Vì vậy vấn đề đặt ra là làm thếnào để nâng cao hoạt động XKLĐ của công ty trước mọi khó khăn nảy sinh khiXKLĐ sang thị trường truyền thống là Đài Loan.Xuất phát từ tính cấp thiết trên đư
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG XKLĐ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CUNG ỨNG LAO ĐỘNG VÀ THƯƠNG MẠI HẢI PHÒNG – CHI NHÁNH HÀ NỘI SANG ĐÀI LOAN 3
1.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CUNG ỨNG LAO ĐỘNG VÀ THƯƠNG MẠI HẢI PHÒNG (HALASUCO) – CHI NHÁNH HÀ NỘI 3
1.1.1 Giới thiệu chung 3
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 4
1.1.3 Phương hướng hoạt động 4
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 4
1.2.1 Nhân tố thuộc về Đài Loan 4
1.2.2 Nhân tố thuộc về nhà nước Việt Nam 5
1.2.3 Nhân tố thuộc về bản thân công ty và người lao động 6
1.3 ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM 6
1.3.1 Đặc điểm cơ bản của lao động Việt Nam 6
1.3.2 Đặc điểm của thị trường lao động Việt Nam 7
1.4 THỰC TRẠNG XKLĐ CỦA CÔNG TY HALASUCO SANG ĐÀI LOAN 10
1.4.1 Tình hình thị trường lao động của Đài Loan 10
1.4.2 Chính sách của Đài Loan với lao động nước ngoài 13
1.4.2.1 Thời hạn được lưu trú và làm việc tại Đài Loan 13
1.4.2.2 Tiền lương 13
1.4.2.3 Thời gian làm việc 13
1.4.2.4 Bảo hiểm lao động 14
1.4.2.5 Thuế thu nhập 14
1.4.3 Thực trạng XKLĐ vào thị trường Đài Loan 14
1.4 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH, BIỆN PHÁP CÔNG TY ĐÃ ÁP DỤNG ĐỂ ĐẨY MẠNH XKLĐ 21
1.5 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ 22
1.5.1 Những thành tựu 22
1.5.1.1 Đã giải quyết được việc làm trước mắt cho hàng nghìn lao động 22
Trang 21.5.1.2 XKLĐ đã hình thành một lực lượng lao động có kỹ năng, tay nghề và
lối sống công nghiệp 23
1.5.1.3 Thị trường tiếp nhận lao động ngày một mở rộng, phong phú và đa dạng 23
1.5.1.4 Công tác quản lý bảo vệ quyền lợi người lao động được coi trọng 23
1.5.1.5 Chúng ta đã xây dựng được một đội ngũ nhân viên năng động, sáng tạo có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc 24
1.5.2 Những hạn chế 24
1.5.2.1 Tình trạng lao động phá hợp đồng trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp vẫn còn 24
1.5.2.2 Công tác thông tin tuyên truyền về xuất khẩu lao động và việc quản lý công tác tuyển dụng lao động xuất khẩu chưa tốt 24
1.5.2.3 Công tác tuyển chọn, đào tạo và chuẩn bị nguồn lao động chưa được coi trọng và đầu tư theo yêu cầu thị trường lao động quốc tế 24
1.5.2.4 Chất lượng nguồn lao động xuất khẩu của ta không cao 25
1.5.2.5 Thủ tục hành chính đưa lao động và chuyên gia ra nước ngoài làm việc còn quá rườm rà 25
1.5.3 Nguyên nhân 25
1.5.3.1 Về phía Đài Loan 25
1.5.3.2 Vể phía Việt Nam 25
CHƯƠNG 2: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XKLĐ CỦA CÔNG TY HALASUCO CHI NHÁNH HÀ NỘI SANG 27
ĐÀI LOAN 27
2.1 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG XKLĐ SANG ĐÀI LOAN 27
2.1.1 Thuận lợi 27
2.1.2 Khó khăn 27
2.2 ĐỊNH HƯỚNG XKLĐ CỦA VIỆT NAM SANG ĐÀI LOAN 28
2.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XKLĐ CỦA HALASUCO SANG ĐÀI LOAN .29
2.3.1 Đẩy mạnh hoạt động Marketing của doanh nghiệp nhằm thiết lập, duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu lao động 29
2.3.2 Tuyển chọn đúng lao động xuất khẩu phù hợp với yêu cầu công việc là tiền đề và quyết định hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động 31
2.3.3 Tăng cường quản lý người lao động: 33
2.4 KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG 35
2.4.1 Với Nhà nước 36
Trang 32.4.1.1 Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cơ chế chính sách: 36
2.4.1.2 Thiết lập quan hệ Nhà nước, cấp dưới nhà nước với các nước, vùng lãnh thổ có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài: 36
2.4.1.3 Về công tác quản lý Nhà nước 37
2.4.1.4 Hoàn thiện hệ thống quản lý và tổ chức bộ máy cán bộ quản lý Nhà nước về XKLĐ 38
2.4.1.5 Tăng cường trách nhiệm của các Bộ, ngành có liên quan và chính quyền các cấp trong việc xây dựng, quản lý và chỉ đạo hoạt động các doanh nghiệp XKLĐ và chuyên gia 39
2.4.1.6 Đa dạng hóa các tổ chức, các doanh nghiệp tham gia XKLĐ, đa dạng hoá hình thức và ngành nghề đưa đi XKLĐ 39
2.4.1.7 Xây dựng các cơ sở kinh tế đủ mạnh để hoạt động xuất khẩu lao động và tăng cường quản lý Nhà nước trên lĩnh vực này 39
2.4.2 Với người lao động 40
2.4.2.1 Kỹ năng sống và giao tiếp 40
2.4.2.2 Kiến thức về xã hội, văn hoá, luật pháp và phong tục nước nhận lao động 41
2.4.2.3 Chăm sóc sức khỏe 41
2.4.2.4 Quản lý tiền 41
2.4.2.5 Thái độ thích hợp, tiêu chuẩn và nguyên tắc làm việc 41
2.4.2.6 Các quyền lợi và trách nhiệm của người lao động: 42
KẾT LUẬN 43
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
2 Biểu đồ 1.2 Cơ cấu ngành kinh tế của Đài Loan 11
3 Biểu đồ 1.3 Số lao động nước ngoài tham gia vào các lĩnh vực
7 Biểu đồ 1.7 Số lao động xuất khẩu sang Đài Loan của công ty
HALASUCO – Chi nhánh Hà Nội từ năm 2006 - 2011
21
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Association of Southeast Asia
động và Thương mại Hải Phòng
APEC Asian – Pacific Economic
