Các giai đoạn thành thục buồng trứng Quan sát, theo đõi tôm cái, đặc biệt kích cỡ và màu sắc của buồng trứng giúp xác định chính xác giai đoạn thành thục của tôm penaeid.. Trong điểu ki
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
1.1.1 Trên thế giới
Penaeus vannamei có nguỗn gốc từ Thái bình Dương (từ Mexico, Nam Mỹ
đến Peru), nơi này có nhiệt độ nước quanh năm trên 20°C
Vào những năm 1970 và 1980, P.vannamei được chuyển từ nơi phân bố tự nhiên của chúng trên biển Thái Bình Dương của Trung và Nam Mỹ, từ Mexico đến Peru Từ đây, người ta đã thử nuôi chúng ở Tây Nam Thái Bình Dương, tại Mỹ và Hawaii, tới Đông Đại Tây Dương, từ Carolina, Texas, mién bic Mexico, Belize, Nicaragua, Colombia, Venezuela, và Nam Brazil Hiện nay, hầu hết các nước nói
trên đã có hệ thống nuôi khá hoàn chỉnh loài tôm này
P.vannamei được nuôi ở Châu Á vào những năm 1978/1979, khi tổ chức FAO
ở Phillipine cho tiến hành nuôi thử, năm 1988 tôm thẻ tiếp tục được nuôi thử tại
Trung Quốc Những thử nghiệm ban đầu này, chỉ Trung Quốc là tổn tại và phát
triển thành một ngành công nghiệp Năm 1994, người Trung Quốc đã tự sản xuất
được tôm giống phục vụ cho nhu cầu nuôi thương phẩm trong nước
Vào năm 1987, Agromarina Panama đã chuyển gần 100.000 post P.vannamei
đến Phillipine nhưng không thành công và việc thúc đẩy nuôi loài này ở Phillipine
bị hoãn lại hơn 10 năm [13]
Tôm bố mẹ sạch bệnh được chuyển từ Châu Mỹ đến Đài Loan vào năm 1996
[4] và các nhà chăn nuôi đã thành công trong quá trình cho đẻ, dưỡng ấu trùng, dẫn đến nhu cầu lớn về tôm bố mẹ hoang đã từ các nước Nam Mỹ vào năm 1997 Sản
lượng ban đầu 12 tấn/ha 12-15g/con, sau 75 ngày nuôi [4], tương tự ở Thái Lan và Indonexia
Bước đầu nghiên cứu sẵn xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh từ PL 12 — I5
Trang 3Đỗ Thị Thụ Minh 2
Giữa năm 1998, tại Đài Loan và Trung Quốc đã sản xuất thành công tôm bố
mẹ từ ao nuôi Tuy nhiên dịch bệnh, đặc biệt là Taura, WSSV, IHHNV (bị đưa vào
cùng với tôm bố mẹ tự nhiên từ Châu Mỹ) đã ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận và dẫn
tới xu hướng sử dụng tôm bố mẹ rể hơn mà không quan tâm đến các vấn đền về bản chất giống hay an toàn sinh học
Sản lượng tôm nuôi trên thế giới năm 2005 đã tăng 2,5 lần (tăng 1,5 triệu
tấn) so với năm 1995 Dẫn đầu là tom thé chân trắng, đạt kỷ lục tăng 8 lần (tăng
1,2 triệu tấn), trong khi tôm sú tăng 1,2 lần (khoảng 100.000 tấn) [13]
1.1.2 Việt Nam
Tôm thẻ chân trắng được đưa vào nuôi thử nghiệm tại Việt Nam năm 2001
bởi Trung Quốc
Theo FAO, năm 2002, tổng diện tích nuôi tôm thẻ của VN là 48.000 ha (chiếm 10% tổng diện tích nuôi cả nước), nhưng đến năm 2003, sắn lượng nuôi tôm
thể của Việt Nam đã đạt gấp 3 lần năm 2003 (30.000 tấn) [13]
Nghề nuôi tôm thể đã và đang phát triển mạnh tại Việt Nam, nhu cầu con giống là rất lớn Năm 2002, lần đầu tiên tại Việt Nam cho sinh sắn thành công tôm thể chân trắng từ nguồn tôm bố mẹ nhập từ Hawaii, tuy nhiên đến nay vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tôm bố mẹ nhập từ Hawaii, Thailand, nguồn tôm post nhập khẩu từ Trung Quốc
