TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNGKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCCHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÃ SỐ: D620301 Nghiên cứu sử dụng nước biển nhân tạo trong sản xuất giống tôm thẻ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCCHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301
Nghiên cứu sử dụng nước biển nhân tạo trong
sản xuất giống tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus
vannamei)
Sinh viên thực hiện
Lê Chí Nguyễn
Lớp: NTTS K5 MSSV: 1053040014
Cần Thơ, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCCHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301
Nghiên cứu sử dụng nước biển nhân tạo trong
sản xuất giống tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus
vannamei)
Cán bộ hướng dẫn
ThS Tăng Minh Khoa
Sinh viên thực hiện
Lê Chí Nguyễn
Lớp: NTTS K5 MSSV: 1053040014
Cần Thơ, 2014
Trang 3CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay ngành nuôi trồng thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũinhọn của đất nước Trong đó, nghề nuôi tôm là đối tượng nuôi chủ yếu đem lạilợi nhuận cao, góp phần nâng cao đời sống cho người dân, phát triển kinh tế,giải quyết việc làm, hạn chế sự khai thác quá mức tài nguyên sinh vật biển.Việt Nam nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng nghề
nuôi tôm sú (Penaeus monodon ) đã phát triển rất lâu, nhưng trong thời gian
gần đây nuôi tôm sú có dấu hiệu chậm lại do nhiều nguyên nhân như chi phícao, tốn nhiều công chăm sóc, con giống không ổn định, xuất hiện nhiều dịchbệnh Trước tình hình đó, rất nhiều nông hộ đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân
trắng (Litopenaeus vannamei).
Những lợi thế của tôm thẻ chân trắng là thời gian thu hoạch nhanh, từ khi thảtôm đến khi thu hoạch chỉ 70-80 ngày Do vậy, có thể quay vòng đến 3 vụ nuôitrong năm, chi phí thức ăn thấp, năng suất cao, mang lại lợi nhuận đáng kể chongười nuôi Điều này cho thấy đây là một đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao,góp phần vào tăng sản lượng, giá trị tôm xuất khẩu Chính vì thế, trong thờigian gần đây diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng không ngừng tăng lên
Từ việc mở rộng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng dẫn đến nhu cầu con giốngngày càng lớn đã thúc đẩy các trại sản xuất giống ngày một phát triển Hiện nay,sản xuất giống tôm thẻ chân trắng đang phát triển rộng rãi do nhu cầu tômgiống ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu nuôi tôm thịt đang phát triển mạnh ởĐBSCL Trước tình hình đó các trại sản xuất giống có khuynh hướng phát triển
ở khu vực xa biển Hầu hết các trại sản xuất giống sử dụng chủ yếu nước biểnhoặc nước ót để pha chế, do đó giá thành cao và đôi khi thiếu hụt nhất là trongmùa mưa
Đề tài “Nghiên cứu sử dụng nước biển nhân tạo trong sản xuất giống tôm
thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) được thực hiện nhằm khắc phục
những khó khăn trên
1.2 Mục tiêu đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm khắc phục vấn đề thiếu nước mặn đặc biệt trongmùa mưa, giúp ổn định quy trình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng
Trang 41.3 Nội dung nghiên cứu
-Tìm ra công thức nước biển nhân tạo thích hợp cho sản xuất giống tôm thẻchân trắng
-Tìm ra tỷ lệ pha trộn nước biển nhân tạo và nước biển tự nhiên phù hợp chosản xuất giống tôm thẻ chân trắng nhằm khắc phục vấn đề thiếu nước mặn haynước không đủ nồng độ muối cần thiết nhất là trong mùa mưa
Trang 5CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng
Giống: Litopenaeus Loài: Litopenaeus vannamei (Boone, 1931)
Tên gọi
Tên khoa học: Litopenaeus vannamei
Tên tiếng Anh: White Leg shrimp
Tên Việt Nam: Tôm thẻ chân trắng
Tên của FAO: Camaron patiblanco
2.1.2 Đặc điểm hình thái
Theo Nguyễn Trọng Nho và ctv (2006), hình thái của tôm thẻ chân trắng được
chia làm hai phần: phần đầu ngực (Cephalothorax) ở phía trước và phần bụng(Abdomen) ở phía sau
Phần đầu ngực có 14 đôi phụ bộ bao gồm: Chủy tôm có 2 răng cưa ở bụng và8-9 răng cưa ở lưng, một đôi mắt kép có cuống mắt Hai đôi râu: Anten 1 vàAnten 2 giữ chức năng khứu giác và thăng bằng Ba đôi hàm: đôi hàm lớn, đôihàm nhỏ 1 và đôi hàm nhỏ 2 có chức năng giữ mồi, ăn mồi và hỗ trợ hoạt độngbơi lội của tôm Năm đôi chân bò hay chân ngực giúp cho tôm bò trên mặt đáy
Ở tôm cái, giữa gốc chân ngực 4 và 5 có thelycum (cơ quan sinh dục ngoài, nơinhận và giữ túi tinh từ con đực chuyển sang)
Trang 6Phần bụng có 7 đốt: 5 đốt đầu mỗi đốt mang một đôi chân bơi hay còn gọi làchân bụng Mỗi chân bụng có một đốt chung bên trong Đốt ngoài chia làm hainhánh: nhánh trong và nhánh ngoài, đốt bụng thứ 7 biến thành telson hợp vớiđôi chân đuôi phân thành nhánh tạo thành đuôi giúp cho tôm chuyển động lênxuống và búng nhảy Ở tôm đực, hai nhánh trong của đôi chân bụng 2 biếnthành đôi phụ bộ đực là bộ phận sinh dục bên ngoài của tôm.
Tôm thẻ chân trắng có vỏ mỏng màu trắng đục nên có tên là tôm Bạc, bìnhthường có màu xanh lam, chân bò có màu trắng ngư nên được gọi là tôm chântrắng (Bùi Quang Tề, 2009)
Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài của tôm thẻ chân trắng
(Nguồn Boone, 1931)
2.1.3 Phân bố và tập tính sống
Tôm Litopenaeus vannamei là loài tôm nhiệt đới, trong tự nhiên tôm phân bố
chủ yếu ở vùng ven bờ phía Đông Thái Bình Dương, từ biển Pêru đến NamMê-hi-cô, nhiều nhất ở biển gần Equado Ngoài ra, Tôm chân trắng còn được
di giống ở nhiều nước Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Thái Lan,Indonexia, Malayxia và Việt Nam (Bùi Quang Tề, 2009)
Tôm chân trắng là loài tôm nhiệt đới, có khả năng thích nghi với giới hạn rộng
về độ mặn và nhiệt độ Khả năng thích nghi về nhiệt độ trong khoảng (15 –
330C), nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tôm là 23 – 300C và nhiệt
độ tối ưu cho tôm lúc nhỏ (1g) là 300C, cho tôm lớn (12 – 18g) là 270C Tuynhiên, trong điều kiện nhiệt độ thấp tôm mẫn cảm hơn với các bệnh do virusnhư bệnh đốm trắng và hội chứng Taura Tôm có khả năng thích nghi với độmặn 0,5 – 45 ‰ , thích hợp ở độ mặn 7 – 34 ‰ và tăng trưởng tốt ở độ mặn
Trang 7khá thấp (10 – 15 ‰) Vì thế, tôm chân trắng được xem là ứng cử viên sáng giácho nuôi thủy sản nội địa.
