách, báo, tạp chí chuyên ngành, qua mạng internet

- Nếu cán bộ tín dụng không có kiến thức chuyên môn về chuyên ngànhcần thẩm định sẽ đưa ra những đánh giá sai, gây bức xúc cho khách hàng hoặcngược lại, khách hàng thông tin sai mà không biết, gây ra những quyết định sailầm trong cho vay

Trang 17

Ngoài ra, sự gắn bó, nổ lực với công việc của một bộ phận cán bộ tín dụngcũng chưa được phát huy do chính sách tuyển dụng, sử dụng, phân công, bố trícông việc và vấn đề đãi ngộ của các NHTM (đặc biệt là các NHTMNN) chưa đủsức thu hút Thực tế hiện nay cho thấy do tác động của quá trình cạnh tranh, rấtnhiều cán bộ tín dụng giỏi, nhiều kinh nghiệm của các NHTMNN đã được cácNHTMCP, các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài tuyển dụng vào những vị tríquan trọng với nhiều đãi ngộ Nguồn nhân lực của các NHTMNN đã mỏng doquá trình mở rộng mạng lưới, lại ngày càng bị hao hụt do chính sách tuyển dụng,

sử dụng, phân công, bố trí công việc, và vấn đề đãi ngộ chưa thật sự thu hút

4.2.2 Xuất phát từ chính sách, quy trình tín dụng và sự vận dụng chính sách, quy trình tín dụng chưa nghiêm túc:

Nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến chất lượng tín dụng củacác NHTM đó là chính sách tín dụng Tuy nhiên, chính sách tín dụng chỉ phát huytác dụng khi được xây dựng trên cơ sở khách quan và sự nghiêm túc của việcban hành và vận dụng Thực tế, vẫn còn nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đếnchính sách tín dụng chưa thật sự hợp lý:

- Chính sách tín dụng của các NHTM hiện nay phần lớn đều chưa đạttầm chiến lược, chưa theo nguyên tắc thị trường, thậm chí còn bị cuốn theo cáchội chứng, phong trào, khẩu hiệu phát triển kinh tế và theo chủ nghĩa thành tích

- Các NHTM hầu như chưa xây dựng được chính sách tín dụng khoahọc, phù hợp thể hiện được quan điểm và chiến lược riêng

- Ngoài ra, các NHTM không có chiến lược phát triển rõ nét hay nóicách khác chưa quản trị về danh mục cho vay theo lĩnh vực sở trường

- Chính sách tín dụng với vấn đề lãi suất vẫn còn khá nhiều bất cập

- Mô hình thích hợp cho việc lượng hóa mức độ rủi ro của khách hàng

để từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với mộtkhách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro hầu như chưa được các

NHTM đầu tư xây dựng

Quy trình tín dụng thông thường được xác lập trên những quy định chungcủa pháp luật về ngân hàng và những đặc thù trong hoạt động của riêng mỗingân hàng Thông thường, quy trình tín dụng được thống nhất qua các bước sau:

RA QUYẾT ĐỊNH VÀ KÝ HỢP ĐỒNG

GIẢI NGÂN

VÀ THU NỢ

THANH LÝ HỢP ĐỒNG VÀ XỬ LÝ TRANH CHẤP

Trang 18

Quy trình tín dụng nếu không phát huy được tác dụng sẽ ảnh hưởng đếnchất lượng quản lý rủi ro tín dụng Trên thực tế, không phải quy trình tín dụngcủa các NHTM luôn đảm bảo tính hợp lý và chặt chẽ, biểu hiện như:

- Thông tin cần phải thực hiện trong các bước của quy trình không đượcquy định chi tiết và đầy đủ, cũng như mối quan hệ giữa các bước chưa đượcnhận thức đúng đắn

- Trên thực tế, việc phân định rõ giữa khâu thẩm định và cho vay ở nhiềuNHTM vẫn chưa thật sự tách biệt Chỉ một vài ngân hàng đang tiến hành triểnkhai, áp dụng quy trình tín dụng mới với việc phân chia độc lập giữa ba chứcnăng: quan hệ khách hàng, quản lý rủi ro và quản lý nợ Tuy vậy, giữa mô hìnhphân chia cũ và mới, bên cạnh những ưu điểm vẫn tồn tại những hạn chế chưathể khắc phục ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro tín dụng

- Do sức ép cạnh tranh trong việc mở rộng thị phần tín dụng, trong quátrình vận dụng không ít NHTM đã bỏ qua các bước của quy trình, hạ thấp tiêuchuẩn đánh giá khách hàng, không chú ý đúng mức đến tình hình tài chính, nănglực sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ, nguồn trả nợ của khách hàng vay nênnảy sinh nhiều sai phạm: về điều kiện vay vốn, về việc lập hồ sơ vay vốn, vềviệc kiểm tra, quản lý nợ vay, về cơ cấu lại thời hạn trả nợ (điều chỉnh kỳ hạn trả

nợ, gia hạn nợ gốc và lãi)

Việc nhận thức chưa đầy đủ và vận dụng chưa thật sự nghiêm túc của cán

bộ tín dụng đối với các chính sách và quy trình tín dụng cũng ảnh hưởng đếnchất lượng tín dụng của các NHTM vì nếu nhận thức đầy đủ, thực hiện nghiêmtúc các quy định, nhất là thẩm tra chặt chẽ khả năng tài chính, hiệu quả củaphương án sản xuất kinh doanh, các điều kiện về bảo đảm tiền vay của kháchhàng rồi mới quyết định đầu tư thì khả năng thu hồi vốn là rất lớn Ngược lại,nếu buông lỏng quản lý hoặc thẩm tra chưa đầy đủ đã quyết định đầu tư thì mức

độ rủi ro sẽ gia tăng, thậm chí có khi mất vốn

4.2.3 Xuất phát từ công tác thẩm định:

a Đánh giá uy tín, năng lực quản trị, năng lực tài chính của khách hàng:

- Đánh giá uy tín của khách hàng là vấn đề thật sự khó khăn đối với cáccán bộ thực hiện công tác thẩm định trong việc tiếp cận thông tin về khách hàng