Với diện tích nuôi tôm thể chân trắng vào năm 2002 tại một số tỉnh Miễn
Trung và miễn Bắc, mật độ nuôi trung bình khoảng 100 con/mỶ, trung bình một năm nuôi 2,5 vụ, như vậy nhu cầu hằng năm là 120 tỷ con giống/năm, với giá post hiện nay trên thị trường là 30 đồng/con thì số tiền đầu tư cho con giống trên toàn quốc là 3.600 tỷ đồng
Bước đầu nghiên cứu sẵn xuất đàn tôm bố mẹ P vannamel sạch bệnh từ PL 12 — 15
Trang 4Đặc biệt, ngày 25/01/2008, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có
quyết định cho phép các tỉnh Nam Bộ nuôi tôm thẻ chân trắng do nhu cầu các nước
đang chuộng tôm thẻ chân trắng nên cần mở rộng vùng nuôi, tăng sản lượng đáp
ứng xuất khẩu [1]
Nhu cầu về con giống (đặc biệt là con giống chất lượng, phù hợp với điều
kiện khí hậu Việt Nam) đã, đang và sẽ là vấn để bức thiết cho sự phát triển nghề
nuôi tôm bền vững tại Việt Nam
1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM THẺ P.VANNAMEI
1.2.1 Vị trí phân loại của tôm thẻ
Tôm thẻ chân trắng là một trong 3.047 loài tôm đã được biết đến cho đến
nay (Chan, 1998) và là I trong 8 loài tôm he được nuôi rộng rãi trên thế giới
Tôm thẻ chân trắng (tên tiếng Anh: White leg shrimp) được phân loại là: Ngành: Arthropoda
Loài: Penaeus vannamei
Hinh 1.1: Penaeus vannamei [30]
Tên tiếng Việt: Tôm chân trắng, tôm bạc Thái Bình Dương, tôm bạc Tây
Châu Mỹ [22]
1.2.2 Đặc điểm hình thái
Tôm thẻ chân trắng có vỏ mỏng màu trắng đục nên còn có tên là tôm bạc,
bình thường chúng có màu xanh lam, chân bò có màu trắng ngà nên gọi là tôm chân
trắng
Bước đầu nghiên cứu sẵn xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh tit PL 12 — 15
Trang 5Đỗ Thị Thu Minh 4
Cơ thể tôm thẻ bao gồm 20 đốt chia làm 2 phần: đầu ngực (13 đốt), phần bụng (7 đốt) Phần đầu ngực có 13 đôi chân phụ tương ứng theo thứ tự từ trước ra
sau là: 2 đôi râu (anten), I đôi hàm trên, 2 đôi hàm đưới, 3 đôi chân hàm và 5 đôi
chân bò (pereiopod) Phần bụng gồm 7 đốt được bao bọc bởi 7 tấm vồ [23]
P.vannamei thuộc loài có cấu trúc cơ quan sinh dục ngoài ở con cái gọi là thelycum, và cơ quan sinh đục phụ ở con đực là petasma
Mặt bụng tôm: thelycum ở con cái nằm giữa 2 đôi gốc chân bò thứ 4 và 5,
còn đối với tôm đực petasma nằm ở đôi chân bơi thứ nhất [23]
Trong thiên nhiên, tôm trưởng thành, giao phối, sinh đẻ trong vùng biển có
độ sâu 70m với nhiệt độ 26 — 28°C, độ mặn khá cao (35%o) Tritng né ra 4u tring
và vẫn loanh quanh ở khu vực sâu này Tới giai đoạn postlarvae, chúng bơi vào gần
bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn Nơi đây điều kiện môi trường khác
biệt: đổ ăn nhiều hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt độ cao hơn Sau một vài tháng, tôm
con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và tiếp diễn cuộc sống, sinh sản chọn
chu kỳ
