1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010

69 524 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến Lược Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Hàng Dệt May Việt Nam Vào Thị Trường Mỹ Đến Năm 2010
Tác giả Phạm Thục Nhien
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 820,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

CHIẾN LƯỢC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2007

Trang 2

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG MỸ

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGÀNH DỆT-MAY

TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU

CỦA VIỆT NAM

1.1, Giới thiệu về thị trường Mỹ :

1.1.1, Đặc điểm đất nước, văn hóa, con người Mỹ:

Là một nước có diện tích lớn thứ 3 trên thế giới (9.629.091 km2 chiếm 6,2% diện tích toàn cầu) và với khoảng 290 triệu dân có nguồn gốc từ nhiều nơi khác nhau trên thế giới, Mỹ là một xã hội đa dạng nhất trên thế giới Mặc dù đại bộ phận người Mỹ được coi là có nguồn gốc từ Châu Âu, song những người thiểu số như người gốc Mỹ (người da đỏ), người Mỹ gốc Phi, người Hispanic, và người Châu Á cũng rất đông Hiện nay, mỗi năm có tới trên một triệu người nước ngoài di cư đến

Mỹ sinh sống và làm ăn, và dự kiến đến năm 2050 người Mỹ da trắng chỉ còn chiếm dưới 50% Các cộng đồng đang sinh sống ở Mỹ đều có những bản sắc riêng của họ, kể cả ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng, và phong tục; do vậy, rất khó có thể khái quát chính xác được văn hóa nói chung và văn hóa kinh doanh nói riêng ở nước này

Khác với một số nền văn hóa khác, nhất là văn hóa Châu Á, nhìn chung, người Mỹ rất coi trọng tự do cá nhân và tính tự lập Gia đình, cộng đồng, tôn giáo, hoặc tổ chức là thứ yếu so với các quyền cá nhân Chủ nghĩa cá nhân này cũng dẫn đến một tính cách nổi bật của người Mỹ là cạnh tranh

Phong cách chung của doanh nhân Mỹ là ít chú ý đến nghi lễ, đi thẳng vào vấn đề, và muốn có kết quả nhanh Trong đàm phán, người Mỹ thường xác định trước và rõ mục tiêu cần đạt được, chiến lược và chiến thuật đàm phán, và dùng số liệu để chứng minh cho các luận điểm của mình Họ muốn dành chiến thắng về phần mình, song cũng sẵn sàng thỏa hiệp trên cơ sở đôi bên cùng có lợi ở Mỹ, “có

Trang 3

đi có lại” là nguyên tắc quan trọng trong đàm phán chính trị cũng như trong kinh doanh

Người Mỹ thích nói thẳng, rõ ràng, và dễ hiểu Họ không thích kiểu nói vòng vo, xa xôi, hoặc ví von Nhìn chung, khi người Mỹ nói “được” thì có nghĩa là được và “không được” có nghĩa là không được Người Mỹ không ngại ngùng khi trả lời “tôi không biết” nếu như họ không biết về vấn đề mà bạn quan tâm, hoặc

“tôi không phụ trách việc này” nếu như vấn đề bạn quan tâm không trong phạm vi trách nhiệm của họ Tuy nhiên, người Mỹ thường sẵn sàng chỉ cho bạn biết bạn phải hỏi ai hoặc tìm ở đâu để có những thông tin mà bạn cần, hoặc ai là người phụ trách việc mà bạn quan tâm.Tính thẳng thắn và sự lịch thiệp cũng có mức độ khác nhau tuỳ theo vùng Người New York nổi tiếng là trực tính, và thậm chí hơi thô bạo nếu so sánh với văn hóa Châu Á Người ở vùng Trung Tây cũng thẳng thắn nhưng thường lịch sự hơn nhiều Người California không phải lúc nào cũng nói đúng ý nghĩ của họ Ví dụ ở Los Angeles – miền đất của những giấc mơ - nếu ai đó nói với bạn “Tôi sẽ trở lại vấn đề này với bạn” thì cũng có thể là họ sẽ làm như vậy thật, song cũng có thể họ ngụ ý là “Bạn không có cơ hội”

Nhìn chung, người Mỹ không có thói quen nói hoặc cười to trong khi ăn uống hoặc ở nơi công cộng Họ rất tự giác xếp hàng đợi đến lượt mình khi có từ hai người trở lên, và không có thói quen chen ngang hàng Tại cửa ra vào thang máy, tàu điện ngầm, hoặc xe buýt, người ở ngoài thường đợi cho người ở trong ra hết rồi mới vào Người Mỹ có thói quen cám ơn khi được người khác giúp đỡ dù chỉ là một việc rất nhỏ như nhường đường chẳng hạn

Cũng vì muốn tiết kiệm thời gian, nên các cuộc gặp làm việc với người Mỹ thường là ngắn, tập trung và đi thẳng vào vấn đề Đối với một số nền văn hóa vừa gặp nhau đã bàn ngay đến chuyện làm ăn thì có thể bị coi là mất lịch sự, trong khi

đó người Mỹ lại thích nói chuyện làm ăn trước, sau đó mới nói đến chuyện cá nhân

và các chuyện khác Vì vậy, thường thì khách, nhất là những người chào hàng phải chuẩn bị rất kỹ và đi thẳng vào nội dung sau những câu chào hỏi xã giao ngắn gọn Yêu cầu này càng quan trọng nếu cuộc làm việc được tiến hành thông qua phiên dịch vì thực chất thời gian làm việc chỉ còn tối đa một nửa Trong các cuộc họp

Trang 4

hoặc gặp gỡ làm việc, người Mỹ có thể cắt ngang lời nhau để hỏi hoặc nêu ý kiến của mình Thói quen này có thể bị coi là bất lịch sự trong một số nền văn hóa Châu

Á Do vậy, các nhà kinh doanh nước ngoài không nên ngạc nhiên khi bị người Mỹ cắt lời để hỏi hoặc nêu ý kiến của họ

1.1.2, Đặc điểm kinh tế của thị trường Mỹ:

Đồng USD của Mỹ vẫn là đồng tiền thanh toán quốc tế thịnh hành nhất Hiện khoảng 60% tiền mặt USD lưu hành ở ngoài nước Mỹ; tất cả thanh toán trong lĩnh vực dầu khí, năng lượng thế giới đều bằng USD Mỹ Trong điều kiện đó, tỷ giá USD luôn là một vấn đề mấu chốt trong quan hệ kinh tế thương mại của Mỹ với bên ngoài, là một nội dung chủ yếu của các cuộc gặp G7/G8 hàng năm Mỹ và các đối tác của Mỹ có thể mất hoặc được lợi hàng tỉ USD, và sức cạnh tranh kinh

tế có thể bị tác động lớn chỉ vì sự thay đổi tỷ giá đó chứ không phải do kết quả của sản xuất trực tiếp Vì vậy chính sách tiền tệ và quan hệ với thị trường vốn và tài chính thế giới ra sao là một vấn đề đại sự trong nền kinh tế Việc đa số các nước đến nay dự trữ ngoại tệ chủ yếu bằng USD Mỹ mang lại lợi thế cho Mỹ (tuy cũng

có mặt khác, làm đồng tiền Mỹ tùy thuộc tình hình bên ngoài) Gần đây Trung Quốc và một vài nước đã tính đến đa dạng hóa dự trữ đó qua các đồng tiền khác để tránh rủi ro lớn nếu giá USD tụt giảm do tình trạng thâm thủng các cân đối tài chính của Mỹ

Hiến pháp Mỹ qui định Quốc hội Mỹ có quyền quản lý ngoại thương và quyết định về thuế nhập khẩu Tuy nhiên, do việc tăng hoặc giảm thuế nhập khẩu,

ấn định hạn ngạch nhập khẩu, hoặc đàm phán các hiệp định thương mại quốc tế rất phức tạp và ảnh hưởng đến lợi ích không những của Mỹ mà còn của các nước khác; nên nhiều trách nhiệm trong những lĩnh vực này đã đuợc Quốc hội ủy quyền cho các cơ quan hành pháp Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ được Quốc hội

