M2 có số lượng lớn hơn 35 nước, trong đó nổi bật có: Việt Nam, Liên bang Nga, Bulgaria, Mexico… Phân loại: Hiện tượng đô la hoá thường được phân loại theo mức độ chấp nhận đồng ngoại tệ
Trang 1Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh
Môn Tài Chính Quốc tế
TIỂU LUẬN NHÓM 4
Đề tài :
ĐÔLA HÓA, VÀNG HÓA, VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM
Danh sách thành viên nhóm :
Giáo viên hướng dẫn: Phạm Thị Diệu Thảo
TP HCM, ngày 12 tháng 3 năm 2013
Trang 2MỤC LỤC
1 Đôla hóa
1.1 Khái niệm đôla hóa……… 3
• Đôla hoá là gì? 3
• Phân loại (3 loại)………3
1.2 Tại sao lại xảy ra tình trạng đôla hoá……….………… …… 4
1.3 Những tác động của đôla hóa(hay chỗ nào,dở chỗ nào)……… …… 4
• Tác động tích cực……… 4
• Tác động tiêu cực……… …… 5
1.4 Tình hình đô la hóa ở Việt Nam như thế nào? 6
1.5 Tình hình đôla hóa ở thế giới như thế nào? 10
1.6 Giải pháp chống tình trạng đola hóa……… …11
2 Vàng hóa 2.1 Khái niệm vàng hóa……… …11
2.2 Nguyên nhân của tình trạng vàng hóa……… … ……12
2.3 Tác động của tình trạng vàng hóa ……… …… 13
2.4 Tình hình kiểm soát, kinh doanh vàng của Việt Nam……….………14
2.4.1 Các quy định của NHNN về vàng ………15
2.4.2 Tác động của chính sách đến thị trường vàng Việt Nam….……… … 16
2.5 Giải pháp chống vàng hóa ……… 17
• Ngắn hạn ……… …… 17
• Trung và dài hạn……….…… ….17
1 Đô la hóa:
1.1 Khái niệm:
Trang 3Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hiện tượng này Có thể nói đô la hoá là tình trạng ngoại tệ được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế thay thế cho đồng bản tệ trong toàn bộ hoặc một phần chức năng tiền tệ Theo quan điểm của IMF, tỷ lệ đô la hóa được đo lường bằng tỷ lệ ngoại
tệ trong tổng khối tiền tệ mở rộng M2 Tình trạng đô la hoá cao xảy ra khi tỷ lệ này vượt quá 30%
Năm 1998, IMF đã tính toán tỷ lệ này đối với mỗi quốc gia và thu được một số kết quả như sau: Có 18 nước có tỷ lê đô la hoá cao như: Argentina, Belarus, Bolivia và Cam-pu-chia Những nước có tỷ lệ đô la hoá trung bình với tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm trên 16.4% M2 có số lượng lớn hơn 35 nước, trong đó nổi bật có: Việt Nam, Liên bang Nga, Bulgaria, Mexico…
Phân loại:
Hiện tượng đô la hoá thường được phân loại theo mức độ chấp nhận đồng ngoại tệ của nền kinh tế, theo cách này có thể chia ra 3 loại hình đô la hóa là: Đô la hoá không chính thức, đô la hoá bán chính thức và đô la hoá chính thức
• Đô la hoá chính thức: Trong đó nền kinh tế không sử dụng đồng ngoại tệ mà sử dụng một hay nhiều đồng ngoại tệ khác trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Phần lớn các trường hợp đô la hoá chính thức xảy ra khi các nước thuộc địa bắt buộc phải sử dụng đồng tiền của chính quốc (như Đông Timor hay GreenLand) Tình trạng này cũng có thể xảy ra khi các nước hoàn toàn thất bại trong các chính sách kinh tế vĩ mô khiến cho đồng bản tệ gần như mất hoàn toàn giá trị và phải chuyển sang sử dụng đồng ngoại tệ
Đặc điểm:
Không sử dụng đồng tiền nội tệ
Không nhất thiết chỉ lưu hành 1 đồng ngoại tệ
o VD:Andorra sử dụng đồng thời 2 đồng tiền của Pháp và Tây Ban Nha
Phần lớn các trường hợp là ở các nước thuộc địa đối với đồng tiền ở mẫu quốc
o VD: Đông Timor, Greenland…
Có thể xảy ra khi các nước thất bại trong việc sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô chống khủng hoảng
o Một ví dụ cho tình trạng đô la hoá chính thức là Ecuador Sau hàng loạt những thất bại trong chính sách vĩ mô, gây ra tình trạng lạm phát và mất giá liên tục của đồng nội tệ (Sucre), ngày 9/1/2000, quốc gia này công nhận USD là đồng tiền chính thức
• Đô la hoá bán chính thức: Trong đó nền kinh tế lưu hành song song hai đồng tiền, đồng ngoại tệ được công nhận chính thức nhưng vẫn đóng vai trò thứ yếu Các lĩnh vực then chốt như trả lương, thuế nay các chi tiêu thường ngày vẫn được thực hiện bằng nội tệ
