1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu

69 480 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý môi trường nước Các ao nuôi cá bống kèo thường không sử dụng hệ thống ao trữ nước và ao lắng, do cá bống kèo dễ nuôi và chịu được sự biến động lớn về môi trường nên nước cấp cho

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THUỶ SẢN

DƯƠNG KIM THANH GIÀU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH XUẤT HIỆN BỆNH TRÊN

CÁ BỐNG KÈO (Pseudapocryptes lanceolatus) Ở TỈNH

BẠC LIÊU

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

PGs Ts ĐẶNG THỊ HOÀNG OANH

2012

Trang 3

TÓM TẮT

Để góp phần gia tăng những thông tin về kỹ thuật nuôi và những bệnh xảy ra trên

cá bống kèo nên đề tài: "Điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo

(Pseudapocryptes lanceolatus) ở tỉnh Bạc Liêu" được thực hiện từ tháng

1/2012 đến tháng 5/2012 Kết quả điều tra cho thấy người nuôi gặp phải những khó khăn chính là thiếu hiểu biết về kỹ thuật nuôi, con giống và thị trường tiêu

thụ chưa ổn định Các hộ nuôi thả giống với mật độ trung bình 125,1740,05 (con/m2) cho lợi nhuận tương đối cao, trung bình khoảng 8.2314.94 (Triệu đồng/1000m2) Qua điều tra cũng cho thấy các bệnh thường xuất hiện trong ao nuôi như bệnh xuất huyết, bệnh lở loét, bệnh cong thân, bệnh đường ruột, và bệnh gan, các bệnh này đã gây nhiều thiệt cho người nuôi (tỷ lệ hao hụt có thể cao đến 80%), ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế Các chỉ tiêu môi trường đã kiểm tra vẫn nằm trong giới hạn cho phép và phù hợp với đối tượng nuôi Kết quả phân tích sau các đợt thu mẫu đã xác định được một số giống loài ký sinh trùng

sau: Trichodina (thuộc họ Trichodonidae), trùng miệng lệch Chilodonella (thuộc

họ Chilodonellidae), trùng loa kèn Epistylis (thuộc họ Epistylidae) và Ergasilus (thuộc họ Ergasilidae) 20 chủng vi khuẩn phân lập từ thận và kiểm tra các chỉ

tiêu sinh lý thuộc giống Streptococcus, Lactococcus, Enterococcus

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH BẢNG v

DANH SÁCH HÌNH vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá bống kèo 3

2.1.1 Phân loại 4

2.1.2 Đặc điểm hình thái 4

2.1.3 Phân bố và tập tính sống 5

2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 6

2.1.5 Mùa vụ sinh sản 6

2.2 Tổng quan về tình hình nuôi cá bống kèo ở tỉnh Bạc Liêu 7

2.3 Một số bệnh thường gặp trên cá 8

2.3.1 Bệnh xuất huyết 8

2.3.2 Bệnh trắng da (tuột nhớt) 8

2.3.3 Bệnh sán lá đơn chủ 8

2.3.4 Bệnh do giáp xác ký sinh 9

2.3.5 Một số yếu tố môi trường 9

CHƯƠNG III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 10

3.2 Vật liệu nghiên cứu 10

3.2.1 Dụng cụ 10

3.2.2 Hóa chất 10

3.3 Phương pháp nghiên cứu 10

3.3.2 Điều tra phỏng vấn 10

3.3.2 Điều tra thu mẫu hiện trường 12

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 16

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17

4.1 Thông tin điều tra từ các hộ nuôi 17

4.1.1 Thông tin chung về các hộ được khảo sát 17

4.1.2 Thông tin khảo sát về kỹ thuật nuôi 17

a Chuẩn bị và cải tạo ao 17

b Thả giống 18

Trang 5

c Quản lý môi trường nước 20

d Thức ăn và cho ăn 21

e Quản lý sức khỏe cá nuôi 21

f Thu hoạch và hiệu quả kinh tế 22

g Thuận lợi và khó khăn chung 23

4.1.3 Thông tin khảo sát về bệnh 23

4.2 Kết quả phân tích môi trường 25

4.2.1 pH 25

4.2.2 NH4+/NH3 26

4.2.3 NO2- 26

4.2.4 NO3- 27

4.3 Kết quả phân tích mẫu cá bệnh 27

4.3.1 Dấu hiệu lâm sàng 27

4.3.2 Kết quả phân tích ký sinh trùng 27

a Trùng bánh xe 28

b Trùng miệng lệch 28

c Trùng loa kèn 30

d Ergasilus 30

4.3.3 Nhuộm Giemsa 31

4.3.4 Kết quả phân lập vi khuẩn từ mẫu cá bệnh 32

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 34

5.1 Kết luận 34

5.2 Đề xuất 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

PHỤ LỤC 38

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 4.1 Hiệu quả kinh tế của người nuôi 23 Bảng 4.2 Các chỉ tiêu môi trường được ghi nhận qua các đợt thu mẫu 26 Bảng 4.3 Cường độ và tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên cá bống kèo qua các đợt thu mẫu 29

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Hình 4.1 Ao nuôi cá bống kèo 18

Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ các chỉ tiêu lựa chọn cá giống được ghi nhận

20

Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ xuất hiện bệnh trên ao nuôi cá bống kèo 25

Hình 4.4 Cá bống kèo có dấu hiệu lờ đờ, dạt vào bờ ao 28

Hình 4.5 Những dấu hiệu bệnh lý thường gặp trên cá bống kèo bị bệnh trong ao nuôi 30

Hình 4.6 Động vật đơn bào ký sinh trên cá bống kèo 32

Hình 4.7 Vi khuẩn tồn tại trong mô thận cá bống kèo 33

Hình 4.8 Đặc điểm hình dạng khuẩn lạc và kết quả nhuộm Gram vi khuẩn

34

Trang 9

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU

Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), tổng sản lượng thủy sản năm 2011 ước đạt 5,2 triệu tấn (tăng 4,4% so với kế hoạch năm và 1,4%

so với cùng kỳ năm ngoái), sản lượng nuôi trồng đạt 3 triệu tấn (tăng 7,8% so với

kế hoạch năm); diện tích nuôi trồng đạt 1.093 ha (bằng 97,3% kế hoạch năm và tăng 2,5% so với cùng kỳ năm ngoái) Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tính đến ngày 26/12/2011, đạt 6 tỷ USD, đã vượt 5,3% so với kế hoạch (5,7 tỷ USD) đề ra

từ đầu năm nay và tăng khoảng 20% so với cùng kỳ năm ngoái Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn dự kiến năm 2012 cả nước phấn đấu đạt tổng sản lượng

thủy sản 5,35 triệu tấn, trong đó nuôi trồng thủy sản đạt 3,15 triệu tấn (Hải Yến, 2011)

Để đạt được kết quả như vậy thì năm 2011, các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đã đưa 762.000 ha mặt nước vào nuôi thủy sản, tăng 9.000 ha so năm 2010 và các tỉnh ĐBSCL cũng trúng mùa thủy sản nuôi với tổng sản lượng thu hoạch ước đạt 2,192 triệu tấn, tăng 252.000 tấn so với năm 2010 Trong đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của ngành nuôi trồng thủy sản tỉnh Bạc Liêu (Trang tin Xúc tiến Thương mại - Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2011)

Hiện nay, tỉnh Bạc Liêu có tổng diện tích nuôi thủy sản hơn 126.000 ha, chiếm 12,6% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của ĐBSCL với nhiều hình thức nuôi khác nhau (Đào Bá Cường, 2011) Trong năm 2011, Bạc Liêu thu được sản lượng thủy sản là 251 ngàn tấn từ nuôi và khai thác biển, vượt mức kế hoạch 7% (Trang tin Xúc tiến Thương mại - Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2011) Ngoài đối tượng nuôi chủ lực là tôm có giá trị kinh tế về xuất khẩu thì các loài thủy đặc sản nội địa cũng được Bạc Liêu chọn nuôi, trong đó phải kể đến là cá bống kèo

Cá bống kèo (Pseudapocryptes lanceolatus) thuộc họ Gobiidae, cá phân bố

chủ yếu ở khu vực châu Á, đặc biệt phong phú ở vùng ven biển các tỉnh ĐBSCL Chúng có tập tính làm hang trên các bãi bồi và di cư ra biển theo thủy triều

(Kottelat và Whitten, 1996 được trích dẫn bởi Trần Đắc Định và ctv, 2011)

Cá bống kèo là loài ăn tạp thiên về thực vật trong tự nhiên, thức ăn chủ yếu

của chúng là tảo khuê và bùn bã hữu cơ (Trần Đắc Định và ctv, 2002) Theo

Phạm Văn Khánh (2006) thì cho rằng khi nuôi thương phẩm trong ao, ngoài thức

ăn tự nhiên, cá còn sử dụng thức ăn công nghiệp khá tốt Vì thế mà cá bống kèo

có thể nuôi ghép với tôm trong ruộng lúa hay trong ao vuông nuôi chuyên tôm,

ruộng muối và hiện nay nhiều hộ đã chuyển sang nuôi thương phẩm Cá bống

kèo đang góp phần giúp người dân ở Bạc Liêu thoát nghèo một cách hiệu quả

Trang 10

Song, do việc nuôi thương phẩm thường ở mật độ cao kết hợp với việc sử dụng nhiều thức ăn nên vấn đề chất lượng nước không đảm bảo và bệnh có thể xảy ra

