1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh khi dạy học chương “phương pháp toạ độ trong không gian ở lớp 12 trung học phổ thông hệ giáo dục thường xuyên

118 353 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng trước những nhu cầu của thời đại, nhu cầu phát triển kinh tế, giáo dục Việt Nam đang đứng trước bài toán phải đổi mới toàn diện từ mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp, phương t

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS Vương Dương Minh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ

em trong suốt thời gian làm luận văn, để luận văn được hoàn thành đúng hạn

Em xin chân thành cảm ơn phòng Đào tạo, phòng Sau đại học, thư viện Trường Đại học Tây Bắc đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian làm luận văn

Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các thầy cô giáo và các em học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn

La đã nhiệt tình, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thử nghiệm tại trung tâm

Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, người thân đã giúp

đỡ, góp ý cho luận văn của tôi

Sơn La, ngày 18 tháng 10 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Văn Mạnh

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Trang 3

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

2 Điều phải chứng minh……… đpcm

4 Giáo dục thường xuyên……… GDTX

Trang 4

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

1.Tính tích cực của tư duy học sinh trong học tập 12

1.2 Một số biểu hiện của tư duy tích cực của HS trong hoc tập môn

Toán

12

2 Làm thế nào để HS tư duy tích cực trong môn Toán ? 13

3 Một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập của

HS

14 3.1 Những thành tố cơ sở của phương pháp dạy học 14 3.2 Một số PPDH phát huy tính tích cực học tập của HS 19

3.2.2 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực 20

3.2.3 Cơ sở để lựa chọn phương pháp dạy học phát huy được tính

Trang 5

c Phương pháp dạy học tự học 26

d Phương pháp dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin 27

4 Thực trạng dạy học chương “ Phương pháp toạ độ trong không

gian ” ở lớp 12 THPT hệ GDTX ở Trung tâm GDTX Sốp Cộp - tỉnh

Chương 2: Một số biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động học

tập của học sinh khi dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong

không gian ” ở lớp 12 THPT hệ GDTX

1 Những căn cứ đề xuất biện pháp sư phạm nhằm tích cực hóa hoạt

động học tập của HS

36

2 Một số biện pháp sư phạm nhằm tích cực hóa hoạt động học tập

của HS THPT hệ GDTX khi dạy học chương “ Phương pháp tọa độ

trong không gian” lớp 12

42

2.1 Biện pháp 1: Xây dựng không khí học tập thân thiện, tình huống

học tập hấp dẫn trong lớp học ( môi trường học tập )

42

2.2 Biện pháp 2: Học sinh được đảm bảo trình độ xuất phát trước

khi học một nội dung mới

45

2.3 Biện pháp 3: Vận dụng các thành tố cơ sở của PPDH 49

3 Thiết kế một số bài soạn dạy học chương “ Phương pháp toạ độ

trong không gian ” bậc THPT hệ GDTX theo hướng tích cực hoá

hoạt động học tập của học sinh

49

3.1 Bài soạn 1, tiết 88: Hệ tọa độ trong không gian 51 3.2 Bài soạn 2, tiết 92: Luyện tập về hệ tọa độ trong không gian 58

Trang 6

3.3 Bài soạn 3, tiết 96: Phương trình mặt phẳng 62 3.4 Bài soạn 4, tiết 100: Phương trình mặt phẳng 68 3.5 Bài soạn 5, tiết 103: Bài tập phương trình mặt phẳng 74 3.6 Bài soạn 6, tiết 111: Phương trình đường thẳng trong không gian 78

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

3.1.2 Kết quả chấm các bài kiểm tra và nhận xét 105

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Đứng trước những nhu cầu của thời đại, nhu cầu phát triển kinh tế, giáo dục Việt Nam đang đứng trước bài toán phải đổi mới toàn diện từ mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học, vì thế trong đường lối xây dựng và phát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn coi sự nghiệp giáo dục là quốc sách hàng đầu, điều này được thể hiện trong Luật

giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005: “ Mục tiêu của Giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “( Điều 27: Mục tiêu giáo dục phổ thông, tr.75 )

Trước những thách thức đó đòi hỏi ngành giáo dục phải luôn luôn đổi mới về cách giáo dục, đào tạo của mình Một trong những vấn đề cần đổi mới của ngành Giáo dục đó chính là đổi mới phương pháp dạy học rộng khắp trong các nhà trường, việc đổi mới cần được thực hiện theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học, trong Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam cũng đã quy định rõ: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng năng lực tự học, rèn luyện kỹ năng vậng dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú trong học tập của học sinh ” ( Luật Giáo dục,

Chương 2, mục 2, điều 28 )

Những quy định này phản ánh nhu cầu đổi mới phương pháp giáo dục,

để giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người mới và thực trạng

Trang 8

lạc hậu chung của phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay Do vậy môn Toán nói chung và môn Toán ở trường Trung học phổ thông (THPT) đặc biệt

hệ Giáo dục thường xuyên (GDTX) nói riêng cũng đứng trước những yêu cầu cấp bách đó là đổi mới về nội dung, mục tiêu và phương pháp dạy học

1.2 Để thực hiện mục tiêu trên ngành Giáo dục đã tiến hành đổi mới sách giáo khoa (SGK) ở tất cả các cấp học, bố trí lại khung chương trình, giảm tải lượng kiến thức không cần thiết Đi đôi với việc đổi mới SGK, đổi mới chương trình là đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), nhưng đổi mới PPDH như thế nào để đạt hiệu quả? Đổi mới như thế nào để có thể tích cực hoá được hoạt động học của học sinh bởi vì vận dụng tốt các phương pháp dạy học và tổ chức các hình thức tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh

có vai trò to lớn đối với sự phát triển trí tuệ và phát triển toàn diện đối với học sinh THPT

Trong những năm học gần đây phong trào đổi mới PPDH đã được đẩy mạnh ở tất cả các cấp học và đã đạt được những thành tựu đáng kể Đối với môn Toán trong chương trình THPT hệ GDTX việc đổi mới đã diễn ra mạnh

mẽ, đã có giáo viên đã đi sâu vào việc nghiên cứu và áp dụng được PPDH tích cực vào môn Toán tuy nhiên phần lớn vẫn chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, học sinh vẫn còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức khoa học, dẫn đến chưa khởi dậy được sự hứng thú say mê học tập ở học sinh, không khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những kỹ năng của bản thân