Đặc điểm:
• Hai đồng tiền lưu hành song song
• Ngoại tệ được sử dụng chính thức
• Ngoại tệ chỉ đóng vai trò thứ yếu trong những lĩnh vực như lương, thuế, chi tiêu
VD: Thực tế trên thế giới không có nhiều quốc gia có tình trạng đô la hóa bán chính thức Ví
dụ tiêu biểu cho tình trạng này là Panama, quốc gia lưu hành song song hai đồng tiền là đồng nội tệ Balboa và Usd
• Đô la hoá không chính thức: Đây là hình thái phổ biến nhất của đô la hóa Một nền kinh
tế được coi là đô la hoá không chính thức khi ở đó đồng nôi tệ là đồng tiền duy nhất được
Trang 4công nhận chính thức trong nền kinh tế, được sử dụng trong chi trả lương, đóng thuế và các giao dịch thông thường Ở hình thái này, đồng ngoại tệ tuy không được công nhận chính thức nhưng vẫn được sử dụng rộng rãi trên thị trường làm phương tiện cất trữ và chi trả cho các hàng hoá đắt tiền Ngoài ra, đồng ngoài tệ còn tồn tại dưới nhiều hình thức khó thống kê hơn như trái phiếu ngoại tệ hay những lượng tiền gửi ở nước ngoài của dân cư
Các hình thức ngoại tệ:
• Trái phiếu ngoại tệ và tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài
• Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài
• Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước
• Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trữ
Chính vì những hình thức nắm giữ ngoại tệ trên đây, việc đánh giá đúng tình trạng đô la hoá không chính thức là điều tương đối khó khăn do lượng ngoại tệ được người bản địa nắm giữ là khá lớn Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, lượng đô la mỹ do người nước ngoài nắm giữ chiếm quá nửa trong tổng lượng đô la mỹ đã phát hành
Dựa vào cách phân loại trên, Việt Nam được xếp vào những nước có hiện tượng đô la hóa không chính thức, với mức độ đô la hóa cao vừa phải
1.2 Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng Đô la hóa:
Do địa vị kinh tế chung của các nước có đồng tiền mạnh:
Nền kinh tế thế giới càng phát triển, nhu cầu sử dụng một “đồng tiền quốc tế” trong thanh toán ngày càng tăng Đồng thời, một số quốc gia như Mỹ hay Đức trước kia chủ động đưa đồng tiền của mình ra thế giới để đánh đổi lấy nhưng lợi ích nhất định
VD: Số tiền phát hành ra lưu thông của Mỹ một phần được lưu chuyển trong tay người dân các nước khác và trở thành ngoại hối của các nước, một phần quay trở lại Mỹ thông qua trao đổi bằng hàng hoá vật chất, dịch vụ Nhưng luôn có một phần lớn tiền mặt còn lại là khoản giá trị tiền tệ khổng lồ không thể xác định Lưu thông luân chuyển giữa các chủ nợ là người dân các nước trong khoản thời gian vô hạn định Đối ứng với số tiền mặt này là nguồn tài sản vật chất to lớn mà người dân Mỹ thu hút được để tiêu dùng và đầu tư phát triển
Do đồng nội tệ có giá trị thấp và không ổn định:
Theo quan điểm chủ quan của nền kinh tế, các nước đang phát triển phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng Đặc biệt, hiện nay với những thách thức rất khắc nghiệt như toàn cầu hóa gây ra cạnh tranh không bình đẳng, biến đổi khi hậu gây ra thiên tai, dịch bệnh vượt ra khỏi sức chịu đựng của những nền kinh tế còn non trẻ và có sức đề kháng kém Nền kinh tế phát triển ở mức thấp làm cho giá trị đồng bản tệ bị suy giảm, không thể thực hiện đc các chức năng
cơ bản của tiền tệ, dẫn đến nhu cầu sử dụng ngoại tệ
Do trình độ quản lý nhà nước và chính sách tiền tệ quốc gia:
Tình trạng đô la hoá cũng có thể bắt nguồn từ khả năng quản lý và chính sách tiền tệ yếu kém của quốc gia, và sự chủ động theo đuổi những lợi ích mang lại từ đô la hoá
1.3 Tác động của đô la hóa:
• Tác động tích cực:
- Giảm áp lực đối với nền kinh tế trong những thời kỳ lạm phát cao, bị mất cân đối và các điều
kiện kinh tế vĩ mô không ổn định
Ở các nước đô la hoá chính thức, bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, họ sẽ duy trì được tỷ
lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài sản tư nhân,
Trang 5khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn Hơn nữa, ở những nước này ngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ra lạm phát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ vào nguồn phát hành này để trang trải thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách sẽ được thắt chặt
- Tăng cường khả năng cho vay của ngân hàng và khả năng hội nhập quốc tế
Với một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tại ngân hàng, các ngân hàng sẽ có điều kiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việc phải vay nợ nước ngoài và tăng cường khả năng kiểm soát của ngân hàng trung ương đối với luồng ngoại tệ Đồng thời, các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động đối ngoại, thúc đẩy quá trình hội nhập của thị trường trong nước với thị trường quốc tế
- Hạ thấp chi phí giao dịch
Ở những nước đô la hoá chính thức, các chi phí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiền khác được xoá bỏ Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết, các ngân hàng có thể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí kinh doanh
- Thúc đẩy thương mại và đầu tư
Các nước thực hiện đô la hoá có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ, khuyến khích tự do thương mại và đầu tư quốc tế Các nền kinh tế đô la hoá có thể được, chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách tiảm xuống và thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư
- Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phí chính thức
Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ để chuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị trường chính thức (thị trường hợp pháp)
• Tác động tiêu cực:
- Ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô Trong một nền kinh tế có
tỷ trọng ngoại tệ lớn, việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ
sẽ bị mất tính độc lập mà chịu nhiều ảnh hưởng bởi diễn biến kinh tế quốc tế, nhất là khi xảy ra các cuộc khủng hoảng kinh tế
- Làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ :
• Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán, do đó dẫn đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu thông kém chính xác và kịp thời
• Làm cho đồng nội tệ nhạy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do đó những cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế thông qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả
• Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá Đô la hoá có thể thực thi chính sách tỷ giá Đô la hoá có thể làm cho cầu tiền trong nước không ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đô la Mỹ, làm cho cầu của đồng đô la Mỹ tăng mạnh gây sức
ép đến tỷ giá
Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền, thì quốc gia bị đô
Trang 6la hoá sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu thông qua việc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái
• Ở trong các nước đô la hoá không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn định Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát Khi người dân giữ một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác (hoạt động đầu cơ tỷ giá) Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng Trường hợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến động làm cho người dân đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ này đã được ngân hàng cho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn, khi đó ngân hàng nhà nước của nước bị đô la hoá cũng không thể hỗ trợ được vì không có chức năng phát hành đô la Mỹ
- Chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước ngoài
- Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng của các ngân hàng.