Ở vùng biển tự nhiên, tôm chân trắng sống thích nghi với nơi có đáy là bùn, độsâu khoảng 72 m, có thể sống ở độ mặn 5 – 50 ‰, thích hợp ở độ mặn nướcbiển 28 – 34 ‰, pH 7.7 – 8.3, nhiệt độ thích hợp 25 – 320C, tuy nhiên chúng cóthể sống được ở nhiệt độ 12- 280C (Bùi Quang Tề, 2009)
2.2 Đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng qua các thời kỳ
Sự tăng trưởng về kích thước của tôm thẻ có dạng bậc thang, thể hiện sự sinhtrưởng không liên tục Kích thước của tôm sẽ tăng vọt sau mỗi lần lột xác.Trong khi đó sự tăng trưởng về trọng lượng có tính liên tục hơn Tôm thẻ cótốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, tốc độ tăng trưởng tùy thuộc vào từng loài,từng giai đoạn phát triển, giới tính và điều kiện môi trường, dinh dưỡng Từ
ấu trùng đến đầu thời kỳ thiếu niên không có sự khác biệt về tốc độ tăng trưởnggiữa tôm đực và tôm cái Tuy nhiên, bắt đầu từ cuối thời kỳ thiếu niên, con cái
lớn nhanh hơn con đực (Lục Minh Diệp và ctv, 2006).
Tôm chân trắng là loài ăn tạp thiên về động vật, tôm có phổ thức ăn rộng,cường độ bắt mồi khỏe và sử dụng được nhiều loại thức ăn tự nhiên có kích cỡphù hợp từ mùn bã hữu cơ đến các động, thực vật thủy sinh Nhờ đặc tính ăntạp, bắt mồi khỏe, linh hoạt, nên tôm chân trắng trong quần đàn có khả năngbắt mồi như nhau, vì thế tôm nuôi tăng trưởng khá đồng đều, ít bị phân đàn(Trần Viết Mỹ, 2009)
Trong điều kiện tự nhiên thức ăn của tôm thay đổi theo từng giai đoạn pháttriển và có liên quan mật thiết đến sinh vật phù du và sinh vật đáy (Lục Minh
Diệp và ctv, 2006).
Tôm chân trắng cũng như các loài tôm he khác, thức ăn của nó cũng cần cácthành phần: protid, lipid, glucid, vitamin và muối khoáng… Thiếu hay khôngcân đối đều ảnh hưởng đến sức khỏe và tốc độ lớn của tôm Tôm thẻ chân trắngcần 30% hàm lượng đạm trong thức ăn là thích hợp Khả năng chuyển hóa thức
ăn của tôm thẻ chân trắng rất cao Trong điều kiện nuôi lớn bình thường, lượngcho ăn chỉ cần bằng 5% trọng lượng cơ thể của tôm Trong thời kỳ tôm sinhsản, đặc biệt là giữa và cuối giai đoạn phát dục của buồng trứng thì nhu cầu vềlượng thức ăn hằng ngày tăng lên gấp 3 – 5 lần (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư,2011)
2.2.1 Thời kỳ phôi
Trang 8Theo Lục Minh Diệp và ctv (2006), thời kỳ phôi tôm thẻ chân trắng bắt đầu từ
khi trứng thụ tinh đến khi trứng nở, thời gian phát triển phôi tùy thuộc vàonhiệt độ nước
Trứng sau khi thụ tinh khoảng 14 – 16 giờ sẽ nở thành Nauplius (N) (Thái Bá
Hồ và Ngô Trọng Lư, 2011)
2.2.2 Thời kỳ ấu trùng
Ấu trùng Tôm Thẻ Chân Trắng trải qua nhiều lần lột xác và biến thái hoàn toàn
Ấu trùng trải qua giai đoạn sau Nauplius kéo dài khoảng 1,5 ngày, Zoae (Z) 5ngày, Mysis (M) 3 ngày và sau cùng là giai đoạn Postlarvae (Thái Bá Hồ vàNgô Trọng Lư, 2011)