Do cá bống kèo hay cá bống kèo vẩy nhỏ (Pseudapocryptes lanceolatus,

Bloch & Schneider, 1801) là đối tượng mới được chọn nuôi trong những năm gần đây nên tài liệu nghiên cứu về đối tượng này chưa nhiều và chỉ tập trung vào một số đặc điểm sinh học như phân loại, phân bố, hình dạng cấu tạo hay tập tính

di cư, nguồn lợi Do đó, có nhiều vấn đề liên quan đến loài cá bống kèo chưa được nghiên cứu để có thể hiểu biết đầy đủ về đối tượng quan trọng này Một trong những vấn đề đó là thông tin về kỹ thuật nuôi và những bệnh có thể xảy trên cá bống kèo trong ao nuôi thương phẩm Vì vậy, việc tìm hiểu những thông tin từ thực tiễn trong những ao nuôi cá bống kèo để làm tiền đề cho các nghiên cứu chuyên sâu về bệnh và hướng đến xây dựng một mô hình nuôi cá bống kèo

an toàn là rất cần thiết Để góp phần cung cấp thông tin về kỹ thuật nuôi và những bệnh xảy ra trên đối tượng mới này và được sự đồng ý của Khoa Thủy

Sản – Trường Đại Học Cần Thơ, đề tài: "Điều tra tình hình xuất hiện bệnh

trên cá bống kèo (Pseudapocryptes lanceolatus) ở tỉnh Bạc Liêu" được tiến

hành

Mục tiêu của đề tài

Đề tài được thực hiện nhằm góp phần tìm hiểu về kỹ thuật nuôi và các bệnh thường gặp trên cá bống kèo trong ao nuôi thương phẩm để cung cấp thông tin cho người nuôi và các nghiên cứu tiếp theo trên cá bống kèo

Nội dung của đề tài

1 Điều tra những thông tin về kỹ thuật nuôi và bệnh thường xảy ra trên cá

bống kèo (Pseudapocryptes lanceolatus) trong ao nuôi ở tỉnh Bạc Liêu

thông qua việc phỏng vấn trực tiếp các chủ ao nuôi

2 Khảo sát các chỉ tiêu môi trường nước ao nuôi cá bống kèo

3 Xác định các nhóm ký sinh trùng và vi khuẩn thường gặp ở cá bống kèo nuôi trong ao

Trang 11

CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá bống kèo

Cho đến nay việc nghiên cứu và phát triển nuôi cá bống kèo trên thế giới và ở nước ta chưa nhiều Tuy nhiên, những nghiên cứu bước đầu cho thấy tiềm năng

có thể phát triển mạnh việc nuôi loài cá này trong tương lai Các lĩnh vực nghiên cứu về cá bống kèo hiện nay tập trung vào các vấn đề chính như: đặc điểm phân loại, hình thái, vùng phân bố, biến động quần thể, khai thác cá bống kèo giống, đặc điểm dinh dưỡng, sinh sản và một số mô hình nuôi

Theo Trần Đắc Định và ctv (2008) (được trích dẫn bởi Trần Thị Thanh Lý,

2010)khi nghiên cứu sự biến động quần đàn cá bống kèo cho thấy tuổi tối đa của

cá đạt là 4,2 năm, cá bổ sung vào quần đàn khai thác là 2 lần trong năm vào thời điểm tháng 2 và tháng 6 Kích thước khai thác đầu tiên được xác định là 10,31

cm, hệ số chết do khai thác là (F=1,92) chiếm 56% tổng số chết (Z=3,45%) của quần đàn, hệ số khai thác tối đa Fmax=0,66 và hệ số khai thác tối ưu E0,1=0,56 Kết quả cho thấy quần đàn cá đang bị khai thác quá mức về tăng truỏng

Trong mô hình nuôi cá bống kèo thâm canh trong ao đất, với diện tích ao trung bình là 0,6±0,7 (ha), mật độ nuôi trung bình 80,9±44 (con/m2), thời gian nuôi trung bình 4,23±0,43 (tháng), năng suất đạt được 4,884±3,013 (kg/ha/vụ), lợi nhuận đạt được 90.368±95.832 (ngàn đồng/ha/vụ)

Nuôi cá bống kèo thâm canh trên bể với mật độ 50-150 con/m2 cho năng suất, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận khá cao Mật độ nuôi 100 con/m2

là thích hợp nhất với mô hình này cho năng suất 1,95±0,05 (kg/m2

) lợi nhuận 39.418±1.635 (đồng/m2) và tỷ suất lợi nhuận 68±3 (%) (Nguyễn Tấn Nhơn, 2008)

Theo nghiên cứu của Trương Hoàng Minh và ctv (2009) thì cá bống kèo

giống có mật độ cao ở vùng ngoài khơi, kế đến là rừng dầy và mật độ thấp dần ở nơi có ít cây rừng và vào sâu trong nội đồng Kích cỡ cá bống kèo giống nhỏ nhất (1,61±0,02cm nội đồng) ở hướng ngoài khơi và lớn nhất khi vào sâu trong nội đồng (1,8±0,03cm) Điều này cho thấy cá có thể sinh sản ngoài khơi sau đó con giống trôi dạt vào các khu vực ven bờ và cửa sông, rừng ngập mặn

Cá bống kèo là loài rộng muối, có thể chịu đựng được độ mặn từ 0‰ đến 96

‰ tùy theo phương pháp thuần hóa Đặc biệt, cá bống kèo là loài có khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu (ASTT) rất hiệu quả, ở độ mặn 10‰ ASTT của máu

cá ngang bằng với ASTT của môi trường và biến động rất ít khi độ mặn thay đổi (Trần Trường Giang, 2009)

Trang 12

Bùi Thị Mỹ Duyên và ctv (2010) phân tích chuỗi giá trị cá bống kèo (Pseudapocryptes lanceolatus) ở hai tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu cho thấy

(100%) cá bống kèo giống được khai thác từ tự nhiên trong đó, hộ khai thác chủ yếu cung cấp cho thương lái (52%), kế đến là cơ sở ương (37%) và sau cùng là người nuôi (11%) Thời gian khai thác cá bống kèo giống trung bình 5±2 tháng Hầu hết thương lái bán lại cho người nuôi với giá 97,3 đồng/con, cơ sở ương (sau 2-7 ngày) bán lại cho người với giá 100,7 đồng/con Thời gian nuôi khoảng 4 tháng với chi phí bình quân 38.200 đồng/kg cá Người nuôi bán cá cho thương lái (100% với giá 60.900 đồng/kg), từ thương lái đến dựa (75% với giá 78.500 đòng /kg), người bán lẽ ở chợ (21,7% với giá 67.867 đồng/kg), thương lái nhỏ lẽ khác (2,5% với giá 77.000 đồng/ kg), siêu thị (0,1% với giá 90.000 đồng/kg) Sau khi trừ chi phí tăng thêm, người khai thác và người nuôi đạt lợi nhuận cao nhất, kế đến là bán lẻ ở chợ và thương lái (không tính chi phí cho nhà hàng và siêu thị)

2.1.1 Phân loại

Theo Mai Đình Yên (1992) thì ở Nam Bộ có hai loại cá bống kèo là

Pseudapocryptes lanceolatus (cá bống kèo vẩy nhỏ) và Parapocryptes serperaster (cá bống kèo vẩy to) Theo hai tác giả Trương Thủ Khoa và Trần Thị

Thu Hương (1993) thì ở ĐBSCL cũng có hai loại cá bống kèo là cá bống kèo vẩy

to (Parapocryptes serperaster) và cá bống kèo vẩy nhỏ (Pseudapocryptes lanceolatus) Nguyễn Hữu Phụng (1997) đã định loại được hai loài cá bống kèo Pseudapocryptes lanceolatus và Pseudapocryptes macrolepis Theo Larson (2000) xác định và có tên là Pseudapocryptes elongatus có tên đồng nghĩa là Pseudapocryptes lanceolatus (Bloch & Schneider, 1801); (Rainboth, 1996) Tên

tiếng việt là cá kèo, cá bống kèo hay cá bống kèo vẩy nhỏ Tên tiếng anh là Lanceolate goby (Trích dẫn từ Trần Thị Thanh Lý, 2010) Theo Bloch & Schneider, 1801, cá bống kèo vẩy nhỏ thuộc họ Gobiidae và chúng được phân lợi như sau:

Bộ: Perciformes

Họ: Gobiidae

Giống: Pseudapocryptes Loài: Pseudapoccryptes lanceolatus (Bloch & Schneider, 1801)

Trang 13

nghiên cứu của Kottelat và Whitten (1996) thì cá bống kèo có chiều lớn nhất là

20 cm

Theo Mai Đình Yên (1992) thì cá bống kèo vẩy nhỏ được mô tả như sau:

Thân trụ dài, dẹp dần về phía đuôi Đầu hơi nhọn Mõm tù và trần Nếp gấp mõm

có hai lá bên nhỏ Mắt nhỏ nằm sát nhau trên đỉnh đầu và không có cuống Miệng hầu như nằm ngang, rạch miệng kéo dài đến bờ sau của ổ mắt Có một cặp răng chó sau một điểm tiếp hợp ở hàm dưới Lưỡi cắt ngang Thân phủ dài tròn rất bé Hai vây lưng rời nhau Vây thứ hai gần như dối xứng với vây hậu môn Khởi điểm vây ngực phía trên khởi điểm vây bụng Vây đuôi dài và nhọn Thân màu xám đen, bụng màu nhạt Phần đầu ở trên nắp mang có màu xám thẩm hơn Dọc trên thân có các đốm hình yên ngựa kéo dài xuống hông Vi ngực màu nhạt, lấm tấm các đốm vây đuôi có nhiều hàng chấm đen, các vây còn lại trắng nhạt Công thức vi của cá là: D=V; I/30-31;A=I.28-29;P=18-19’V=I/15