Trong các nước đang phát triển chưa bị đô la hoá hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, song công chúng vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại các ngân hàng Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với các khoản tiền này Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chứ không thể áp dụng được đối với đô la
Mỹ Đối với vác nước đô la hoá hoàn toàn, khu vực ngân hàng sẽ trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng thương mại bị phá sản và sẽ phải đóng cửa khi chức năng người cho vay cuối cùng của ngân hàng trung ương đã bị mất
1.4 Tình hình đô la hóa ở Việt Nam:
Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, Việt Nam phải hoàn toàn tự lực cánh sinh Lúc này, các quan hệ đối ngoại được đẩy mạnh và mở rộng ra nhiều nước trên thế giới, các hoạt động kinh tế đối ngoại ngày càng trở lên sôi động hơn Các nguồn cung, cầu ngoại tệ ngày càng phong phú, ngoại tệ được sử dụng phổ biến trong dân cư Đến năm 1992, tình trạng Đô la hóa đã tăng lên
mạnh với hơn 41,2% lượng tiền gửi vào các ngân hàng là bằng đô la Mỹ (Hình A)
Nguyên nhân dẫn đến đô la hóa ở việt nam:
Biến động lạm phát và thay đổi tỉ giá:
• Đồng Việt Nam có giá trị không ổn định bằng đồng đô la Mỹ
• Tỉ giá USD/VND thay đổi rất thất thường theo từng ngày
lạm phát Việt Nam giai đoạn 1995-2008: (Hình B)
*Nguồn : tổng cục thống kê
Trang 7Trong các năm gần đây, tỷ lệ lạm phát liên tục gia tăng Trong chưa đến 10 năm gần đây, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam từ chỗ chỉ có 3,2% năm 2001 đã tăng lên đến 23 % năm 2008, phản ánh sức mua của đồng Việt Nam giảm rõ rệt.
Tỉ giá USD so với 1 số đồng tiền: (Hình C)
*Nguồn: niên giám thống kê
So sánh với các đồng tiền khác như GBP của Anh, SGD của Singapore và một số đồng tiền khác, trong những năm gần đây, đồng USD liên tục mất giá thì ở Việt Nam, đồng USD vẫn tiếp tục tăng giá Trong khi đó, khi so sánh với đồng USD, trong 20 năm qua, đồng Việt Nam đã mất giá đến hơn 9 lần Nếu tỷ giá USD/VND năm 1988 là 1892 thì đến cuối năm 2007, tỷ giá USD/VND đã là 16050 Điều này thể hiện vị thế chắc chắn không hề suy xuyển của đồng USD trên thị trường cũng như trong lòng người dân VN
Thực ra số liệu này đã cũ Tính đến ngày hôm qua (15/11/2009) , tỷ giá liên ngân hàng USD/VND là 17874
Tuy nhiên, đây là tỉ giá liên ngân hàng Còn thực tế, giá trị đồng đô được phán ảnh chân thực hơn ở thị trường chợ đen Tỉ giá ở đây có lúc hơn tỉ giá liên ngân hàng vảo khoảng 2 đến 3 nghìn đồng 1 đô
Thu nhập bằng USD của các tầng lớp dân cư:
• Người VN làm việc cho các công ty nước ngoài
• Lượng kiều hối chuyển về VN
• Thu nhập từ dịch vụ, du lịch: Lượng khách đến Việt Nam ngày càng tăng
• Thu nhập từ người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam (chủ yếu là cho người nước ngoài thuê nhà)
Thu nhập bằng Usd của các tầng lớp dân cư ngày càng tăng trên nhiều lĩnh vực Không chỉ thu từ lao động Việt nam ở nước ngoài, Việt Nam còn nhận nhiều nguồn thu nhập ngoại tệ
khác như: từ kiều hối (Hình D), từ hoạt động du lịch dịch vụ và từ người nước ngoài ở Việt nam.