1.3 Thực tiễn đối với bậc THPT hệ GDTX ở Sơn La cho thấy:

Đa số các huyện, thị hệ thống trường lớp đã được xây dựng, cơ sở vật chất, trang thiết bị đã được trang bị, song còn thiếu thốn chưa đáp ứng được yêu cầu dạy và học hiện nay

Trang 9

Đặc biệt ở cấp trung học phổ thông hệ Giáo dục thường xuyên đội ngũ giáo viên chưa đồng bộ, còn nhiều môn thiếu giáo viên hoặc có nhưng số lượng ít, giáo viên có trình độ sau đại học rất ít gây khó khăn trong việc trao đổi, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ Đối tượng học sinh đến trường đa số

là dân tộc thiểu số, sự nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, bên cạnh đó

sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, giao thông đi lại khó khăn, cập nhật thông tin chậm là những yếu tố ảnh hưởng đến sự nhận thức của học sinh

Việc vận dụng các PPDH tích cực của GV hệ GDTX: Do đối tượng học sinh và trình độ giáo viên chưa đồng đều nên việc áp dụng PPDH tích cực còn hạn chế, đa số giáo viên chỉ sử dụng PPDH thuyết trình, hoặc có sử dụng một số phương tiện hỗ trợ nhưng chỉ mang tính hình thức, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh trong quá trình học

1.4 Trong chương “ Phương pháp toạ độ trong không gian” ở lớp 12

hệ GDTX là một trong những nội dung cơ bản của chương trình toán học THPT hệ GDTX, những năm gần đây nội dung này thường xuyên xuất hiện trong các đề thi tốt nghiệp, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học càng cho thấy mức độ quan trọng của nội dung chương này

Chính vì vậy nếu phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh trong chương này thì sẽ giúp học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp nắm vững tri thức đó, vừa phát triển tư duy tích cực, sáng tạo chuẩn bị một năng lực thích ứng kịp thời với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết được các vấn đề nảy sinh

Do vậy mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người để xây dựng xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá với thực trạng lạc hậu của PPDH bậc THPT hệ GDTX đã đặt ra yêu cầu cấp bách là phải đổi mới PPDH trong nhà trường nói chung và THPT đặc biệt hệ GDTX nói riêng

Trang 10

Với những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Tích cực

hoá hoạt động học tập của học sinh khi dạy học chương “ Phương pháp toạ độ trong không gian ” ở lớp 12 trung học phổ thông hệ Giáo dục

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu lí luận về dạy học tích cực

3.2 Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học chương “ Phương pháp toạ độ trong không gian ” ở lớp 12 bậc THPT hệ GDTX tỉnh Sơn La

3.3 Đề xuất một số biện pháp sư phạm dạy học chương “ Phương pháp toạ độ trong không gian ” đảm bảo cho học sinh được hoạt động một cách

tích cực

3.4 Minh họa sự khả thi của các biện pháp sư phạm đã đề xuất

4 Phương pháp nghiên cứu

- Thực hiện nhiệm vụ 3.1 bằng phương pháp điều tra, quan sát

- Thực hiện nhiệm vụ 3.2 và 3.3 bằng phương pháp nghiên cứu lí luận

- Thực hiện nhiệm vụ 3.4 bằng phương pháp quan sát và thử nghiệm sư phạm

5 Giả thuyết khoa học

Nếu tạo ra được môi trường học tập thân thiện trong lớp học, đảm bảo trình độ xuất phát cho HS trước khi nghiên cứu một nội dung mới và vận dụng hiệu quả các thành tố cơ sở của PPDH thì sẽ tích cực hóa hoạt động học

Trang 11

tập của HS khi dạy học chương “ Phương pháp toạ độ trong không gian ” ở

lớp 12 THPT hệ GDTX, bởi vì các tác động đó đối với người học làm tăng chất lượng hoạt động của họ, đó là một nội dung cốt lõi đảm bảo phát huy tính tích cực học tập

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn có cấu trúc như sau:

MỞ ĐẦU

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Một số biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động học

tập của học sinh khi dạy học chương “ Phương pháp toạ độ trong không gian” ở lớp 12 bậc THPT hệ GDTX

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Tính tích cực của tư duy học sinh trong học tập

1.1 Khái niệm

Tính tích cực của tư duy học sinh ( HS) trong học tập là sự tập trung suy nghĩ, sự nỗ lực trí tuệ của HS nhằm tiếp thu những kiến thức và giải quyết những nhiệm vụ nhận thức do giáo viên đề ra

Tính tích cực của tư duy HS là điều kiện cần đảm bảo cho HS đó học tập đạt kết quả tốt Tính tích cực của tư duy ( hay tư duy tích cực ) có quan hệ với tư duy độc lập và tư duy sáng tạo được thể hiện bởi sơ đồ sau:

Tính tích cực học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan

trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền

đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tính

tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập

1.2 Một số biểu hiện của tư duy tích cực của HS trong học tập môn Toán

* Trên lớp học:

Trang 13

- HS chăm chú nghe giảng

- HS hay thắc mắc và đặt câu hỏi cho GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra

- HS có câu trả lời chất lượng cho câu hỏi của GV, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ

- Chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn…

* Ở nhà:

- Hoàn thành đầy đủ và đúng câu hỏi, bài tập do GV đặt ra

- Suy nghĩ tìm lời giải bài toán trong nhiều ngày

- Có ý thức khắc phục những nhược điểm do GV góp ý

- Có ý thức tìm tòi phương pháp học tập hiệu quả cho bản thân và đảm bảo một số nguyên tắc chung của hoc tập hiệu quả như: Nắm vững lý thuyết trước khi làm bài tập, vận dụng điều đã hoc vào thưc tiễn, lật đi lật lại môt vấn đề

* Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:

+ Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn… + Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề…

+ Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu

2 Làm thế nào để HS tƣ duy tích cực trong môn Toán ?

Để học sinh tích cực trong học tập trước hết thầy giáo phải tạo ra một môi trường học tập vui vẻ, thoải mái, làm cho học sinh hứng thú, phấn khởi trong học tập, phải làm cho học sinh thấy được cái hay cái đẹp, cái ý nghĩa trong từng bài toán, khi học sinh đạt được tri thức người thầy cần khuyến khích, động viên kịp thời để khích lệ tinh thần học tập của các em