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
Trang 7tác đầu tư giao thông vận tải
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đang là xu thế chung của toànthế giới và cũng là nhu cầu bức thiết của các quốc gia trên thế giới Các quốc giamuốn phát triển nhanh chóng về mọi mặt kinh tế - chính trị - văn hoá – xã hội…thì bắt buộc phải tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam đã bắt đầucông cuộc hội nhập từ năm 1992, mở đầu bằng việc nối lại quan hệ với các tổchức tài chính tiền tệ quốc tế như WB, IMF… Vào năm 1995, Việt Nam gianhập vào khối ASEAN, năm 1996 gia nhập khối AFTA, năm 1998 là thành viênchính thức của khối APEC và tới năm 2007 Việt Nam là thành viên thứ 150 của
tổ chức thương mại thế giới WTO Với những mốc quan trọng trên, Việt Nam
đã từng bước hội nhập trên cả ba phương diện: Đơn phương, song phương và đaphương
Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, Việt Nam đang thựchiện chuyển đổi và đã thu được những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội quantrọng, được cả cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao Trong quá trình hộinhập, Việt Nam cũng đang cố gắng phát huy tiềm năng, nội lực để sản xuất ranhững mặt hàng chủ lực có khả năng cạnh tranh trên thương trường quốc tếcũng như tận dụng được lợi thế so sánh của mình Với kết cấu dân số trẻ, hàngnăm nước ta có một lượng lớn lao động và lao động bổ sung tham gia vào nềnkinh tế, song nền kinh tế Việt Nam lại chưa đủ khả năng hấp thụ hết toàn bộ lựclượng này Rất nhiều biện pháp của Đảng và Nhà nước đã được đưa ra để giảiquyết tình trạng thất nghiệp và một trong số đó là xuất khẩu lao động sang cácnước khác XKLĐ không chỉ đem lợi ích cho người dân nói riêng mà còn chotoàn nền kinh tế nói chung
Thị trường Đài Loan là một trong những thị trường truyền thống của laođộng Việt Nam Với kinh tế phát triển, đặc điểm văn hóa, xã hội, khí hậu tươngđồng, yêu cầu lao động nước ngoài không quá khắt khe, khó tính như thị trườngHàn Quốc, Nhật Bản… Đài Loan đã, đang và sẽ là điểm đến hấp dẫn của laođộng các nước nói chung và lao động Việt Nam nói riêng
Công ty Cổ phần cung ứng lao động và Thương mại Hải Phòng là một trongnhững công ty đi đầu về hoạt động XKLĐ của Việt Nam Từ khi thành lập đếnnay, mỗi năm công ty đã đưa được hang ngàn lao động sang làm việc ở các thịtrường khác nhau đem lại nguồn thu to lớn cho người lao động đồng thời đónggóp vào ngân sách nhà nước Mặc dù hoạt động ở nhiều thị trường như ĐàiLoan, Malaysia, Nhật Bản… nhưng Đài Loan là thị trường chủ lực của công ty,
là thị trường công ty đưa lao động sang làm việc nhiều nhất Trong điều kiện
Trang 9kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điều kiện cho rất nhiều công tyXKLĐ ra đời cùng với đó là những khó khăn từ nền kinh tế, chính trị của thếgiới đã và đang tác động tiêu cực đến công ty Vì vậy vấn đề đặt ra là làm thếnào để nâng cao hoạt động XKLĐ của công ty trước mọi khó khăn nảy sinh khiXKLĐ sang thị trường truyền thống là Đài Loan.
Xuất phát từ tính cấp thiết trên được đặt ra trong thực tiễn, em đã lựa chọn
đề tài: “Đẩy mạnh xuất khẩu lao động của công ty Cổ phần Cung ứng lao động và Thương mại Hải Phòng – Chi nhánh Hà Nội sang Đài Loan một cách bền vững” làm chuyên đề thực tập của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu lao động củacông ty Cổ phần Cung ứng lao động và Thương mại Hải Phòng – Chi nhánh HàNội trước những biến động to lớn của thị trường này
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Chỉ rõ thành tựu to lớn mà lĩnh vực XKLĐ của công ty HALASUCO đã đạtđược trong thời gian qua, những tồn tại và nguyên nhân của nó Đồng thời, đềxuất hệ thống giải pháp để nâng cao hoạt động XKLĐ của công ty HALASUCO
từ đó góp phần nâng cao năng lực XKLĐ trong công cuộc cạnh tranh trên thịtrường quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tình hình xuất khẩu lao động của Công
ty Cổ phần Cung ứng lao động và Thương mại Hải Phòng – Chi nhánh Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: bài viết tập trung nghiên cứu tình hình xuất khẩu lao độngcủa Công ty Cổ phần Cung ứng lao động và Thương mại Hải Phòng – Chi nhánh
Hà Nội
- Về thời gian: giai đoạn từ năm 2005 - 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làmphương pháp luận Đồng thời, phương pháp thống kê, phương pháp phân tíchtổng hợp cũng được sử dụng để luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần như lời nói đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụlục, đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Thực trạng XKLĐ của công ty HALASUCO - Chi nhánh Hà Nội sang Đài Loan
Chương 2: Những giải pháp nhằm đẩy mạnh XKLĐ của công ty HALASUCO – Chi nhánh Hà Nội sang Đài Loan
Trang 10CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG XKLĐ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CUNG ỨNG LAO ĐỘNG VÀ THƯƠNG MẠI HẢI PHÒNG –
CHI NHÁNH HÀ NỘI SANG ĐÀI LOAN
1.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CUNG ỨNG LAO ĐỘNG VÀ THƯƠNG MẠI HẢI PHÒNG (HALASUCO) – CHI NHÁNH HÀ NỘI.