(Chỉ trong khoảng 15 năm, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam đã tăng từ 35 triệu năm 1991 đến 5,5 tỷ năm 2007.)
Đồng thời với sự gia tăng của lượng kiều hối là việc ượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng liên tục từ 1,3 triệu người năm 1995 đến 4,2 triệu ng năm 2008, làm cho thu ngoại tệ từ các hoạt động dịch vụ, du lịch tăng nhanh Năm 2008, do ảnh hưởng của khủng hoảng kih tế thế giới, mức tăng của năm 2008 so với 2007 có hơi ít nhưng nhìn chung là vẫn tăng
Tình trạng buôn lậu qua biên giới diễn ra mạnh làm phát sinh nhu cầu lớn về sử dụng ngoại tệ:
Trong khi các cơ quan chức năng chưa thể giải quyết triệt để nạn buôn lậu thì hàng ngày những hoạt động đưa hàng qua biên giới trái phép vẫn diễn ra với nhiều quy mô hình thức khác nhau Lượng hàng hóa này phần lớn yêu cầu được thanh toán bằng ngoại tệ Tình trạng này làm cho nhu cầu nắm giữ ngoại tệ của “những cá thể có liên quan” tăng cao
Yếu tố tâm lý:
• Xuất phát từ tâm lý "chuộng ngoại" và sợ VND mất giá
Trang 8• Có thói quen sử dụng ngoại tệ trong việc tiết kiệm cũng như những giao dịch quan trọng như mua nhà cửa, đất đai, xe hơi, gửi ngân hàng và thậm chí cả khi quà cáp hay biếu xén…
Biện pháp:
Trước thực trạng này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cố gắng đảo ngược quá trình
Đô la hóa nền kinh tế Việt Nam và đã bước đầu thành công khi giảm mạnh mức tiền gửi bằng USD vào các ngân hàng xuống còn 20% vào năm 1996 (Đồ thị 1) Nhưng tiếp theo cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã khiến cho đồng Việt Nam giảm giá trị và Việt Nam tiếp tục chịu sức
ép của tình trạng Đô la hóa Đến cuối năm 2001, tỷ lệ đồng USD được gửi vào các ngân hàng tăng lên đến 30,26%, tỷ lệ này có xu hướng giảm đi trong những năm sau đó; giao động từ 22% đến 26%, năm 2010 là 24% Tuy nhiên số tiền gửi tuyệt đối bằng USD thì không ngừng tăng lên, năm 1995 là 1,5 tỷ USD, năm 2005 đạt 8 tỷ USD, nhất là sau khi chúng ta gia nhập WTO con số này đã tăng lên nhiều lần Chỉ tính riêng số Kiều hối hàng năm cũng đạt trung bình từ 8 – 10 tỷ USD Đến cuối quý I năm 2011, tổng số tiền gửi bằng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt gần 20 tỷ đồng
Hiện nay, ở Việt Nam việc yết giá các mặt hàng bằng USD diễn ra công khai như ô tô, nhà cửa, các sản phẩm công nghệ thông tin, quần áo và những sản phẩm cao cấp khác ngày càng trở nên phổ biến hơn Các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, một số đã trả lương nhân viên bằng USD; chi phí khách sạn và các dịch vụ dành cho khách du lịch nước ngoài phần lớn thanh toán bằng USD Các giao dịch này diễn ra khá tự do trên thị trường và ngày càng phổ biến, nhất là ở các thành phố lớn của Việt Nam đã hình thành các “chợ đen giao dịch đô la”, “ phố Tây ba lô” Vì vậy, nhiều người dân có xu hướng nắm giữ ngoại tệ trong nhà, không gửi vào ngân hàng bởi họ vẫn có thể thực hiện các chức năng tiền tệ như nội tệ
1.5 Tình hình đô la hóa trên thế giới
Những nền kinh tế có xu hướng đôla hóa thường là những nền kinh tế nhỏ, theo đuổi một chính sách tỷ giá cố định với đồng USD và có mối quan hệ thương mại rộng rãi với phần còn lại của thế giới (Hong Kong), hoặc là những nền kinh tế đã từng trải nghiệm hiện tượng siêu lạm phát do đó người dân đi tìm nơi trú ẩn cho tài sản của họ ở đồng USD (Argentina), hoặc những nền kinh tế chủ động chọn lựa đồng USD là đồng tiền chính thức của họ (Panama, Liberia)