ủy quyền, các cơ quan hành pháp được ủy quyền có trách nhiệm tham vấn thường xuyên và chặt chẽ với các ủy ban có liên quan của Quốc hội và các nhóm cố vấn của khu vực tư nhân

1.1.2.1, GDP của Mỹ:

Trang 5

Hiện nay, và trong nhiều thập kỷ nữa, Mỹ vẫn là nước có nền kinh tế lớn nhất và có sức cạnh tranh nhất trên thế giới Năm 1999, GDP của Mỹ là 9.350 tỷ USD trong khi của cả thế giới khoảng 40.700 tỷ USD và của cả khối G7 là 15.170

tỷ USD Năm 2000, GDP của Nhật bằng 32% GDP của Mỹ, Đức bằng 19,4%, Pháp bằng 14,6%, và Anh bằng 13,7% Mặc dầu, tỷ trọng GDP của Mỹ trong tổng GDP của toàn thế giới có xu hướng giảm, song hiện nay, Mỹ vẫn là nước có thu nhập quốc dân lớn nhất và có thu nhập bình quân đầu người đứng đầu thế giới Năm 2005, tổng thu nhập quốc dân của Mỹ đạt xấp xỉ 12,5 nghìn tỷ USD (tính theo sức mua – (PPP)purchasing power parity), chiếm khoảng 20.34% tổng GDP toàn thế giới Thu nhập bình quân đầu người ở năm 2005 đạt 41.557 USD (Xem bảng 1.1)

Bảng 1.1

GDP CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ THẾ GIỚI NĂM 2005

Thứ tự Nước (triệu USD) GDP (PPP) Tỷ lệ % của thế giới GDP/người (USD)

Nguồn : The world Factbook & Wikipedia

Trong cơ cấu kinh tế của Mỹ, hiện nay, có tới 80% GDP được tạo ra từ các ngành dịch vụ, trong khi đó công nghiệp chỉ chiếm 18%, và nông nghiệp chỉ đóng góp 2% Tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Mỹ còn tiếp tục tăng trong các năm tới

Mức tăng trưởng GDP bình quân của Mỹ trong thập kỷ 90 là 3,6% trong khi

đó mức tăng chung của cả khối G7 trong cùng thời kỳ chỉ là 2,6% Tuy nhiên, tốc

Trang 6

độ tăng GDP thực tế của Mỹ từ năm 2000 trở lại đây không ổn định và thấp hơn so với mức bình quân của thập kỷ 90 Cụ thể là mức tăng năm 2000 là 5%, 2001 là 0,5%, 2002 là 2,2%, và 2003 là 3,1%, năm 2005 là 6,4%

1.1.2.2, Về mặt ngọai thương:

Mỹ là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), và là một trong

ba nước thành lập ra Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) Mỹ đã ký hiệp định thương mại tự do song phương với một số nước, và dành ưu đãi thương mại đơn phương cho nhiều nước đang và chậm phát triển Hiện nay, Mỹ có quan hệ buôn bán với 230 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Năm 2006, Trung quốc đã vượt Mexico trở thành bạn hàng lớn thứ 2 của Mỹ sau Canada.Các nước bạn hàng lớn tiếp theo của Mỹ là Nhật bản, Đức, Anh, Hàn Quốc, Đài Loan, Pháp, Malaysia (xem bảng 1.2)

Tổng kim ngạch thương mại quốc tế (gồm cả hàng hóa và dịch vụ) của Mỹ năm 2005 đạt xấp xỉ 3,27 nghìn tỷ USD, tăng khoảng 12% so với năm 2004, trong

đó kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá khoảng 2,57 nghìn tỷ, chiếm 78% tổng kim

ngạch thương mại quốc tế và bằng 20% GDP

Kim ngạch xuất khẩu của Mỹ tăng dần qua các năm, năm 2005, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Mỹ đạt xấp xỉ 904 tỷ USD, tăng 87 tỷ (10,6%) so với năm

2004 Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu của Mỹ tăng cao hơn năm 2005 rất lớn xấp

xỉ 133 tỷ (14,7%) đạt xấp xỉ 1.037tỷ USD Năm 2006, có 20 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng hơn năm 2005, các nhóm hàng có mức tăng cao nhất là năng lượng nguyên tử, máy bay và các thiết bị hàng không vũ trụ; các sản phẩm dầu lửa;

và xe động cơ, năm 2006 các nhóm hàng này tăng so với năm 2005 là 60tỷ USD chiếm gần 47% tổng trị giá xuất khẩu (xem bảng 1.3)

Trang 7

Nguồn : the U.S Department of Commerce and the U.S International Trade Commission

(DOC & USITC)

Trang 9

với năm 2005 chiếm 17,17% tổng kim ngạch nhập khẩu, chủ yếu là do giá dầu thế giới tăng(xem bảng 1.4) Các nhóm hàng có kim ngạch giảm nhiều nhất là bán dẫn

và mạch tích hợp (giảm 831 triệu USD), và máy ảnh và thiết bị (giảm 503 triệu USD) (www.usitc.gov)

Bảng 1.4:

MỘT SỐ MẶT HÀNG NHẬP KHẨU CỦA MỸ

(2001-2006)

2001 2002 2003 2004 2005 2006 Mặt hàng Trị giá Trị giá Trị giá Trị giá Trị giá Trị giá %

Chất đốt, dầu thô 113 109 145 194 272 317 17,17 Các ứng dụng trong hóa học, máy

móc, các phản ứng hạt nhân 160 161 169 199 221 243 13,15 Máy móc điện tử, thiết bị và phụ

tùng 154 151 156 184 206 228 12,35 Phương tiện vận chuyển và phụ

tùng 161 171 176 192 201 216 11,73 Hóa chất 34 35 38 42 47 51 2,74 Sản phẩm dùng trong ytế 35 35 39 44 47 50 2,73 Kim loại, đá quý tự nhiên 26 26 28 33 37 44 2,38 Dược phẩm 16 22 29 32 36 42 2,3 Bàn ghế, thiết bị trang trí nội thất 23 27 30 34 37 40 2,15

Đề dự trữ phân loại đặc biệt 35 36 34 35 38 40 2,15 Hàng may mặc không dệt kim 32 31 33 35 37 38 2,05 Hàng may mặc dệt kim 27 28 30 32 33 35 1,92 Sắt và thép 10 11 10 22 22 29 1,56 Các sản phẩm có liên quan đến

quan 8 9 10 13 15 19 1,03 Các mặt hàng khác 202 204 218 246 272 303 16,45

Tổng cộng 1.133 1.155 1.250 1.460 1.662 1.845 100,00

Nguồn: USITC

1.1.3, Quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ

1.1.3.1, Quan hệ ngoại giao:

Trang 10

Năm 1991, Việt Nam và Mỹ bắt đầu đàm phán chính thức về bình thường hóa quan hệ

Tháng 2 năm 1994, Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam Hai nước thiết lập lại quan hệ ngoại giao vào ngày 12 tháng 7 năm 1995 và tiến hành trao đổi đại sứ đầu tiên vào tháng 5 năm 1997

Ngày 11 tháng 12 năm 2001, Hiệp định Thương mại song phương giữa hai nước (BTA) bắt đầu có hiệu lực, sự kiện này đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước Theo Hiệp định này, tất cả các loại hàng hóa Việt Nam (bao gồm hàng dệt may, giầy dép, đồ gỗ, đồ điện gia dụng, điện tử, hàng thủ công mỹ nghệ, v v ) xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ từ ngày 10/12/2001 trở đi sẽ dược hưởng mức thuế quan tối huệ quốc (còn được gọi là NTR) Mức thuế này trung bình chỉ còn 3% so với mức thuế quan trung bình không có tối huệ quốc 40% trước đây

Sự kiện quan trọng gần đây nhất đánh dấu bình thường hóa hoàn toàn quan

hệ giữa hai nước là ngày 20 tháng 12 năm 2006, Tổng thống Bush đã ký luật thiết lập quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam Việc áp dụng PNTR sẽ tạo một nền tảng mang tính bền vững cho việc phát triển quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, thương mại, đầu

tư Từ nay, Việt Nam và Hoa Kỳ là các đối tác thương mại bình đẳng, cùng áp dụng cho nhau những cam kết của mình trong khuôn khổ WTO