1.1.1.Giới thiệu chung
Công ty cổ phần Cung ứng lao động và thương mại Hải Phòng là một trongnhững doanh nghiệp đi đầu trong hoạt động XKLĐ trên cả nước
Tên giao dịch là HALASUCO được thành lập năm 1993 theo mô hình công
ty Nhà nước, theo quyết định số 1227/QĐUB của UBND Thành phố Hải Phòng,giấy phép hoạt động số 25/LĐTBXH-GP của Bộ Lao động Thương binh và Xãhội Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, HALASUCO đã không ngừng mởrộng và lớn mạnh về mọi mặt
Địa chỉ: 21 Lương Khánh Thiện – Quận: Ngô Quyền – TP Hải Phòng
Điện thoại: 031.921.591 – 031.921.227
Fax: 031.921.897
Email: halasuco@hn.vnn.vn
Website: halasuco.com.vn
Văn phòng đại diện tại nước ngoài : Địa chỉ: 81, Lầu 9, P1, Đoàn 4, Đường
Văn Tâm, Khu Bắc Đồn, TP Đài Trung
Năm 2005 HALASUCO chuyển đổi thành công ty cổ phần, theo quyết định
số 416/QĐ-UB của UBND Thành phố Hải Phòng Giấy phép hoạt động số 140/LĐTBXH-GPXKLĐ của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Cùng với đó, công ty đã không ngừng mở rộng phạm vi kinh doanh trên cảnước với việc thành lập chi nhánh HALASUCO tại Hà Nội đã góp phần lớn vàoviệc nâng cao hiệu quả kinh doanh và mở rộng thị trường của công ty Chinhánh HALASUCO tại Hà Nội được Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nộicấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động số 0113008099 cấp ngày 09/06/2005.HALASUCO chi nhánh Hà Nội
Địa chỉ: Số 2 – Ngõ tuổi trẻ - Hoàng Quốc Việt – Cầu Giấy – Hà Nội
Điện thoại: 04.755.3381
Fax: 04.755.3382
Trang 111.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
HALASUCO là doanh nghiệp hàng đầu trong XKLĐ với chức năng, nhiệm
vụ chính là chuyên hoạt động trong lĩnh vực đưa lao động và chuyên gia ViệtNam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Cụ thể là:
- Tư vấn chọn thị trường (nước đi XKLĐ) và ngành nghề phù hợp Tùythuộc vào đặc điểm, tay nghề, trình độ của lao động mà công ty có những tư vấn
cụ thể về thị trường lao động phù hợp cũng như ngành nghề phù hợp nhất cholao động
- Đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng cho người lao động tham giaXKLĐ Công ty có các trung tâm đào tạo ngoại ngữ giúp cho các lao động cómột lượng ngoại ngữ cần thiết để giao tiếp với mọi người cũng như đáp ứngđược nhu cầu làm việc tại nước ngoài Ngoài ra công ty còn giáo dục địnhhướng cho lao động ngay từ đầu Những việc nên và không nên làm khi đi làmviệc tại nước ngoài, tạo một nền tảng cơ bản để người lao động có thể dễ dànghòa nhập với cuộc sống và công việc tại nước ngoài
- Hướng dẫn làm thủ tục xuất cảnh: Làm hộ chiếu, khám sức khỏe, làm thủtục vay vốn ngân hàng… Tạo điều kiện thuận lợi cho lao động có thể xuất cảnh
và nhập cảnh dễ dàng và thuận lợi
Ngoài ra HALASUCO còn tham gia vào hoạt động du lịch lữ hành quốc tế,
tư vấn dịch vụ du học, đào tạo và tư vấn giới thiệu việc làm trong nước, kinhdoanh hàng hóa phục vụ tiêu dùng và sản xuất, dịch vụ vận tải thủy bộ
1.1.3.Phương hướng hoạt động
Phương hướng hoạt động trong thời gian tới:
- Mở rộng thị trường XKLĐ sang các nước trong khu vực và các châu lụckhác như: Bruney, Quatar, Czech, Australia, Jordan, UAE, Macau…
- Tích cực triển khai các dự án tư vấn, dịch vụ du học
- Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho việc đào tạo tại chỗ
- Nâng cao năng lực hợp tác với các cơ sở sử dụng lao động, các tổ chứcgiáo dục ngoài nước để đẩy mạnh XKLĐ, du học
- Kiện toàn hệ thống cung ứng lao động chuyên nghiệp hiệu quả
- Đầu tư và các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác
- Thực hiện các hoạt động quảng bá, tuyên truyền, nâng cao hình ảnh vàthương hiệu HALASUCO
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.2.1.Nhân tố thuộc về Đài Loan
- Đài Loan có nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng GDP cao nhưng
Trang 12tốc độ tăng dân số thấp, do đó dẫn đến thiếu hụt về nguồn nhân lực Số lao độngtrong nước không đủ để đáp ứng cho nhu cầu lao động trong khi đó nền kinh tếcàng phát triển nhu cầu về lao động càng lớn Điều này làm cho Đài Loan cónhu cầu về nhập khẩu lao động khá cao Đây là một nhân tố ảnh hưởng rất lớnđến việc nhập khẩu lao động nước ngoài của Đài Loan cũng như là một cơ hộilớn cho các nước thực hiện hoạt động XKLĐ sang Đài Loan.
- Đài Loan có môi trường chính trị ổn định, không xảy ra bãi công, bạođộng, nội chiến, đồng thời là nơi có môi trường kinh doanh tốt nhất thế giới
- Hệ thống pháp luật, chính sách quản lý vĩ mô khá hoàn thiện, có hànhlang pháp lý khá thông thoáng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp XKLĐ sangthị trường này mà không gặp trở ngại gì
- Đài Loan có khí hậu, phong tục tập quán không khác gì so với phong tụcchung của phương Đông Người Đài Loan khá thân thiện điều này khiến cho laođộng nước ngoài nhất là lao động châu Á dễ dàng thích nghi hơn với cuộc sốngtại Đài Loan
- Đài Loan có khá nhiều công ty môi giới hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ nênviệc nhập cảnh của lao động nước ngoài cũng khá dễ dàng cũng như việc giải quyếtcác trường hợp vi phạm, bỏ trốn cũng được giải quyết kịp thời và triệt để
- Với tỷ giá hối đoái NT/USD là 34, Đài tệ cũng trở thành đồng tiền có mứcgiá khá cao điều này đã tạo điều kiện cho người lao động cớ mức lương cao hơn
do đó sẽ thu hút được nhiều lao động hơn vào thị trường này
- Lương cơ bản của lao động đã tăng lên 18.780 NT Điều này đã tạo độnglực cho người lao động nước ngoài sang làm việc tại Đài Loan Mức lương cơbản tăng sẽ làm cho thu nhập của người lao động nước ngoài tăng lên Đồng thờiđóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách nhà nước xuất khẩu
1.2.2 Nhân tố thuộc về nhà nước Việt Nam
- Việt Nam là một quốc gia đang phát triển có tốc độ tăng dân số cao.Nhiều lao động trở nên dư thừa do không có việc làm nhất là lao động ở nôngthôn Tận dụng được lợi thế so sánh của quốc gia hơn nữa do nhu cầu đầu tư mởrộng sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và nguồn thu cho ngân sách nênViệt Nam rất cần đưa lao động ra nước ngoài làm việc
- Đang dần hoàn thiện các chính sách quản lý đối với lao động xuất khẩu ranước ngoài một cách thống nhất và đồng bộ
- Việt Nam có nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực Cung ứng lao động
- Chính phủ Việt Nam có những biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp,người lao động đi làm việc tại nước ngoài
- Các văn phòng đại diện của các công ty tại nước ngoài kết hợp với Đại sứ
Trang 13quán Việt Nam luôn bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động Việt Nam ởnước ngoài.