Trang 19

khi nguồn thông tin và khả năng phát tín hiệu của khách hàng còn hạn chế Hiệnnay, công tác đánh giá uy tín của khách hàng chủ yếu dựa vào cảm tính và chủquan của các cán bộ nghiệp vụ, như dựa vào các quan hệ trong quá khứ: kháchhàng vay trả đúng hạn được xem là khách hàng có uy tín, còn đối với kháchhàng mới quan hệ thì chủ yếu dựa vào ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng khitiếp xúc với khách hàng, hoặc qua một số thông tin thu thập được Trong khi đóđối tượng khách hàng được xem là chiến lược phục vụ của ngân hàng là khu vựckinh tế tư nhân thì còn quá non trẻ, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,chưa có danh tiếng trên thị trường, ý thức của doanh nghiệp trong việc xây dựng

uy tín và thương hiệu chưa cao, các hiệp hội ngành thì chưa phát huy vai trò củamình, chưa hỗ trợ nhiều cho các doanh nghiệp thành viên phát triển, nhất là việcgiới thiệu các thành viên cho thị trường nên đã dẫn đến việc thu thập thông tin

để đánh giá đối với khu vực kinh tế trên là rất khó khăn

- Đánh giá năng lực của khách hàng:

* Về năng lực quản trị: nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyếtđịnh sự thành bại của một doanh nghiệp và cũng có ý nghĩa quyết định đến hiệuquả đồng vốn của ngân hàng Tuy nhiên, việc đánh giá nguồn nhân lực, nhất là

bộ phận lãnh đạo của khách hàng hiện nay hoàn toàn chưa có cơ sở, chủ yếu làliệt kê bằng cấp và số năm công tác

* Về năng lực tài chính: công việc đánh giá được thực hiện chủ yếudựa vào việc phân tích số liệu trên các báo cáo tài chính do khách hàng cungcấp Hiện nay do Việt Nam chưa có quy định về minh bạch thông tin nên có thểnói độ tin cậy của các báo cáo tài chính chưa thật sự cao, nhất là đối với cácDNTN Các NHTM dù biết kiểm toán báo cáo tài chính là tốt nhưng cũng khôngdám đề nghị khách hàng thực hiện vì sợ mất khách hàng Từ những số liệu chưathực sự tin cậy nên việc phân tích báo cáo tài chính sẽ không phản ánh đúng thựcchất năng lực tài chính của khách hàng

b Đánh giá hiệu quả phương án/dự án vay là khâu quan trọng, ảnh hưởnglớn nhất đến khả năng thu hồi vốn của các NHTM Tuy nhiên do có nhiều nhân

tố chủ quan và khách quan tác động nên đã dẫn đến chất lượng đánh giá phươngán/dự án vay chưa thật sự hiệu quả:

- Khi nhận một dự án, cán bộ thẩm định sẽ phải tiến hành thẩm định cáckhía cạnh như yếu tố thị trường, kỹ thuật, công nghệ và cả các yếu tố kinh tế, xãhội của dự án Tuy nhiên, việc thẩm định dự án trong một môi trường thiếuthông tin như của Việt Nam là một thách thức lớn đối với các cán bộ thẩm định

Trang 20

Trên thị trường hiện nay, có rất ít doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nghiêncứu thị trường Do đó, khi đánh giá thị trường đối với sản phẩm của dự án, cán

bộ thẩm định chủ yếu phải dựa vào các nguồn thông tin không chính thức, thuthập qua báo chí, internet,…

- Thêm vào đó, trình độ xây dựng dự án/phương án sản xuất kinh doanhcủa hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn yếu

- Ngoài ra, hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách của Nhà Nước

thường xuyên thay đổi, không có tính minh bạch và không có tính dự báo cũng

có thể gây ra nhiều rủi ro cho dự án, như: các chiến lược phát triển vùng, ngành;các quy định liên quan đến xuất nhập khẩu; các tiêu chuẩn về môi trường, …

- Một khó khăn khác trong công tác thẩm định dự án đó là xác định mộtsuất chiết khấu phù hợp mức độ rủi ro của dự án và doanh nghiệp vay vốn

- Tiêu chuẩn thống nhất chung về mặt bằng đánh giá, cách xếp loạidoanh nghiệp giữa các NHTM chưa có sự thống nhất, chưa được tiến hànhthường xuyên, định kỳ, một số ngân hàng xem việc này chỉ mang tính hình thức

Kết quả là việc đánh giá dự án không mang tính khả thi, nhất là trong điềukiện trình độ cán bộ thẩm định còn chưa được chuyên sâu

4.2.4 Xuất phát từ tài sản bảo đảm:

Quản trị danh mục TSBĐ là yêu cầu cần thiết trong công tác quản lý rủi rotín dụng, và là mắc xích quan trọng trong quy trình cho vay thu hồi nợ, xử lý cáckhoản nợ có vấn đề Tuy nhiên, việc giám sát, quản lý, đánh giá, phân loại, dựbáo, cảnh báo về danh mục các TSBĐ mà một NHTM lựa chọn, xét ưu tiên nhậnlàm bảo đảm tiền vay chưa được làm thường xuyên, chưa có tính hệ thống màchỉ dừng ở mức kiểm tra trên hồ sơ pháp lý, định kỳ đánh giá lại giá trị để điềuchỉnh mức dư nợ cho vay hoặc yêu cầu khách hàng bổ sung

Theo quy định của pháp luật, việc xác định giá trị TSBĐ tiền vay do cácbên thỏa thuận, hoặc thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định trên cơ

sở giá thị trường tại thời điểm xác định, có tham khảo đến các loại giá như giáquy định của Nhà nước (nếu có), giá mua, giá trị còn lại trên sổ sách kế toán vàcác yếu tố khác về giá Tuy nhiên, trên thực tế, trừ những động sản có giá trị lớnhàng tỷ đồng, các NHTM mới thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn định giá,còn lại đa số việc định giá đều do các bên thỏa thuận, và như vậy cho thấy giá trịTSBĐ được định giá còn mang tính chủ quan và thiếu tính khoa học

Trang 21

Ngoài ra, về phương pháp định giá đối với từng loại tài sản chưa được cácNHTM sử dụng một cách thích hợp, dẫn đến việc: nếu định giá thấp, khách hàngkhông hài lòng, nhưng nếu định giá cao, NHTM sẽ khó đảm bảo khả năng thuhồi nợ vay và lãi vay trong trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán, khi