Trang 9Một báo cáo của IMF cho thấy trong số các nền kinh tế bị đôla hóa, có đến bảy quốc gia
có số lượng USD trong khối tiền tệ vượt mức 50%, 12 quốc gia khác có số lượng USD chiếm từ 30% đến 50% khối tiền tệ quốc gia và phần lớn các nước còn lại có tỷ lệ từ 15-20% lượng USD trong khối tiền tệ của họ Một số trường hợp cụ thể như sau: Thổ Nhĩ Kỳ (46%), Argentina (44%), Nga, Hy Lạp, Ba Lan, Philippines (20%), Bolivia (82%)
Tình trạng đôla hóa phổ biến của nhiều nền kinh tế thế giới đưa đến hậu quả là lượng tiền mặt USD được găm giữ bên ngoài nước Mỹ cao gấp hai lần trong nước Mỹ Số liệu thống kê cho thấy trong khoảng thời gian từ 1989-1996, Mỹ đã xuất khẩu đến 44 tỉ USD tiền mặt sang Nga và
36 tỉ USD tiền mặt sang Argentina và có thể cả ngàn tỉ USD sang phần còn lại của thế giới
Hiện nay, nhiều ngân hàng Mỹ và các ngân hàng thương mại quốc tế khác tiếp tục mở rộng dịch vụ xuất khẩu tiền mặt USD sang các nước trên thế giới và xem đây là một dịch vụ ngân hàng béo bở mang đến nhiều lợi nhuận và ít rủi ro, xét về phương diện tài chính
1.6 Giải pháp chống tình trạng đô la hóa:
Thứ nhất, cần thực hiện các biện pháp vĩ mô để tăng dự trữ USD; chủ động trong điều
hành tỷ giá, tránh tăng tỷ giá quá mạnh gây kích thích tâm lý dự trữ USD; thực hiện đa dạng hóa ngoại tệ, tránh phụ thuộc vào USD; tiến tới mua bán ngoại tệ theo nhu cầu của người dân, sớm
có chủ trương bán ngoại tệ cho người dân có nhu cầu chính đáng như du học, chữa bệnh, đi công tác
Thứ hai, điều chỉnh cơ cấu sản xuất theo hướng tránh lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu, nhất
là nguyên liệu đầu vào để hạn chế nhu cầu USD
Thứ ba, nâng cao chất lượng dịch vụ của các tổ chức tín dụng, mở rộng thêm các tiện ích
gắn với việc giao dịch bằng tiền VND như dịch vụ thẻ, điểm thanh toán, cho vay tiêu dùng
Thứ tư, có giải pháp thu hút triệt để ngoại tệ từ các doanh nghiệp, cá nhân, người Việt
Nam ở nước ngoài khi mang ngoại tệ vào Việt Nam như mở thêm nhiều điểm thu đổi ngoại tệ tại các sân bay, cửa khẩu, khuyến khích tăng tỷ lệ quy đổi sang tiền VND với số lượng USD lớn
Thứ năm, sửa đổi các văn bản và quản lý chặt chẽ việc niêm yết hàng hóa trong nước
bằng VND, chẳng hạn ban hành một pháp lệnh
2 Vàng hóa
2.1 Khái niệm “vàng hóa” (Goldenization):
“Vàng hóa” có thể được hiểu là việc sử dụng vàng như phương tiện thanh toán chủ yếu trong nền kinh tế
Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi giá vàng trên thế giới biến động tăng cao liên tục và diễn biến thất thường, ở nước ta người dân đổ xô đi mua vàng để tích trữ Nhưng việc
Trang 10mua bán, tích trữ vàng của người dân để phòng ngừa lạm phát, làm tài sản tích trữ như vậy không thể được coi là “vàng hoá” được Khái niệm “vàng hóa” chỉ xuất hiện khi nào vàng trở thành một phương tiện thanh toán, định giá mua bán, trao đổi với các hàng hóa khác Nhưng thực tế, từ 10 năm nay, ở nước ta vàng đã không còn vai trò này nữa, người dân chỉ mua bán vàng như là một công cụ để tiết kiệm
Nếu như gọi việc tích trữ vàng là “vàng hoá” thì những nước nhập vàng lớn nhất thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ,… đều rơi vào tình trạng “vàng hoá” cao độ hay sao?