1.2.3.Nhân tố thuộc về bản thân công ty và người lao động.
- Uy tín của công ty với người lao động trong nước cũng như đối với cácbạn hàng quốc tế là một nhân tố quan trọng thúc đẩy XKLĐ của chính công ty
- Chất lượng nguồn lao động:
Ngày nay các nước nhập khẩu lao động truyền thống đang đổi mới đầu tư vàhiện đại hoá công nghệ sản xuất, chuyển dịch đầu tư tư bản sang các nước có giánhân công và dịch vụ thấp, có nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài có trình độchuyên môn và kỹ thuật cao, tăng dần tỉ trọng lao động chất xám cao trong tổng
số lao động nhập cư Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hầu hết các nướcđang thiếu lao động có trình độ và đang tìm cách cải thiện chính sách nhằm thuhút lao động chất lượng cao.Với Việt Nam, mỗi năm có hơn 1 triệu người bổsung vào lực lượng lao động trong đó phần lớn lao động chưa qua đào tạo Do
đó Việt Nam chấp nhận xu hướng XKLĐ đi làm việc giản đơn, không qua đàotạo hoặc ít đào tạo Thêm vào đó là nhu cầu tiếp nhận lao động phổ thông tiếptục có nhu cầu lớn tại một số nước trong khu vực, nhất là đối với một số ngànhnghề lao động nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại Tuy nhiên hiệu quả kinh tế - xãhội của việc sử dụng lao động phổ thông trên thị trường lao động quốc tế cónhiều hạn chế do: thu nhập thấp, khả năng tiếp thu công nghệ mới có hạn, điềukiện làm việc kém, giá nhân công thấp…
1.3 ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM.
1.3.1 Đặc điểm cơ bản của lao động Việt Nam
Xét về nhiều yếu tố, lao động Việt Nam được giới chủ đánh giá khá cao sovới lao động của các quốc gia khác, tuy nhiên cũng có một số đặc điểm nổi bậtcũng như hạn chế sau:
- Mang nặng tác phong nông nghiệp
- Với thể lực yếu lao động Việt Nam chưa thích nghi được với cường độ laođộng công nghiệp
- Trình độ ngoại ngữ chưa cao
- Ý thức chấp hành tổ chức kỷ luật còn yếu
Trang 14- Trình độ lao động chủ yếu hạn chế trong những lĩnh vực nhất định.
1.3.2 Đặc điểm của thị trường lao động Việt Nam
Cùng với những thay đổi trong đời sống kinh tế- xã hội sau gần 30 năm đổimới, thị trường lao động với tư cách là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệthống thị trường các yếu tố sản xuất đã và đang được chính thức công nhận vàthể chế hóa bằng luật pháp Tuy được công nhận cách đây không lâu nhưng thịtrường lao động nước ta đã và đang có những bước phát triển tích cực, tạo công
ăn việc làm cho người dân Tuy nhiên, thị trường lao động Việt Nam vẫn cònphải chịu những áp lực lớn về dân số và tăng cung lao động
Theo quy định của Luật Lao Động Việt Nam độ tuổi lao động là từ 15 đến
60 đối với nam và từ 15 đến 55 đối với nữ Theo thống kê của Bộ lao độngthương binh và xã hội, tính đến hết năm 2010, dân số của Việt Nam là 86,9277triệu người Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là1,2%/năm, mỗi năm nước ta có khoảng 1,4 – 1,6 triệu người bổ sung vào lựclượng lao động Ước tính đến năm 2015, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động đạtgiá trị cực đại, chiếm tới 68,2% dân số, theo đó có 63,4 triệu người trong độ tuổilao động trên tổng số 94,3 triệu dân Theo thông báo của Tổng cục Thống kê,đến cuối năm 2011, dân số trung bình cả nước ước tính đạt 87,84 triệu người,tăng 1,04% so với năm 2010 Theo dự báo dân số 2009 - 2049 với phương ánmức sinh trung bình, dân số Việt Nam sẽ đạt 95,3 triệu người vào năm 2019;102,7 triệu người vào năm 2029 và 108,7 triệu vào năm 2049
Bảng 1.1: Số dân trong độ tuổi lao động từ năm 2004 – 2010
(đơn vị: triệu người)
Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Tổng số dân
Trang 15Biểu đồ1.1: Số dân trong độ tuổi lao động
năm 2005
năm 2006
năm 2007
năm 2008
năm 2009
năm 2010
năm 2011
Nguồn: Tổng cục thống kê
Những con số trên cho thấy Việt Nam hiện có một lực lượng lao động lớn và
tỉ lệ tăng hằng năm của số người trong độ tuổi lao động là rất cao Việt Namđang trong thời kì “cơ cấu vàng” về dân số nghĩa là số người trong độ tuổi laođộng cao hơn số người phụ thuộc Đây thực sự là một cơ hội “vàng” cho sự pháttriển kinh tế - xã hội của Việt Nam
Tại Việt Nam, tỷ lệ lao động thiếu việc làm thường cao hơn nhiều so với tỷ
lệ thất nghiệp Trong đó tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn thường cao hơn nhiều sovới thành thị Tổng cục thống kê cho biết, lực lượng lao động trong độ tuổi củanước ta năm 2010 khoảng 46,21 triệu người, tăng 2,12% so với năm 2009 Tuynhiên, tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 là 2,88% Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thịnăm 2010 là 4,43%, giảm 0,17% Tỷ lệ thất nghiệp khu vực nông thôn là 2,27%,tăng 0,02% so với năm ngoái Bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làmnăm 2010 của lao động trong độ tuổi là 4,5%, giảm 1,11% so với 2009 Trong
đó, khu vực thành thị là 2,04%, giảm 1,29%, khu vực nông thôn là 5,47%, giảm1,04% so với 2009
Cũng theo Tổng cục thống kê, tỷ lệ dân số cả nước từ 15 tuổi trở lên thamgia lực lượng lao động tăng từ 76,5% lên 77,3% năm 2010
Trong đó, tỷ lệ lao động khu vực nông - lâm - thủy sản giảm từ 51,9% năm
2009 xuống 48,2% năm 2010 Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 21,6% lên22,4% Khu vực dịch vụ tăng từ 26,5% lên 29,4%