Ngoài ra, theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì cá bống kèo vẩy nhỏ có những đặc điểm sau:

Răng hàm trên một hàng, đỉnh tà, răng trong nhỏ mịn Răng hàm dưới một hàng mọc xuyên thưa, đỉnh tà Không có râu, dưới mỏm có hia mép râu nhỏ phủ lên trên môi Mắt gần chóp mõm hơn gần cuối nắp mang Khoảng cách giữa hai mắt hẹp, nhỏ hơn hoặc tương đương với 1/2 đường kính của mắt Lổ mang hẹp đường mang phát triển, phần dưới dính với eo mang Khoảng cách giữa hai vi lưng lớn hơn chiều dài của gốc vi lưng thứ nhất Khởi điểm của vi hậu môn sau khởi điểm của vi lưng thứ hai nhưng điểm kết thúc ngang nhau, hai vi bụng dính nhau tạo thành giác bám dạng hình phểu, miệng phểu hình bầu dục, vi đuôi dài và nhọn

Cá có màu xám ửng vàng, nửa trên của thân có khoảng7-8 sọc đen hướng xéo về phía trước Các sọc này rõ về phía đuôi Công thức vi của cá là D1.V; D2.I,30-33; A.I,27-30; P.17-20; V.I,5 (Trong đó D1: vi lưng thứ nhất; D2: vi lưng thứ hai; A: vi hậu môn; P: vi ngực; V: vi bụng)

2.1.3 Phân bố và tập tính sống

Cá bống kèo có vùng phân bố rộng: từ Ấn Độ, Thái Lan đến Mã Lai, quần đảo

Ấn Độ-Úc Châu, Trung Quốc và Việt Nam (Bloth và Schneider, 1801) Theo Rainboth (1996) thì cá bống kèo cũng được tìm thấy ở Tahiti và vùng ven biển Bắc Trung Quốc Cá bống kèo được tìm thấy phổ biến ở vùng cửa sông ven biển, khai thác bằng lưới kéo vào con nước rong và nước kém của thủy triều Theo Kottelat và Whitten (1996) thì cá bống kèo sống chủ yếu ở vùng nhiệt đới, khoảng nhiệt độ thích hợp cho cá bống kèo sinh trưởng và phát triển là 23-280

C

Trang 14

Ở Việt Nam cá bống kèo phân bố chủ yếu ở vùng ven biển ĐBSCL (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Rainboth, 1996; Mai Đình Yên, 1992)

Cá bống kèo sống chủ yếu ở vùng nước lợ, mặn nhưng cũng có thể sống ở nước ngọt, chúng làm hang ở các bãi bùn và có thể trườn lên các bãi này để tìm thức

ăn (Bloch và Schneider, 1801)

Theo Trương Hoàng Minh và ctv (2009), khi nghiên cứu về sự phân bố của cá

bống kèo giống ở hai tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu cho thấy cá phân bố nhiều ở vùng rừng ngập mặn ven biển trôi nổi theo dòng nước từ ngoài khơi vào nội địa khoảng 8 km, mật độ tập trung nhiều vào tháng 6-9 Mật độ cá bống kèo giống có liên quan chặt chẽ với lượng mưa, độ mặn, lưu tốc dòng chảy và độ trong

Theo Trần Thị Thanh Lý (2010), kết quả cho thấy cá trong ao nuôi quảng canh cải tiến bắt đầu di cư sau 4 tháng nuôi, khi cá đạt chiều dài (SL) trung bình 89,8 mm; đến tháng thứ 9 thì không còn quan sát thấy hiện tượng cá di cư Trong khi

đó ngoài tự nhiên cá bống kèo di cư ra vùng cửa sông xảy ra suốt năm với chiều dài trung bình từ 116,1 mm Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố sinh thái như nhiệt độ, độ mặn và biên độ triều ít bị biến động giữa hai con nước, nhưng biến động lớn qua các tháng

2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Theo Trần Đắc Định và ctv (2002), cá bống kèo là loài cá có tính ăn thiên về

thực vật do tỷ lệ giữa chiều dài ruột (Li) và chiều dài chuẩn (L∞) là 3,27 Kết quả khảo sát trong ống tiêu hóa của cá bống kèo thì thấy tảo lam, tảo khuê và mùn bã hữu cơ là chủ yếu từ kết quả nghiên cứu cho thấy tảo khuê chiếm tỉ lệ cao nhất trong chuỗi thức ăn của cá bống kèo (83,1%), kế đến là mùn bã hữu cơ trong nền đáy (14,9%) và tảo lam (1,9%) Ngoài ra, một số ít động vật phù du cũng hiện diện trong thức ăn của cá bao gồm: Copepoda (0,06%) và Cladocera (0,03%) Kết quả này cho thấy cá bống kèo sống trong môi trường rất giàu tảo khuê và mùn bã hữu cơ, nền đáy là bùn hay bùn cát

Kết quả này tương tự như kết quả nghiên cứu của (Sarker và ctv ,1980 được trích

dẫn bởi Trần Thị Thanh Lý, 2010) khi nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng trên cá bống kèo cho thấy: Đây là loài cá ăn thực vật Kết quả tìm thấy 84% thực vật

phù du trong ống tiêu hóa của cá Các loài tảo chủ yếu là: Pleurosigma, Navicula, Nitzschia, Synedra, Cloteriopsis và Oscilatoria Khẩu phần ăn của cá trong thí

nghiệm này là 1.3-10.5% trọng lượng thân

2.1.5 Mùa vụ sinh sản

Theo Võ Thành toàn (2005), cá bống kèo sinh sản tự nhiên ở các thủy vực vùng bãi bồi ven biển Kết quả xác định các tham số tăng trưởng như trên thì mật độ cá

Trang 15

bống kèo giống xuất hiện có xu hướng tăng và cao nhất tập trung vào giữa tháng

10, sau đó giảm rất nhanh vào cuối tháng 10 Từ tháng 3-5 thì mật độ cá giống ít hơn rất nhiều so với các tháng 8, 9 và 10 Điều này cũng phù hợp với kết quả

nghiên cứu của Trần Đắc Định và ctv (2007), chỉ số thành thục (Gonadosomatic

Index-GSI) của loài cá bống kèo đạt cao nhất từ tháng 6-11 và gần như trong suốt mùa mưa (tháng 4-11) với 2 đỉnh cao của sự đẻ trứng là tháng 7 và 10

Theo kết quả nghiên cứu về sinh học sinh sản cá bống kèo của Trần Đắc Định và

ctv (2007) trong 1.058 mẫu cá thu từ 2/2004-6/2005 với tỉ lệ đực: cái là 0,96 :

1,00 Kết quả quan sát cho thấy chiều dài của con cái trưởng thành là 15,4cm và con đực là 16,3cm, khả năng sinh sản của cá từ 2,652 đến 29,406 tế bào trứng/cá thể có chiều dài cơ thể từ 12,8cm-22,4cm Quan hệ giữa chiều dài và khả năng sinh sản F=0,1517*TL3,9757

Theo Miller (1984) và Blaber (2000) trích bởi Trần Thị Thanh Lý (2010) thì gần như tất cả họ cá bống đẻ trứng liên tục hoặc nhiều lần trong năm và thường vào mùa mưa

Theo Trương Hoàng Minh và ctv (2009) thì cá bống kèo giống xuất hiện trong

mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 theo những con nước cường hàng tháng (15 và

30 ÂL)

Hiện nay chưa có nghiên cứu nào cho biết các loại bệnh của cá mà đặc biệt là những dấu hiệu về mô học khi cá bống kèo có những dấu hiệu bệnh lí

2.2 Tổng quan về tình hình nuôi cá bống kèo ở tỉnh Bạc Liêu

Ở Bạc Liêu, phong trào nuôi cá bống kèo trên ruộng muối đã bắt đầu từ năm

2002, nhiều hộ nông dân đã thử đưa cá bống kèo vào trong ruộng muối và đạt thu nhập từ 30 – 40 triệu đồng/ha/năm Với chi phí đầu tư thấp mà hiệu quả kinh tế cao, giá vốn của một kg cá thương phẩm trung bình là 11.317 đồng, tỷ lệ thu nhập/tổng chi phí của ao nuôi là 2,1 Theo Lê Kim Yến (2005), Bạc Liêu đã phát triển bốn mô hình nuôi cá bống kèo là luân canh muối-cá, tôm-cua-cá, bán thâm canh và tôm-rừng-cua-cá (Trích dẫn bởi Lê Thuần Nhân, 2006)

Và đến năm 2010, tỉnh Bạc Liêu có tổng diện tích đất canh tác thủy sản trên 124.000ha, có 9.200ha nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp, diện tích nuôi trồng thủy sản 126.000ha (Hoàng Trang - TTKNKN Bạc Liêu, 2011) Trong đó:

- Mô hình nuôi cá bống kèo công nghiệp với diện tích: 342,22 ha, tập trung ở

TP Bạc Liêu: 86 ha; Đông Hải: 152,5 ha; Vĩnh Lợi: 31,22 ha; Hòa Bình: 73.5ha Tổng thu nhập từ mô hình khoảng 150-240 triệu đồng/ha/năm