Như vậy khái niệm “vàng hoá” thường được sử dụng ở đây nhưng lại không đúng bản
chất Thuật ngữ “vàng hóa” là khái niệm thường chỉ được sử dụng phổ biến ở Việt Nam mà thôi.
2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng “vàng hóa” ở Việt Nam:
Với tình trạng của Việt Nam hiện nay và những số liệu về nhu cầu vàng, lượng vàng nhập khẩu chính thức hằng năm vào Việt Nam thì chúng ta phải công nhận rằng Việt Nam là quốc gia đã và đang rơi vào tình trạng “vàng hóa”
Từ năm 2008 trở lại đây, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, người dân và các nhà đầu tư trên thế giới đều tìm đến vàng như một loại tài sản an toàn hơn để nắm giữ, Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ
Cũng giống như các nền kinh tế đang phát triển khác, Việt Nam mặc dù đã từng có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng ít nhất là trong khoảng 10 năm trở lại đây, sự tăng trưởng này dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên và liên tục tăng đầu tư với chính sách tiền tệ dễ dãi trong khi năng suất lao động lại không phát triển Điều này dẫn tới thâm hụt mậu dịch kéo dài và lạm phát cao triền miên Riêng việc này đã làm cho đồng nội tệ kém hấp dẫn so với ngoại tệ mạnh Cộng thêm nữa là việc phá giá giật cục, bất thình lình, khiến cho người tiêu dùng không thể trở tay kịp Kết hợp lại, nó làm cho lòng tin vào đồng nội tệ bị bào mòn qua nhiều năm, và tạo thành một kỳ vọng vững chắc về vòng xoáy chôn ốc đi xuống của đồng nội tệ Vì thế người dân cũng như các nhà đầu tư buộc phải tìm đến những tài sản an toàn hơn, đó là vàng Đây cũng chính là cơ sở của hiện tượng “vàng hóa” ở nước ta
Có thể thấy được rằng thị trường và người dân đều không phải là nguyên nhân tạo ra tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế Chính chính sách điều hành lưu thông dòng tiền và vàng bất ổn cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng rất đáng lo ngại này
Từ nhu cầu của xã hội và người dân, những năm trước đây Nhà nước đã mở cửa thị trường vàng và từ đó các công ty vàng bạc đá quý ra đời, các cửa hàng mua bán vàng được thành lập theo quy định của pháp luật Hàng loạt các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân bỏ rất nhiều tiền của để đầu tư kinh doanh vàng Người dân có quyền lựa chọn các thương hiệu, các cửa hàng mà
họ tin tưởng Chính vì kinh doanh cạnh tranh như vậy nên giá vàng bình ổn và diễn biến của thị trường không bị xáo trộn Nhưng sau đó Ngân hàng Nhà nước lại cho phép các ngân hàng cổ phần thương mại được huy động vàng trong dân, biến đổi thành tiền để phục vụ cho phát triển kinh tế Đây là một chính sách có thể nói là ban đầu có cảm tưởng như thúc đẩy nền kinh tế, nhưng khi được "bật đèn xanh" như vậy, các ngân hàng lại mạnh ai nấy làm dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh và giá vàng đi ngược lại với thị trường thế giới Do giá vàng trồi sụt liên tục,