Tỷ lệ thất nghiệp năm 2011 là 2,27%, trong đó khu vực thành thị là 3,6%,khu vực nông thôn là 1,71% Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổinăm 2011 là 3,34%, trong đó khu vực thành thị là 1,82%, khu vực nông thôn là3,96%
Trang 16Với những số liệu trên, vấn đề dân số thực sự trở thành một sức ép lớn đốivới nền kinh tế Điều này làm cho nhiều lao động nhất là ở nông thôn không tìmđược việc làm
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp đang thiếu lao động nhưng không saotuyển được đủ được Nguyên nhân chính là xuất phát từ chất lượng nguồn laođộng Thực tế cho thấy, lực lượng lao động chủ yếu của Việt Nam vẫn là laođộng giản đơn, khi có đến 65,3 % lao động không qua bất kỳ một trường lớp đàotạo nào Bên cạnh đó, những lao động có trình độ, tay nghề cao đã được đào tạohiện nay cũng chỉ đáp ứng được 15 - 20% yêu cầu của doanh nghiệp nhưng phảitiếp tục đào tạo thêm 2-3 năm nữa, ngay cả đội ngũ sinh viên cũng chưa đáp ứngđược yêu cầu về số lượng, cơ cấu, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và hộinhập kinh tế quốc tế Thiếu khả năng tư duy, sáng tạo và tính chủ động trongcông việc là một trong những nhược điểm lớn nhất của lao động hiện nay Hiệnnay Việt Nam đang thiếu hụt nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản
lý giỏi, công nhân lành nghề có tay nghề cao Theo Tổng cục Dạy nghề, trong cơcấu lực lượng lao động của Việt Nam từ 2005 - 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạonghề tuy có tăng qua các năm từ 19% năm 2005 (dân số 83 triệu người) đến 30-32% năm 2010 (dự kiến); 45% năm 2015 và ước tính đạt 55% (dân số ước 98,5triệu) vào năm 2020 nhưng vẫn rất thấp so với quy mô dân số và nhu cầu của thị
trường
Năng suất lao động của người lao động Việt Nam thấp hơn các nước trongkhu vực rất nhiều Năng suất lao động xã hội (tính bằng GDP theo giá thực tếchia cho một lao động làm việc) của nước ta còn thua xa so với năng suất laođộng của nhiều nước khác Cụ thể, hiện nay năng suất lao động của lao độngViệt Nam hiện thấp hơn Indonesia 10 lần, Malaysia 20 lần, Thái Lan 30 lần, vàNhật Bản tới 135 lần Dựa trên chỉ số cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tếthế giới, năm 2009 - 2010, Việt Nam chỉ xếp thứ 75/133 quốc gia về năng suấtlao động, trong khi đó vị trí của Singapore là 3, Malaysia 24, Thái Lan 36
Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tổng số việc làm chỉđáp ứng được cho 75% tổng số lao động Như vậy nghĩa là một phần tư số laođộng không thể tìm được việc làm ở trong nước Thêm vào đó là khủng hoảngkinh tế kéo dài từ năm 2008 đến nay đã khiến cho hàng loạt người lao động bịthất nghiệp
Việt Nam luôn phải đối mặt với tình trạng dư thừa lao động, cung luôn vượtquá cầu, vì vậy giá cả sức lao động của nước ta nói riêng và hầu hết các nướcđang phát triển nói chung là thấp hơn so với mặt bằng chung của thế giới.Chúng ta vẫn thường xem việc giá nhân công rẻ là một lợi thế tốt để cạnh tranh
và thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, điều đó cũng là một bất lợi cho ngườilao động trong nước khi giá cả sức lao động của mình luôn ở mức thấp hơn sovới lao động nước khác
Trang 171.4 THỰC TRẠNG XKLĐ CỦA CÔNG TY HALASUCO SANG ĐÀI LOAN 1.4.1 Tình hình thị trường lao động của Đài Loan
Đài Loan là vùng lãnh thổ thuộc Trung Quốc nằm ở khu vực Thái BìnhDương với diện tích là 36000 km2, đứng thứ 136 trên thế giới Dân số Đài Loankhoảng 23 triệu người đứng thứ 49 trên thế giới Tiếng Hoa phổ thông và tiếngbản địa (tiếng Phúc Kiến) là ngôn ngữ chính thức được dùng tại Đài Loan
Đồng tiền giao dịch của Đài Loan là Đài tệ, 1 USD tương đương khoảng 34Đài tệ
Phật giáo là tôn giáo thịnh hành ở Đài Loan với khoảng 4,9 triệu phật tử.Bên cạnh đó còn có Thiên chúa giáo, Đạo tin lành và Đạo Hồi
Đài Loan có vị trí khá gần Việt Nam chỉ mất 3 giờ bay từ Hà Nội hay Thànhphố Hồ Chí Minh Do đó mà thời tiết, khí hậu cũng khá gần gũi với thời tiết ViệtNam Hơn thế nữa do đều thuộc nền văn hóa Á Đông nên Đài Loan và ViệtNam cũng có nhiều nét tương đồng về phong tục tập quán và sinh hoạt
Đài Loan là một trong những vùng lãnh thổ có nền kinh tế phát triển nhấtchâu Á Cùng với đó, Đài Loan có nền công nghiệp phát triển hiện đại, có nhiềutập đoàn công nghiệp lớn ngoài ra còn có khoảng 80.000 xí nghiệp vừa và nhỏchiếm 98% tổng số xí nghiệp ở Đài Loan, đạt 50% tổng giá trị sản xuất côngnghiệp và 60% tổng giá trị sản phẩm xuất khẩu Các xí nghiệp vừa và nhỏ lànhân tố đã góp phần tạo nên sự tăng trưởng kinh tế của Đài Loan trong suốt 40năm qua và cũng là nơi sử dụng lao động nước ngoài nhiều nhất ở Đài Loan.GDP danh nghĩa của Đài Loan là 423 tỷ USD xếp thứ 23 trên thế giới Tốc độtăng trưởng GDP năm 2010 là 10,5%, GDP bình quân đầu người là 18.700USD/người Bước sang năm 2011, nền kinh tế Đài Loan vẫn trên đà phát triển nhanhchóng với mức GDP bình quân đầu người là 21.592USD/người (Nguồn: IMF)
Dự kiến Trong năm 2015, GDP bình quân đầu người của Đài Loan theo giá hiệnhành dự kiến sẽ là 731.040,74 Đài Tệ, thị phần của Đài Loan trong tổng GDPcủa thế giới được dự báo là 1,02%
Trang 18Biểu đồ 1.2: Cơ cấu ngành kinh tế của Đài Loan
Nguồn: CIA World Factbook