Bước đầu nghiên cứu sản xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh từ PL 12 ~ 15
Trang 6
Life Cycle
of Penaeid Shrimp
Hình 1.2:(4): Chu kỳ sống của tôm phân bố theo độ sâu
(B): Chu kỳ sống của tôm phân bố dọc theo vùng biển Texas (a) trứng tôm (b) nauplii (c) zoea (d) mysis (e) postlarvae (ƒ) tôm non (g) tôm lớn (h) tôm trưởng
thành [26]
1.2.4 Đặc điểm sinh sản
Tôm thẻ chân trắng thành thục sớm, con cái có khối lượng từ 30 ~ 45g/con là
có thể tham gia sinh sản
Mùa sinh sản của tôm chân trắng ở vùng biển lại có sự khác nhau ví dụ: ở
ven biển phía Bắc Equador tôm đẻ từ tháng 12 đến tháng 4
Lượng trứng mỗi vụ đẻ phụ thuộc vào cỡ tôm mẹ: nếu tôm mẹ từ 33-45g thì
lượng trứng từ 100.000-250.000 mỗi lần đẻ, đường kính trứng 0.22mm [27]
Dựa vào cấu trúc của thelycum và kiểu giao vĩ mà người ta chia các loài trong họ Penaeidae thành 2 nhóm: thelycum kín và thelycum hở Các loài thuộc nhém thelycum kin (vi du: Penaeus monodon, P.merguiensis, P japonicus) c6 cac
tấm bên của thelycum uốn cong và khép kín lại tạo thành một khoang chứa túi tỉnh
của tôm đực chuyển vào trong quá trình giao vĩ Việc giao vĩ được thực hiện ngay
Bước đầu nghiên cứu sân xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh từ PL 12 — 1Š
Trang 7Đỗ Thị Thu Minh 6
sau khi tôm cái vừa lột xác xong, vỏ còn mềm Túi tinh này có thể được sử dụng
trong vài lần đẻ liên tiếp của tôm cái cho đến lần lột xác tiếp theo Các hoạt động của tôm cái diễn ra theo trình tự: lột xác > giao vi > thành thục buồng trứng > dé
trứng
Đối với các loài trong nhóm thelycum hở (P vannamei, P.stylrostris), các tấm bên của thelycum không khép kín lại Việc giao vĩ được thực hiện trong tình
trạng tôm cái có vỏ cứng và chỉ xảy ra một vài giờ trước khi tôm đẻ Trong quá
trình giao vĩ, tôm đực sẽ gắn túi tỉnh vào thelycum hở của con cái Sau mỗi lần đẻ,
các tinh trùng này sẽ bị mất đi và để cho trứng được thụ tinh thì trước mỗi lần đẻ
tôm phải được giao vĩ lại Các hoạt động của tôm cái điễn ra theo thứ tự: lột xác
thành thục buồng trứng giao vĩ > đẻ trứng [20]
Các giai đoạn thành thục buồng trứng
Quan sát, theo đõi tôm cái, đặc biệt kích cỡ và màu sắc của buồng trứng giúp
xác định chính xác giai đoạn thành thục của tôm penaeid Trong điểu kiện nuôi
nhốt, cần biết chính xác các giai đoạn phát triển của buồng trứng nhằm tránh tối đa
stress cho tôm và tránh trường hợp con cái đẻ trứng trong bể (Browdy, 1992)
Cũng như nhiễu loài tôm khác thuộc nhóm penaeid, sự phát triển buồng
trứng của P.vawnamei được chia thành 5 giai đoạn:
- Giai đoạn I (chưa thành thục): buồng trứng chưa phát triển, màu trong
Trang 8-_ Giai đoạn 4 (thành thục hay chín): buồng trứng phát triển đạt kích thước
cực đại, phân thùy ở đốt bụng 1, màu sắc đậm và rõ nét
-_ Giai đoạn 5 (giai đoạn thoái hóa hay đẻ xong): thể tích buồng trứng co
hẹp lại, rỗng và trong suốt giống như giai đoạn 1 Tuy nhiên có thể phân biệt được
tôm ở giai đoạn 5 với tôm giai đoạn 1 ở chỗ: buồng trứng vẫn còn vết mờ đục sau