Quan hệ ngoại giao của hai nước ngày càng thắt chặt hơn, hiểu biết lẫn nhau, tạo điều kiện rất lớn cho quan hệ thương mại giữa hai nước ngày càng phát triển

1.1.3.2, Quan hệ thương mại:

Năm 1994 – năm Mỹ bỏ cấm vận kinh tế với Việt Nam, kim ngạch thương mại hàng hóa hai chiều đã tăng từ 220 triệu USD lên 1,4 tỷ USD năm 2001 - năm trước khi BTA có hiệu lực và đạt 9,563 tỷ USD năm 2004, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang đã tăng nhẩy vọt từ 1,026 tỷ USD năm 2001 lên đến 8,463tỷ USD năm 2006 (xem biểu đồ 1.1)

Trang 11

US - Việt Nam Việt nam - US

Nguồn : USITC Năm 2001, Việt nam đứng thứ 40 về kim ngạch xuất khẩu vào thị trường

Mỹ, một năm sau khi hiệp định song phương Việt – Mỹ có hiệu lực, năm 2002, Việt nam vươn lên đứng hàng thứ 38 về kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ, và từ năm

2003 đến năm 2006, Việt Nam đã trở thành bạn hàng lớn thứ 33 của Mỹ (tính theo kim ngạch nhập khẩu của Mỹ - phụ lục 1)

Về hoạt đông kinh doanh ngoại thương:

Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ tăng 29,8% so với năm 2005, chiếm thị phần rất nhỏ khoảng 0,46%.Những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang gồm hàng may mặc, giầy dép, đồ gỗ, thủy sản, nông sản thô, dầu khí…Và xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam đạt 1,1 tỷ USD năm 2006 giảm xấp

xỉ 8,4% so với năm 2005 Các mặt hàng Mỹ xuất khẩu sang Việt Nam chủ yếu gồm máy bay dân dụng, máy móc, thiết bị và phụ tùng, phụ tùng máy bay, phân bón, nguyên liệu công nghiệp như bông, bột giấy, nhựa, phụ kiện gia công giày,v.v Nói chung, xu hướng nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ chủ yếu là thiết bị, phụ tùng công nghệ cao, mặc dù rất đắt tiền nhưng là hàng không thể mua từ các nước khác, hoặc các nguyên liệu, phụ liệu phục vụ gia công hàng xuất khẩu (xem bảng 1.5, 1.6)

Trang 13

máy móc, các phản ứng hạt

nhân 1 20 67 62 126 222 2,63 Máy móc điện tử, thiết bị và phụ

tùng 1 7 30 50 87 210 2,48 Thức ăn làm sẵn 93 138 162 162 163 184 2,17 Trái cây, đậu, dưa 48 71 99 172 154 154 1,82 Các sản phẩm làm bằng da

thuộc 3 62 101 124 127 137 1,61 Các sản phẩm liên quan sắt,

thép 1 3 6 12 34 83 0,99 Nhựa và các sản phẩm có liên

quan 0 6 11 28 53 82 0,97

Mũ, khăn trùm đầu 0 24 39 63 68 77 0,91

Xà phòng, các chất tẩy rửa 0 1 0 1 25 71 0,84 Các sản phẩm liên quan tới dệt

may 1 7 22 48 41 53 0,63

Đồ chơi, trò chơi, thiết bị thể

thao, phụ tùng kèm theo 1 8 12 16 31 46 0,54 Cao su và các sản phẩm liên

quan 4 16 20 27 35 44 0,52 Các sản phẩm gốm sứ 7 12 21 27 34 44 0,52 Các mặt hàng khác 44 108 154 208 316 385 4,55

Tổng cộng 1.026 2.392 4.472 5.161 6.522 8.463 100,00

Về hoạt động đầu tư:

Mỹ là nước đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn nhất thế giới Năm 2004, đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài của đạt 252 tỉ USD Kể từ khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (BTA) có hiệu lực (tháng 12.2001), không chỉ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ tăng mà dòng vốn đầu tư và hàng hóa Mỹ cũng không ngừng

Trang 14

chảy vào Việt Nam Năm 2005, đã có 259 dự án đầu tư trực tiếp từ Mỹ vào Việt Nam với tổng số vốn đăng ký là 2 tỉ USD, xếp thứ 11 trong số những quốc gia đầu

tư lớn nhất vào Việt Nam (theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch đầu tư)

Tại Việt Nam, các công ty sẽ đặc biệt quan tâm đến các lĩnh vực viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, logistics (vận tải, giao nhận…), phân phối, xuất nhập khẩu, bán lẻ, năng lượng, bất động sản, sản xuất linh kiện điện tử công nghệ cao và lắp ráp máy tính, gia công cơ khí, các dịch vụ phục vụ kinh doanh, giải trí, giáo dục, và

y tế Bên cạnh việc đầu tư thành lập doanh nghiệp mới các công ty sẽ rất quan tâm đến việc mua lại một phần các công ty đang hoạt động tại Việt Nam (kể cả các công ty có vốn đầu tư nước ngoài) và tham gia vào quản lý các công ty này Ví dụ, Quỹ TPG và Quỹ đầu tư Intel gần đây đã mua 10% cổ phần của FPT trị giá 36,5 triệu USD Một số công ty khác đang tìm kiếm khả năng mua cổ phần chiến lược

ở Việt Nam Ví dụ, một ngân hàng lớn đang có kế hoạch mua cổ phần của một ngân hàng lớn Việt Nam hay một hãng bia lớn đang thăm dò mua cổ phần của một công ty bia lớn ở Việt Nam

Bên cạnh các họat động thương mại, Mỹ tham gia vào các lĩnh vực hợp tác phi thương mại, được đánh giá là có hiệu quả như giáo dục, phòng chống HIV/AIDS và nhân đạo Hiện nay có khoảng 300 tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện của Mỹ (trong đó có nhiều tổ chức được chính phủ Mỹ tài trợ), đã và đang thực hiện các dự án nhân đạo ở Việt Nam

1.2, Vị trí, vai trò của ngành dệt – may trong họat động kinh doanh xuất khẩu của Việt Nam.

Sản phẩm của ngành dệt may là mặt hàng nhu yếu phẩm quan trọng trong đời sống con người, có tính chất thời trang Ngành dệt may là ngành công nghiệp chủ yếu tạo nguồn thu ngoại tệ nhiều cho đất nước, trong vài năm gần đây, ngành dệt may được xem như ngành “mũi nhọn”, bởi những ưu thế: đầu tư ít, thu hồi vốn nhanh, nhân công dồi dào và rẻ, giải quyết được nhiều công ăn việc làm, đóng góp phần lớn vào kim ngạch xuất khẩu

Trang 15

1.2.1, Vị trí của ngành dệt may trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu:

Ngành dệt may xuất khẩu chiếm tỷ trọng khá đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, từ 14-16% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, luôn đứng vị trí thứ hai sau dầu thô Kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may tăng liên tục hàng năm từ 10-21%, năm 2006 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chiếm 14,64% tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 5,83 tỷ USD, tăng 20,6% so với năm 2005 (xem bảng 1.7)

Bảng 1.7

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY (2004-2006)

Đvt : tỷ USD

Năm 2004 2004/2003 2005 2005/2004 2006 2006/2005 Tổng KNXK 26.50 31.40% 32.44 22.40% 39.83 22.80%

Nguồn: Tổng hợp các báo cáo của Tổng cục Hải Quan Việt Nam

Ngành dệt may và ngành giày dép là hai ngành cùng sử dụng nhiều lao động, nhưng ngành dệt may luôn tỏ ra là ngành sản xuất hiệu quả hơn, đạt kim ngạch xuất khẩu cao hơn, chứng tỏ ngành dệt may luôn chiếm vị trí quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Ngành dệt may là ngành công nghiệp chủ chốt trong quá trình thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu hàng xuất khẩu Từ những năm 1992,1993, hàng dệt may từ vị trí thứ 3,4 về kim ngạch xuất khẩu đã dần chiếm vị trí thứ 2 trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu chỉ đứng sau dầu thô