Giai đoạn Nauplius: Sau khi nở ra, ấu trùng Nauplius không cử động đượctrong khoảng 30 phút Sau đó bắt đầu bơi và rất dễ bị lôi cuốn bởi ánh sáng.Nauplius thay vỏ cả thảy 4 lần từ (N1– N5) mỗi lần kéo dài 7 giờ (Theo các nhàsinh học Đài Loan thì có đến 6 giai đoạn) Giai đoạn N1, chiều dài khoảng 0,4
mm, độ dày khoảng 0,2 mm Giai đoạn N2, chiều dài khoảng 0,45 mm, độ dàykhoảng 0,2 mm, hai đầu gần và đuôi hướng xa nhau Giai đoạn N3, chiều dàikhoảng 0,49 mm, độ dày khoảng 0,2 mm Lúc này, thân ấu trùng xuất hiện vàiđoạn nhưng còn rất mờ, mỗi chạc có 3 gai Giai đoạn N4, chiều dài khoảng0,55mm, độ dày khoảng 0,2 mm Lúc này, các cặp chân đã bắt đầu phân đoạn,hàm trên và mảnh chân hàm cũng xuất hiện nhưng khó thấy Giai đoạn N5,chiều dài khoảng 0,61 mm, độ dày khoảng 0,2 mm Ở giai đoạn này, cửa miệng
đã xuất hiện, bên ngoài của phần lưng đã nhìn thấy được Trong thời kỳ này ấutrùng cứ bơi một đoạn rất ngắn rồi lại nghỉ và lại tiếp tục bơi Không cần choNauplius ăn, chúng tự dinh dưỡng bằng noãn hoàng có sẵn (Thái Bá Hồ và NgôTrọng Lư, 2011)
Theo Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư (2011), sau giai đoạn N5 ấu trùng chuyểnsang giai đoạn Zoae hay còn gọi là Protozoae Ấu trùng Zoae bơi liên tục và ănthực vật phù du (vi tảo), đặc biệt là các loài tảo khuê Zoae lột xác 2 lần từ Z1
đến Z3 trong 5 ngày, mỗi lần kéo dài 36 giờ với các đặc điểm sau: Giai đoạn Z1
chiều dài khoảng 1 mm, chiều dày khoảng 0,45 mm Cơ thể thay đổi căn bảnxuất hiện từ giai đoạn N5 Cơ thể chia làm 2 phần đầu và bụng rõ rệt Lúc này
ấu trùng đã xuất hiện mắt, ống tiêu hóa từ miệng đến hậu môn Giai đoạn Z2cóchiều dài khoảng 1,9 mm, đã xuất hiện chủy và một đôi gai trên mắt Giai đoạn
Z3 chiều dài khoảng 2,7 mm, các gai đã xuất hiện trên mỗi đoạn bụng, các đốtbụng phát triển dài (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2011)
Ấu trùng Zoae bơi lội nhờ hai đôi râu (đôi 1 phân đốt đôi 2 phân nhánh kép) và
3 đôi chân hàm phân nhánh Chúng bơi lội liên tục có định hướng về phía trước
Trang 9Ấu trùng Zoae bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài, thức ăn chủ yếu là thực vật nổi
thuộc nhóm tảo Silic như: Skeletonema costatum, Chaetoceros, Cossinodiscus, Nitzschia, Rhizosolena Ở giai đoạn này ấu trùng lọc mồi liên tục, thức ăn
trong ruột không ngắt quãng, đuôi phân dài Đây là đặc điểm để nhận biết giaiđoạn này Vì vậy khi nuôi ấu trùng Zoae, thức ăn cung cấp trong môi trườngnước phải đạt mật độ đủ cho Zoae có thể lọc mồi liên tục suốt giai đoạn này.Mật độ thức ăn tăng dần từ Z1 đến Z3 Ngoài hình thức ăn lọc, ở giai đoạn này
ấu trùng còn có khả năng bắt mồi chủ động và ăn được các động vật nổi cókích thước nhỏ (Nauplius của Artemia, luân trùng ) đặc biệt vào cuối giaiđoạn Z3(Lục Minh Diệp và ctv, 2006).