Trang 14

Mặt khác để phát huy tinh thần học tập của các em thầy giáo cần thiết

kế tổ chức các hoạt động học tập sao cho người học được tự mình khám phá, tìm ra kiến thức, muốn vậy người thầy cần để học sinh thấy rõ được nhiệm

vụ cần giải quyết, tuy nhiên nhiệm vụ đặt ra cần phù hợp với trình độ nhận thức đảm bảo mức độ vừa phải không quá cao

Để học sinh tích cực, GV cần tạo ra những tình huống, bài toán ẩn chứa nhiều phương pháp giải, hoặc ẩn chứa phương pháp giải độc đáo để học sinh khám phá, chính những hoạt động này sẽ giúp học sinh bộc lộ được tiềm năng sáng tạo của mình

Bên cạnh đó, GV cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, qua đó động viên, khuyến khích, nhắc nhở…cũng là biện pháp phát huy tính tích cực của HS, điểm số và lời khen ngợi là công cụ để thực hiện biện pháp này

Ngoài ra trong mỗi bài học giáo viên cần tạo ra những nhiệm vụ để HS

về nhà tự giải quyết, điều này sẽ giúp các em tự mình khám phá, tự mình giải quyết vấn đề để tăng cường tính tự lực của HS, bởi vì ở nhà là khoảng thời gian không có GV bên cạnh như ở trên lớp

3 Một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập của

HS

3.1 Những thành tố cơ sở của phương pháp dạy học

3.1.1 Hoạt động của HS trong học tập môn toán

Theo Nguyễn Bá Kim ( Phương pháp dạy học môn Toán – Trang 97 ) nội dung dạy học có mối liên hệ mật thiết với hoạt động của con người, đó là một biểu hiện của mối liên hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học

Nội dung môn Toán ở trường phổ thông liên hệ mật thiết với những hoạt động trí tuệ như: Nhận dạng và thể hiện, những hoạt động toán học phức

Trang 15

hợp, những hoạt động trí tuệ phổ biến trong toán học, những hoạt động trí tuệ chung và những hoạt động ngôn ngữ

* Nhận dạng và thể hiện:

- Nhận dạng một khái niệm: Là phát hiện xem một đối tượng cho trước

có thỏa mãn khái niệm đó hay không

+ Thể hiện một khái niệm: Là tạo một đối tượng thỏa mãn khái niệm

đó

- Nhận dạng một định lí: Là xem xem một tình huống cho trước có ăn

khớp với định lí đó hay không

+ Thể hiện một định lí: Là xây dựng một tình huống ăn khớp với định lí cho trước

- Nhận dạng một phương pháp: Là phát hiện xem một dãy tình huống

có phù hợp với các bước thực hiện phương phá đó hay không

+ Thể hiện một phương pháp: Là tạo một dãy tình huống phù hợp với các bước của phương pháp đã biết

* Những hoạt động toán phức hợp: chứng minh, định nghĩa, giải

toán thường xuất hiện nhiều lần, do vậy cho HS tập luyện những hoạt động này sẽ làm cho họ nắm vững những nội dung toán học và phát triển kỹ năng, năng lực tương ứng

* Những hoạt động trí tuệ phổ biến trong toán học: lật ngược vấn đề,

xét tính giải được, phân chia trường hợp

* Những hoạt động trí tuệ chung: Phân tích, tổng hợp, so sánh, xét tính

tương tự, trừu tượng hóa, khái quát hóa

* Những hoạt động ngôn ngữ: Được thực hiện khi họ được yêu cầu

phát biểu, giải thích bằng lời lẽ của mình

3.1.2 Những thành tố cơ sở của PPDH

Trang 16

- Học tập được diễn ra trong hoạt động và bằng hoạt động của HS, vì vậy nói đến tính tích cực học tập là nói đến tính tích cực hoạt động của HS

- Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những hoạt động nhất định đó

là các hoạt động được tiến hành trong quá trình hình thành và ứng dụng tri thức bao hàm trong nội dung đó, khi đó ta còn nói hoạt động tương thích với nội dung

- Phát hiện những hoạt động liên hệ với nội dung là vạch ra được một con đường để người học chiếm lĩnh nội dung đó và đạt mục tiêu dạy học khác, đồng thời cũng chỉ rõ mục tiêu dạy học nội dung đó và cách thức kiểm tra xem mục tiêu dạy học đề ra đạt đến mức độ nào

- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt mục đích dạy học, trong phương pháp dạy học, điều quan trọng của PPDH là khai thác những hoạt động liên hệ với mỗi nội dung làm cơ sở cho việc tổ chức quá trình dạy học để đạt được những mục tiêu đề ra

Để tổ chức cho HS hoạt động có hiệu quả cần thực hiện một số yêu cầu phản ánh những thành phần tâm lí của hoạt động Những yêu cầu đó là cơ sở

để hình thành PPDH mà ta gọi là những thành tố cơ sở của PPDH hay những

tư tưởng chủ đạo để khai thác hoạt động trong một nội dung dạy học Sau đây

là nội dung của các thành tố cơ sở của PPDH:

Thứ nhất: Cho HS thực hiện và tập luyện những hoạt động và hoạt động thành phần tương thích với nội dung và mục đích dạy học

Thứ hai: Gợi động cơ cho các hoạt động học tập

Gợi động cơ hoạt động là làm cho HS có ý thức về ý nghĩa của hoạt động và của đối tượng hoạt động Gợi động cơ không chỉ lúc bắt đầu dạy một tri thức mà phải xuyên suốt quá trình dạy học, vì vậy gợi động cơ hoạt động

Trang 17

thường được chia thành: Gợi động cơ mở đầu, gợi động cơ trung gian và gợi động cơ kết thúc

Thứ ba: Dẫn dắt HS kiến tạo tri thức, đặc biệt là tri thức phương pháp như phương tiện và kết quả hoạt động

Thứ tư : Phân bậc hoạt động làm căn cứ điều khiển quá trình dạy học

Phân bậc hoạt động là xác định mức độ yêu cầu thể hiện ở hoạt động

mà học sinh cần đạt hoặc có thể đạt được lúc cuối cùng hoặc ở thời điểm trung gian

Phân bậc hoạt động dùng để điều khiển quá trình dạy học, thể hiện ở các phương diện sau:

- Để chính xác hóa mục đích dạy học

- Để tuần tự nâng cao yêu cầu

- Để tạm thời hạ thấp yêu cầu

- Để dạy học phân hóa

Bốn thành tố trên theo Nguyễn Bá Kim ( Phương pháp dạy học môn Toán – trang 126 ) có thể phát biểu ngắn gọn như sau:

- Hoạt động và hoạt động thành phần

- Gợi động cơ hoạt động

- Tri thức và tri thức phương pháp

- Phân bậc hoạt động

Những thành tố trên được coi là những thành tố cơ sở của PPDH bởi vì trước hết bản thân chúng là những thành tố của PPDH mà dựa vào đó ta có thể tổ chức cho học sinh hoạt động một cách tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo, đảm bảo sự phát triển nói chung và kết quả học tập nói riêng, hơn nữa chúng được coi là những thành tố cơ sở của PPDH bởi vì mọi PPDH đều được xây dựng trên đó ( Ví dụ như một số PPDH được đề cập đến trong mục 3.2.4 của luận văn này )

Trang 18

3.1.3 Những yếu tố đa dạng của hoạt động học tập

- Hoạt động học tập của HS diễn ra thông qua 7 yếu tố đa dạng như: Nghe, nói, nhìn, nghĩ, làm, đọc, viết

- Quy trình thiết kế các yếu tố đa dạng:

Bước 1: Xác định những hoạt động cho HS tập luyện tương thích với

mục tiêu nội dung dạy học

Bước 2: Soạn thảo hệ thống câu hỏi, bài tập vừa đủ tư cách là giá mang

các hoạt động ở bước 1

Bước 3: Thiết kế những yếu tố đa dạng của hoạt động học tập ứng với

câu hỏi, bài tập ở bước 2

Ví dụ 1: Thiết kế các yếu tố đa dạng khi dạy học định lí: Trong không

gian Oxyz cho mặt phẳng (α) đi qua điểm M0(x0; y0; z0 ) và nhận ( ; ; )n A B C

làm véctơ pháp tuyến, chứng minh điều kiện cần và đủ để điểm M(x; y; z) thuộc mặt phẳng ( ) là: A x( x0)B y(  y0)C z( z0)0

GV: Vẽ hình và giải thích rồi đặt câu hỏi: Em hãy cho biết quan hệ giữa

Trang 19

GV: Viết lại đẳng thức trên dưới dạng tọa độ ?

"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa

trái với tiêu cực

PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động

Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích

Trang 20

ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Như vậy, việc dùng thuật ngữ

"Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động"

3.2.2 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực

a Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức

đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực

tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức

mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng

b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét

Trang 21

vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng

Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn

luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học

thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến

từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay

trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên

c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận

sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập

Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường

sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo

Trang 22

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội

Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh

d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng

và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh

Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã

Trang 23

học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế

Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn

là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học

Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành

người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ

để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy

và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng,

tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên

3.2.3 Cơ sở để lựa chọn phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực học tập của học sinh

Có rất nhiều PPDH, mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm nhất định Do vậy trong quá trình dạy học giáo viên không thể áp dụng một phương pháp dạy học thuần tuý mà cần kết hợp các phương pháp dạy học khác nhau để phát huy được tính tích cực của học sinh

Điều này giáo viên cần dựa vào một số cơ sở sau để lựa chọn phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh:

- Lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào tâm sinh lý của người học, trình độ của người học

Trang 24

- Lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào đặc tính riêng của môn học

- Lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào điều kiện của nhà trường

- Lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào nhiệm vụ của bài học

- Lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào đối tượng học

3.2.4 Một số PPDH phát huy tính tích cực học tập của HS

a Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

* Những khái niệm cơ bản trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn

+ Gợi nhu cầu nhận thức

+ Khơi dậy niềm tin ở khả năng của bản thân

- Đặc điểm của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Theo Nguyễn Bá Kim ( Phương pháp dạy học môn Toán – trang 189 ) thì dạy học PH&GQVĐ có những đặc điểm sau đây:

+ Học sinh được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải được thông báo dưới dạng tri thức có sẵn

+ Học sinh được tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo tận lực huy động tri thứ và khả năng của mình để phát PH&GQVĐ chứ không phải chỉ nghe thầy giảng một cách chủ động

+ Mục tiêu dạy học không chỉ làm cho học sinh lĩnh hội kết quả của quá trình PH&GQVĐ, mà còn ở chỗ làm cho họ phát triển khả năng tiến hành những quá trình như vậy, nói cách khác học sinh được học bản thân việc học

* Những hình thức dạy học PH&GQVĐ

Trang 25

- Tự nghiên cứu vấn đề: Giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề, học sinh

tự mình PH&GQVD

- Vấn đáp PH&GQVĐ: Học sinh làm việc không hoàn toàn độc lập mà

có sự dẫn dắt của thầy khi cần thiết thông qua hệ thống câu hỏi của thầy và sự trả lời, hoạt động của HS

- Thuyết trình PH&GQVĐ: Học sinh tự mình PH&GQVĐ và trình bày suy nghĩ của mình để giải quyết vấn đề

* Những cách thông dụng để tạo tình huống gợi vấn đề

- Dự đoán nhờ nhận xét trực quan và thử nghiệm

- Lật ngược vấn đề

- Xét tương tự hoá, khái quát hoá

- Tìm sai lầm, phát hiện nguyên nhân sai lầm và sửa chữa sai lầm

* Thực hiện dạy học PH&GQVĐ

Quá trình dạy học PH&GQVĐ có thể chia thành các bước sau đây, trong đó bước nào, khâu nào do học sinh tự làm hoặc do thầy gợi ý hoặc chỉ theo dõi thầy trình bày là tuỳ thuộc vào cấp độ nhận thức của HS

Bước 1: Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề

Bước 2: Tìm giải pháp

Bước 3: Trình bày giải pháp

Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp

b Phương pháp dạy học hợp tác

Theo Nguyễn Bá Kim - Bùi Huy Ngọc ( Phương pháp dạy học đại cương môn Toán – trang 157 ) dạy học hợp tác theo nhóm là một thuật ngữ để chỉ cách dạy học trong đó học sinh trong lớp được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp, được giao nhiệm vụ và khuyến khích thảo luận, hướng dẫn hợp tác làm việc với nhau giữa các thành viên để cùng đạt được kết quả chung là hoàn thành nhiệm vụ của cả nhóm