Trang 16

- Mô hình Muối - cá bống kèo: mô hình này phát triển ở các huyện Đông Hải với diện tích 1.301 ha; xã Vĩnh Thịnh huyện Hòa Bình: 10 ha Tổng thu nhập

137 triệu đồng/ha Lợi nhuận đạt được 80 triệu đồng/ha

2.3 Một số bệnh thường gặp trên cá

Ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng có nhiều có nhiều đối tượng cá nước

lợ được nuôi như cá mú (Epinephelus spp), cá măng (Chanos chanos), cá chẽm (Lates calcarifer), cá đối (Mugil cephalus), và các đối tượng này đã gặp nhiều

bệnh gây thiệt hại nghiệm trọng cho người nuôi

2.3.2 Bệnh trắng da (tuột nhớt)

Tác nhân gây bệnh

Vi khuẩn Pseudomonas dermoalba

Bệnh xuất hiện trên những cá bị xây xát hoặc bị sốc do nhiệt, đánh bắt và vận chuyển

Trang 17

2.3.5 Một số yếu tố môi trường

Môi trường là tập hợp nhiều yếu tố ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của cá Sự biến đổi của một trong những yếu tố này nếu vượt quá giới hạn chịu đựng có thể làm cho cá nói riêng và thủy sinh vật nói chung sẽ bị bệnh và chết hàng loạt như nhiệt độ, độ mặn, oxy, pH, NO2, NO3, NH3/NH4, Theo Trương Quốc Phú (2004) thì giới hạn nhiệt độ cho phép là từ 10-40oC, nếu nhiệt độ lớn hoặc nhỏ hơn giới hạn này thì ít có loài cá nào sống sót Độ mặn là một trong những yếu tố quan trọng nhất quy định vùng phân bố của thủy sinh vật (Nguyễn Văn Thường, 2004)

Trang 18

CHƯƠNG III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài

Từ tháng 1/2012 đến tháng 5/2012

Địa điểm thực hiện đề tài

- Phòng thí nghiệm Bộ môn Sinh Học và Bệnh Thủy Sản, Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ

- Địa điểm điều tra và thu mẫu: huyện Đông Hải, Hòa Bình, tp Bạc Liêu trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu

3.2 Vật liệu nghiên cứu

3.2.1 Dụng cụ

- Bộ tiểu phẩu, lame, lamen, kính hiển vi, ống tiêm 1ml, ống nhỏ giọt nhựa, khay nhựa, thước đo chiều dài cá, đèn cồn, cốc thủy tinh, lọ đựng mẫu, que cấy, cân

- Pipet, micropipette, hộp đầu col, đĩa Petri, ống nghiệm, giá ống nghiệm

- Chai môi trường 500ml, 250ml, 100ml

- Tủ ấm, tủ cấy vi khuẩn, tủ lạnh, nồi autoclave, tủ sấy

- Giấy bóng mờ, giấy vệ sinh, găng tay, bút lông, bút chì, bình xịt cồn, cá từ

3.2.2 Hóa chất

- Bộ test môi trường pH, NH3/NH4, NO2, NO3

- Nước muối sinh lý 0.85%, cồn 70%, 100%, nước cất

- Nước cất, muối NaCl, dung dịch nhuộm Gram, methanol, paraffin

- Môi trường nuôi cấy vi khuẩn: TSA, NA, NB

- Các hóa chất môi trường test sinh hóa: O/F test, bộ test Oxidase/Catalase

- Hóa chất nhuộm Giemsa: dung dịch Natt & Herick, dung dịch Giemsa,

dung dịch Wright, dung dịch pH 6,2-6,8, dung dịch pH 6,2

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.2 Điều tra phỏng vấn

a Số liệu thứ cấp

Trang 19

Thu thập ở Sở Thủy sản, Phòng Nông Nghiệp và Trạm khuyến ngư các huyện

ở tỉnh Bạc Liêu có phong trào nuôi cá bống kèo thương phẩm phát triển Số liệu thứ cấp bao gồm:

- Tình hình nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Bạc Liêu

- Tình hình nuôi thương phẩm cá bống kèo ở Bạc Liêu nói chung và các huyện có phong trào nuôi thương phẩm phát triển nói riêng

 Thức ăn và cách cho ăn

 Quản lý nước và quản lý sức khỏe cá nuôi

 Thu hoạch

 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình nuôi

Thông tin về những bệnh đã và đang xảy ra trong quá trình nuôi

 Tên bệnh

 Giai đoạn và mùa vụ xuất hiện

 Dấu hiệu bệnh lý (bên ngoài và bên trong)

 Nguyên nhân (nếu có)

 Số cá chết mỗi ngày

 Biện pháp xử lý (điều trị)

 Hiệu quả điều trị

 Mức độ thiệt hại

Trang 20

3.3.2 Điều tra thu mẫu hiện trường

a Phương pháp kiểm tra yếu tố môi trường nước

Sử dụng bộ test môi trường Sera Sauerstoff – Test của Heinsberg (Đức)

b Phương pháp phân tích mẫu cá

 Thu mẫu cá ở các ao nuôi Mỗi đợt thu cách nhau khoảng 7 ngày

 Thu khoảng 5 – 8 cá/ao/đợt

 Phân tích mẫu tại hiện trường

 Kiểm tra các chỉ tiêu môi trường nước như pH, NH3/NH4, NO2, NO3

 Phân tích ký sinh trùng và vi khuẩn trên cùng một con cá

Phương pháp kiểm tra ký sinh trùng

Kiểm tra theo phương pháp kiểm tra từng phần: chỉ giải phẫu và kiểm tra một số

cơ quan tập trung của nhiều ký sinh trùng (da, mang, ruột và xoang cơ thể)

Yêu cầu về mẫu vật: cá phải còn sống

 Nghiên cứu các cơ quan bên ngoài

Nhớt da, vây

Dùng dao (hoặc lame) cạo thật nhẹ nhàng lớp nhớt trên thân cá từ nắp mang

đến đuôi Có thể quan sát riêng mẫu nhớt da trên lưng hoặc dưới bụng

Để mẫu lên một miếng lame sạch rồi nhỏ một giọt nước muối sinh lý hay nước ngọt lên mẫu (tùy theo mẫu cá)

Đậy lamen lại và quan sát dưới kính hiển vi quang học với vật kính có độ phóng đại 10X để tìm kí sinh trùng

Trang 21

Quan sát ruột

Mổ hết ruột để tìm kí sinh trùng có kích thước lớn (giun tròn, giun đầu gai) Phết mẫu nhớt ruột và quan sát kính hiển vi quang học Trường hợp cá lớn cắt thành từng đoạn rồi kiểm tra từng đoạn

Định danh ký sinh trùng theo Bùi Quang Tề, 2001

 Phương pháp tính mức độ cảm nhiễm ký sinh trùng

Để biết mức độ cảm nhiễm ký sinh trùng cần phải xác định số lượng ký sinh trùng đã kiểm tra:

- Đối với ngoại ký sinh trùng có kích thước lớn, nhìn thấy bằng mắt thường

và cường độ bắt gặp không lớn lắm (trùng mỏ neo, rận cá, đĩa cá) thì đếm toàn bộ ký sinh trùng trên một cơ thể cá

- Đối với nội ký sinh trùng có kích thước lớn, nhìn thấy bằng mắt thường và cường độ bắt gặp cung cao (giun tròn, chân khớp) thì đếm ký sinh trùng trên một cơ quan hoặc một bộ phận cơ quan

- Đối với ký sinh trùng nhỏ chỉ nhìn thấy bằng dụng cụ quang học thì đếm

số trùng có trên một lame, nếu số trung quá nhiều thì đếm số trùng trong một thị trường

Mức độ cảm nhiễm của ký sinh trùng được đặc trưng bằng hai đại lượng là cường độ cảm nhiễm và tỷ lệ cảm nhiễm, hai đại lượng này đại lượng này được tính như sau:

Phương pháp phân tích mẫu vi khuẩn

 Phương pháp lấy mẫu bệnh phẩm

Trước khi giải phẫu cá được giết chết bằng cách hủy nảo Đặt cá trên khai sạch, sau khi đã đo chiều dài và cân trọng lượng Quan sát cá bằng mắt thường ghi nhận tất cả các biểu hiện như: vết thương, điểm xuất huyết, mùi và các triệu chứng của bệnh Sau khi đã mổ cá đã được kiểm ký sinh trùng thì tiến hành lấy mẫu vi sinh

Con cá/cơ quan/lame/thị trường

Số trùng

Số mẫu nhiễm KST Tổng số mẫu đã kiểm tra

x 100

Tỉ lệ nhiễm (%) =

Cường độ nhiễm =

Trang 22

Phết mẫu

Mục đích: Nhận biết hình dạng và mật độ vi khuẩn tồn tại trong mô cá Các cơ quan phết mẫu: thận

Thực hiện:

Phết mẫu: Dùng kẹp gấp 1 ít mẫu rồi lần lượt phết lên lame

Để khô tự nhiên với nhiệt độ phòng

Rồi cố định bằng methanol trong 1-2 phút

Sau đó để khô tự nhiên

Nhuộm Giemsa:

Phương pháp nhuộm mẫu (Humason, 1979 trích dẫn bởi Rowley, 1990) Cho lame mẫu vào dung dịch Wright trong 3-5 phút