Trang 16

1.2.2, Vai trò của ngành dệt may trong hoạt đông kinh doanh xuất khẩu:

1.2.2.1,Ngành dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực:

Trong cơ cấu hàng xuất khẩu, xét về tổng thể, hàng dệt may chỉ đứng sau dầu thô và chỉ tính riêng xuất khẩu hàng dệt may đã đóng góp từ 13-15% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước đồng thời tạo việc làm cho gần 2 triệu lao động , trong đó chưa tính tới số lao động trồng dâu, nuôi tằm Trong khi tốc độ tăng GDP bình quân của cả nước tăng 5%/năm thì giá trị xuất khẩu hàng dệt may tăng khoảng 20-25%/năm

Hàng dệt may Việt Nam hiện đã hiện diện trên 150 nước, vùng và lãnh thổ

so với năm 2000 là 100 nước, vùng và lãnh thổ Điều đó chứng tỏ hàng dệt may Việt Nam đã có uy tín trên thị trường thế giới và có thể cạnh tranh được tại các thị trường khác nhau, kể cả những thị trường khó tính như Nhật bản, EU,

1.2.2.2, Ngành dệt may có tỉ suất lợi nhuận cao, thu hồi vốn nhanh

So với nhiều ngành khác ngành dệt may yêu cầu đầu tư thấp hơn nhiều, lại sinh lợi nhanh Chi phí đầu tư cho một chỗ lao động chỉ cần 600USD cho thiết bị

và 300USD cho nhà xưởng, điện nước mà thời gian thu hồi vốn nhanh có thể sau 3-3,5 năm, lợi nhuận cao Việc đào tạo công nhân nhanh, có thể từ 2-2,5 tháng

Chính vì thế, bước vào thời kỳ phát triển kinh doanh xuất khẩu, nhiều nước như Nhật bản, Hồng Kông, Trung quốc đã lấy ngành may làm ngành chủ đạo và đi lên từ ngành này Kinh nghiệm cho thấy, việc phát triển ngành sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may là yêu cầu khách quan và là cứu cánh để tăng kim ngạch xuất khẩu và phát triển kinh tế ở một số nước công nghiệp phát triển

1.2.2.3, Phát triển ngành may là “động lực” cho các ngành khác

Quá trình sản xuất và xuất nhập khẩu hàng dệt may là quá trình hợp tác và liên kết toàn diện trên cơ sở phân công và hợp tác sản xuất phát huy hiệu quả lợi thế trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong ngành Mặt khác, với xu hướng chung, các doanh nghiệp đã không ngừng hoàn thiện sản phẩm dệt may với chất lượng ngày càng cao đáp ứng thị hiếu tiêu dùng ngày càng phong phú và đa dạng, bảo đảm sức cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường thế giới Sản phẩm dệt may xuất khẩu được sự hỗ trợ của các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ Sự phát

Trang 17

triển của ngành dệt may kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch

vụ là tất yếu trong xu thế cạnh tranh gay gắt giữa các ngành sử dụng nhiều nhân công hiện nay

1.2.2.4, Ngành dệt may góp phần thực hiện thành công công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước:

Phát triển ngành dệt may thông qua việc cải tiến công nghệ, tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường thế giới Hơn nữa, thị hiếu về may mặc trong đời sống hiện đại ngày càng cao, đối thủ cạnh tranh của ngành dệt may xuất khẩu không chỉ là đối thủ nước ngoài, các tập đòan đầu tư trong nước mà còn chính các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước Nhờ

sự phát triển công nghệ qui mô toàn cầu và sự phân công và hợp tác lao động quốc

tế, mà ngành dệt may Việt Nam có khả năng “chen chân” vào thị trường thế giới Khách hàng đã “đổ” vào Việt Nam gia công hàng dệt may nhờ ngành dệt may đã

có nhiều năm tích lũy kinh nghiệm quản l y,có đội ngũ lao động biết nghề, thiết bị ngày càng trang bị khá tiên tiến, chất lượng sản phẩm dệt may càng cao, giá nhân công rẻ

Nhiều doanh nghiệp dệt may nhà nước trung ương, địa phương và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác: công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài đã có tiếng trên thị trường châu Âu, châu Á, Bắc Trong thực tế, ngành dệt may đà có nhiều năm tích lũy kinh nghiệm quản ly , có đội ngũ, có đội ngũ lao động biết nghề, thiết bị máy móc ngày càng được trang bị khá tiên tiến, chất lượng sản phẩm ngành dệt may ngày càng cao, giá nhân công rẻ, tăng thêm sức cạnh tranh cho hàng dệt may trên thị trường thế giới Khách hàng nhiếu nước thấy mối lợi đó đổ vào Việt Nam để gia công hàng dệt may

1.2.2.5, Ngành dệt may góp phần giải quyết vấn đề việc làm và thúc đẩy hình thành thị trường lao động và phân công lao động

Ngành dệt may sử dụng nhiều lao động sống, phù hợp với các nước có nguồn nhân công dồi dào như Việt Nam, hiên số lao động trong ngành dệt may là 2 triệu người (so với năm 2000 là 1,6 triệu người) Lương công nhân đã có sự gia

Trang 18

tăng đáng kể; 1-1,2 triệu đồng/tháng (năm 2002 là từ 700-800 ngàn đồng/tháng) Ngành dệt may phát triển trên qui mô rộng lớn trong cả nước tạo thuận lợi cho người lao động lựa chọn, thay đổi nơi làm việc thích ứng với mình, điều đó góp phần thúc đẩy quá trình phân công lao động hợp ly trên qui mô toàn xã hội, tạo điều kiện nâng cao tay nghề, trình độ khoa học kỹ thuật và kỷ luật công nghiệp, nguy cơ bị thất nghiệp càng lớn thúc đẩy người lao động phải tự hoàn thiện mình

Ngành dệt may tuy có vai trò tích cực, các doanh nghiệp dệt may thụ động trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu, không chủ động tìm “đầu ra”, “đầu vào” cho sản xuất, chủ yếu là gia công xuất khẩu, làm chậm năng lực cạnh tranh của ngành của quốc gia, làm chậm tiến trình phát triển kinh tế theo chiều sâu

Phần lớn hàng dệt may của Việt Nam gia công theo mẫu mã thiết kế, nhãn hiệu của nước ngoài, chưa có thương hiệu mạnh, chưa khẳng định được vị thế của nhãn hiệu của mình trên thị trường quốc tế, nên ngành dệt may của Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều vào các đối tác nước ngoài

Trong quá trình chuyển giao công nghệ, tiếp thu công nghệ mới, dổi mới trang thiết bị, do trình độ chuyên môn nghiệm thu kém, nên có tình trạng nhập khẩu máy móc lỗi thời, không phù hợp với sự phát triển và đòi hỏi mới của ngành dệt may, một phần gây thất thoát cho nhà nước, một gây khó khăn cho ngành dệt may phát triển

1.3, Các yêu cầu cấp thiết đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ:

Mỹ là thị trường tiêu thụ rộng lớn, được gán là “sân chơi” quốc tế cho các ngành xuất khẩu của các nước trên thế giới Các nước trên thế giới canh tranh về giá, về chất lượng sản phẩm để có “chỗ đứng” tại thị trường này Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam hiện nay, sự hiện diện của sản phẩm dệt may trong các chuỗi cửa hàng bán lẻ của Mỹ đã nói lên được vị thế của hàng sệt may trên thế giới, là “bàn đạp” để xâm nhập vào các nước có mức tiêu dùng lớn trên thế giới

Từ bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia có ngành dệt may xuất khẩu trên thế giới và thực tiễn ngành dệt may của Việt Nam đang mất dần lợi thế

Trang 19

so sánh là sử dụng nguồn lao động rẻ, dồi dào, chậm chuyển đổi cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lợi thế hóa, cùng với chính sách, cơ chế khuyến khích xuất khẩu lạc hậu, chậm chuyển đổi theo xu hướng thế giới Ngành dệt may

có các yêu cầu cấp thiết để mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ:

Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO), Mỹ bãi bỏ chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt nam, tận dụng những ưu đãi là thành viên của WTO và xuất khẩu không hạn chế vào Mỹ Cơ chế quản l y về giá của hàng dệt may xuất khẩu để tránh bị kiện cáo vể việc bán phá giá

Mở rộng qui mô và đầu tư vào ngành dệt may xuất khẩu từ chính phủ nhằm tạo nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp

Các yêu cầu chủ quan:

Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản và tòan diện về khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm; ứng dụng nhanh các công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất quản ly

Có sự liên kết, hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ lẩn nhau giữa các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu

Đa dạng hóa các mặt hàng dệt may xuất khẩu; tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết kế mẫu mã, xây dựng thương hiệu cho hàng dệt may xuất khẩu

Ngành dệt may phải có chính sách tiếp thị quảng cáo về sản phẩm dệt may,

tổ chức các cuộc thi tay nghề “bàn tay vàng”, các doanh nghiệp dệt may tham gia vào các cuộc bình chọn “hàng Việt Nam chất lượng cao”, qua đó khẳng định được

vị trí của sản phẩm dệt may của doanh nghiệp, nâng cao uy tín của sản phẩm

Tăng cường xuất khẩu theo phương thức tự doanh, tăng tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm dệt may đạt 60%

Phát triển ngành dệt may xuất khẩu trên phạm vi toàn quốc và gồm mọi thành phần kinh tế tham gia, tận dụng lợi thế của nhau (về nguồn vốn, phương pháp quản ly, bí quyết công nghệ…)

Trang 20

Phát triển ngành dệt may theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, nhằm mục tiêu biến đất nước thành một nền kinh tế có cơ cấu Công nghiệp – Nông nghiệp – Dịch vụ

Yêu cầu đảm bảo hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội:

Việc phát triển ngành dệt may xuất khẩu gắn liền với công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy các ngành kinh tế-công nghệ trực tiếp (dệt, cơ khí, giấy, nhựa…) và liên quan (giao thông vận tải, bưu điện…) tham gia hội nhập quốc tế khu vực nhằm sử dụng có hiệu quả những tiềm năng sẵn có về nguồn lao động nước ta

Như vậy, để thực hiện yêu cầu đặt ra cho ngành dệt may xuất khẩu, đòi hỏi

sự nỗ lực phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước và các doanh nghiệp trong việc đẩy mạnh xuất khẩu

Để thực hiện được các yêu cầu trên có hiệu quả, chúng ta cần xem xét kinh nghiệm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Trung quốc vào thị trường Mỹ, từ

đó rút ra bài học cho ngành dệt may Việt Nam từ những thành công và thất bại của

họ

1.4, Một số kinh nghiệm xuất khẩu hàng dệt –may sang của Trung Quốc

Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc vào Mỹ không những lớn nhất mà còn có tốc độ tăng trưởng cao Sau khi hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may được xóa bỏ giữa các nước thành viên WTO, xuất khẩu dệt may của Trung Quốc vào Mỹ đã tăng vọt Năm 2005, xuất khẩu hàng dệt may Trung Quốc vào Mỹ xấp xỉ 27 tỷ USD, tăng 42,5 % so với năm 2004 và chiếm xấp xỉ 27 % tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may của Mỹ, vượt qua Mêhicô để trở thành bạn hàng lớn thứ hai của Mỹ chỉ còn sau Canada Tuy nhiên, sau khi Mỹ áp dụng trở lại hạn ngạch đối với Trung Quốc từ tháng 5/2005 thì tốc độ tăng nhập khẩu hàng dệt may từ nước này vào Mỹ đã chậm lại (xem bảng 1.8)

Trang 21

móc, các phản ứng hạt nhân 14 20 30 44 53 62 21,66

Đồ chơi, trò chơi, thiết bị thể thao,

phụ tùng kèm theo 12 14 16 17 19 21 7,26 Bàn ghế, thiết bị trang trí nội thất 7 10 12 14 17 19 6,74 Giày dép 10 10 11 11 13 14 4,81 Hàng may mặc không dệt kim 4 4 5 7 10 12 4,13 Các sản phẩm liên quan sắt, thép 2 3 3 5 6 8 2,91 Hàng may mặc dệt kim 2 3 3 4 7 8 2,79 Nhựa và các sản phẩm có liên

quan 3 4 4 5 7 7 2,60 Các sản phẩm làm bằng da thuộc 4 4 5 6 6 7 2,34 Phương tiện vận chuyển và phụ

tùng 2 2 2 3 4 5 1,81 Sản phẩm dùng trong ytế 3 3 3 4 4 5 1,66 Các sản phẩm liên quan tới dệt

may 1 2 2 3 4 5 1,61

Gỗ, đồ gỗ 0,842 1 1 2 2 3 1,04 Các sản phẩm có liên quan đến

kim loại 0,985 1 1 2 2 3 1,04 Kim loại, đá quý tự nhiên 0,869 1 1 2 2 3 0,89

Đồ dự trữ báo cáo nhập khẩu đặc

biệt 0,784 0,957 1 2 2 3 0,87 Cao su và các sản phẩm liên quan 0,485 0,679 0,872 1 2 2 0,86 Hóa chất 0,713 0,816 1 1 2 2 0,76 Sắt và thép 0,192 0,245 0,222 1 1 2 0,76 Các mặt hàng khác 13 15 18 22 26 31 10,93

Nguồn: USITC

Sức mạnh cạnh tranh của Trung Quốc chủ yếu nhờ (1) chi phí lao lao động trên mỗi đơn vị sản phẩm rất thấp do mức lương thấp và năng suất lao động cao; (2) Trung Quốc có thể sản xuất các loại vải, phụ kiện trang trí, bao bì, và hầu hết các phụ kiện khác dùng để sản xuất hàng dệt may và các sản phẩm dệt khác; (3) Trung Quốc được giới chuyên môn đánh giá là một nơi tốt nhất về sản xuất quần áo, và các sản phẩm dệt may khác với bất kỳ chất lượng nào hay với bất cứ mức giá nào;

Trang 22

(4) Trung Quốc có khả năng cung cấp hàng dệt may với số lượng lớn trong thời gian ngắn Tuy nhiên, hiện tại, một số chủng loại dệt may Trung quốc đã bị Mỹ hạn chế trở lại bằng hạn ngạch cho đến hết năm 2008

Ở Việt Nam, một trong những lợi thế của ngành dệt may là giá nhân công rẻ,

dễ đào tạo, nhưng lợi thế này mất dần đi khi mức sống ở đô thị đang dần nâng cao, nếu ngành may không dịch chuyển sản xuất vế các vùng nông thôn ( những nơi có

cơ sở hạ tầng thuận lợi, tương đối hoàn chỉnh về điện nước, giao thông…), hoặc một công đoạn phù hợp với việc sản xuất không tập trung( thêu, kết cườm…) thì khả năng cạnh tranh về giá sẽ giảm đi rất nhiều

Từ những phân tích về vai trò của ngành dệt may hiện nay của Việt Nam, các yêu cầu cấp thiết đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, cùng với những đặc điểm

về đất nước con người Mỹ, kim ngạch hai chiều Việt – Mỹ tăng trưởng nhanh đã tạo cơ sở vững chắc cho quan hệ hai bên cùng có lợi Quan hệ thượng mại thuận lợi đem lại cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư của cả Việt Nam

và Mỹ Chúng ta nhận thấy cần thiết để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng trường kinh tế, và khẳng định vị thế của ngành dệt may Việt Nam trên thế giới Chúng ta đi vào phân tích thực trạng nhu cầu về hàng dệt may tại thị trường Mỹ, và tình hình xuất khẩu hàng dệt maycủa Việt Nam vào thị trường Mỹ trong những năm qua

Trang 23

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM

VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ

2.1, Thực trạng về nhu cầu hàng dệt may của thị trường Mỹ:

2.1.1, Những yêu cầu của thị trường Mỹ về ngành hàng dệt may:

2.1.1.1, Những quy định pháp luật về nhập khẩu hàng hóa của Mỹ:

Hệ thống pháp luật chặt chẽ, phức tạp, đội ngũ lobby, luật sư luôn tìm mọi cách để tạo ra các sự kiện Một thị trường có rất nhiều vụ tranh chấp về bán phá giá,

tự vệ và chống tự lập Luật pháp chi phối môi trường kinh doanh ở Mỹ, và các doanh nghiệp thường có thói quen kiện tụng, đưa nhau ra tòa để giải quyết các tranh chấp thương mại Tại một hội thảo gần đây về quan hệ thương mại doanh nghiệp Việt-Mỹ, luật sư Ross Meador, Chủ tịch Công ty Rogers & Meador, cho rằng các doanh nghiệp cần lưu ý đến việc soạn thảo các hợp đồng và nên nhờ đến các luật sư tư vấn để hạn chế những tranh chấp cũng như tránh bị thiệt hại từ những quan hệ thương mại được điều chỉnh bởi hợp đồng Theo bà Lee Baker, cố vấn pháp luật Hội đồng Thương mại Việt-Mỹ, khi ký hợp đồng với đối tác Mỹ, các doanh nghiệp Việt Nam nên ký hợp đồng ngắn hạn, bảo đảm hợp đồng có thể tái tục và được sửa đổi điều khoản; xác định chọn luật nào, trọng tài nào để xử lý trong trường hợp có tranh chấp; nên chọn các quy định phán quyết của tòa án Mỹ

vì các quy định phán quyết của tòa án Việt Nam có thể gặp khó khăn khi buộc các doanh nghiệp Mỹ thi hành

Hàng dệt may nhập khẩu vào thị trường Mỹ phải tuân theo các luật và qui định về sản phẩm như:

Luât phân biệt sản phẩm sợi dêt (Textile Fiber Products Identification Act – TFPIA) và các quy định của Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) quy định các sản phẩm sợi dệt nhập khẩu vào Mỹ phải được dán tem hoặc gắn nhãn hoặc đánh dấu cung cấp những thông tin liên quan đến loại sợi trừ khi được miễn trừ theo mục 12 của luật này) Trong trường hợp không phải là sản phẩm để bán hoặc phân

Trang 24

phối đến người tiêu dùng cuối cùng thì hóa đơn hay các giấy tờ khác có những thông tin yêu cầu có thể sử dụng thay cho tem hoặc nhãn (phụ lục 2)

Luật nhãn hàng sản phẩm len (WPLA) Tất cả các sản phẩm có chứa sợi len khi nhập khẩu vào Mỹ (trừ thảm, chiếu và các sản phẩm đã được sản xuất từ hơn

20 năm trước khi nhập khẩu) đều phải có tem hoặc gắn nhãn với những thông tin theo yêu cầu của Luật nhãn sản phẩm len năm 1939 (Wool Products Labeling Act 1939) và các quy định dưới luật do FTC ban hành (phụ lục 3)

Quy định về nhãn sử dụng (Care Labeling) yêu cầu các nhà sản xuất và nhập khẩu quần áo và các sản phẩm dệt phải cung cấp những chỉ dẫn thông thường

về bảo quản sản phẩm tại thời điểm những sản phẩm đó được bán cho người mua hay thông qua việc sử dụng các ky hiệu về bảo quản hay các cách đọc khác được

mô tả trong quy định này (phụ lục 4) Quy định về nhãn hiệu hay quyền sở hữu công nghiệp rất chặt chẽ Nhãn hiệu phải dính liền sản phẩm viết bằng tiếng Anh

dễ hiểu (nếu nhãn hiệu bị mất hoặc không có, Hải quan sẽ không cho nhận hàng hoặc buộc phải nộp tiền phạt có khi tới 10%) Những nhãn hiệu bắt chước hoặc vi phạm quyền sở hữu sẽ không cho nhập khẩu hoặc sẽ bị cấm nhập khẩu

Thủ tục hải quan cũng rắc rối: các doanh nghiệp nhập khẩu của Mỹ phần lớn thuê các nhà môi giới để làm các thủ tục hải quan (thường được gọi là Customs Broker) chứ không trực tiếp làm thụ tủc tục hải quan Vì thế, theo các chuyên gia

về pháp luật, một vướng mắc mà doanh nghiệp hay gặp là thủ tục hải quan khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ; phần lớn những trục trặc về thủ tục này rơi vào trường hợp doanh nghiệp chưa biết cách điền vào tờ khai, khai không đúng số lượng, chi tiết về hàng hóa trong bảng kê…Hải quan Mỹ sẽ căn cứ trị giá trên hóa đơn thương mại làm cơ sở để tính thuế, và coi đó là giá trị thực của hàng hóa, cho nên ngoài chi tiết thông thương trên hóa đơn thương mại cần ghi đầy đủ các chi tiết như: chiết khấu, giảm giá, cước phí, lệ phí…

Đối với hàng dệt may việc khai báo xuất xứ hàng hóa rất quan trong và cần thiết, đó là yêu cầu phải xuất trình khi làm thủ tục hải quan Cơ quan Hải quan và Bảo vệ biên giới Mỹ mới ra một quy định tạm thời về việc khai báo xuất xứ hàng dệt may Theo đó sẽ hủy bỏ quy định cũ về khai báo (19 CFR 12.130) đối với tất cả

Trang 25

hàng dệt và may và thay vào đó, các nhà nhập khẩu phải khai báo mã số của nhà sản xuất (Manufacturer Identification Code - MID) Quy định này sẽ được áp dụng cho tất cả hàng dệt may nhập khẩu từ tất cả các nước, bao gồm cả các mặt hàng may mặc bị áp dụng điều khoản tự vệ đặc biệt và các nước chưa là thành viên của WTO mà vẫn phụ thuộc vào hiệp định hàng dệt may song.Với việc loại bỏ tờ khai hàng dệt may, quy định mới này (tên văn bản 19 CFR 102) đã được sửa đổi và nêu

ra những yêu cầu về xuất xứ đồng thời hướng dẫn cách thức xây dựng mã code của nhà sản xuất Hải quan Mỹ cho biết, nhà nhập khẩu (hoặc môi giới hải quan) là người sẽ xác định MID dựa trên những thông tin về công ty, điền vào các mẫu khai hải quan khi làm thủ tục nhập khẩu.Trường hợp cơ quan Hải quan tại một cảng nào bất kỳ thấy nghi ngờ về khai báo MID không đúng, cảng có thể yêu cầu sửa chữa thông tin sau khi hàng đã qua cửa khẩu Những lỗi lặp lại về việc xác định MID khi nhập khẩu hàng dệt may sẽ đưa đến việc đánh giá mức phạt đối với nhà nhập khẩu hay môi giới hải quan do không lưu tâm đúng mức

2.1.1.2, Hệ thống phân phối hàng hóa của thị trường Mỹ

Mỹ là thị trường tiêu thụ khổng lồ, nhiều nước quan tâm Mỹ là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Hệ thống phân phối hàng của

Mỹ rất phong phú rất chuyên biệt được phân thành 7 loại:

(1) Công ty chuyên doanh: nơi đây thường phân phối những nhãn hiệu nổi tiếng, những lọai hàng đặc biệt có giá cả đắt đỏ;

Trang 26

(7) Cửa hàng bán lẻ khác: tại đây thường bán những mặt hàng không có nhãn hiệu, hoặc là hàng hóa được đặt thẳng từ các nước châu Á không thông qua các công ty nhập khẩu của Mỹ, ở đây người mua thường mua hàng với giá rẻ hơn

từ 15-20% so với các loại hàng cùng loại tại các hệ thống phân phối khác

Kênh bán lẻ hàng may mặc lớn nhất trên thị trường Hoa Kỳ là các chuỗi cửa hàng bán Các chuỗi cửa hàng chuyên doanh như “Gap” đã tăng doanh thu nhờ chiến lược tập trung vào các mặt hàng thời trang thông dụng cho các đối tượng tiêu dùng từ 20 – 30 tuổi Nhiều nhà bán lẻ cũng áp dụng chiến lược tập trung cho một

số nhóm đối tượng tiêu dùng riêng biệt như hàng thời trang “cấp tiến” hay các đối tượng tiêu dùng trẻ Hiện chi tiêu cho hàng may mặc của nhóm trẻ vị thành niên chiếm tới 20% tổng mức chi tiêu cho hàng may mặc của Hoa Kỳ