Sau khi hoàn tất giai đoạn Z3, Ấu trùng trở thành Mysis Thời kỳ này ấu trùngqua 3 giai đoạn (M1, M2, M3), mỗi giai đoạn kéo dài 24 giờ, tất cả là 3 ngày rồitrở thành Postlarve (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2011)
Giai đoạn M1ấu trùng có chiều dài khoảng 3,4 mm, cơ thể đã có hình dáng tômtrưởng thành, các cặp chân bụng bắt đầu nhú ra ở 5 khúc, xuất hiện đuôi vàquạt đuôi, các gai thu nhỏ lại và 5 đôi chân bơi xuất hiện Giai đoạn M2 chiềudài khoảng 4 mm, chân bụng đã chồi ra nhưng chưa xuất hiện các đoạn nhỏ,vết lõm vào ở cuối quạt đuôi nông hơn so với giai đoạn M1 Giai đoạn M3chiềudài khoảng 4,4 mm, chân bụng dài hơn và đã phân chia thành khúc nhỏ, xuấthiện răng trên chũy đầu tiên Ấu trùng Mysis sống trôi nổi có đặc tính treongược mình trong nước, khi bơi đuôi đi trước đầu đi sau theo kiểu búng ngược,vận động chủ yếu nhờ vào 5 đôi chân bò Khi bơi ngược đầu Mysis dùng nămcặp chân bơi ở dưới bụng tạo ra những dòng nước nhỏ đẩy khuê tảo vào miệng
và đẩy động vật phù du về phía cặp chân đi để tóm lấy dễ dàng hơn Mysis ít bịlôi cuốn bởi ánh sáng như Nauplius và Zoae (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư,2011)
Giai đoạn Mysis tôm bắt mồi chủ động Thức ăn chủ yếu là động vật nổi nhưluân trùng, ấu trùng Nauplius, Copepoda, Nauplius artemia, ấu trùng động vậtthân mềm Tuy nhiên, thực tế sản xuất cho thấy ấu trùng Mysis vẫn có khả
năng ăn được tảo Silic (Lục Minh Diệp và ctv, 2006).
2.2.3 Thời kỳ hậu ấu trùng Postlarvae (PL)
Theo Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư (2011), PL1 có chiều dài khoảng 5,4 mm,lông bụng xuất hiện và có thể bơi tới phía trước được
Hậu ấu trùng PL đã có hình dạng của loài nhưng sắc tố chưa hoàn thiện, nhánhtrong anten 2 chưa kéo dài PL bơi thẳng có định hướng về phía trước, bơi lộichủ yếu nhờ vào 5 đôi chân bụng, PL hoạt động nhanh nhẹn và bắt mồi chủđộng, thức ăn chủ yếu ở giai đoạn này là động vật nổi Tuổi của PL được tính
Trang 10theo tập tính chuyển sang sống đáy, PL chuyển sang sống đáy hoàn toàn ở
PL9– PL10(Lục Minh Diệp và ctv, 2006).
Giai đoạn Postlarvae tôm bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổinhư: Artemia, Copepoda, ấu trùng của giáp xác, ấu trùng của động vật thânmềm, Cần chú ý ở giai đoạn này, tôm thích ăn mồi sống nên trong sản xuấtnếu cho ăn thiếu Nauplius Artemia tôm sẽ ăn thịt lẫn nhau (Lục Minh Diệp và
ctv, 2006).