Chuyển mẫu sang dung dịch pH 6,2 – 6,8 từ 5-6 phút

Sau đó cho vào dung dịch Giemsa trong 20-30 phút

Cho mẫu vào dung dịch pH 6,2 từ 15-30 phút

Phân lập vi khuẩn từ gan, thận, tỳ tạng

Khi giải phẩu để tránh nhiễm các tạp khuẩn từ bên ngoài da cá, cần áp dụng các nguyên tắc vô trùng trong quá trình phân lập vi khuẩn Dùng cồn 70% sát trùng mặt ngoài của cá và dùng giấy lau sạch các chất nhầy trên cơ thể cá để tiêu diệt các tạp khuẩn ký sinh trùng ở phần da cá Dùng kéo tiệt trùng mổ cá bằng 3 đường cắt Khi mổ cá tránh làm vỡ các cơ quan nội tạng

Dùng dao mổ rạch một đường trên gan, dùng que cấy đã đốt nóng và để nguội lấy mẫu bệnh phẩm cấy trên môi trường TSA hoặc NA (thêm 1,5% NaCl) Tượng tự lấy bệnh phẩm trên thận và tỳ tạng

Tách ròng vi khuẩn

Mẻ cấy ròng (thuần) là mẻ cấy trong đó chỉ có một loài hoặc một chủng vi sinh vật duy nhất sống mà thôi Thao tác tách ròng mẻ cấy vi khuẩn cần được

Trang 23

thực hiện nếu sau khi phân lập vi khuẩn phát triển trên môi trường nhân tạo với nhiều loại khuẩn lạc khác nhau

Tách ròng vi khuẩn bằng cách dùng que cấy nhặt từng loại khuẩn lạc từ trên đĩa có chứa nhiều loại vi khuẩn cấy vào các đĩa agar mới

 Xác định đặc điểm hình thái vi khuẩn

Sau khi ủ vi khuẩn 24-48 giờ (ở 30-320C), ta tiến hành quan sát hình dạng, màu sắc của khuẩn lạc Quan sát khả năng di động, hình dạng và kích thước vi khuẩn sau khi nhuộm Gram

Quan sát hình dạng khuẩn lạc

Một khuẩn lạc do nhiều tế bào vi khuẩn hợp thành và có đặc điểm hình thái khác nhau tùy theo từng loài vi khuẩn Khuẩn lạc có thể có các hình dạng, bề nổi, rìa hay bề mặt khác nhau

Quan sát màu sắc khuẩn lạc

Trên môi trường phân lập tổng quát (Trypticase Soy Agar (TSA), Nutrient Agar (NA) thì khuẩn lạc có thể có màu trắng đục, trắng ngà, kem, vàng kem, xám, Môi trường phân lập chuyên biệt (TCBS Agar, Aeromonas Agar, Pseudomonas agar, ) khuẩn lạc thường có màu vàng hay xanh, một ít có màu đen

Quan sát tính di động

Nhỏ 1 giọt nước muối sinh lý lên lame, tiệt trùng que cấy, lấy một ít vi khuẩn trải đều lên giọt nước Đậy lamen lại, quan sát ở vật kính 100X (có giọt dầu)

Quan sát hình dạng và kích thước của vi khuẩn:

Nhỏ 1 giọt nước cất lên lame Tiệt trùng que cấy, lấy 1 ít vi khuần trải đều lên giọt nước Để khô tự nhiên, hơ lướt lame trên ngọn lửa đèn cồn để cố định vi khuẩn

Các bước nhuộm Gram:

Nhỏ dung dịch Crystal violet (dd1) lên lame, để yên 1 phút Sau đó rửa lại bằng nước cất cho hết màu tím rồi vẩy cho ráo nước

Nhỏ dung dịch Iodine (dd2) lên lame, để yên 1 phút

Tẩy màu bằng aceton (dd3): nhỏ từ từ aceton lên lame cho đến khi giọt nuớc trên lame không còn màu tím

Trang 24

Nhỏ dung dịch Safranin (dd4) lên lame, để 2 phút Sau đó rửa lại bằng nước cất và vẩy cho khô nước Để lame mẫu khô ở nhiệt độ phòng

Quan sát tiêu bản nhuộm ở vật kýnh 100X có 1 giọt dầu soi kính

 Xác định đặc điểm sinh lý của vi khuẩn

Kiểm tra tính ròng của vi khuẩn

Kiểm tra các khuẩn lạc trên đĩa cấy có cùng nằm trên đường cấy, đồng nhất

về màu sắc và hình dạng

Quan sát tiêu bản vi khuẩn nhuộm Gram, xem các tế bào vi khuẩn có đồng nhất về kých thước, hình dạng, màu sắc (màu tím/hồng)

Kiểm tra các chỉ tiêu cơ bản

Sau khi khuẩn lạc đã thuần Tiến hành kiểm tra một số chỉ tiêu sinh lý

 Khả năng lên men và oxy hóa đường glucose (O-F test)

Chuẩn bị 2 ống nghiệm chứa môi trường O-F đã tiệt trùng

Dùng que cấy tiệt trùng lấy 1 ít vi khuẩn trên đĩa agar và cấy thẳng vào 2 ống nghiệm chứa môi trường O/F (cấy thẳng đứng tới đáy ống nghiệm), sau đó phủ 0.5-1ml dầu paraffin tiệt trùng vào 1 ống nghiệm tạo diều kiện yếm khí trong ống nghiệm (kiểm tra khả năng lên men glucose: F), ống còn lại sẽ kiểm tra tính hiếu khí của vi khuẩn (khả năng oxy hóa: O) và ủ trong tủ ấm 30-320C Đọc kết quả sau 24-48 giờ (có thể kiểm tra kết quả trong vòng 7 ngày)

3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Tất cả các số liệu của đề tài được thu nhập, tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Microsoft excel và luận văn được trình bày bằng chương trình Microsoft word

Trang 25

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thông tin điều tra từ các hộ nuôi

4.1.1 Thông tin chung về các hộ được khảo sát

Qua phỏng vấn 30 hộ nuôi cá kéo cho thấy thì diện tích nuôi trung bình là 5.843,33 m2 (6.660,52), lớn nhất là 36.000 m2 và nhỏ nhất là 800m2 (Hình 4.1) Thời gian nuôi trung bình 4,2 tháng (0,43), dài nhất là 5 tháng và ngắn nhất là 3,5 tháng Tuy nhiên, phần lớn hộ nuôi cho rằng thời gian nuôi cá bống kèo còn phụ thuộc rất nhiều vào mùa vụ nuôi trong năm và giá sản phẩm Đa số hộ nuôi

có kinh nghiệm nuôi dưới 4 năm (chiếm 86,67%), các hộ nuôi còn lại thì có kinh nghiệm từ 5 - 10 năm (chiếm 13,33%) Tuy nhiên, những hộ nuôi này nuôi cá theo kinh nghiệm bản thân hoặc học hỏi qua bạn bè là chính, rất ít hộ có kiến thức về kỹ thuật nuôi cá bống kèo

Hình 4.1 Ao nuôi cá bống kèo

4.1.2 Thông tin khảo sát về kỹ thuật nuôi

a Chuẩn bị và cải tạo ao

Theo Trần Đắc Định và ctv (2002), khi nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng

của cá bống kèo thì cho rằng cá bống kèo sống trong môi trường rất giàu tảo khuê và mùn bã hữu cơ, nền đáy là bùn hay bùn cát Vì thế, trước khi thả giống,

ao nuôi cá bống kèo cần được tạo một lớp bùn đáy và gây màu nước làm thức ăn cho cá giống Qua điều tra chỉ có hai hộ nuôi không tiến hành cải tạo (chiếm

Trang 26

6,67%), các hộ nuôi còn lại tiến hành cải tạo khô hoặc ướt (chiếm 93,33%) tùy mùa vụ thả nuôi

Cũng theo Dương Nhựt Long (2004) thì ao nuôi cá bống kèo phải chuẩn bị và cải tạo kỹ: diệt tạp, cây hoặc xới một lớp đất mặt mỏng, bón lót phân hữu cơ (20- 30kg/100 m2 ao) và bón vôi (10-5 kg/ 100 m2 ao) để hạ phèn, diệt mầm bệnh Tuy nhiên, theo kết quả điều tra thì phần lớn các hộ nuôi không sử dụng vôi để cải tạo (chiếm 73,33%) và nếu có sử dụng vôi thì các hộ nuôi cũng sử dụng với liều lượng không cao (25-50 kg/1000m2) vì các hộ nuôi cho rằng bón vôi làm ảnh hưởng không tốt đến cá

Theo Trần Đắc Định và ctv (2011), cá bống kèo di cư ra biển mỗi tháng 2 lần

tương ứng với 2 thời kỳ triều lên trong tháng là con nước rằm (15 ÂL) và con nước rong (30 ÂL), trong đó cá di cư với số lượng lớn và thường xuyên hơn trong thời kỳ con nước rong (30 ÂL) Chính vì thế mà khâu tu sửa bờ ao rất quan trọng hay theo kinh nghiệm từ các hộ nuôi là công việc trị mọi, ao nuôi phải đảm bảo không có một lỗ mọi nào vì chỉ cần một lỗ nhỏ cá sẽ theo đó ra ngoài gây hao hụt rất lớn Một khâu cũng khá quan trọng trong công tác chuẩn bị ao nuôi cá bống kèo là ao nuôi cần phải giăng lưới hay giăng móc câu để phòng ngừa hao hụt do thiên địch