khi đẻ một vài ngày trước khi trở nên không nhìn thấy được (như ở giai đoạn 1) [9]
1.2.5 Các bệnh thường gặp trên tôm bố mẹ P.vannamei
1.2.5.1 Các bệnh do virus
Tôm P.vannamei được biết tới như là những nhân tố truyền các loại bệnh
virus: WSSV, BP, IHHNV, REO, LOVV, và TSV Những virus này có thể truyền
sang tôm he trong tự nhiên [15]
- Virus hội chứng Taura
Có lẽ sự lo ngại lớn nhất của các nước Châu Á hay các nước đang muốn
nhập khẩu tôm chân trắng (P.vannamei) là khả năng du nhập TSV
TSV là virus chứa ARN đơn và dễ bị đột biến, đáng ngại hơn là liên quan
chặt chẽ với những virus côn trùng khác [13]
TSV lần đầu tiên được xác định từ các đần nuôi xung quanh con sông Taura
ở Ecuado vào năm 2002 và lan nhanh chóng ra toàn Châu Mỹ — Latinh và Bắc Mỹ
trong vòng 3 năm, dan dan lan sang Chau A va gan day nhất là Thái Lan (2003)
[15]
TSV thường gây bệnh cho tôm nhỏ trong khoảng từ 2 đến 4 tuần khi nuôi
trong ao hoặc bể (0.1 - 0.5g) Ở giai đoạn cấp tính của bệnh, trước khi lột xác tôm
bị yếu, vỏ mềm, ống tiêu hóa rỗng và sắc đồ lan rộng ra, đặc biệt là phần đuôi (vì
thế người ta thường gọi là bệnh đỏ đuôi) Những con tôm này thường chết trong khi
Bước đầu nghiên cứu sẵn xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh từ PL I2 - 15
Trang 9Đỗ Thị Thu Minh 8
lột xác (5-95%) Những con còn sống sẽ có dấu hiệu phục hổi và bước sang giai
đoạn mãn tính bệnh Những con tôm này sẽ có những biểu hiện thương tổn bên
ngoài như: nhiễm hắc tố, bị rỗ, có biểu hiện bất thường phân bố một cách ngẫu
nhiên Mặc dù sau đó tôm có sức để kháng với sự xuất hiện bệnh, chúng vẫn mang TSV không thể hiện ra bên ngoài và có thể truyền ra môi trường hoặc cho con con
{12]
- IHHNV (infectious hypodermal and hematopoietic necrosis virus) IHHNV được phát biện đầu tiên trên P.vannamei vao nam 1981 tai Hawaii.[12]
IHHNV là loại virus có AND xoắn đơn, được biết chỉ ảnh hưởng đến loài tôm
he (Penaeid) Cũng như hầu hết các loại virus quan trọng đối với tôm, việc lây lan diễn ra rất nhanh và gây hậu quả nghiêm trọng do nguyên nhân là những động vật
đã ăn những con tôm yếu hoặc gần chết, mặc dù việc truyền nhiễm từ môi trường
nước (do việc sống chung) thường không gây hậu quả nghiêm trọng Lây nhiễm dọc
từ tôm bố mẹ sang tôm giống là hình thức phổ biến [13]
Những đấu hiệu cơ bản của dịch bệnh: chủy bị biến dang, co thé bị cong, tôm
phát triển chậm, tôm không chết nhưng phát triển không đồng đều [1]
- WSSV (white spot syndrome virus)
Hiện nay, WSSV đã và đang là một trong những loại gây tác động nghiêm
trọng nhất đối với ngành nuôi tôm công nghiệp ở Châu Á (từ năm 1992) và Châu
Mỹ (từ năm 1992) Đây là mầm bệnh đặc biệt nguy hiểm với một số lượng lớn các
loài vật chủ [28]
WSSV là virus AND xoắn kép (Lighiner, 1996), WSSV gây ảnh hưởng đến
các loại mô ngoại bì, trung bì, bao gồm: các mô biểu bì, liên kết, thần kinh, cơ,
Bước đâu nghiên cứu sẵn xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh từ PL 12 - 15