Để giảm bớt tình trạng thiếu nhân lực, từ tháng 10 năm 1989, Đài Loan đãnhận lao động từ bốn nước Indonesia, Thái Lan, Philippine, Malaysia,Mongolia Đến cuối năm 2004 tại Đài Loan có tổng số 314 034 lao động nướcngoài làm việc tại ĐL nhiều hơn 13 882 người so với năm trước Trong đó,người lao động Thái Lan chiếm 33.53% (105,281 lao động) trong tổng số laođộng nước ngoài, người lao động Philippine chiếm 29.03% (91.150 lao động),Việt Nam chiếm 28.74 % ( 90.241 lao động), Indonesia chiếm 8.69% (27,281người) Nhiều hơn 32.628 lao động Việt Nam tăng 56.66%, lao động Philippinetăng 9.795 người (tăng 12.04%, lao động Thái Lan tăng 553 người (tăng 0.53%)
so với năm 2003 Trong khi đó, số lao động Indonesia lại giảm 51.66% (tương
đương với 29,150 người) (Nguồn: CLA)
Trang 19Biểu đồ 1.3: Số lao động nước ngoài tham gia vào các lĩnh vực kinh tế
(đơn vị: vạn người)
Nguồn: The Council of Labour Affairs (CLA)
Từ biểu đồ trên ta thấy số lao động nước ngoài vào làm việc tại Đài Loanchủ yếu là ở lĩnh vực công nghiệp Theo số liệu thống kê của Bộ Nội vụ - Hộiđồng đào tạo nghề, từ năm 1992, lao động nước ngoài chủ yếu tập trung trongsản xuất, chiếm tỷ lệ lao động nước ngoài tại hơn 40% Ngoài ra, hàng chụcngàn lao động nước ngoài làm việc trong ngành công nghiệp xây dựng, hàngngàn lao động nước ngoài trên tàu cá như phi hành đoàn Đồng thời, các côngnhân nước ngoài khác đã được giới thiệu cho Đài Loan đa số là phụ nữ ĐôngNam Á Từ biểu đồ trên cho thấy rằng một số lượng lớn lao động nước ngoàilàm việc trong các dịch vụ xã hội từ năm 1995, đến năm 2005, số lượng của họ
đã đạt đến 14 triệu, gần bằng số lượng của các ngành công nghiệp sản xuất.Đài Loan là một thị trường xuất khẩu lao động tiềm năng của Việt Nam.Trong một vài năm trở lại đây, các doanh nghiệp Việt Nam cùng với các đối tácĐài Loan đã thường xuyên qua lại để tìm hiểu, gặp gỡ, đàm phán và ký kết hợpđồng Tuy nhu cầu lao động của Đài Loan rất cao nhưng chính quyền giới hạntrong số 300.000 người lao động nước ngoài Khác với thị trường Nhật Bản vàHàn Quốc, Đài Loan có chính sách nhận lao động nước ngoài chính thức, có hệ
Trang 20thống luật lệ và quy chế tương đối rõ ràng và khá chặt chẽ đối với lao động nướcngoài.
Lao động nước ngoài tập trung nhiều nhất ở huyện Đào Viên, sau đó làhuyện Đài Bắc, Chương Hóa, Đài Trung, Cao Hùng Hiện nay ở Đài Loan laođộng nước ngoài chiếm vị trí lớn nhất là lao động từ Indonesia, đứng thứ 2 làViệt Nam
Sau khủng hoảng kinh tế 2009, chính phủ Đài Loan đã có những biện pháphạn chế nhập cảnh đối với lao động Cùng với những biện pháp để khắc phụcnhững hậu quả của khủng hoảng Đài Loan đã từng bước đẩy lùi được khủnghoảng và tiếp tục trên đà phát triển Do đó trong thời gian tới nhu cầu về laođộng nước ngoài của Đài Loan sẽ tăng mạnh Đây là cơ hội lớn cho các doanhnghiệp XKLĐ các nước nói chung và các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam nóiriêng
1.4.2 Chính sách của Đài Loan với lao động nước ngoài
Lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan được điều chỉnh bởi một hệthống luật pháp tương đối đầy đủ và thống nhất và đồng bộ
1.4.2.1 Thời hạn được lưu trú và làm việc tại Đài Loan
Theo quy định của Pháp luật Đài Loan, chủ thuê được ký hợp đồng với laođộng nước ngoài mỗi lần là 2 năm; khi hết hạn nếu muốn thuê tiếp, chủ được xingia hạn thêm 1 năm Nếu những lao động làm việc tốt, không vi phạm pháp luậttrong 3 năm qua có thể được ký hợp đồng làm việc ở Đài Loan thêm 3 năm nữanhưng phải xuất cảnh về nước sau đó mới được tái nhập cảnh để làm việc
1.4.2.2 Tiền lương
Tiền lương cơ bản cho mỗi lao động được tuyển dụng là 18.780 NT$/thángTiền làm thêm giờ: Đối với lao động làm việc tại nhà máy, công trường làmthêm 2 giờ trong ngày bình thường được trả thêm 33% lương mỗi giờ, làm thêmcác giờ tiếp theo được trả thêm 66% lương mỗi giờ Làm thêm ngày chủ nhật,ngày nghỉ lễ, nghỉ phép được trả lương gấp 2 lần ngày thường Lao động giúpviệc gia đình và khán hộ công thì không được áp dụng chế độ trên Nếu làm việcthêm ngày chủ nhật sẽ được trả thêm theo thoả thuận ghi trong hợp đồng laođộng thường ở mức 528 Đài tệ/ngày
1.4.2.3 Thời gian làm việc
a Lao động trong nhà máy, công trường
Theo quy định tại Luật Tiêu chuẩn lao động của Đài Loan thì lao động trongcác cơ quan, công trường, xí nghiệp đều được áp dụng chế độ làm việc mỗi ngày
8 giờ và hưởng các quyền lợi theo quy định chung của luật này
Trang 21b Lao động giúp việc gia đình và chăm sóc người già, người bệnh
Trong lĩnh vực giúp việc gia đình và khán hộ công trong bệnh viện và cáckhu điều dưỡng, do tính chất đặc thù của công việc này là phải phục vụ nênkhông thể áp dụng chế độ l mà 8 giờ/ngày Thời gian làm việc, xin nghỉ, làmthêm giờ (vào ngày chủ nhật) đều phải căn cứ theo hợp đồng do người lao động
ký với chủ thuê Người lao động phải hoàn thành các công việc được chủ thuêgiao cho, hết việc trong ngày thì mới được nghỉ
1.4.2.4 Bảo hiểm lao động
Đối với lao động làm việc tại nhà máy, công trường, xí nghiệp được chủ laođộng chịu tiền Bảo hiểm lao động 100% Lao động giúp việc gia đình và khán
hộ công thì không bắt buộc tham gia bảo hiểm lao động Đối với các trường hợpkhác thì chủ lao động chịu 70%, người lao động chịu 20% và chính quyền trợcấp 10%
Bảo hiểm y tế: Chủ sử dụng lao động trả 60%, người lao động trả 30% vàchính quyền trợ cấp 10%