đó buộc NHTM phải thanh lý tài sản thế chấp, cầm cố

Kinh tế tăng trưởng cao trong vài năm trở lại đây cùng với giá bất động sản

bị đẩy lên cao do đầu cơ và vượt xa giá trị thực đã làm nảy sinh tư tưởng lạmdụng vào TSBĐ Sẽ rất rủi ro nếu cán bộ tín dụng quên rằng khoản vay cần phảiđược trả bằng chính dòng tiền tạo ra bởi phương án sản xuất kinh doanh chứkhông phải bằng tiền bán TSBĐ TSBĐ chỉ là sự đảm bảo cuối cùng khi phương

án kinh doanh của khách hàng gặp rủi ro ngoài dự kiến Tâm lý dựa chủ yếu vàoTSBĐ sẽ làm giảm chất lượng thẩm định khoản vay nên sẽ không đánh giá chínhxác được hiệu quả và sự an toàn của khoản vay, dễ dẫn đến việc cho vay những

dự án rủi ro, khách hàng không uy tín Đây là thực trạng đáng lo ngại trong quanđiểm cấp tín dụng hiện nay của các NHTM Từ sự lựa chọn không chắc chắnkhách hàng tốt để cung cấp tín dụng nên để giảm bớt rủi ro, các NHTM đã tínhmột phần rủi ro vào trong lãi vay ngân hàng, làm cho khách hàng vay tốt phảigánh chịu một mức lãi vay cao hơn mức đáng ra họ được hưởng Đây cũng làtâm lý thường thấy ở các NHTM của các nước đang phát triển

Đối với vấn đề bảo hiểm tài sản, cán bộ tín dụng thường không chú ý đônđốc, kiểm tra việc khách hàng có mua bảo hiểm đúng định kỳ để đến khi phươngtiện bị tai nạn, việc trục vớt, sửa chữa phải bỏ thêm rất nhiều vốn, gây khó khănlâu dài về khả năng thanh toán khoản nợ vay…

Thông tin bất cân xứng về giá trị thực của TSBĐ giữa khách hàng vàNHTM cũng là vấn đề cần được quan tâm Khi thế chấp, cầm cố tài sản chỉ cókhách hàng biết rõ về hiện trạng của tài sản như sự hỏng hóc trong các dây

chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị, hoặc ngôi nhà rất khó bán do một số đặcđiểm đặc biệt Trong khi đó trình độ của cán bộ thường không đáp ứng đầy đủchuyên môn trong tất cả các lĩnh vực nên không thể đánh giá được chính xáchiện trạng của máy móc thiết bị cũng như nắm được những thông tin không tốt

về đất đai, nhà ở; điều này ảnh hưởng rất lớn đến giá trị mua bán của tài sản Vìvậy, khi xảy ra rủi ro, việc phát mãi tài sản để thu hồi nợ gặp không ít khó khăn.Thêm vào đó, cơ chế pháp lý về bảo đảm tiền vay chưa rõ ràng, chịu sựđiều chỉnh, chi phối của nhiều văn bản luật, dưới luật chồng chéo nhau, đặc biệtđối với TSBĐ là bất động sản

Trang 22

Cuối cùng là các vấn đề liên quan đến quá trình xử lý, phát mãi TSBĐ đãgây cản trở không ít cho các NHTM như:

- Việc các ngân hàng phải đối mặt với những khó khăn trong thời giantrước khi bán đấu giá tài sản

- Trong việc phát mãi TSBĐ, các NHTM chưa có thực quyền trong việcbán, quản lý và khai thác tài sản thuộc quyền tiếp quản

- Sự phối hợp giữa cơ quan công an, viện kiểm soát, tòa án, các sở, ban,ngành, chính quyền địa phương trong việc xử lý TSBĐ còn nhiều hạn chế, chưađồng bộ, chặt chẽ và kịp thời

- Việc xác định quyền sở hữu thực sự của khách hàng đối với tài sảncũng là vấn đề khó khăn

- Vướng mắc khi NHTM nhận lại TSBĐ từ cơ quan thi hành án

- Thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng cho người mua, ngườinhận tài sản của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền còn quá nhiêu khê

4.2.5 Xuất phát từ thông tin tín dụng:

Các NHTM hiện nay chưa nhận được sự phối hợp hỗ trợ cung cấp thôngtin từ các cơ quan chức năng như cơ quan thuế, chi cục thống kê, hay các cơquan chủ quản

Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, bản thân các NHTM đôi khi cũng

lệ thuộc khá nhiều vào các số liệu của khách hàng cung cấp mà chưa chủ độngtìm kiếm thông tin hay nói cách khác có tình trạng thông tin bất cân xứng giữacác NHTM và khách hàng vay

Việc thu thập thông tin của mỗi ngân hàng về khách hàng, về ngành nghề,

về môi trường kinh tế mà khách hàng đang hoạt động, về các văn bản mới đượcban hành, về tình hình diễn biến giá cả thị trường trong và ngoài nước, đặc biệt

là những cảnh báo về các ngành hàng ngân hàng đang và sẽ đầu tư chưa đượcthực hiện một cách thường xuyên và có tính hệ thống

4.2.6 Xuất phát từ hoạt động kiểm soát nội bộ:

Hiện nay, các NHTM đều có bộ phận kiểm soát nội bộ, tuy nhiên, ở một sốngân hàng, bộ phận này chưa thật sự hoạt động có hiệu quả, nhất là tình trạngthiếu nhân sự, cũng như trình độ của cán bộ chưa đáp ứng cả về nghiệp vụ lẫn

Trang 23

kinh nghiệm nên không thể phát hiện các sai phạm để có những khuyến cáo kịpthời nhằm chấn chỉnh và tư vấn cho ban điều hành về những rủi ro tín dụng cóthể xảy ra.