Thị trường bán lẻ hàng may mặc của Hoa Kỳ có xu hướng “phân mảng” khá

rõ nét 5 nhà bán lẻ lớn nhất chiếm tới 28,1% tổng dung lượng thị trường, trong đó Gap chiếm 12,1%; TJX (Marshall’s, TJ Max, A.J.Wright) chiếm 7,4%; Limited Brands (Limited, Express, Victoria’s Secret) chiếm 4,2%; Burlington chiếm 2,7%

và Charming Shoppes (Lane Bryant, Fashion Bug, Catherine’s), chiếm 2%

Bên cạnh các kênh phân phối truyền thống, bán hàng qua mạng Internet đang có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây Theo các nhà phân tích, đến năm 2008, khoảng 10% hàng may mặc sẽ được tiêu thụ qua mạng

2.1.2, Đặc điểm nhập khẩu và tiêu dùng hàng dệt may của thị trường Mỹ:

2.1.2.1, Đặc điểm người tiêu dùng của Mỹ:

Thị trường Mỹ được chia thành 3 phân khúc thị trường : Phân khúc 1: là tầng lớp thương lưu trong xã hội, thường mua hàng có thương hiệu nổi tiếng, giá cả rất đắt; Phân khúc 2: là những người trung lưu, họ chú trọng đến mẫu mã hợp thời trang, giá cả phù hợp; Phân khúc 3: là những người dân nghèo, chỉ chú trọng đến yếu tố giá cả, chỉ mua những loại hàng có giá rẻ Hàng dệt may Việt Nam nên nhắm vào phân khúc 2 và 3 của thị trường

Thị hiếu tiêu dùng của người Mỹ rất đa dạng và được phân cấp rõ ràng theo từng phân khúc thị trường Nhưng nhìn chung sở thích người tiêu dùng Mỹ là: thích mua sắm vào các kỳ nghỉ lễ, hay vào mùa mua sắm trong năm; chủng loại

Trang 27

hàng hóa dă dạng nhiều mẫu mã để lựa chon; các lọai hàng dệt may phù hợp với thời tiết khí hậu trong năm; đặc biệt họ rất yêu thích thời trang, thay đổi sở thích thời trang nhanh chóng; các loại quần áo người Mỹ chọn nhiều nhất là : đồng phục

đi làm, T-shirt, quần áo trẻ con

2.1.2.2, Cách thức nhập khẩu và phân phối hàng của các công ty Mỹ:

Tại Mỹ, các công ty lớn thường có hệ thống phân phối riêng và tự làm tất cả các khâu từ nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị, phân phối và nhập khẩu Các tập đoàn và công ty lớn có tác động mạnh đến chính sách của Chính phủ Các công ty vừa và nhỏ vận động xung quanh hệ thống thị trường và được Chính phủ hỗ trợ.Các công

ty vừa và nhỏ thường nhập khẩu hàng hoá và bán theo một số cách thức sau:

(1) Bán sỉ cho các cửa hàng bán lẻ Hầu hết các loại hàng hoá như: trang sức, quần áo, đồ chơi, mỹ nghệ, tạp hoá đều có thể bán trực tiếp cho các nhà bán lẻ thông qua các nhà nhập khẩu Cách bán hàng này rất có hiệu quả khi hàng hoá có nhu cầu mạnh và có lợi nhuận cao

(2) Bán hàng cho nhà phân phối Các nhà phân phối thường có hệ thống phân phối rộng khắp một khu vực hoặc nằm trong nhóm ngành công nghiệp nào đó

Họ có khả năng bán hàng nhanh chóng trong thời điểm ngắn Nhưng qua cách này người bán phải chia sẻ bớt lợi nhuận của mình cho các nhà phân phối

(3) Bán trực tiếp cho các nhà công nghiệp Cách này có thể làm được khi các nhà máy trực tiếp mua hàng của một số thương nhân nhỏ trong nước khi họ không có điều kiện để mua trực tiếp từ các nhà xuất khẩu nước ngoài hoặc mua qua các nhà nhập khẩu

(4) Bán sỉ qua đường bưu điện Với những sản phẩm nhỏ và giá trị không lớn có thể bán theo cách này qua một số trung gian bán buôn Cách này có lợi là bán hàng theo diện rất rộng và không phải qua khâu trung gian phân phối hay bán buôn

(5) Bán lẻ qua đường bưu điện Một số nhà nhập khẩu không cần qua trung gian mà trực tiếp gửi bưu kiện đến cho người mua Để làm được cách này phải có

hệ thống nghiên cứu thị trường chuẩn xác và có hiệu quả cao

Trang 28

(6) Có một số nhà nhập khẩu bán hàng theo catalogue qua các nhà buôn theo kiểu này hay trực tiếp thành lập công ty để bán hàng theo catalog Phương thức này đòi hỏi phải biết được địa chỉ của khách hàng có nhu cầu thường xuyên

(7) Bán lẻ Nhà nhập khẩu tự tổ chức việc nhập khẩu và bán lẻ hàng hoá theo khả năng về thị trường của mình và tự gánh chịu mọi rủi ro

(8) Bán hàng qua các cuộc trưng bày hàng hoá trên các kênh truyền hình là hình thức mới và phải có hàng tức thời và bán theo giá công bố

(9) Bán hàng trực tiếp cho các nhà máy công xưởng với các điều kiện giống như bán cho các nhà bán buôn bán lẻ

(10) Làm đại lý bán hàng Có một số người Mỹ có quan hệ tốt cả hai chiều với nhà xuất khẩu nước ngoài và hệ thống phân phối bán buôn bán lẻ trong nước thì họ thường làm đại lý cho nước ngoài để khỏi phải lo khâu tài chính cho kinh doanh

(11) Bán hàng qua "buổi tiệc bán hàng" (Bali Imports Party) Một số nhà nhập khẩu mua một số lượng nhỏ hàng hoá về rồi mời người thân quen đến dự buổi giới thiệu bán hàng luôn tại chỗ

(12) Bán ở chợ ngoài trời (Flea Market) Có hãng lớn đã từng tổ chức nhập khẩu và bán hàng ở chợ ngoài trời với quy mô lớn và diện rộng khắp cả nước Cách làm này đỏi hỏi phải có diện quan hệ rộng với người bán hàng ở nhiều nước khác nhau và phải trả một phần lợi tức cho người bán hàng

(13) Bán hàng qua các Hội chợ, triển lãm tại Hoa Kỳ Có người mua hàng

về kho của mình và quanh năm di dự các hội chợ triển lãm khắp Hoa kỳ để tìm kiếm các đơn đặt hàng tại quầy rồi về gửi hàng cho người mua theo đường bưu điện, Fedex hay UPS Cách này chỉ có thể làm ở quy mô nhỏ với hàng đặc chủng, hàng mới và giá cao

(14) Bán hàng qua hệ thống Internet

2.1.2.3, Nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ

Thị trường Mỹ có nhu cầu rất đa dạng về hàng dệt may, khách hàng thường đặt hàng với khối lượng lớn với tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng, và điều kiện giao hàng rất nghiêm ngặt

Trang 29

Mỹ nhập một khối lượng lớn hàng dệt may từ các nước trên thế giới, kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ gia tăng hàng năm Kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ năm sau tăng 6-7% so với năm trước, năm 2005 kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ hơn 70 tỷ tăng 5,89% so với năm 2004 là 66 tỷ, nhưng năm 2006 đạt trên 73 tỷ tăng 3,6% so với năm 2005 (xem bảng 2.1) Từ năm 2002, Trung quốc vượt qua Mexico, vươn lên vị trí dẫn đầu nước xuất khẩu hàng dệt may hàng đầu vào Mỹ, Việt Nam từ hạng thứ 7 năm 2005 (vượt Hồng Kông vị trí thứ 3, Honduras vị trí thứ 6) lên hạng thứ 5 năm 2006 về kim ngạch xuất hàng dệt may vào Mỹ chiếm xấp xỉ 4,3% thị trường tiêu dùng của Mỹ