Trang 10bạch huyết, máu Loại virus này cũng ảnh hưởng nghiêm trọng tới da day, mang,
tuyến râu, tim và mắt Hệ gan tụy của tôm sẽ chuyển sang màu đỏ và có những
đốm trắng 1 - 2mm xuất hiện trên giáp tôm, phần phụ và mặt trong vỏ tôm Tỷ lệ tôm chết tăng dẫn đạt đến 100% trong vòng từ 2 đến 7 ngày kể từ khi bị cảm nhiễm
{1}
1.2.5.2 Các bệnh khác
Bệnh hoại tử gan tụy (NHP)
NHP do vi khuẩn nội bào giống như trùng rận gây ra, là một loại bệnh quan trọng trong nuôi tôm he ở Texan kể từ khi phát hiện bệnh lần đầu tiên vào năm
1985, Ở Châu Á chưa có báo cáo về NHP, song bệnh này có thể gây ra tổn hại lớn khi nó lan truyền đến từ nguồn tôm Châu Mỹ [13]
1.3 CAC YEU TO ANH HUONG DEN SỰ THÀNH THỤC TÔM BO ME Ở
LOAI PENAEID
1.3.1 Môi trường
- Chất lượng nước: đặc biệt quan trọng trong sự thành thục ở tôm
P.vannamei Nước biển càng xa bờ càng có thành phần và các đặc tính khác như độ
mặn, nhiệt độ ổn định cao hơn nước gần bờ Nước dành cho nuôi vỗ tôm bố mẹ
P.vannamei cần phải đảm bảo có độ mặn 28-36%, nhiệt độ 26-29°C, pH ổn định ở
mức 8 nhằm đảm bảo không ảnh hưởng thành phần khoáng có sẵn trong nước (ở một số loài tôm pH 7 ức chế sự phát triển buồng trứng), không có nitrogen, oxy tối thiểu là 5ppm [29]
Bước đâu nghiên cứu sẵn xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh từ PL 12 — 15
Trang 11lb, KHOA HOG TUN
_TRU VIEN
01757
r}
Đặc điểm Yêu cầu đạt Đặc điểm Yêu cầu đạt
Nhiệt độ 26 - 290C Kích cỡ bể Đường kính > 3m
Oxygen > Sppm Mật độ 1— 10m?
Giờ có ánhsáng | 14 Tỷ lệ cho ăn 10-25%/ngày
Thay nước 100-500% Thức ăn 'Tươi/công nghiệp
1.3.2 Dinh dưỡng
1.3.2.1 Lipid
Chính xác lipid dự trữ đủ là lượng lipid đủ để đáp ứng nhu cầu các chất đinh
dưỡng đặc biệt như HUFA, phospholipids và sterols, đáp ứng nhu cầu năng lượng
Đến nay, giáp xác vẫn được xem là nhóm có khả năng tự tổng hợp HUFA kém [7],
và không có khả năng tự tổng hợp sterols [10]
- Lipid tổng số
Cho đến nay, chỉ có duy nhất một báo cáo của Bray và cs (1990) là để cập
đến nhu câu lipid tổng số của tôm bố mẹ Các tác giả này thử nghiệm sinh sản trên
L.stylirostris được cho ăn với 3 mức lipid tổng số khác nhau: 7.8%, 11.1% và 13.9%
Kết quả chế độ ăn với lipid tổng số 11.1% cho kết quả lượng nauplii và chiéu dai
Bước đầu nghiên cứu sân xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh từ PL 12 — 15
Trang 12zoea cao nhất Một nghiên cứu gần đây cho thấy, chế độ ăn với lượng lipid tổng số
9% sẽ làm chậm lại quá trình thành thục buồng trứng ở P.vannam ei [§]
Bảng 1.2: Các phân tích về hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn tươi, thức
ăn nhân tạo trong thí nghiệm và thức ăn nhân tạo trên thị trường dành cho tôm bố
Độ ẩm Ns_ | 80 Ns | Ns |Ns | Ns |78 |Ns | 20 /<10/7 |8 Sử |
Ns=không rõ
A=mực, giun nhiều tơ, tôm, Artemia theo tỉ lệ 4:2:2:1 (Bray và cs (1990)); B=mực
và nhuyễn thể 2 mảnh theo ti 1é :1:3:1 (Marsden va cs 1997); C= Chamberlain