Trang 26

Hoạt động dạy học hợp tác theo nhóm có thể chia thành các bước sau:

- Bước 1: Làm việc chung cả lớp

Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức, tổ chức nhóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn cách làm việc cho nhóm

- Bước 2: Hoạt động nhóm

Từng nhóm làm việc riêng, giáo viên giám sát sự hoạt động của nhóm

và của từng cá nhân học sinh

- Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước cả lớp

Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả, thảo luận chung, giáo viên hoặc các nhóm khác cùng đánh giá, GV tổng kết và thực hiện nhiệm vụ tiếp theo

đó giáo viên cần cung cấp cho HS những kỹ năng cần thiết để HS thực hiện phương pháp tự học, những kỹ năng cần thiết đó là:

- Đào sâu suy nghĩ, biết khai thác, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tổng quát hoá

- Tự tổng kết các vấn đề

- Biết ghi chép sau khi đọc tài liệu

- Biết tổng hợp và trình bày giải quyết vấn đề sau khi đã tìm hiểu

Trang 27

Trên lớp GV có thể hướng dẫn, rèn luyện cho HS phương pháp tự đọc bằng những hoạt động sau:

- Xác định rõ mục tiêu: Đọc nội dung này để giải quyết vấn đề gì? Trả lời cầu hỏi nào?

- Hoạt động làm mẫu: GV hướng dẫn HS cách đọc, cách ghi chép

- Rèn luyện các kỹ năng cần thiết của phương pháp tự học

Để hướng dẫn HS tự đọc, GV cần yêu cầu HS đọc một đoạn trong SGK

để trả lời câu hỏi đặt ra của GV, muốn vậy GV phải chuẩn bị trước các câu hỏi, nếu các câu hỏi đặt ra trước khi đọc thì có tính áp đặt, buộc HS phải đọc

và có tính hướng đích cho người đọc Nếu cầu hỏi đặt ra sau khi đọc thì đề cao tính tự giác chủ động, tích cực cho HS hơn, nhưng kết quả đọc có thể thấp hơn

d Phương pháp dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

Đặc trưng của toán học là trừu tượng hoá cao độ và có tính lôgic chặt chẽ, trong dạy học toán ngoài suy diễn lôgic phải chú trọng nguyên tắc trực quan quy nạp, trực giác toán học do vậy việc sử dụng các phương tiện trực quan sẽ giúp các em tiếp cận tri thức một cách chủ động hơn

Hiện nay, bài giảng hiện đại đang có khuynh hướng sử dụng ngày càng nhiều các phương tiện công nghệ thông tin, làm tăng sức hấp dẫn và hiệu quả Trước đây, để minh họa nội dung bài giảng, giáo viên chỉ có thể sử dụng lời nói giàu hình tượng và gợi cảm kèm theo những cử chỉ, điệu bộ diễn tả nội tâm hoặc có thêm bộ tranh giáo khoa hỗ trợ Ngày nay có cả một loạt phương tiện để giáo viên lựa chọn sử dụng như: máy chiếu, băng ghi âm, băng ghi hình, đĩa CD, phần mềm máy vi tính Tiến tới mọi giáo viên phải có khả năng soạn bài giảng trên máy vi tính được nối mạng, biết sử dụng đầu máy đa năng để thực hiện bài giảng của mình một cách sinh động, hiệu qủa, phát huy cao nhất tính tích cực học tập của học sinh

Trang 28

Đối với nghề dạy học, tiêu chí của bài học không giống như những bài thuyết trình, những bản báo cáo Đối tượng dạy học lại hoàn toàn không như các đối tượng Hội nghị, Hội thảo Cho nên, việc chuẩn bị một bài giảng có ứng dụng CNTT cần đảm bảo không những tính nội dung (khoa học) mà còn phải đặt mạnh tiêu chí về tính sư phạm

Tính sư phạm ở đây bao gồm: sự phù hợp về mặt tâm sinh lí học sinh, tính thẩm mĩ của trang trình chiếu, sự thể hiện nhuần nhuyễn các nguyên tắc dạy học và các phương pháp dạy học Vì vậy, người giáo viên muốn sử dụng CNTT để dạy học có hiệu quả thì không những phải có kiến thức tối thiểu về các phần mềm (không phải chỉ đơn thuần là “viết” chữ lên các trang trình chiếu) mà còn cần phải có ý thức sư phạm, kiến thức về lí luận dạy học và về các PPDH tích cực, sau đó mới là sự linh hoạt và sáng tạo trong thiết kế các trang trình chiếu sao cho hấp dẫn một cách có ý nghĩa

* Một số phần mềm ứng dụng trong dạy học Toán

Việc sử dụng phần mềm dạy học toán làm phương tiện hỗ trợ một cách hợp lý sẽ cho hiệu quả cao Phần mềm mô phỏng những chuyển động hình học, chuyển động điểm, sự biến thiên của đồ thị hàm số để cho người học

có thể quan sát được đây là điều mà các phương tiện khác khó có thể thực hiện được

Đối với HS chưa khá giỏi toán, các bài toán hình học còn trừu tượng, khó hiểu Vì vậy, học hình học với sự trợ giúp của hình ảnh trực quan được

mô phỏng trên phần mềm là cách học rất tốt

Với HS giỏi toán, phần mềm trên máy tính tạo hứng thú học tập, giúp sáng tạo những bài toán hay, phát huy được tính tích cực chủ động trong học toán, góp phần phát triển trí tuệ, bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho HS Môn Toán cần chú trọng các phần mềm mô phỏng, minh họa các chuyển

Trang 29

động hình học, giúp HS tự tìm tri thức mới, tự ôn tập, tự luyện tập theo nội dung tùy chọn, theo các mức độ tùy theo năng lực của từng HS

Các phần mềm thường dùng là: Geometer’s Sketchpad, Cabri Geometry, Maple, Mindmap (vẽ bản đồ tư duy) hỗ trợ hiệu quả dạy học môn Toán Chúng giúp HS có thể tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi kiến thức mới, thiết kế những bài toán hay, bài toán vui phát huy tính sáng tạo của HS Ngoài ra phần mềm dùng trong trình chiếu không thể thiếu là Microsoft Office PowerPoint, đây là chương trình hỗ trợ tốt cho việc trình chiếu các văn bản, video giúp tăng hứng thú của HS khi tham gia học tập