Nhìn chung, công tác cải tạo và chuẩn bị ao của các hộ nuôi là tương đối thích hợp với yêu cầu kỹ thuật

b Thả giống

Hiện nay, việc sản xuất giống cá bống kèo nhân tạo chỉ ở bước đầu nghiên cứu, nên người nuôi hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn giống thu gom từ tự nhiên thông qua người bán trung gian là chủ yếu (chiếm 43,33%) Vì thế mùa vụ nuôi

cá bống kèo cũng chính là mùa xuất hiện con giống tự nhiên Khoảng tháng 4 (ÂL) khi bắt đầu có mưa thì cá bống kèo giống xuất hiện nhiều ở vùng cửa sông, ven viển Qua khảo sát thì mùa vụ nuôi tập trung vào khoảng tháng 4 đến tháng 6 (ÂL) (chiếm 86,67%) Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Trần

Đắc Định và ctv (2007), chỉ số thành thục (Gonadosomatic Index-GSI) của loài

cá bống kèo đạt cao nhất từ tháng 6-11 và gần như trong suốt mùa mưa (tháng 11) với 2 đỉnh cao của sự đẻ trứng là tháng 7 và 10 Mật độ thả trung bình 125,140,05 con/m2 (80-250 con/m2) Cá giống có chiều dài trung bình 2,130,55 cm (1-3 cm)

4-Do hiện nay chưa thể sản xuất giống nhân tạo cá bống kèo và cá giống có kích cỡ thích hợp khoảng 5-8 cm/con (Dương Nhựt Long, 2004) có giá cao, số lượng hạn chế nên gây trở gại cho người nuôi Theo thông tin từ những hộ nuôi được khảo sát thì cá có kích thước càng nhỏ thì giá con giống càng thấp, giá con giống trung

Trang 27

bình 213,4548,43 VNĐ (120-370 VNĐ) Mật độ cá thả nuôi là tương đối phù hợp với hình thức nuôi công nghiệp và cũng theo Dương Nhựt Long (2004), mật

độ nuôi cá bống kèo có thể lên đến 100 con/m2

nếu điều kiện thuận lợi

Qua khảo sát thì các hộ nuôi cho rằng thả nuôi với mật độ cao để bù lại lượng

cá hao hụt sau khi thả Hơn nữa nuôi mật độ cao không tốn nhiều công chăm sóc hơn nuôi mật độ thấp nhưng năng suất nuôi lại cao hơn Tuy nhiên, thả cá với mật độ cao nếu không quản lý tốt thức ăn cũng như chất lượng nước ao nuôi thì rất dễ cho mầm bệnh phát sinh và lây lan sẽ tốn nhiều chi phí thuốc và hóa chất hơn nên hiệu quả kinh tế sẽ thấp hơn Ngoài ra, tùy theo kinh nghiệm nuôi và chi phí đầu tư của từng hộ nuôi mà lựa chọn mật độ thả cá phù hợp vì mật độ nuôi sẽ ảnh hưởng nhất định đến năng suất và lợi nhuận của mô hình

Người nuôi không kiểm tra cũng như không có cách kiểm tra chất lượng cá giống một cách chính xác, mà chỉ chọn giống theo cảm quan và kinh nghiệm Qua phỏng vấn 30 hộ nuôi thì các hộ nuôi lựa chọn cá giống theo các chỉ tiêu được ghi nhận qua hình 4.2

Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ các chỉ tiêu lựa chọn cá giống được ghi nhận

Qua hình 4.2 cho thấy có 70% số hộ nuôi lựa chọn cá đen, 10% lựa chọn cá trắng Theo hộ nuôi, cá trắng là cá giống được khai thác (kích cỡ thường là 1-1,5 cm) còn lẫn khá nhiều cá tạp Sau khi thu mua từ những người khai thác, các trại ương thường cho cá vào ao đất phủ bạt nhựa hay cho vào bể xi măng, không sục khí trong 60-90 phút, các loại cá tạp như cá heo, cá đối … sẽ chết nhưng các loại

cá có sức sống cao như cá bống cát, bống sao thì vẫn sống được Thông thường khi cá đã ương qua 3-4 ngày thì có thể phân biệt rõ cá bống kèo với loại cá khác, sức sống của cá con cũng tăng lên rất nhiều, hạn chế được tỷ lệ chết khi thả giống

và lúc này cá con có kích thước lớn hơn cá trắng, có màu đen ở bụng nên người

Trang 28

nuôi gọi là cá đen Ngoài ra, một số hộ nuôi lựa chọn cá có kích thước đồng cỡ, màu sắc đồng đều là được (chiếm 20%)

c Quản lý môi trường nước

Các ao nuôi cá bống kèo thường không sử dụng hệ thống ao trữ nước và ao lắng,

do cá bống kèo dễ nuôi và chịu được sự biến động lớn về môi trường nên nước cấp cho ao trong suốt quá trình nuôi thường được lấy trực tiếp từ sông hoặc kênh thủy lợi tùy theo con nước thủy triều mà không quá trình xử lý hay lắng lọc Đặc biệt, một số hộ nuôi vào mùa mưa thì lấy nước mưa sử dụng Qua khảo sát cho thấy chỉ một số ít hộ nuôi có xử lý nước trước khi thả giống bằng một số hóa chất

rẻ tiền như iodine, dây thuốc cá hay BKC (chiếm 36,67%) Một số hộ sử dụng phân gây màu chủ yếu là phân NPK (3 kg NPK/1000m2

)

Trong quá trình nuôi, các hộ nuôi không thay nước mà chỉ cấp nước thêm vào Nguồn nước lấy trực tiếp từ sông hoặc giếng đối với các hộ nuôi vào mùa nắng.Vì theo các hộ nuôi, khi thay nước nhiều là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất cá nuôi, mỗi lần thay nước cá thường tập trung lại miệng cống và bỏ ăn 1-3 ngày Cũng theo Dương Nhựt Long (2003) thì tỷ lệ nước thay mỗi lần đối với cá nuôi cao nhất chỉ 30% để tránh gây sốc cho cá và định kỳ 7-10 ngày nên thay 1 lần Như vậy, người nuôi không thay nước mà chỉ cấp nước vào

và xử lý hóa chất Nếu người nuôi không quản lý tốt lượng thức ăn thừa và không quản lý tốt môi trường nước trong ao nuôi thì có thể tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh xuất hiện và lây lan gây ra những thiệt hại không nhỏ cho hộ nuôi.Mùa vụ thả nuôi cá bống kèo thích hợp vào mùa mưa vì có nguồn giống tự nhiên phong phú, độ mặn thấp dao động 14-18‰vào tháng năm và 5-8‰vàotháng 8 Qua khảo sát hộ nuôi thì độ mặn trung bình 16,9‰5,4‰ (6-30‰)

Theo Chen et al (2008), các loài cá thuộc họ cá bống có khả năng chịu đựng độ mặn cao Điều này được Bucholtz et al (2009), khẳng định rằng cá bống kèo là

loài rộng muối, có thể sống từ 0-50‰ Theo Phạm Thái Nguyên (2005), cá bống kèo có ngưỡng độ mặn 0‰-95‰, khả năng chịu đựng LC50-96 của nghiệm thức 10‰ và 20‰ là cao nhất và có tỷ lệ sống trung bình 80% và 73%, nghiệm thức 30‰ có tỷ lệ sống 67%, còn nghiệm thức 0‰ và 40‰ có tỷ lệ sống lần lượt là 53% và 40% Cũng theo Lê Văn Lĩnh (2009), khi nghiên cứu ảnh hưởng các độ mặn khác nhau lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá bống kèo thì kết luận rằng cá bống kèo có thể nuôi ở độ mặn từ 5‰-30‰ nhưng cá tăng trưởng tốt nhất là 10‰ (Lê Văn Lĩnh, 2009) Mực nước trung bình trong ao nuôi cá bống kèo là1,180,14 m (0,9-1,4 m) Theo Takita et al (1999), cá bống kèo con (chiều dài

chuẩn nhỏ hơn 7 cm) hiện diện phổ biến ở các vũng bùn và cửa sông ven biển Tuy cá bống kèo được thả nuôi với mật độ cao, nhưng hệ thống sục khí không

Trang 29

được áp dụng trong suốt quá trình nuôi cá Theo Aguilar et al (2000), cá thòi lòi Periophthalmodon schlosseri (một loài cá tượng tự như cá bống kèo) sống lưỡng

cư, có khả năng giữ không khí lớn ở khoang hầu và trao đổi khí qua mang Theo

Ishimatsu et al (1998), cá bống kèo có thể hô hấp tự nhiên trong nước và không

khí Khi môi trường nước thiếu oxy, cá bống kèo quạt nước qua mang từng đợt, nhưng gia tăng tần suất trao đổi khí qua mô và giảm tần suất trao đổi ngoài mô (Martin và Bridges, 1999) Điều này có thể lý giải tại sao các hộ nuôi, kể cả nuôi

cá bống kèo ở mật độ cao không sử dụng máy quạt nước trong suốt vụ nuôi (Trích bởi Trương Hoàng Minh và Nguyễn Thanh Phương, 2011)

d Thức ăn và cho ăn

Nguồn thức ăn được các hộ nuôi lựa chọn là từ đại lý (chiếm 36,67%) và từ cửa hàng (chiếm 63,33%) Theo kết quả điều tra có 2 dạng thức ăn công nghiệp được các hộ nuôi sử dụng là thức ăn chìm và thức ăn nổi, người nuôi chỉ sử dụng thức