Kiểm soát nội bộ có một số ưu thế hơn so với việc thanh tra, kiểm tra củaNHNN do:

- Xét về thời gian, công tác kiểm soát nội bộ của các NHTM xử lý kịpthời, nhanh chóng các vấn đề ngay khi vừa phát sinh

- Xét về tính sâu sát của người kiểm soát viên, do việc kiểm tra đượcthực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh nên mọi vấn đề đượchiểu đúng với bản chất của nó

4.3 Nguyên nhân từ phía khách hàng đi vay:

4.3.1 Đối với khách hàng là doanh nghiệp:

Trong hoạt động kinh doanh, ngoài nguồn vốn tự có của mình, các doanhnghiệp luôn phải sử dụng một nguồn vốn bên ngoài, đó là vốn vay các NHTM.Đây là nhu cầu vay vốn rất cần thiết nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp thựchiện nhiệm vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách ổn định Tùy đặc điểm

và tính chất hoạt động của từng loại hình doanh nghiệp, việc sử dụng vốn vaycủa các NHTM cũng có sự khác nhau

Rủi ro tín dụng xuất phát từ phía khách hàng là doanh nghiệp thường do:

- Mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng không được thực hiện đúng

- Khách hàng không thật sự nỗ lực trong việc sử dụng vốn vay có hiệu quả

- Khách hàng chưa có thiện chí trong vấn đề cung cấp thông tin đầy đủ

và chính xác cho ngân hàng để phục vụ cho việc cấp tín dụng

- Một bộ phận khách hàng không có thiện chí trong việc trả nợ

- Công tác quản lý, điều hành của một số các doanh nghiệp chưa thật sựhiệu quả

- Sự hạn chế của đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp

- Tình hình tài chính của hầu hết các doanh nghiệp thiếu sự minh bạch,trung thực, chưa đáp ứng yêu cầu

Trang 24

- Công nghệ, quy trình sản xuất không tạo ra được những sản phẩmmang tính cạnh tranh.

- Sự tác động của các nhân tố khách quan như môi trường pháp lý, môitrường kinh tế - xã hội

4.3.1 Đối với khách hàng là cá nhân:

Mặc dù quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng là cá nhân thủ tụcđơn giản hơn nhiều so với khách hàng là doanh nghiệp, song thực tế số lượngkhách hàng cá nhân lại rất lớn nên việc tìm hiểu các nguyên nhân từ phía kháchhàng cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng

Với khách hàng cá nhân, nguyên nhân rủi ro có thể là:

- Hoạt động kinh doanh không gặp thuận lợi, khả năng quản lý tình hìnhtài chính yếu kém

- Nguồn hoàn trả chính từ thu nhập cơ bản bị mất hoặc suy giảm do mấtviệc, chuyển sang công việc kém hơn hoặc không còn khả năng lao động

- Cá nhân gặp những chuyện bất thường trong cuộc sống, vì vậy, họ phải

sử dụng một số tiền lớn nên ảnh hưởng khả năng hoàn trả cho ngân hàng

- Đạo đức cá nhân không tốt: cố tình lừa đảo ngân hàng, sử dụng vốn saimục đích

4.4 Nguyên nhân khác:

Sự biến động quá nhanh, và khó có thể dự đoán được trên các mặt kinh tế,chính trị, xã hội trong và ngoài nước cũng ảnh hưởng đến chất lượng các khoảncấp tín dụng của các NHTM Biểu hiện rõ nét nhất là tình hình biến động giá cảcác mặt hàng mà các NHTM đang đầu tư, hoặc các cơ chế, chính sách thươngmại, chính sách xuất nhập khẩu các nước áp dụng đối với Việt Nam (hạn ngạch,chính sách bảo hộ, hay các vụ kiện thương mại, ):

- Ngành dệt may trong những năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì

bị khống chế hạn ngạch đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh củacác doanh nghiệp dệt may

- Mặt hàng thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới Việc tănggiá phôi thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưngsản xuất do chi phí giá thành cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm

Trang 25

- Dầu thô, nông, lâm, thủy hải sản…cũng ở trong tình trạng tương tự: giá

cả diễn biến bất thường và chính sách bảo hộ thị trường, cạnh tranh với các đốitác lớn cũng gây rủi ro cho các nhà xuất khẩu

Bên cạnh đó, quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế cũngtác động không nhỏ đến hoạt động cấp tín dụng của các NHTM Với môi trườnghội nhập, các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàngphải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, nguy cơ thua lỗ là điều cóthể xảy ra Bản thân các NHTM trong môi trường hội nhập kinh tế cũng gặp phảinhững nguy cơ rủi ro khi phải cạnh tranh với các NHTM nước ngoài vốn mạnhhơn về mọi mặt, khi vấn đề nợ xấu gia tăng vì hầu hết những khách hàng có tiềmlực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút

Cuối cùng là do sự ổn định của nền kinh tế nước ta khi chính sách quản lýkinh tế vẫn có những thay đổi đột ngột, hành lang pháp lý chưa thật sự an toàn,điều chỉnh quy hoạch các ngành, các vùng chưa phù hợp…

Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân từ các

nguyên nhân khách quan do nền kinh tế và các cơ quan quản lý Nhà nước đếncác nguyên nhân chủ quan của chính bản thân các NHTM, và các nguyên nhân

từ phía khách hàng vay vốn, Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằmtrong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khảnăng của riêng từng ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nềnkinh tế đang chuyển đổi, cũng như định hướng mô hình phát triển ở Việt Nam.Tuy nhiên, trong phạm vi tầm tay của các NHTM, rủi ro tín dụng phụ thuộc vàonăng lực của bộ phận tín dụng trong việc phát hiện và hạn chế rủi ro từ lúc xemxét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay Năng lực cấp tín dụngphụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng và các nguồn lựccủa ngân hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vật chất Do vậy biện pháp phòngngừa rủi ro tín dụng sâu sắc nhất vẫn là các biện pháp liên quan đến việc đào tạo,

bố trí cán bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi của cán bộ trong quá trình xử

lý công việc Thực hiện tốt các biện pháp này có thể cho rằng con đường quản lýrủi ro tín dụng của ngành ngân hàng coi như thành công một bước

5 Tác động của rủi ro tín dụng:

Để đạt được lợi nhuận cao, thu hút thêm nhiều khách hàng, nâng cao sứccạnh tranh, các NHTM luôn tìm cách mở rộng hoạt động tín dụng, cung ứngnhiều hơn các dịch vụ phục vụ cho khách hàng, nhưng song song đó các ngânhàng cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn Các loại rủi ro này luôn tiềm ẩn

Trang 26

làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận, lỗ hoặc mất vốn dẫn đến tình trạng thiếu hụtnguồn vốn để chi trả tiền gửi cho khách hàng Các NHTM do không thu hồiđược các khoản nợ và lãi đến hạn, dẫn đến mất khả năng thanh toán, nếu nghiêmtrọng và kéo dài dễ gây hiệu ứng phản ứng dây chuyền, đe dọa đến hàng loạt cácNHTM khác do khách hàng đua nhau rút tiền gửi, nền kinh tế lâm vào khủnghoảng tài chính, tiền tệ.