Biểu đồ 2.1

Nguồn : DOC & USITC

THỊ PHẦN XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ Năm 2006

Trang 30

Mỹ là một trong hai thị trường nhập khẩu hàng dệt may chính của thế giới

bên cạnh EU Nhu cầu về các mặt hàng dệt may của Mỹ rất đa dạng , trong đó có

mười nhóm mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trên 2tỷ USD năm 2006 là : áo len

(18,282%; 13,42tỷ USD); quần nữ (17,83%, 13,089tỷ USD); quần nam (11,54%;

8,472tỷ USD); áo thun (6,05%; 4,443tỷ USD); áo sơmi nam (4,44%; 3,257tỷ USD);

áo nữ (3,73%; 2,74tỷ USD); đồ lót đồ ngủ dệt kim nữ (3,64%; 2,671tỷ USD); quần

áo váy dệt kim nữ (3,37%; 2,476tỷ USD); sơmi dệt kim nam (3,02%; 2,216tỷ

USD); áo lót nữ (2,82%; 2,072tỷ USD) (xem bảng 2.2)

Trang 31

Bảng 2.2

MỘT SỐ MẶT HÀNG DỆT MAY NHẬP KHẨU VÀO MỸ

(2003-2006)

Đvt: tỷ USD

Mặt hàng Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006

Trị giá % Trị giá % Trị giá % Trị giá %

nữ 2.027 3,22 2.028 3,03 2.130 3,01 2.476 3,37 Sơmi dệt kim nam 1.744 2,77 1.614 2,41 1.839 2,60 2.216 3,02

Quần áo dệt kim 517 0,82 595 0,89 926 1,31 977 1,33

Áo khoác dệt kim nữ 519 0,82 632 0,95 773 1,09 826 1,13

Complet dệt kim nam 777 1,24 782 1,17 777 1,10 807 1,10

Trang 32

2.2.1, Thực trạng về kim ngạch xuất khẩu

Sau khi hiệp định BTA có hiệu lực, năm 2003 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tăng 167% so với năm 2002, 6 tháng đầu năm 2003 sau khi hiệp định BTA

có hiệu lực, Mỹ không khống chế số lượng hàng dệt may vào Mỹ, bắt đầu cuối năm 2003, sang đầu năm 2004, Mỹ bắt đầu áp đặt hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may các năm 2004, 2005 có phần chững lại, tăng 6-7% so với năm trước Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tăng vọt lên trên 18% so với năm 2005 (xem bảng 2.3) Kể từ ngày 11.1.2007, Mỹ bãi bỏ chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam, nhưng chính quyền Mỹ đang áp dụng chính sách giám sát hàng dệt may Việt Nam và cam kết sẽ tự khởi điều tra bán phá giá nếu thấy có dấu hiệu bán phá giá, hàng dệt may có khả năng gia tăng kim ngạch xuất khẩu

Trong 5 năm gần đây, Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may (xem bảng 2.4)

Trang 33

Bảng 2.4:

MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY

CỦA VIỆT NAM

Quốc gia Năm 2004 Năm 2005

triệu USD % triệu USD %

Nguồn: Tổng hợp các báo cáo của Bộ Thương Mại

So với Trung quốc, với năng lực sản xuất gấp 50 lần Việt Nam, nhưng năm

2006 kim ngạch xuất khẩu đạt 19,8 tỷ USD gấp 6 lần kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam Điều này không phải do hàng dệt may Việt Nam có khả năng cạnh tranh hơn hàng dệt may Trung quốc, mặc dù Trung quốc là thành viên của WTO nhưng Trung quốc vẫn bị khống chế bằng hạn ngạch Khi chính phủ Mỹ bãi

bỏ hạn ngạch đối với Trung quốc, thì liệu Việt Nam có còn giữ được bao nhiêu thị phần, với tốc độ tăng kim ngạch tăng khoảng 6,4% (năm 2005) và 18% (năm 2006),

và năm 2007 khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO, có sự ưu đãi ngang bằng, đang bị giám sát chống bán phá giá

Hàng dệt may, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân 5 năm qua là 20,5%, ước tính năm 2005 chỉ tăng 5% so năm 2004 mặc dù năng lực còn rất lớn Năm 2006, các doanh nghiệp Việt Nam có thể đã thích nghi tốt hơn với những biến

Trang 34

cố của thị trường dệt may thế giới trong năm 2005, đồng thời với việc trở thành thành viên WTO kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này năm 2007 sẽ tăng trở lại đáng

kể

2.2.2, Thực trạng về cơ cấu mặt hàng:

Hàng dệt may Việt nam chủ yếu gia công theo mẫu mã của khách hàng Mỹ; mẫu mã mặt hàng dệt may của Việt Nam hầu như phụ thuộc vào thị hiếu tiêu dùng của thị trường Mỹ, các mặt hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Mỹ trong những năm gần đây chịu sự quản ly bằng hạn ngạch, năm 2007 mặc dù không chịu

sự áp đặt của hạn ngạch, nhưng hàng dệt may Việt Nam vẫn còn chịu sử giám sát của Mỹ, có nguy cơ bị áp thuế chống bán phá giá

Hàng dệt may của Việt Nam thường tập trung vào một số mặt hàng truyền thống dễ làm như áo sơmi, áo len, quần áo nam nữ, áo khoác nam nữ,….(xem bảng 2.5) Từ năm 2003 đến năm 2006, ba nhóm mặt hàng luôn chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ là quần áo nữ, áo len và quần áo nam Mặc dù các trung tâm nghiên cứu và sáng tác mẫu mốt ra đời đã một phần giúp sức làm phong phú các sản phẩm dệt may, nhưng các mẫu mốt đó vẫn chưa khẳng định được khả năng định vị của mình trên thị trường nội địa cũng như thị trường nước ngoài

Tuy vậy, hầu hết mã hàng đều có mức tăng trưởng đáng kể trong bối cảnh ngành dệt may Trung Quốc tăng quá “nóng” Các chuyên gia ngành dệt may cho rằng thị phần hàng dệt may Việt Nam tại thị trường Mỹ có đẳng cấp cao hơn so với hàng Trung Quốc, bắt đầu có sức cạnh tranh

Ngày đăng: 28/03/2013, 11:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
Bảng 1.1 (Trang 5)
Bảng 1.2: - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
Bảng 1.2 (Trang 7)
Bảng 1.3: - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
Bảng 1.3 (Trang 8)
giới tăng(xem bảng 1.4). Các nhóm hàng có kim ngạch giảm nhiều nhất là bán dẫn và mạch tích hợp (giảm 831 triệu USD), và máy ảnh và thiết bị (giảm 503 triệu  USD) (www.usitc.gov) - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
gi ới tăng(xem bảng 1.4). Các nhóm hàng có kim ngạch giảm nhiều nhất là bán dẫn và mạch tích hợp (giảm 831 triệu USD), và máy ảnh và thiết bị (giảm 503 triệu USD) (www.usitc.gov) (Trang 9)
Bảng 1.5: - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
Bảng 1.5 (Trang 12)
Bảng 1.6: - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
Bảng 1.6 (Trang 13)
1.2.1, Vị trí của ngành dệt may trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu: - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
1.2.1 Vị trí của ngành dệt may trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu: (Trang 15)
Bảng 1.8: - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
Bảng 1.8 (Trang 21)
Bảng 2.1. - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
Bảng 2.1. (Trang 30)
Bảng 2.2 - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
Bảng 2.2 (Trang 31)
Bảng 2.4: - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
Bảng 2.4 (Trang 33)
Bảng 2.5: - Luận văn thạc sĩ về Chiến lược đẩy mạnh XK hàng dệt may VN vào thị trường Mỹ đến 2010
Bảng 2.5 (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w