ăn chìm khi cá còn trong tháng nuôi đầu tiên Vì theo các hộ nuôi thì khoảng sau

1 tháng thì cá bống kèo thường nhô đầu lên khỏi mặt nước nên người nuôi lựa chọn thức ăn nổi để có thể dễ dàng quản lý lượng thức ăn thừa Tần suất cho ăn trung bình 2,330,48 lần/ngày (2-3 lần/ngày) với liều lượng trung bình 28,3312,41 kg/lần (10-50kg/lần) Tuy nhiên, lượng thức ăn mà người nuôi sử dụng còn tùy thuộc vào nhu cầu của cá Hiện nay, trên thị trường có nhiều thương hiệu thức ăn nhưng việc lựa chọn thức ăn nuôi cá bống kèo còn tùy thuộc vào giá cả và nguồn cung cấp thức ăn Theo Dương Nhựt Long (2004), thức ăn công nghiệp sử dụng nuôi cá bống kèo nên có độ đạm từ 18-25% Để nuôi cá bống kèo đạt hiệu quả kinh tế cao thì các hộ nuôi cần phải lựa chọn loại thức ăn phù hợp cả về chất lượng và nguồn vốn đầu tư

e Quản lý sức khỏe cá nuôi

Với hình thức nuôi cá bống kèo công nghiệp thì đòi hỏi người nuôi phải có kỹ thuật cũng như kinh nghiệm trong việc quản lý sức khỏe cá nuôi Tuy nhiên, theo kết quả điều tra thì đa số các hộ nuôi học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè và việc sử dụng thuốc và hóa chất cũng được cá hộ nuôi sử dụng rộng rãi Nếu không quản

lý tốt lượng thức ăn thừa cũng như môi trường ao nuôi tốt thì dịch bệnh xảy ra là điều mà các hộ nuôi không thể tránh khỏi Vì thế mà các hộ nuôi đã chủ động phòng bệnh bằng cách sử dụng thuốc và hóa chất ngay trong tháng nuôi đầu tiên Qua 30 hộ nuôi được khảo sát thì 100% các hộ nuôi sử dụng kháng sinh amoxcillin ở hai dạng nguyên liệu và thương mại với liều lượng tùy thuộc vào tình hình sức khỏe cá nuôi Ngoài ra, các hộ nuôi còn sử dụng các loại thuốc khác như enrofloxacin, methionin, kidviton, men tiêu hóa, vitamin C

Trang 30

Ngoài ra, để phòng và trị bệnh thì các hộ nuôi còn định kỳ xử lý môi trường ao nuôi bằng một số hóa chất như virkon A, BKC, vi sinh phân hủy đáy, diệt khuẩn,

f Thu hoạch và hiệu quả kinh tế

Thông thường cá bống kèo nuôi sau 3,5 tháng là có thể thu hoạch nếu giá cá thương phẩm cao Theo kết quả điều tra thì người nuôi sử dụng lưới kéo để thu gom cá hoặc đặt lú theo con nước để thu số cá còn lại trong ao nuôi Số hộ nuôi thu hoạch cá nhiều lần (chiếm 90%) do cá bống kèo có thể đào hang và vùi mình trong bùn đáy Theo các hộ nuôi thì cá bống kèo là đối tượng dễ nuôi, dễ thích nghi nên không cần đầu tư trang thiết bị Vì vậy, để nuôi cá bống kèo đạt hiệu quả kinh tế cao là điều không khó Hiệu quả kinh tế nuôi cá bống kèo được trình bày ở bảng 4.1

Bảng 4.1 Hiệu quả kinh tế của người nuôi

tỷ lệ thay nước, thời gian nuôi và tỷ lệ sống Khi phân tích chuỗi giá trị cá bống

kèo (P lanceolatus) ở hai tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu, Bùi Thị Mỹ Duyên và ctv

(2010) cho rằng thời gian nuôi cá bống kèo khoảng 4 tháng với chi phí bình quân 38.200 đồng/kg cá Sau khi trừ chi phí tăng thêm, người khai thác và người nuôi đạt lợi nhuận cao nhất, kế đến là bán lẻ ở chợ và thương lái (không tính chi phí cho nhà hàng và siêu thị)

Trang 31

Như vậy, hình thức nuôi khảo sát so với năm trước có tỷ lệ rủi ro thấp hơn so với điều tra của tra Lê Thuận Nhân (2006), mô hình nuôi cá bống kèo bán thâm canh (mật độ trung bình 55 con/m2) có tỷ lệ tổng thu/tổng chi phí là 1,2; tỷ lệ hộ nuôi có lãi là 68,8%; bị lỗ là 18,7% và hòa vốn là 12,5% Tuy mật độ nuôi nhiều hơn nhưng hiệu quả kinh tế cũng chưa cao Theo kết quả điều tra từ hộ nuôi thì nguyên nhân là do giá con giống cao cũng như con giống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, các hộ nuôi không kiểm tra chất lượng giống nên tỷ lệ hao hụt con giống là rất cao; thêm vào đó là chi phí thức ăn cùng với việc sử dụng thuốc và hóa chất của các hộ nuôi tương đối cao Chính vì vậy mà hiệu quả kinh tế không cao

g Thuận lợi và khó khăn chung

Đại đa số người nuôi cho rằng cá bống kèo là đối tượng dễ nuôi, dễ thích nghi, không cần đầu tư trang thiết bị Công tác quản lý môi trường nước và thức ăn cũng không gặp khó khăn nhiều Tuy nhiên, ngoài những thuận lợi kể trên thì người nuôi cá bống kèo cũng gặp phải một số khó khăn không nhỏ sau:

- Giá con giống là nguyên nhân đầu tiên làm cho vốn đầu tư tăng cao, các

hộ nuôi thả giống với mật độ cao để bù trừ lại con giống bị hao hụt

- Giá thức ăn càng tăng cao cùng với thời gian nuôi kéo dài do thị trường tiêu thụ chưa ổn định nên chi phí đầu tư thức ăn là không nhỏ

- Hầu hết các hộ nuôi học hỏi kinh nghiệm nuôi từ bạn bè hay do tích lũy kinh nghiệm từ bản thân nên công tác quản lý sức khỏe cá nuôi cũng gặp nhiều khó khăn Các hộ nuôi sử dụng thuốc và hóa chất một cách rộng rãi trong khi các hộ nuôi chưa hiểu rõ về hiệu quả sử dụng của thuốc

4.1.3 Thông tin khảo sát về bệnh

Năm 2010, mô hình nuôi cá bống kèo công nghiệp phát triển với diện

tích: 342,22 ha, tập trung ở Bạc Liêu: 86 ha; Đông Hải: 152,5 ha; Vĩnh Lợi:

31,22 ha; Hòa Bình: 73,5ha (Hoàng Trang, TTKNKN Bạc Liêu, 2011) Tuy nhiên, cho đến nay chưa xuất hiện dịch bệnh trên đối tượng nuôi này Khi nuôi cá với mật độ cao và sử dụng nhiều thức ăn nếu hộ nuôi không quản lý tốt môi trường nước cũng như lượng thức ăn thừa thì vấn đề bệnh xảy ra là khó tránh khỏi Theo kết quả điều tra cho thấy 100% số hộ nuôi có cá xuất hiện bệnh và cũng gây ra nhiều thiệt hại cho người nuôi

Trang 32

Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ xuất hiện bệnh trên ao nuôi cá bống kèo

Theo thông tin khảo sát từ các hộ nuôi thì bệnh xảy ra trong suốt chu kỳ nuôi và các bệnh thường gặp là xuất huyết (93,33%), lở loét (56,67%), đường ruột (50%), cong thân (20%), bệnh gan ít xảy ra (16,67%) (hình 4.3) Bệnh thường xảy ra sau khoảng 2 tháng nuôi cũng như giai đoạn chuyển từ thức ăn chìm sang thức ăn nổi

Các hộ nuôi cho rằng nguyên nhân là môi trường nước dơ, thức ăn thừa nhiều,

cá bị nhiễm khuẩn, lúc thay nước, cá thường tập trung gần dòng nước chảy, qua ngày sau thì cá bắt đầu bỏ ăn Tỷ lệ hao hụt có thể lên đến 80% gây thiệt hại không nhỏ cho người nuôi

Trong quá trình nuôi, bệnh thường xảy ra thì việc sử dụng thuốc và hóa chất

để phòng và trị là điều không thể tránh khỏi Các hộ nuôi chọn cách phòng bệnh ngay từ đầu khi sử dụng kháng sinh dạng nguyên liệu và thương mại trộn với thức ăn với liều lượng 3-5 g/kg TĂ chủ yếu là kháng sinh Amoxcyllin Tuy nhiên, đa số các hộ nuôi đều sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm bản thân hay học hỏi từ bạn bè và người nuôi chưa hiểu rõ về các sản phẩm mình đang sử dụng Ngoài ra, một số hộ nuôi còn kết hợp nhiều loại kháng sinh hay các loại thuốc cho người sử dụng và khi điều trị sau 3-5 ngày kết hợp với giảm lượng thức ăn thì cá có thể khỏe lại