Bài học về sự đổ vỡ hàng loạt các hợp tác xã tín dụng trong những năm1989-1990 ở nước ta, Chính Phủ đã phải bỏ ra hàng trăm tỷ đồng để ổn định tìnhhình kinh tế và an ninh xã hội; nhìn rộng hơn là cuộc khủng hoảng tài chính tiền

tệ ở khu vực Đông Nam Á vào những năm 1997-1998, Chính Phủ nhiều nước vàcác tổ chức tài chính quốc tế đã phải dốc hầu bao để cứu nguy các NHTM, cơcấu lại các NHTM, quyết định giải thể, sáp nhập các NHTM để đảm bảo khảnăng thanh toán, duy trì mở rộng tín dụng nhằm phục hồi kinh tế các nước gặpkhủng hoảng

5.1 Tác động đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM:

Khi gặp rủi ro tín dụng, các NHTM chẳng những không thu hồi được vốntín dụng đã cấp và lãi từ hoạt động cho vay, mà còn phải trả vốn và lãi cho

khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho các ngân hàng mất cân đốitrong việc thu chi Hay nói cách khác, các ngân hàng rơi vào tình trạng mất khảnăng thanh khoản, mất lòng tin của người gửi tiền, từ đó ảnh hưởng đến uy tíncủa cả ngân hàng Và không thu được nợ, vòng quay vốn tín dụng của các

NHTM sẽ giảm từ đó làm cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng khôngđạt hiệu quả như mong muốn

Tóm lại, rủi ro tín dụng xảy ra ở những mức độ khác nhau: nhẹ nhất là cácNHTM sẽ bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất là khicác NHTM không thu được cả vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao sẽ dẫn đến bị

lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, các NHTM cóthể sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệthống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phảihết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trongcho vay

5.2 Đối với nền kinh tế nói chung:

Khi một NHTM gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ởkhắp mọi nơi sẽ rơi vào tâm trạng hoang mang, lo sợ, khi đó sẽ xảy ra tình trạng

Trang 27

mọi người ồ ạt đến rút tiền ở tất cả các ngân hàng, việc làm này sẽ tác động xấuđến toàn hệ thống ngân hàng.

Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp, vìvậy NHTM phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản suất kinh doanh của cácdoanh nghiệp Khi đó, sự rối loạn của các NHTM sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn

bộ nền kinh tế, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thấtnghiệp tăng, xã hội mất ổn định

Tóm lại, nếu những tổn thất do rủi ro trong hoạt động tín dụng gây ra ởmức kiểm soát được thì việc xử lý tương đối dễ dàng trong giới hạn cho phépcủa quỹ dự phòng bù đắp rủi ro của các NHTM Tuy nhiên, khi tổn thất lớn,vượt quá khả năng xử lý của các NHTM thì vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng, gâyhậu quả khó lường không những cho chính NHTM, mà còn cho cả những

NHTM và các doanh nghiệp khác có liên quan, ảnh hưởng tới quyền lợi ngườigửi tiền và cuối cùng, ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế, và là nguy cơ tiềm ẩncho khủng hoảng tài chính Nếu tác động lớn, đôi khi ảnh hưởng đến cả nền kinh

tế khu vực và thế giới vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vàonền kinh tế khu vực và thế giới

III Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại:

Các nhà nghiên cứu và hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng đều cho rằngđối với các NHTM, quản trị kinh doanh chính là quản trị rủi ro, và quản trị rủi rochính là trung tâm của hoạt động quản trị điều hành của mỗi NHTM

Quản trị rủi ro: hiểu một cách đơn giản chính là quá trình các NHTM ápdụng các nguyên lý, các phương pháp và kinh nghiệm quản trị kinh doanh củamình để xác định, định lượng, quản lý và kiểm soát rủi ro trong hoạt động để:

- Bảo vệ ngân hàng trong việc tránh khỏi những thất bại, mất mát không

Trang 28

HÌNH 2: QUÁ TRÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO

Xác định rủi ro

Kiểm soát rủi ro

Rủi ro trong hoạt động tín dụng

Định lượng rủi ro

Quản lý rủi ro

Các cơ chế quản lý rủi ro tín dụng cho hệ thống NHTMVN hiện đang tiếndần đến với thông lệ quốc tế Tuy nhiên, theo đánh giá chung, có so sánh với cácngân hàng hoạt động ở một số nước điển hình trong khu vực thì các NHTMVNmới chỉ ở giai đoạn đầu của công tác quản lý rủi ro

1 Khái niệm và mục tiêu của công tác quản trị rủi ro tín dụng:

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược,chính sách quản lý, kinh doanh tín dụng, tăng cường các biện pháp phòng ngừa,hạn chế, và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu nhằm đạt được các mục tiêu an toàn,hiệu quả, nâng cao chất lượng, và phát triển bền vững đối với hoạt động tín dụngcủa ngân hàng

Quản trị rủi ro tín dụng gắn liền với quản lý và kinh doanh tín dụng, mộttrong những hoạt động chủ đạo của các NHTM Quản trị rủi ro tín dụng phảihướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nângcao chiến lược hoạt động tín dụng ngay cả trong những điều kiện thị trường đầybiến động, nguy cơ rủi ro không ngừng gia tăng Nói một cách cụ thể hơn thìquản trị rủi ro tín dụng phải nhằm vào việc hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức

độ an toàn cho kinh doanh của mỗi NHTM bằng các chính sách, các biện phápquản lý, giám sát các hoạt động tín dụng khoa học và hiệu quả

2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng:

2.1 Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro tín dụng:

Hoạt động kinh doanh của các NHTM bao gồm rất nhiều loại rủi ro Nhiều

ý kiến cho rằng các NHTM cần đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ

Trang 29

rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng vớimức rủi ro có thể chấp nhận được Các NHTM sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi rogánh chịu là hợp lý và kiểm soát được chứ không thể chối bỏ rủi ro.