Bảo hiểm tai nạn đột xuất: người lao động tham gia tự nguyện, với nhữngngười không tham gia bảo hiểm lao động nhưng có tham gia bảo hiểm tai nạnđột xuất sẽ rất có lợi khi gặp tai nạn rủi ro khi làm việc
1.4.2.5 Thuế thu nhập
Được áp dụng đối với người lao động nước ngoài và được xác định theo thờigian làm việc trong năm của lao động
1.4.3 Thực trạng XKLĐ vào thị trường Đài Loan
Việt Nam bắt đầu XKLĐ vào thị trường Đài Loan từ năm 1999 Trong điềukiện cạnh tranh với các quốc gia khác nhưng tổng số lao động vẫn bị giới hạnnhư cũ, lao động Việt Nam đã phải gặp rất nhiều khó khăn trong việc chiếm lĩnhthị trường cho mình, phải cạnh tranh với lao động các nước khác để thay thế laođộng của họ Cũng chính vì vậy mà trong thời gian đầu, tốc độ đưa lao độngViệt Nam sang Đài Loan còn chậm vì phải đợi thời hạn lao động của lao độngcác nước khác hết mới có thể thay thế được họ
Trang 22Bảng 1.2: Lao động nước ngoài phân theo quốc gia tại Đài Loan
Nguồn: Văn phòng kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc
Biểu đồ 1.4: Số lao động các nước tại Đài Loan từ năm 2000 - 2004
Nguồn: Văn phòng kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc
Theo bảng số liệu trên, trong những năm đầu tiếp nhận lao động nước ngoàivào Đài Loan thì Thái Lan là quốc gia xuất khẩu lao động nhiều nhất qua cácnăm Kế đến là Philippine và Indonesia Việt Nam do mới bắt đầu khai thác thịtrường Đài Loan nên số lượng là không lớn Qua các năm kế tiếp Việt Namkhông ngừng tăng cường XKLĐ sang Đài Loan cả về chất và lượng Qua biểu
Trang 23đồ ta thấy năm 2003, 2004 Việt Nam đã vượt Indonesia về số lượng, và thu hẹpkhoảng cách một cách đáng kể với nước dẫn đầu là Thái Lan.
Trong hơn10 năm qua, Việt Nam đã đưa gần 200.000 lượt lao động sang làmviệc tại Đài Loan Tính đến hết tháng 6/2011, số lao động Việt Nam có mặt tạiĐài Loan là 85.650 người, tăng 6.269 lượt người kể từ đầu năm 2011 và chiếm21,43% trong tổng số lao động nước ngoài đang làm việc tại Đài Loan Laođộng Việt Nam vẫn giữ vị trí thứ 2 trong tổng số 6 nước XKLĐ tại Đài Loan(chỉ đứng sau Indonesia)
Cho tới nay đã có 158 doanh nghiệp Việt Nam chuyên doanh trong lĩnh vựcXKLĐ được phép cung ứng lao động cho Đài Loan Trong số lao động ViệtNam tại Đài Loan hiện nay thì số lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất chếtạo vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất là 57,70% (44.594 người); tiếp đến là chăm sócngười bệnh và giúp việc gia đình 41,02% (31.706 người); xây dựng 0,72% (554người) và thuyền viên 0,56% (435 người)
Biểu đồ 1.5: Cơ cấu lao động Việt Nam tại Đài Loan phân
theo lĩnh vực sản xuất
Nguồn: Văn phòng kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc
Phần lớn lao động Việt Nam tập trung nhiều nhất ở Huyện Đào Viên là14.683 người (19,00%); kế đến là Huyện Đài Bắc 10.840 người (14,03%);Huyện Chương Hoá 8.143 người (10,54%); Huyện Đài Trung 7.845 người(10,15%) Thu nhập của người lao động làm việc tại thị trường Đài Loan khoảng
500 USD/tháng (giúp việc gia đình) và từ 650 USD – 700 USD (lao động côngxưởng, hộ lý) Sau khi đã trừ đi các chi phí sinh hoạt tại Đài Loan số tiền trungbình lao động có thể gửi về nhà từ 300 USD – 350 USD Nhìn chung, người lao
Trang 24động làm việc tại Đài Loan có việc làm và thu nhập tốt được chủ sử dụng đánhgiá cao về khả năng làm việc, tính cần cù và chịu khó
Thị trường Đài Loan có một đặc điểm khác biệt so với các thị trường khác,thông thường các chủ sử dụng lao động uỷ quyền cho công ty dịch vụ việc làmtuyển lao động Tại Đài Loan có trên 800 công ty môi giới lao động hợp pháp,các doanh nghiệp của nước ta đã tiếp xúc và ký được hợp đồng cung ứng laođộng với trên 500 công ty môi giới Đài Loan để đưa lao động ra nước ngoài làmviệc Các công ty dịch vụ việc làm đó thường thu của người lao động một khoảnphí rất cao về các công việc này Vì vậy để bảo vệ quyền lợi cho người lao động
và dựa vào đặc điểm tình hình kinh tế của Việt Nam, chính phủ Việt Nam kếthợp với Uỷ ban lao động Đài Loan đã có những quy định cụ thể hợp lý về mứcphí này nhằm tránh tình trạng các Công ty môi giới Đài Loan và Việt Nam tự ýnâng mức phí lên cao gây thiệt hại cho người lao động Theo quy định cho phépcác công ty XKLĐ được phép thu của người lao động 30.000 NT$ (khoảng hơn
900 USD) phí môi giới và mỗi tháng 1.000 USD phí quản lý để trả cho công tydịch vụ Đài Loan Từ đầu năm 2005, Đài Loan đã tạm dừng tiếp nhận lao động
từ Việt Nam làm việc trong lĩnh vực giúp việc gia đình do tình trạng lao động tự
ý bỏ hợp đồng trốn ra ngoài làm việc Chính vì thế Việt Nam đã đánh mất thịphần tại thị trường truyền thống này, điều đó đã khiến không ít nhiều doanhnghiệp lao đao Mặc dù vậy cho đến nay chúng ta đã đưa được hơn 90.000 laođộng sang làm việc ở Đài Loan với nhiều loại ngành nghề khác nhau trong đóchiếm phần lớn là lao động nữ giúp việc gia đình
Với khoảng cách gần với Việt Nam, khí hậu và điều kiện sinh hoạt không có
gì khác biệt nhiều, Đài Loan là một thị trường đầy tiềm năng của lao động ViệtNam Mặc dù mức thu nhập ở thị trường này không cao như các nước Nhật Bản,Hàn Quốc, yêu cầu về tay nghề và chuyên môn ở mức vừa phải, điều đó làm chothị trường này khá phù hợp cho đại bộ phận lao động khu vực nông thôn ViệtNam Năm 2006 Việt Nam đã xuất khẩu hơn 14.000 lao động sang Đài Loan, sốlượng này được tăng dần qua các năm tiếp theo Tuy nhiên do vấp phải cuộckhủng hoảng tài chính kinh tế, Đài Loan đã phải chịu không ít những hậu quả do