4 Thực trạng dạy học chương “ Phương pháp toạ độ trong không gian” ở lớp 12 THPT hệ GDTX ở Trung tâm GDTX Sốp Cộp - tỉnh Sơn

La

4.1 Đặc điểm của học sinh Trung tâm GDTX Sốp Cộp - tỉnh Sơn La

* Thống kê học sinh đang theo học năm học 2013 – 2014 ( Học kỳ II )

Trang 30

* Thống kê kết quả học kì I năm học 2013 – 2014

Từ bảng thống kê: Số liệu trên có thể thấy đối tượng học sinh khối 12

đang học tại Trung tâm GDTX Sốp Cộp ( huyện đặc biệt khó khăn) chủ yếu là

dân tộc H’Mông và dân tộc Thái, đa số các em đều gặp khó khăn trong ngôn ngữ phổ thông, điều này ảnh hưởng lớn tới việc nhận thức cũng như tham gia các hoạt động học tập

Kết quả học tập của HS cho thấy tỉ lệ học sinh giỏi không có, học sinh khá ít và tỉ lệ học sinh yếu, kém cao, đặc biệt HS khối 12 tỉ lệ yếu, kém về học lực chiếm đa số, điều này phần nào cho thấy HS chưa tích cực trong học tập, chưa có động cơ học tập tốt dẫn đến kết quả học tập còn yếu

Đặc trưng của toán học là trừu tượng hoá cao độ và có tính lôgic chặt chẽ, trong dạy học toán ngoài suy diễn lôgic phải chú trọng nguyên tắc trực quan quy nạp, trực giác toán học do vậy đòi hỏi các em phải có điểm xuất phát phù hợp với nội dung học tập, tuy nhiên qua quan sát và trải nghiệm chúng tôi thấy:

Trang 31

Ví dụ 2: Khi giải bài toán tìm tọa độ điểm H là hình chiếu vuông góc

của điểm A(1;2;3) xuống mặt phẳng (): x – 2y + z + 2 = 0 các em thường khó hình dung điểm H ở vị trí như thế nào? Phải xác định những đại lượng nào để tìm ra điểm H

Hoặc đã biết hướng giải nhưng thường khó trình bày vấn đề một cách logic

+ Khả năng vận dụng kiến thức một cách sáng tạo, linh hoạt kém, nặng

+ Các tình huống học tập chưa hấp dẫn, chưa thu hút được HS tham gia vào học tập nên hiệu quả học tập chưa cao

+ PPDH của GV chưa phát huy được tính tích cực của HS, HS chưa tham gia nhiệt tình vào bài giảng của GV

- Ở nhà:

+ Do điều kiện tập quán địa phương cha mẹ thường ít quan tâm đến việc học tập của con nên chưa chú trọng đến thời gian học tập của HS

Trang 32

+ Nguồn tài liệu tham khảo còn ít nên HS khó giải quyết vấn đề khi gặp bài toán khó

+ Ý thức học tập của HS còn yếu

+ Các em thường khó tự mình giải quyết bài tập ở nhà do vậy nội dung được giáo viên giao thường không hoàn thành

Mặt khác kết quả học tập học kỳ I tỉ lệ học sinh Khá còn quá ít, đặc biệt

là học sinh khối 12, điều đó cho thấy việc học tập của các em hiệu quả chưa cao

4.2 Tình hình dạy học

a Phiếu điều tra từ giáo viên

Chúng tôi đã xây dựng mẫu phiếu điều tra từ giáo viên tại đơn vị trung tâm GDTX huyện Sốp Cộp - Sơn La, nhằm nắm bắt những thuận lợi và khó khăn của giáo viên toán đã dạy nội dung chương " Phương pháp toạ độ trong

không gian " ( Mẫu phiếu điều tra xin xem phần phụ lục )

Những ý kiến của giáo viên tổng hợp lại như sau:

* Thuận lợi:

+ Đa số giáo viên đều nhiệt tình tâm huyết với nghề dạy học

+ Phương tiện phục vụ cho việc dạy học được nhà trường quan tâm đầu

* Khó khăn:

+ Mặc dù nội dung phương pháp toạ độ trong mặt phẳng đã được học nhưng thời gian học đã lâu nên các em thường khó hình dung, khó tiếp cận và giải quyết vấn đề đặt ra của GV

+ Đa số các em đều không nhớ đến kiến thức cũ do đó giáo viên thấy khó khi vận dụng vào trong bài giảng

+ Đội ngũ giáo viên trong trung tâm ít lại thay đổi liên tục dẫn đến các

em khó khăn khi tiếp cận với phương pháp giảng dạy của từng giáo viên

Trang 33

+ Kỹ năng vận dụng vào giải bài tập của các em còn yếu

+ Kỹ năng vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học của một số GV còn yếu, đặc biệt sử dụng CNTT vào dạy học

* Những ý kiến đề xuất của giáo viên:

+ Khi dạy về nội dung chương cần tăng cường các hình vẽ mô phỏng

để các em dễ hình dung hơn

+ Trong quá trình giảng dạy các giáo viên thường thấy gặp khó khăn khi tổ chức các hoạt động học tập để gây hứng thú cho học sinh, để học sinh hiểu kiến thức vận dụng vào làm bài tập

+ Giáo viên cần chú ý đặt câu hỏi gợi mở sao cho học sinh từ từ nhận ra được kiến thức, hình thành phương pháp, đồng thời chú ý vận dụng các thành

tố cơ sở của phương pháp dạy học vào giảng dạy

+ Hầu hết các GV đều cho rằng tổ chức các hoạt động cho HS trong giờ dạy là điều cần thiết Đây là việc trọng tâm để kích thích sự chủ động, tích cực, sáng tạo của HS và giúp HS hiểu bài tốt hơn

Tuy nhiên, đa số các GV vẫn còn lúng túng trong việc vận dụng các PPDH tích cực vào dạy học Toán

b Phiếu điều tra từ học sinh

Chúng tôi xây dựng mẫu phiếu điều tra từ HS nhằm nắm bắt những ý kiến, phản hồi của các em về mức độ khó của nội dung chương, các kỹ năng cần đạt, thời lượng chương trình, về phương pháp giảng dạy của giáo viên (

Mẫu phiếu điều tra xin xem phần phụ lục )

Có 85 học sinh lớp 12 trung tâm GDTX Sốp Cộp tham gia điều tra Những ý kiến của học sinh tổng hợp lại như sau:

+ Nội dung chương này phải cần đến kiến thức của của chương

"Phương pháp toạ độ trong mặt phẳng" ở lớp 10 nhiều, tuy nhiên do thời gian

đã lâu nên đa số đều không nhớ được kiến thức cũ

Trang 34

+ Học sinh khó vận dụng kiến thức đã học vào làm bài tập

+ Nhiều đối tượng học sinh rất yếu nên cần có câu hỏi phù hợp

+ Khi giảng dạy GV nên sử dụng mô hình trực quan để HS dễ tưởng tượng

+ Trong lớp các em thường thấy không khí học tập nặng nề nên rất khó tiếp cận tri thức

+ Hệ thống kiến thức cũ GV cần nhắc lại để đảm bảo tiếp cần kiến thức mới

+ Trong quá trình giải bài tập các em thường hãy mắc sai lầm như: nhầm lẫn véctơ chỉ phương với véctơ pháp tuyến, nhầm lẫn điểm đường thẳng ( mặt phẳng ) đi qua và tọa độ véctơ chỉ phương (véctơ pháp tuyến), khó tưởng tượng về các vị trí tương đối giữa hai đường thẳng, hai mặt phẳng, đường thẳng và mặt phẳng trong không gian

Qua nghiên cứu lí luận và tình hình thực tiễn chúng tôi thấy cần thiết và

có thể nghiên cứu vận dụng việc tổ chức tích cực hoá hoạt động của học sinh

khi dạy học chương “ Phương pháp toạ độ trong không gian” cho học sinh

lớp 12 THPT hệ GDTX

c Nhận xét chung

Qua việc phân tích về thực trạng cơ sở vật chất và tình hình dạy, học Toán tại đơn vị chúng tôi thấy rằng chất lượng dạy và học môn Toán bậc THPT hệ GDTX còn thấp, phần lớn là do các nguyên nhân:

* Nguyên nhân chủ quan:

- Do huyện Sốp Cộp – Sơn La là huyện đặc biệt khó khăn, phương tiện, đường xá đi lại, quan hệ, giao lưu buôn bán với các huyện trong tỉnh còn hạn chế, do vậy đa số các em đều là con em dân tộc, kinh tế khó khăn nên điều kiện học tập bị hạn chế rất nhiều

Trang 35

- Một phần do quan niệm của các bậc cha mẹ người dân tộc thiểu số cho rằng việc học tập của các em không có tác dụng phục vụ cho cuộc sống sau này nên học tập không quan trọng từ đó không để ý đến vấn đề học tập của con em

- Đội ngũ giáo viên tại đơn vị còn ít dẫn đến việc trao đổi phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa được thường xuyên

- Cơ sở vật chất trang bị cho dạy và học chưa đáp ứng đủ

* Nguyên nhân khách quan:

- Do điều kiện kinh tế còn khó khăn, các em ít được tiếp xúc với các phương tiện hiện đại, ít được giao lưu với các hoạt động xã hội nên vốn ngôn ngữ của HS đặc biệt là ngôn ngữ phổ thông còn hạn chế

- HS miền núi sống hiền lành, thật thà, giản dị nhưng rụt rè bởi tính tự

Kết luận chương 1

Trong chương này, chúng tôi đã trình bày về tính tích cực của HS trong học tập, một số PPDH phát huy được tính tích cực học tập của HS và thực

trạng dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” ở lớp 12

THPT hệ GDTX Đây là những tiền đề để chúng tôi đề xuất một số biện pháp nhằm tích cực hóa họat động học tập của HS ở chương 2

Trang 36

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC

TẬP CỦA HỌC SINH KHI DẠY HỌC CHƯƠNG “ PHƯƠNG PHÁP

TOẠ ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN ” Ở LỚP 12 THPT HỆ GDTX

1 Những căn cứ đề xuất biện pháp sư phạm nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS

1.1 Căn cứ vào lí luận về tính tích cực của tư duy HS trong học tập như

đã trình bày ở chương 1

1.2 Căn cứ vào thực trạng dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” ở lớp 12 THPT hệ GDTX tỉnh Sơn La

Đối tượng học sinh khối 12 đang học tại Trung tâm GDTX Sốp Cộp

( huyện đặc biệt khó khăn) chủ yếu là dân tộc H’Mông và dân tộc Thái, đa số

các em đều gặp khó khăn trong ngôn ngữ phổ thông, điều này ảnh hưởng lớn tới việc nhận thức cũng như tham gia các hoạt động học tập

Các em thường khó tiếp cận kiến thức mới do hổng kiến thức cũ nhiều; không khí học tập còn nặng nề ảnh hưởng không nhỏ tới việc học tập; các em khi học toán thường khó hình dung, khó diễn đạt, khó trình bày vấn đề logic; khi gặp bài toán không giống dạng cơ bản các em thường khó tìm ra phương hướng giải; nguồn tài liệu tham khảo còn ít nên HS khó giải quyết vấn đề khi gặp bài toán khó

1.3 Căn cứ vào yêu cầu khi dạy hoc chương “ Phương pháp toạ độ trong không gian ” ở lớp 12 THPT hệ GDTX

Ngày 7/11/2006 Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành Quyết định số:50/2006/QĐ-BGDĐT ban hành chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông, trong đó yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng của nội

dung " Phương pháp toạ độ trong không gian " như sau:

Trang 37

vectơ.Toạ độ của điểm

Khoảng cách giữa hai

điểm.Phương trình mặt

cầu Tích vô hướng của

hai véctơ

Kiến thức:

- Biết khái niệm hệ

toạ độ trong không gian, toạ độ của một véctơ, toạ độ của điểm, khoảng cách giữa hai điểm

- Biết được phương trình mặt cầu

Kỹ năng:

- Tính được toạ độ của tổng, hiệu hai véctơ; tích véctơ với một số; tính được tích vô hướng của hai véctơ

- Tính được khoảng cách giữa hai điểm

có toạ độ cho trước

Ví dụ: Cho tam giác ABC

biết 10;5;3)

A(2;-1;3),B(4;0;1),C(-a Tính độ dài cạnh AB,AC

và trung tuyến AM

b Tính tích vô hướng

AB AC

Ví dụ: Cho

(1; 1;1), (4;0; 1),(3;2; 1)