Nói một cách khác, hoạt động kinh doanh của các NHTM là dùng uy tíncủa chính ngân hàng để có thể thu hút nguồn vốn huy động và dùng năng lựcquản trị rủi ro, đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng để sử dụng nguồn vốn huyđộng được và phát triển các dịch vụ khác với tư cách là người “đứng giữa” cáclực lượng cung và các lực lượng cầu về các dịch vụ ngân hàng

2.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng:

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có nhiều yếu tố khách quan và chủquan mang đến rủi ro, nhiều yếu tố bất khả kháng nên ngân hàng không thể tránhkhỏi rủi ro Chính vì vậy, hàng năm các NHTM được phép và cần phải trích lậpquỹ bù đắp rủi ro hạch toán vào chi phí Quy mô quỹ bù đắp rủi ro căn cứ vàomức độ và khả năng rủi ro Nếu rủi ro thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ tăng, và ngượclại Như vậy, hiệu quả kinh doanh của các NHTM tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro.Khi rủi ro quá lớn đến mức các NHTM mất khả năng thanh toán, khi đó sẽ dẫnđến tình trạng phá sản

2.3 Quản trị rủi ro tín dụng tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của các NHTM:

Trong quản trị NHTM, quản trị rủi ro là một nội dung quan trọng mà cáccấp lãnh đạo, quản lý, điều hành phải đặc biệt quan tâm Vì vậy, những nhà quảntrị NHTM cần được trang bị các kiến thức về quản trị rủi ro, cung cấp nhữngthông tin kinh tế cập nhật, có đội ngũ tham mưu chuyên nghiệp và bộ máy kiểmtra, kiểm soát nội bộ hiệu quả là điều kiện cần thiết để phòng ngừa, hạn chế rủi

ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh Theo đó, nhiều ý kiến khẳng định: “quản trịrủi ro là nghiệp vụ chủ đạo và là thước đo năng lực “sống còn” của một NHTM”

3 Khung quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng:

Khung quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng bao gồm những công tácchủ yếu mà NHTM phải tiến hành nhằm bảo đảm chất lượng của quá trình quảntrị rủi ro trong hoạt động tín dụng được tốt nhất

Trang 30

Khung quản trị rủi ro được thiết lập dựa trên các nguyên tắc quản trị rủi rotín dụng của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng Các thành phần của khungluôn tương tác hỗ trợ lẫn nhau.

HÌNH 2: KHUNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG

Hoạch định chiến lược

Hệ thống tính điểm tín dụng

Trách nhiệm cá nhân đối với chất lượng tín dụng

Cơ cấu

tổ chức

Rủi ro tín dụng

Xác định rủi ro hiện có và rủi ro tiềm tàng

Xây dựng các chính sách và quy trình tín dụng

Giám sát và kiểm tra tín dụng

3.1 Hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng:

Hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng là bản tuyên ngôn của Ban lãnhđạo về các mục tiêu trong hoạt động tín dụng nhằm xác định thái độ của ngânhàng đối với rủi ro và thái độ sẵn sàng chấp nhận các rủi ro

Chiến lược hoạt động tín dụng cần được hoạch định định kỳ, phù hợp vớimức độ rủi ro từng thời kỳ và phải được phổ biến đến từng nhân viên ngân hàng.Thông thường việc hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng được xâydựng bởi Ủy ban rủi ro tín dụng

3.2 Xác định rủi ro hiện có và rủi ro tiềm tàng:

Xác định rủi ro được hiểu bao gồm: nhận biết rủi ro và đo lường rủi ro

Trang 31

Xác định rủi ro được thực hiện theo từng khoản vay, từng khách hàng,nhóm khách hàng, theo mặt hàng và lĩnh vực đầu tư, theo khu vực địa lý, theodạng hợp đồng tín dụng, theo dạng TSBĐ, theo trình độ chuyên môn của cán bộtín dụng,

Trong quá trình xác định mức độ rủi ro, cần tránh mức độ tập trung củadanh mục tín dụng, chú ý các rủi ro mới trước đó chưa được phát hiện

Đo lường rủi ro không phải là một biện pháp tuyệt đối mà chỉ là một biệnpháp đo xác suất các kết quả

3.3 Xây dựng các chính sách và quy trình tín dụng:

Xây dựng các chính sách và quy trình tín dụng phải đảm bảo phù hợp vớicác quy định của pháp luật, đảm bảo phù hợp với chiến lược tín dụng của ngânhàng nhằm để duy trì các chuẩn mực cấp tín dụng an toàn, đánh giá đúng các cơhội kinh doanh mới và kịp thời phát hiện cũng như quản lý chặt chẽ các khoảntín dụng có vấn đề

3.4 Giám sát và kiểm tra tín dụng:

Giám sát và kiểm tra tín dụng bao gồm việc:

- Giám sát và kiểm tra từng khoản vay (kiểm tra trong và sau khi chovay, kiểm tra và đánh giá lại tài sản thế chấp, )

- Giám sát và kiểm tra tổng thể danh mục tín dụng

- Chuyển sang bộ phận xử lý nợ các khoản cho vay cần giám sát kỹ (códấu hiệu khó thu hồi)

3.5 Cơ cấu tổ chức:

Về cơ cấu tổ chức, cần bảo đảm tạo môi trường hoạt động tín dụng cókiểm soát Các bộ phận chủ chốt có trách nhiệm liên quan đến quá trình quản trịrủi ro tín dụng bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ủy ban quản lý rủi rotín dụng, Ban giám đốc chi nhánh, các trưởng phó phòng tín dụng Tiến tới môhình quản lý tập trung: tập trung thông tin, tập trung quy trình xử lý các hoạtđộng hỗ trợ,

Trang 32

3.6 Trách nhiệm cá nhân đối với chất lượng cho vay:

Con người là nhân tố quyết định chất lượng quản trị rủi ro tín dụng Do đócần có cơ chế thù lao phù hợp, đảm bảo lựa chọn nhân viên đủ năng lực đảmđương công việc Ngoài ra cũng cần có cơ chế bổ nhiệm, thưởng phạt có hiệuquả, cơ chế đào tạo và đào tạo lại nhằm khuyến khích nâng cao trách nhiệm cánhân đối với chất lượng tín dụng

3.7 Hệ thống tính điểm tín dụng:

Hệ thống tính điểm tín dụng cần được tiến hành thực hiện trên cơ sở cácthông tin định lượng và thông tin định tính nhằm thống nhất đánh giá rủi ro tíndụng đối với khách hàng theo một thang điểm chuẩn Cần xây dựng hệ thốngtính điểm tín dụng riêng theo từng đối tượng khách hàng