2.2.4 Thời kỳ ấu niên đến trưởng thành
Từ thời ấu niên, tôm thẻ chân trắng thể hiện tính ăn của loài (ăn tạp thiên vềđộng vật) Thức ăn của tôm là các động vật khác như giáp xác, động vật thânmềm, gium nhìu tơ
Trong sản xuất giống nhân tạo ấu trùng tôm thẻ còn được cho ăn các loại thức
ăn nhân tạo tự chế biến như lòng đỏ trứng, sữa đậu nành, thịt tôm, thịt hầu vàcác lạo thức ăn nhân tạo sản xuất công nghiệp thường gọi là thức ăn tổng hợp
2.3 Vòng đời
Ở thời kỳ ấu niên và thiếu niên tôm thẻ sống ở vùng cửa sông Ở giai đoạn sắptrưởng thành và trưởng thành, khi tôm có thể tham gia sinh sản lần đầu thìchúng sống ở vùng triều ở độ sâu khoảng 7- 20m nước Đối với những contrưởng thành và sản phẩm sinh dục đã chín hoàn toàn thì chúng di chuyển ravùng biển khơi ở độ sâu khoảng 70m nước và tham gia sinh sản tại đây Trứng
và ấu trùng Mysis sống và phát triển tại vùng biển khơi theo dòng nước trôi dạtvào bờ Khi đến vùng triều thì ấu trùng đã chuyển sang giai đoạn Postlarvae vàtiếp tục theo thủy triều trôi dạt vào vùng cửa sông, phát triển thành ấu niên và
tiếp tục vòng đời của chúng (Lục Minh Diệp ctv, 2006).
Trang 11Hình 2.2: Vòng đời tôm he chân trắng ngoài tự nhiên
(Nguồn: Chase and Abbott, 1980 trích dẫn bởi Irene Tetreault Miranda,
Ph.D.Independent Contractor, 2010)
2.4 Tình hình nuôi và sản xuất giống tôm thẻ chân trắng
2.4.1 Trên thế giới
Sinh sản đầu tiên của tôm thẻ chân trắng được thực hiện ở Florida vào năm
1973 tôm bố mẹ được đánh bắt ngoài tự nhiên và được giao vĩ sẵn (FAO, 2004)Trên thế giới tôm chân trắng nuôi nhân tạo đúng hàng thứ hai, sau tôm súnhưng ở châu Mỹ đứng hàng đầu Ở châu Mỹ có 12 quốc gia nuôi tôm chântrắng sản lượng của chúng chiếm hơn 90% sản lượng tôm nuôi ở Tây Bán Cầunăm 1998
Equado: từ lâu đã là nước nuôi tôm nổi tiếng trên thế giới và luôn dẫn đầu chotới năm 1999 Sản lượng tôm đạt được 120.000 tấn (1998), 130.000 tấn (1999).Năm 2000 gặp dịch bệnh đốm trắng sản lượng giảm còn 35.000 tấn gây tổnthất ước tính 500-600 triệu USD Mêhico: nhanh chóng trở thành nước nuôitôm chân trắng thứ nhì của châu Mỹ không chỉ tạo ra phong trào nuôi tôm rầm
rộ ở Mêhico mà còn ở hàng loạt các nước Mỹ La Tinh Sản lượng đạt được2.000 tấn (1990) lên 16.000 tấn (1994), 24.000 tấn (2000) Panama: đứng hàngthứ 3 về nuôi tôm chân trắng và các nước khác như Belize, Peru,Colombia…các nước này đều có kế hoạch phát triển nuôi tôm chân trắng xuấtkhẩu sang Mỹ ( Bộ thủy sản, 2004)
Sản lượng tôm thẻ chân trắng từ các nước châu Mỹ tăng, sau khi giảm dần từsản xuất cao điểm trước đây sản lượng 193.000 tấn năm (1998) giảm xuống143.000 tấn năm (2000) và tăng lên rất nhanh vào năm 2004 đạt được sảnlượng 270.000 tấn Sau khi các nước châu Mỹ nuôi thành công và có hiệu quảcao tôm chân trắng được di giống sang Hawaii của Mỹ Từ đây nuôi tôm chântrắng được lan sang các nước Đông Á Trung Quốc là nước Châu Á quan tâmtới tôm chân trắng sớm nhất (Bộ thủy sản trung tâm khuyến Ngư Quốc gia,2004)
Theo thống kê của FAO năm 2002 thì sản lượng tôm sú, thẻ chân trắng và tômthẻ Trung Quốc chiếm cao nhất Trong số các loài tôm biển nuôi trong giaiđoạn này thì tôm sú chiếm khoảng 50-60% tổng sản lượng tôm nuôi trên thếgiới, thẻ chân trắng chỉ được nuôi chủ yếu ở các nước Nam Mỹ (Trần Ngọc Hải,Nguyễn Thanh Phương, 2009)
Đến nay, thẻ chân trắng đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến ở những quốc gianày, đặc biệt Trung Quốc và Thái Lan Năm 2007 sản lượng thẻ chân trắng
Trang 12tăng lên nhanh chóng đạt trên 2.200.000 tấn đứng đầu sản lượng tôm nuôi trênthế giới vượt qua cả sản lượng tôm sú, đang có xu hướng giảm xuống chưa tới600.000 tấn (Sở Nông Nghiệp và PTNT TPHCM, 2009).