Ngoài việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh cho cá, các hộ nuôi còn định

kỳ sử dụng men tiêu hóa và vitamin C, khoáng để tăng cường sức đề kháng cho

cá và các loại hóa chất cải thiện môi trường ao nuôi như virkon A, BKC,…

Để điều trị bệnh xuất huyết (đốm đỏ) thì theo Dương Nhựt Long (2003) và Từ Thanh Dung (2005) có thể sử dụng một số loại kháng sinh (nếu cá còn sử dụng được thức ăn) như Doxycyline (0,5-1 g/kg TĂ), Oxytetracyline (2-4 g/kg TĂ), Nitrofurazon (2 g/kg TĂ) và bổ sung thêm vitamin C, kết hợp với xử lý môi trường bằng vôi CaCO3 (4-6 kg/100 m2 ao) hoặc KMnO4 (3-5 ppm) Hoặc khi

(%)

Trang 33

điều trị bệnh lở loét hay bệnh ghẻ thì theo Từ Thanh Dung (2005) có thể dùng kháng sinh Oxytetracylin để trị bệnh bằng cách trộn với thức ăn tinh liều lượng 50-100 mg/kg cá/ngày Cho cá ăn liên tục từ 5-7 ngày hoặc dùng thuốc tím (KMnO4) 5 ppm (5g/m3 nước) tắm thời gian 10-30 phút

Tuy cá bống kèo là đối tượng tương đối dễ nuôi nhưng nếu bệnh xảy ra thì sẽ gây thiệt hại không nhỏ và dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao Hiện nay chưa có những nghiên cứu và hướng dẫn cụ thể về phương pháp phòng trị bệnh trên cá bống kèo trong quá trình nuôi, người nuôi phòng trị bệnh cho cá theo kinh nghiệm của mỗi người và việc sử dụng thuốc là vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt là vấn đề sử dung kháng sinh

4.2 Kết quả phân tích môi trường

Trong quá trình thu mẫu cá bệnh ở nông hộ một số chỉ tiêu môi trường như pH,

NH4+/NH3, NO2-, NO3- đã được kiểm tra sơ bộ bằng bộ test Sera tại các ao nuôi Kết quả được trình bảy ở bảng 4.2

Bảng 4.2 Các chỉ tiêu môi trường được ghi nhận qua các đợt thu mẫu

ta thấy pH trung bình ở đợt I (8,050,6) cao hơn ở đợt II (7,50,33) Kết quả này phù hợp với kết quả của Lê Thuần Nhân (2006) là pH ít thay đổi dao động từ 7,33-8,67 Thời gian thu mẫu là khoảng gần cuối vụ nuôi nên hàm lượng dinh dưỡng trong ao nuôi tăng cao làm tảo phát triển mạnh dẫn đến tăng pH Theo Lawson (1995), khoảng pH lý tưởng cho nuôi thủy sản là từ 6,5-9, thấp hoặc cao hơn khoảng này thủy sản nuôi sẽ tăng trưởng chậm và pH < 4 là điểm chết acid,

pH > 11 là điểm chết kiềm (Trích dẫn bởi Nguyễn Tấn Nhơn, 2008) Với kết quả

Trang 34

ghi nhận trên thì pH vẫn nằm trong khoảng thích hợp cho cá bống kèo sinh trưởng và phát triển

4.2.2 NH 4 + /NH 3

Theo Trương Quốc Phú (2004), ammonia là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống, sinh trưởng đối với thủy sinh vật NH3 là khí độc, nồng độ gây độc đối với cá là 0,6 – 2,0 mg/l, ion NH4+ không độc

Theo Trương Quốc Phú và ctv (Trích bởi Lê Văn Lĩnh, 2009) thì tỷ lệ giữa

NH4+/NH3 sẽ tăng khi pH giảm và giảm khi pH tăng Hàm lượng NH4+/NH3(TAN) được hình thành trong thủy vực là do quá trình phân hủy của bùn bã hữu

cơ và sản phẩm bài tiết của của động vật thủy sinh, hàm lượng này cao rất thuận lợi cho sự phát triển của phiêu sinh thực vật, nhóm này lại là thức ăn tự nhiên rất tốt cho cá bống kèo Tuy nhiên, cần lưu ý đến hiện tượng ô nhiễm môi trường nuôi, khi đó hàm lượng DO sẽ giảm và hệ quả là sự tăng trưởng của cá nuôi bị hạn chế, thậm chí có thể chết hàng loạt Trong trường hợp này người nuôi cần thay nước, làm giảm lượng ammonia, cải thiện môi trường ao nuôi Qua kết quả thu mẫu hàm lượng TAN ở đợt I là 0,450,37 (0-1) và đợt II là 1,051,4 (0,5-5) Kết quả khảo sát từ thực tế trong ao nuôi tại Bạc Liêu của Lê Thuận Nhân (2006) thì hàm lượng TAN dao động từ 0,410,2 mg/l (0,17-0,83mg/l) Và theo Meade (1989) thì mức giới hạn NH4+/NH3 cho nước nuôi trồng thủy sản nói chung < 1mg/l (Trích dẫn bởi Nguyễn Tấn Nhơn, 2008) Như vậy hàm lượng TAN ở đợt I vẫn nằm trong giới hạn cho cá sinh trưởng tốt và ở đợt II thì sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến tỷ lệ sống của cá bống kèo

4.2.3 NO 2 -

Trong môi trường nuôi thủy sản nitrite là sản phẩm của quá trình nitrate hóa, hay phản ứng nitrate hóa, đây là dạng đạm gây độc đối với hầu hết động vật thủy sinh, tác dụng độc của nó đối với cá là khi kết hợp với hemoglobine của máu hình thành methemoglobine, máu cá chứa nhiều methemoglobine có màu nâu và methemoglobine thì không có khả năng kết hợp với O2 làm cá chết ngạt Mặt khác NO2 làm tăng tính mẫn cảm của cá đối với bệnh vi khuẩn Tính độc của hàm lượng nitrite giảm khi nhiệt độ và oxy hòa tan cao vì nó chuyển dạng NO3-

không độc Ở các thủy vực nước lợ hàm lượng Ca2+ và Cl- có khuynh hướng làm giảm tính độc của NO2- (Trương Quốc Phú, 2004) Qua bảng 4.3 cho thấy nồng

độ NO2- ở đợt I dao động 0,691,52 (0-5) và đợt II là 0,570,55 (0,2-2) Theo Simon and Mathew (1994), hàm lượng NO2 < 1mg/l có thể chấp nhận trong ao

nuôi cá (Trích dẫn bởi Huỳnh Trường Giang, 2003). Từ nhận định này ta thấy hàm lượng NO2- ở hai đợt thu mẫu dao động lớn và có thể gây độc cho cá bống

kèo

Ngày đăng: 20/12/2014, 15:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Ao nuôi cá bống kèo - điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.1. Ao nuôi cá bống kèo (Trang 25)
Hình 4.2.  Biểu đồ thể hiện tỉ lệ các chỉ tiêu lựa chọn cá giống đƣợc ghi nhận. - điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.2. Biểu đồ thể hiện tỉ lệ các chỉ tiêu lựa chọn cá giống đƣợc ghi nhận (Trang 27)
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ xuất hiện bệnh trên ao nuôi cá bống kèo - điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ xuất hiện bệnh trên ao nuôi cá bống kèo (Trang 32)
Hình 4.4. Cá bống kèo có dấu hiệu lờ đờ, dạt vào bờ ao - điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.4. Cá bống kèo có dấu hiệu lờ đờ, dạt vào bờ ao (Trang 35)
Bảng 4.3. Cường độ và tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên cá bống kèo qua các đợt  thu mẫu - điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu
Bảng 4.3. Cường độ và tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên cá bống kèo qua các đợt thu mẫu (Trang 36)
Hình 4.5. Những dấu hiệu bệnh lý thường gặp trên cá bống kèo bị bệnh trong ao  nuôi. (A) và (E): cá bị xuất huyết ở vây ngực, vây bụng, vây hậu môn, hai bên  thân và mặt bụng - điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.5. Những dấu hiệu bệnh lý thường gặp trên cá bống kèo bị bệnh trong ao nuôi. (A) và (E): cá bị xuất huyết ở vây ngực, vây bụng, vây hậu môn, hai bên thân và mặt bụng (Trang 37)
Hình 4.6. Động vật đơn bào ký sinh trên cá bống kèo. (A): Trùng bánh xe - điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.6. Động vật đơn bào ký sinh trên cá bống kèo. (A): Trùng bánh xe (Trang 39)
Hình 4.7. Vi khuẩn tồn tại trong mô thận cá bống kèo. (A): Hồng cầu cá khỏe  (100X). (B): Vi khuẩn phá vỡ tế bào (100X) - điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.7. Vi khuẩn tồn tại trong mô thận cá bống kèo. (A): Hồng cầu cá khỏe (100X). (B): Vi khuẩn phá vỡ tế bào (100X) (Trang 40)
Hình 4.8. Đặc điểm hình dạng khuẩn lạc  và kết quả nhuộm Gram vi khuẩn. (A)  và (B): Khuẩn lạc nhỏ tròn, trắng đục trên môi trường TSA (thêm 1,5% NaCl) - điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.8. Đặc điểm hình dạng khuẩn lạc và kết quả nhuộm Gram vi khuẩn. (A) và (B): Khuẩn lạc nhỏ tròn, trắng đục trên môi trường TSA (thêm 1,5% NaCl) (Trang 41)
1  Hình thức nuôi - điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu
1 Hình thức nuôi (Trang 46)
Hình  Thức   Cải  Tạo - điều tra tình hình xuất hiện bệnh trên cá bống kèo ở tỉnh bạc liêu
nh Thức Cải Tạo (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w