Hệ thống tính điểm tín dụng chính là cơ sở quan trọng để phân loại và xếphạng khách hàng cũng như khoản vay

4 Nguyên tắc của Basel về quản trị rủi ro tín dụng:

4.1 Nguyên tắc 1:

Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và định kỳ xem xét chiến lược

về rủi ro tín dụng và các chính sách về rủi ro tín dụng của ngân hàng

Chiến lược về rủi ro tín dụng phản ánh mức độ chấp nhận rủi ro của ngânhàng với mức sinh lời nhất định mà ngân hàng kỳ vọng Chiến lược cần thể hiệntuyên bố của ngân hàng trong việc sẵn sàng cấp tín dụng dựa trên loại hình rủi rotiềm năng, ngành kinh tế, vị trí địa lý, dòng tiền, kỳ hạn và mức sinh lời dự kiến.Chiến lược cũng có thể xác định thị trường mục tiêu và các đặc tính tổng quát

mà ngân hàng muốn đạt được trong danh mục tín dụng

4.2 Nguyên tắc 2:

Ban điều hành có trách nhiệm thực hiện chiến lược chấp nhận một tỷ lệ nợxấu được Hội đồng quản trị phê duyệt, phát triển các chính sách, thủ tục nhằmphát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu Các chính sách và thủ tục nàycần nhằm vào rủi ro nợ xấu phát sinh trong mọi hoạt động của ngân hàng, ở cấp

độ từng khoản tín dụng cũng như toàn bộ danh mục đầu tư

Trang 33

Các thủ tục, quy trình, văn bản cần được xây dựng, triển khai cũng như cáctrách nhiệm phê duyệt, xem xét khoản cho vay cần được phân định rõ ràng vàphù hợp.

4.3 Nguyên tắc 3:

Các ngân hàng cần xác định và quản trị rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm

và hoạt động của mình Đối với các sản phẩm và hoạt động mới, ngân hàng cầnxây dựng biện pháp quản trị rủi ro và kiểm soát phù hợp trước khi được đưa vào

sử dụng hoặc triển khai và phải được Hội đồng quản trị phê duyệt

Điều quan trọng là Ban điều hành cần xác định rằng các nhân viên liênquan trong bất kì hoạt động nào có rủi ro tín dụng, cho dù là đã thực hiện hay làhoạt động mới, cơ bản hay phức tạp, điều phải có đủ năng lực thực hiện vớinhững tiêu chuẩn cao nhất và tuân thủ các chính sách và thủ tục của ngân hàng

4.4 Nguyên tắc 4:

Các ngân hàng phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng lànhmạnh được xác định rõ ràng Những tiêu chí này cần chỉ rõ thị trường mục tiêucủa ngân hàng và đồng thời ngân hàng phải hiểu biết rõ về khách hàng vay vốncũng như mục đích và cơ cấu của khoản tín dụng Hay nói cách khác các tiêu chícần chỉ rõ đối tượng khách hàng đủ tiêu chuẩn được cấp tín dụng, các loại hìnhtín dụng và các điều khoản và điều kiện cấp tín dụng

4.5 Nguyên tắc 5:

Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vànhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhaunhưng có thể so sánh và theo dõi được trong sổ sách kế toán của ngân hàng và sổsách kế toán kinh doanh, nội bản và ngoại bản

Cần xây dựng giới hạn đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế, khu vực địa lý

và các sản phẩm cụ thể Cũng như các giới hạn rủi ro trong mọi lĩnh vực hoạtđộng của ngân hàng mà có liên quan đến rủi ro tín dụng Những giới hạn nàygiúp bảo đảm các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng đa dạng Giới hạn tíndụng là rất quan trọng trong quản lý toàn bộ hộ sơ rủi ro tín dụng hoặc rủi ro đốitác của một ngân hàng Để có hiệu quả, các giới hạn này cần mang tính ràngbuộc và không đi theo nhu cầu của khách hàng

Trang 34

4.6 Nguyên tắc 6:

Để có được danh mục đầu tư tín dụng lành mạnh, ngân hàng cần có quitrình rõ ràng trong việc phê duyệt các khoản tín dụng mới cũng như sửa đổi, giahạn và tái tài trợ các khoản tín dụng hiện tại

Ngân hàng cần phát triển đội ngũ nhân viên quản lý rủi ro tín dụng có kinhnghiệm, kiến thức nhằm đưa ra nhận định thận trọng trong việc đánh giá phêduyệt và quản lý rủi ro tín dụng

4.7 Nguyên tắc 7:

Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữacác bên Đặc biệt, các khoản tín dụng cho các công ty và cá nhân có liên quanphải được phê duyệt trên cơ sở ngoại lệ cần theo dõi cẩn thận và triển khai cácbước cần thiết để kiểm soát nhằm loại trừ rủi ro

Việc gia hạn tín dụng cần được thực hiện theo các tiêu chí và trình tự cụ thể

và rõ ràng Việc này, tạo ra hệ thống hồ sơ và chứng từ nhằm tăng cường việc raquyết định tín dụng đúng đắn

Mặc dù có bề dầy hoạt động hàng trăm năm, nhưng vào năm 1997 - 1998,

hệ thống ngân hàng Thái Lan vẫn bị chao đảo trước cơn khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á Nhiều công ty tài chính và NHTM bị phá sản hoặc buộc phải sápnhập Trước tình hình đó buộc các ngân hàng Thái Lan phải xem xét lại toàn bộchính sách, cách thức, quy trình hoạt động ngân hàng, đặc biệt là lĩnh vực tíndụng nhằm giảm thiểu rủi ro…Đi đôi với việc đa dạng hóa các sản phẩm tíndụng và dịch vụ, xác định khách hàng, mục tiêu, chủ động tiếp thị khách

Trang 35

-hàng…một loạt các thay đổi căn bản trong hoạt động tín dụng đã được các ngânhàng Thái Lan triển khai nhanh chóng và triệt để:

- Tách bạch, phân công rõ chức năng các bộ phận và tuân thủ các khâutrong quy trình giải quyết các khoản vay, ví dụ điển hình như:

* Tại Bangkok Bank: trước đây, các bộ phận trong quy trình cấp tíndụng chỉ là một, nay, đã tách hẳn thành hai bộ phận độc lập: bộ phận tiếp nhậngiải quyết hồ sơ và bộ phận thẩm định Trong đó, bộ phận thẩm định phải có báocáo thẩm định tín dụng, gồm: chiến lược và kế hoạch kinh doanh, báo cáo xếphạng rủi ro…Đây là một thay đổi căn bản của Bangkok Bank nhằm bảo đảm tínhđộc lập, khách quan trong quá trình thực thi cấp tín dụng

* Tại Siam Comercial Bank (SCB): cũng đã xây dựng mô hình tổchức triển khai dịch vụ tín dụng theo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm của ba

bộ phận: Marketing khách hàng, thẩm định và quyết định cho vay Ngân hàng đãphân loại khách hàng theo từng nhóm, từ đó nhận rõ tính chất khác nhau làm cơ

sở cho việc xác định nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận trong việc tiếp nhận, giảiquyết hồ sơ, thẩm định và ra quyết định

- Tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề mang tính nguyên tắc trong hoạtđộng tín dụng Trước đây rất nhiều ngân hàng Thái Lan không tuân thủ nghiêmngặt các nguyên tắc tín dụng trong quá trình cho vay, chỉ quan tâm đến TSBĐ,không quan tâm đến dòng tiền của khách hàng Vì thế, hậu quả là nợ xấu có lúclên tới 40% (1997-1998) Nhưng hiện nay, các ngân hàng không chỉ triệt để chấphành nguyên tắc tín dụng mà còn quan tâm nhiều đến các thông tin của kháchhàng, coi trọng đến chu chuyển dòng tiền và việc thu hồi vốn

- Tiến hành cho điểm khách hàng để quyết định cho vay

- Tuân thủ thẩm quyền phán quyết tín dụng

- Coi trong việc giám sát khoản vay sau khi cho vay bằng cách tiếp tụcthu thập thông tin khách hàng, thường xuyên đánh giá xếp loại khách hàng để cóbiện pháp xử lý kịp thời các tình huống rủi ro

- Coi trọng việc cập nhật hiểu biết nghề nghiệp, đào tạo, nâng cao trình

độ, kỹ năng và khả năng thực thi độc lập nhiệm vụ cho cán bộ tín dụng

- Áp dụng Sổ tay tín dụng được viết rất công phu, rõ ràng, dễ áp dụng;

có chính sách cho vay riêng đối với bất động sản là lĩnh vực có rủi ro rất cao

Ngày đăng: 17/09/2012, 16:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH 1: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CẦN THỐNG NHẤT - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
HÌNH 1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CẦN THỐNG NHẤT (Trang 11)
HÌNH 2: QUÁ TRÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
HÌNH 2 QUÁ TRÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO (Trang 28)
HÌNH 2: QUÁ TRÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
HÌNH 2 QUÁ TRÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO (Trang 28)
HÌNH 2: KHUNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
HÌNH 2 KHUNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG (Trang 30)
Bảng khảo sát đưa ra 32 nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng xuất phát từ phía ngân hàng, trong đó, mỗi nguyên nhân sẽ lấy ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng được khảo sát thông qua đánh giá mức độ phổ biến theo thang điểm từ 01 đến 10, với mức độ 01 là k - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
Bảng kh ảo sát đưa ra 32 nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng xuất phát từ phía ngân hàng, trong đó, mỗi nguyên nhân sẽ lấy ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng được khảo sát thông qua đánh giá mức độ phổ biến theo thang điểm từ 01 đến 10, với mức độ 01 là k (Trang 38)
Bảng khảo sát đưa ra 32 nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng xuất phát từ phía ngân hàng, trong đó, mỗi nguyên nhân sẽ lấy ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng được khảo sát thông qua đánh giá mức độ phổ biến theo thang điểm từ 01 đến 10, với mức độ 01 là k - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
Bảng kh ảo sát đưa ra 32 nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng xuất phát từ phía ngân hàng, trong đó, mỗi nguyên nhân sẽ lấy ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng được khảo sát thông qua đánh giá mức độ phổ biến theo thang điểm từ 01 đến 10, với mức độ 01 là k (Trang 38)
BẢNG 1: NGUỒN VỐN QUA 03 NĂM - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
BẢNG 1 NGUỒN VỐN QUA 03 NĂM (Trang 44)
BẢNG 1: NGUỒN VỐN QUA 03 NĂM - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
BẢNG 1 NGUỒN VỐN QUA 03 NĂM (Trang 44)
BẢNG 2: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN VAY QUA 03 NĂM - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
BẢNG 2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN VAY QUA 03 NĂM (Trang 45)
BẢNG 2: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN VAY QUA 03 NĂM - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
BẢNG 2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN VAY QUA 03 NĂM (Trang 45)
BẢNG 3: TÌNH HÌNH DƯ NỢ PHÂN THEO CÁC CHỈ TIÊU - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
BẢNG 3 TÌNH HÌNH DƯ NỢ PHÂN THEO CÁC CHỈ TIÊU (Trang 47)
BẢNG 4: BÁO CÁO PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
BẢNG 4 BÁO CÁO PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG (Trang 48)
BẢNG 4: BÁO CÁO PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
BẢNG 4 BÁO CÁO PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG (Trang 48)
BẢNG 5: TỔNG HỢP NỢ XẤU Báo cáo theo công văn số 416/CV-NHNT.CN ngày 09/04/2007 - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
BẢNG 5 TỔNG HỢP NỢ XẤU Báo cáo theo công văn số 416/CV-NHNT.CN ngày 09/04/2007 (Trang 49)
BẢNG 5: TỔNG HỢP NỢ XẤU Báo cáo theo công văn số 416/CV-NHNT.CN ngày 09/04/2007 - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
BẢNG 5 TỔNG HỢP NỢ XẤU Báo cáo theo công văn số 416/CV-NHNT.CN ngày 09/04/2007 (Trang 49)
BẢNG 6: TÌNH HÌNH XỬ LÝ NỢ XẤU Báo cáo theo công văn số 416/CV-NHNT.CN ngày 09/04/2007 - Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho (2).docx
BẢNG 6 TÌNH HÌNH XỬ LÝ NỢ XẤU Báo cáo theo công văn số 416/CV-NHNT.CN ngày 09/04/2007 (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w