nó để lại nên lượng lao động của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này giảmmạnh vào năm 2009 Trong năm 2008 và 6 tháng đầu năm 2009 vừa qua thịtrường này chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính thế giớilàmcho một bộ phận lớn lao động nói chung và lao động Việt Nam nói riêng rơi vàotình trạng thiếu việc làm (trong đó một bộ phận phải về nước mà không tiếp tụcgia hạn làm việc hoặc chưa hết hợp đồng lao động, một bộ phận bị chuyển sanglàm việc ở các cơ sở sản xuất và dịch vụ khác) Cùng với đó là một số nhà máyhoạt động cầm chừng tuần làm 3 đến 4 ngày do thiếu việc làm, còn một số nhàmáy luôn trong tư thế sẵn sàng đưa lao động về nước nếu hoạt động sản xuấtkinh doanh không duy trì được ở mức tối thiểu Tại một số nhà máy có mức thu
Trang 25nhập khá, người lao động đành phải chấp nhận mức lương cơ bản trong nhữngtháng khó khăn để chờ thời cơ khi nhà máy có thêm những đơn đặt hàng mới.Tuy nhiên đối với những cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ, gia công hàng hóacung cấp cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày thì ít bị ảnh hưởng bởi cơn bão tàichính, vì vậy số lao động làm việc tại những cơ sở sản xuất này vẫn có việc làm
và thu nhập tương đối ổn định
Nền kinh tế Đài Loan dần được phục hồi vào năm 2010 và từng bước thu hútnhiều lao động của các nước vào làm việc trở lại trong đó có Việt Nam Đầunăm 2011, với sự kiện Việt Nam phải đưa 10.000 lao động đang làm việc tạiLibya về nước, tiếp đến là hàng loạt thị trường XKLĐ khu vực châu Phi vàTrung Đông cũng bị thu hẹp dần Do đó Việt Nam sẽ tăng cường chú trọng hơnvào các thị trường truyền thống như Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản và đặc biệt
(Nguồn: Phòng quản lý lao động - Cục quản lý lao động ngoài nước)
Biểu đồ 1.6: Số lao động Việt Nam xuất khẩu sang Đài Loan từ 2005 – 2011
0 5000
năm 2006
năm 2007
năm 2008
năm 2009
năm 2010
năm 2011
(Nguồn: Phòng quản lý lao động - Cục quản lý lao động ngoài nước)
Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc là những thị trường truyền thốngcủa Việt Nam thì đó cũng là thị trường mà công ty HALASUCO đẩy mạnh hoạt
Trang 26động xuất khẩu Đặc biệt là thị trường Đài Loan là thị trường chính mà công tyhướng đến Hơn 80% lao động được xuất cảnh của công ty là vào thị trườngnày Công ty có hẳn một văn phòng đại diện tại Đài Bắc – Đài Loan để giúp đỡ
và giải quyết những vấn đề phát sinh của lao động một cách trực tiếp tại ĐàiLoan Do đó mà số lượng lao động mà công ty đưa đi XKLĐ tại Đài Loankhông ngừng tăng lên
Năm 2005 với sự thành lập của Chi nhánh Hà Nội của HALASUCO đã làmtăng số lượng XKLĐ vào thị trường này Cùng với những biến động của thịtrường XKLĐ chung của Việt Nam Công ty HALASUCO chi nhánh Hà Nội đã
và đang tìm kiếm những giải pháp hiệu quả để đẩy mạnh xuất khẩu sang thịtrường chính này Năm 2005 mới bắt đầu thành lập và đưa vào hoạt động chinhánh Hà Nội do đó mà số lượng XKLĐ của chi nhánh chưa cao chỉ đạt 231người Trong đó các công ty XKLĐ khác đã xuất cảnh được một số lượng khálớn lao động đi Đài Loan như SONA, TRAENCO, VINACONEC Cũng nhờ đó
mà XKLĐ chung của cả Việt Nam trong năm 2005 là 22.784 người Nếu sosánh lượng người của công ty với số liệu của cả nước ta có thể thấy được rằngcông ty đã XKLĐ đi chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng số lao động XK điĐài Loan (khoảng 1%)
Sau khi Chi nhánh Hà Nội của công ty HALASUCO được thành lập đã mởrộng phạm vi hoạt động của Tổng công ty ra các tỉnh và trong cả nước Chỉ sau1năm thành lập năm 2006 số lượng lao động xuất khẩu sang Đài Loan là 685người Chủ yếu là ở các tỉnh phía Bắc, các tỉnh phụ cận quanh Hà Nội như: PhúThọ, Bắc Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên Trong khi đó cả nước
có 14.127 người được xuất khẩu sang Đài Loan Chiếm khoảng 4,8% lao độngxuất khẩu sang Đài Loan của cả nước Cùng với sự phát triển và kinh nghiệmtích lũy được trong các năm tiếp theo, hoạt động công tác XKLĐ, HALASUCO
- Chi nhánh Hà Nội đã đưa được số lượng lớn lao động sang làm việc tại ĐàiLoan đóng góp một phần không nhỏ trong tổng số lao động Việt Nam xuất khẩusang Đài Loan Cũng nhờ đó mà tạo ra không ít công ăn việc làm cho người laođộng, nâng cao thu nhập của hộ và giúp họ có một tiềm lực kinh tế vững chắchơn khi trở về nước Tiếp tục trong các năm 2007, 2008 công ty đã không ngừngtăng số lượng người lao động đi làm việc ở Đài Loan Cụ thể năm 2007 công tyđưa được 872 người trong khi cả nước là 23.640 người (chiếm 3.7%) Năm 2008
số lao động của công ty đi làm việc tại Đài Loan là 1017 người trong đó cả nước
là 31.631 người ( chiếm khoảng 3.2%)
Năm 2009, khủng hoảng kinh tế xảy ra, hoạt động XKLĐ của Chi nhánh HàNội cũng theo xu thế của các công ty khác Đài Loan ít tiếp nhận lao động nướcngoài để tập trung phục hồi kinh tế sau khủng hoảng Chính điều đó đã làm cho
số lượng lao động xuất khẩu sang Đài Loan giảm mạnh, cụ thể là giảm đi 29%
so với cùng kỳ năm 2008 Bất chấp mọi khó khăn của cuộc khủng hoảng, công