2.4.2 Trong nước
Diện tích và sản lượng tôm nuôi, năm 2013 cả nước có 30 tỉnh/thành nuôi tômnước lợ Tính tới thời điểm hiện tại diện tích đã thả nuôi đạt 652.612 ha bằng99,2% so với cùng kì năm 2012 Trong đó, diện tích nuôi tôm sú là 588.894 ha,nuôi tôm thẻ chân trắng 63.719 ha Sản lượng thu hoạch tôm là 475.854 tấn,trong đó sản lượng tôm sú là 232.853 tấn, tôm chân trắng là 243.001 tấn Giátrị xuất khẩu tôm đạt 2,5 tỷ USD tăng gần 33% so với cùng kì năm 2012 vàchiếm 44% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của cả nước (Nguồn: VASEP).Năm 2013 diện tích tôm chân trắng đã đạt 63.719 ha, tăng 23.429 ha ( đạt159,9% so với năm 2012) và chỉ chiếm 9,8% tổng diện tích nuôi tôm nhưngsản lượng đã vượt sản lượng của tôm sú Tôm chân trắng hiện đang được thảnuôi với diện tích và sản lượng ngày càng tăng Điểm hình tại Bạc Liêu, diệntích nuôi tôm chân trắng đã đạt 479.8% so với cùng kì năm 2012 và bằng472.7% so với kế hoạch (Hội nghị tổng kết nuôi tôm các tỉnh phía nam 2013 vàtriển khai kế hoạch năm 2014 Bộ NN & PTNN)
Khu vực ĐBSCL chiếm 92,5% về diện tích và 79,8% sản lượng nuôi tôm nước
lợ của cả nước Điểm hình, tỉnh Cà Mau có diện tích và sản lượng tôm nuôinước lợ cao nhất trong các tỉnh ở ĐBSCL, diện tích đạt 266.735 ha, sản lượng133.500 tấn Trong đó, diện tích tôm sú là 263.485, tôm thẻ là 3.250 ha Sảnlượng tôm sú là 170.500 tấn, tôm thẻ chân trắng là 26.000 tấn (Hội nghị tổngkết nuôi tôm các tỉnh phía nam 2013 và triển khai kế hoạch năm 2014 Bộ NN
& PTNN)
Tình hình sản xuất và cung ứng giống, năm 2013 cả nước có 1.722 cơ sở sảnxuất giống tôm sú và 583 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng Sản lượnggiống sản xuất ước khoảng 68,4 tỷ con giống (trong đó: Tôm chân trắng: 47,2
tỷ, tôm sú: 21,3 tỷ con) (Hội nghị tổng kết nuôi tôm các tỉnh phía nam 2013 vàtriển khai kế hoạch năm 2014 Bộ NN & PTNN)
Số lượng trại sản xuất tôm nước lợ chủ yếu tập chung tại các tỉnh Nam Trung
Bộ và Tây Nam Bộ, trong đó tại Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, PhúYên chiếm khoảng 40% tổng số trại sản xuất tôm trên cả nước, sản lượng giốngtôm nước lợ ở khu vực này cung cấp chiếm khoảng 70% sản lượng giống của
cả nước Các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang cũng cung cấp cho thịtrường một lượng lớn tôm giống Trong đó, Ninh Thuận là tỉnh có số cơ sở sảnxuất giống tôm thẻ chân trắng cao nhất so với các tỉnh của cả nước, có 200 cỏ
Trang 13sở và hàng năm các cơ sở này sản xuất 15.000 triệu con giống Hiện nay, giágiống tôm thẻ chân trắng từ 80-90 đồng/con, các tỉnh miền Bắc như QuảngNinh, Thái Bình, Nam Định do chi phí vận chuyển tăng cao, giá bán lên đếnhơn 90 đồng/con (Hội nghị tổng kết nuôi tôm các tỉnh phía nam 2013 và triểnkhai kế hoạch năm 2014 Bộ NN & PTNN).