Trang 38

- Xác định được toạ

độ tâm và bán kính mặt cầu

- Viết được phương trình mặt cầu

a

x       y z x y z b

b Đi qua bốn điểm O(0;0;0), A(2;2;3),B(1;2;-4),C(1;-3;1)

Điều kiện để hai mặt

phẳng song song, vuông

- Biết được phương trình tổng quát của mặt phẳng, điều kiện vuông góc hoặc song song của hai mặt phẳng, công thức tính khoảng cách từ một điểm đến một mặt phẳng

Kỹ năng:

- Xác định được

Chú ý:

Có thể giới thiệu tích có hướng của hai véctơ khi nói

về véctơ pháp tuyến của mặt phẳng

Ví dụ:

Cho a(1;2;3),b(5; 1;0)

Xác định véctơ c sao cho

ca và cb

Trang 39

véctơ pháp tuyến của mặt phẳng

- Viết được phương trình mặt phẳng và tính được khoảng cách từ một điểm đến một mặt phẳng

phẳng đi qua điểm A(-1;0;5)

và song song với mặt phẳng: 3x - 7y +11z - 9 = 0

Ví dụ: Viết phương trình mặt

phẳng đi qua hai điểm A(3;1;-1),B(2;-1;4) và vuông góc với mặt phẳng:

2x - y +3z -1 = 0

Ví dụ: Tính khoảng cách từ

điểm A(1;1;3) đến mặt phẳng: x+ 5y -z + 1 = 0

3 Phương trình đường

thẳng

Phương trình tham số

của đường thẳng Điều

kiện để hai đường thẳng

chéo nhau, cắt nhau,

song song hoặc vuông

góc với nhau

Kiến thức:

Biết được phương trình tham số của đường thẳng, điều kiện để hai đường thẳng chéo nhau, cắt nhau, song song hoặc vuông góc với nhau

Trang 40

Kỹ năng:

- Viết được phương trình tham số của đường thẳng

- Xác định được vị trí tương đối của hai đường thẳng khi biết phương trình của hai đường thẳng đó

1 2

1 34

Ngày đăng: 20/12/2014, 08:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chúng (2000), Phương pháp dạy học toán học ở trường phổ thông trung học cơ sở, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học toán học ở trường phổ thông trung học cơ sở
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
2. Lê Hồng Đức – Lê Hữu Trí (2011), Phương pháp giải toán hình học giải tích trong không gian, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giải toán hình học giải tích trong không gian
Tác giả: Lê Hồng Đức – Lê Hữu Trí
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
3. Trần Văn Hạo ( Tổng chủ biên ), Nguyễn Mộng Hy ( Chủ biên ), Khu Quốc Anh - Trần Đức Huyên (2012 ), Hình học 12, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình học 12
Tác giả: Trần Văn Hạo, Nguyễn Mộng Hy, Khu Quốc Anh, Trần Đức Huyên
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
4. Nguyễn Thái Hoè ( 1997 ), Rèn luyện tư duy qua việc giải bài tập toán, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy qua việc giải bài tập toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Nguyễn Mộng Hy (Chủ biên), Khu Quốc Anh - Trần Đức Huyên (2012 ), Bài tập hình học 12, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập hình học 12
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
6. Nguyễn Bá Kim ( 2011 ), Phương pháp dạy học môn Toán, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
7. Nguyễn Bá Kim – Bùi Huy Ngọc (2010), Phương pháp dạy học đại cương môn Toán, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học đại cương môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim – Bùi Huy Ngọc
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
8. Bùi Văn Nghị (2009), Vận dụng lí luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lí luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông
Tác giả: Bùi Văn Nghị
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2009
9. Đào Tam - Trần Trung (2010), Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học môn Toán ở trường trung học phổ thông, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học môn Toán ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Đào Tam, Trần Trung
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
10. Nguyễn Thế Thạch - Nguyễn Hải Châu - Quách Tú Chương - Nguyễn Trung Hiếu - Đoàn Thế Phiệt - Phạm Đức Quang - Nguyễn Thị Quý Sửu (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng môn Toán lớp 12, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng môn Toán lớp 12
Tác giả: Nguyễn Thế Thạch, Nguyễn Hải Châu, Quách Tú Chương, Nguyễn Trung Hiếu, Đoàn Thế Phiệt, Phạm Đức Quang, Nguyễn Thị Quý Sửu
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
11. Nguyễn Huy Thuận (2007), Giáo trình phát triển tư duy toán học trong học sinh, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển tư duy toán học trong học sinh
Tác giả: Nguyễn Huy Thuận
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
12. Đào Văn Trung ( 2001), Làm thế nào để học tốt toán phổ thông ( người dich: Nguyễn Văn Mậu ), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào để học tốt toán phổ thông ( người dich: Nguyễn Văn Mậu )
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
13. Nguyễn Danh Phan - Trần Chí Hiếu (1998), Các chuyên đề toán THPT Hình học 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chuyên đề toán THPT Hình học 12
Tác giả: Nguyễn Danh Phan - Trần Chí Hiếu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
14. G.POLYA (2010), Toán học và những suy luận có lí ( Người dịch: Hà Sĩ Hồ, Hoàng Chúng, Lê Đình Phi, Nguyễn Hữu Chương, Hồ Thuần), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán học và những suy luận có lí
Tác giả: G.POLYA
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
15. Luật giáo dục ( 2005 ), NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục (
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
16.Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông, Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo Quyết định số 50/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 7 tháng 11 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng giải Bài tập 1, 2, 3. - tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh khi dạy học chương “phương pháp toạ độ trong không gian ở lớp 12 trung học phổ thông hệ giáo dục thường xuyên
Bảng gi ải Bài tập 1, 2, 3 (Trang 98)
Bảng 3.1b: Bảng thống kê các điểm số của bài kiểm tra 15 phút lần 2 - tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh khi dạy học chương “phương pháp toạ độ trong không gian ở lớp 12 trung học phổ thông hệ giáo dục thường xuyên
Bảng 3.1b Bảng thống kê các điểm số của bài kiểm tra 15 phút lần 2 (Trang 107)
Bảng 3.1c: Bảng thống kê các điểm số của bài kiểm tra 45 phút: - tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh khi dạy học chương “phương pháp toạ độ trong không gian ở lớp 12 trung học phổ thông hệ giáo dục thường xuyên
Bảng 3.1c Bảng thống kê các điểm số của bài kiểm tra 45 phút: (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w