Trang 14CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
Thời gian: Ngày 1 tháng 3 năm 2014 đến ngày 1 tháng 5 năm 2014
Địa điểm: Trại sản xuất tôm sú giống Đăng Khoa Địa chỉ 179C/5 Khu vực 1,Phường An Bình, Quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên ấu trùng Nauplius tôm thẻ chân trắng đượcmua từ công ty TNHH Đại thịnh, Vĩnh Tân - Tuy Phong - Bình Thuận Cáccông thức nước biển nhân tạo bao gồm công thức Chandra, công thức Dietrich
và kalle và công thức Dietrich và kalle cải tiến (Thạch Thanh và ctv, 2004)
3.3 Vật liệu nghiên cứu
3.3.1 Dụng cụ và trang thiết bị
Bể pha và xử lý nước thể tích 4m3
Thùng nhựa 60 lít sử dụng để ương ấu trùng
Bể nuôi tảo : bể composite 1m³
Bể ấp Artemia
Máy thổi khí, dây sục khí, đá bọt, val điều chỉnh
Máy bơm nước, máy phát điện, máy ozone
Túi lọc vải, túi lọc gòn
Muỗng, ray, vợt với các mắt lưới tương ứng với từng giai đoạn
Trang 15Tảo tươi Chaetoceros sp được mua từ nguồn tảo đã phân lập sẵn tại Khoa
Thủy Sản, Trường đại học Cần Thơ
Thức ăn gồm Lansy, Frippak1, Frippak2, Frippak150, Artemia Vĩnh Châu vàArtemia Mỹ
3.3.4 Nguồn ấu trùng tôm thẻ
Ấu trùng Nauplius thẻ chân trắng được mua từ công ty TNHH Đại Thịnh, VĩnhTân - Tuy Phong - Bình Thuận
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.2 Nuôi tảo
Tảo Chaetoceros, được nuôi theo môi trường Mac, giống tảo được mua từ khoathủy sản trường Đại Học Cần Thơ Nuôi tảo trong nhà có mái che (ở S‰ =25‰, nhiệt độ 26 - 29ºC, cường độ ánh sáng buổi sáng 1.100Lux, cường độánh sáng buổi chiều 1.900Lux, ban đêm 400Lux) sau 3 - 4 ngày có thể dùng tảo
để cho vào bể ương ấu trùng theo từng giai đoạn Z1đến Z3
3.4.3 Phương pháp ấp trứng Artemia
Trứng Artemia được khử trùng trước khi cho nở nhằm loại bỏ mầm bệnh bámtrên vỏ Trứng trước khi ấp được ngâm trong nước ngọt khoảng 30 phút, sau đócho ngâm Javel 5 phút rồi rửa thật sạch bằng nước ngọt và đem ấp trứng trongnước mặn từ 12 - 20‰ , sục khí liên tục Sau 24h trứng nở, tắt sục khí dùng vợtthu và xử lý bằng dung dịch formol 100 ppm trong 3 - 5 phút, rửa lại bằngnước ngọt thật sạch trước khi cho ăn Cho ấu trùng tôm ăn 2 lần/ngày vào cácgiờ cố định: 9 giờ và 21 giờ bắt đầu từ giai đoạn Mysis 2