(1988); D=Galgani va cs (1989); E=Bray va cs (1990); F=Nascimento va cs (1991);
G=Marsden va cs (1997); J=Breed S (Công ty thủy sản INVE, baasrode, Bỉ) hướng dẫn sử dụng cho ăn 60% chế độ ăn; K=golden Spawn (tesgofarm Aqua, netherland)
cho ăn 100% chế độ ăn; L=Higashimaru (Higashimaru, Nhật); M=madMac-MS
premix (Aquafauna Biomarine, My); N=Nippai (Nippai, Nhat); P=Zeigler (Zeiger
Bros., Mỹ) bổ sung 1% vào lượng thức ăn hằng ngày
Bước đầu nghiên cứu sẵn xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh từ PL 12 — 15
Trang 13Một số nghiên cứu đã xác định lipid tổng số, các loại acid béo, các lipid dựa
trên thành phần lipid trong các mô tôm bố mẹ, trứng và nauplii trong suốt quá trình thành thục buồng trứng Các chỉ số sinh hóa này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
quá trình chuyển hóa lipid và nhu cầu lipid trong chế độ ăn trong thời kỳ thành thục
và sinh sản của tôm Các nghiên cứu trên các loài tôm như: Fenneropenaeus
indicus, L.setiferus, Marsupenaeus japonicus, Melicertus kerathurus va Penaeus
monodon Những nghiên cứu ban đầu về sự chuyển hóa lipid cho thấy trong giai
đoạn thành thục buồng trứng, lipid được chuyển từ gan đến buồng trứng qua đường
máu như ở loài M,japonicus Ở các loài tôm penaeid, nếu lượng lipid trong buồng
trứng tăng lên thì đồng thời lượng lipid trong gan giảm xuống Điều này chứng tỏ
gan là nơi dự trữ lipid cho buồng trứng Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy, lipid
dự trữ trong buồng trứng có nguồn gốc từ thức ăn Trong một số nghiên cứu, không
có mối quan hệ tỷ lệ nghịch nào giữa lượng lipid trong gan va lipid trong buồng
trứng chứng minh rằng lượng lipid tự tổng hợp là quá thấp so với lượng lipid tăng
đáng kể trong buồng trứng [16]
- Các acid béo
Nhìn chung, các acid béo chiếm nhiều nhất trong buồng trứng thành thục của loài tôm penaeid là: 16:00, 16:1n-7, 18:1n-19, 20:4n-6, 20n:5n-3 va 22:6n-3 n-3
Bước đầu nghiên cứu sản xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh từ PL 12 ~ 15
Trang 14HUFA, đặc biệt là 20:5n-3 và 22:6n-3, trong buồng trứng cao hơn trong gan, người
ta cho rằng nó đóng vai trò chính trong sự sinh sản ở tôm Điều này có thể được chứng minh qua các thức ăn tươi có chứa nhiều n-3 HUFA cho kết quả tốt như thức
ăn gồm mực và giun nhiều tơ Ngoài ra còn có một số nghiên cứu đánh giá mức độ
ảnh hưởng của n-3 HUFA lên sự thành thục của tôm bố mẹ Một thí nghiệm của
Alava cho biết chế độ ăn không có n-3 HUFA sẽ làm chậm lại sự phát triển buồng trứng ở tôm M.japonicus Xu đã thử thay đổi thành phần acid béo trong chế độ ăn của tôm bố mẹ F.chinensis bing c4ch st dung các nguồn lipid khác nhau (dầu cá, dầu hạt gai, dầu bắp và mỡ heo) Kết quả, chế độ ăn có đầu cá có lượng n-3 HUFA trong trứng cao nhất, và chỉ duy nhất chế độ ăn này cho kết quả sinh sản tốt Người
ta thấy có mối qua hệ tỷ lệ thuận giữa lượng 20:5n-3 trong trứng và sự mắn đẻ, giữa
22:6n-3 trong trứng và tỷ lệ nở Do đó, Xu và cs cho rằng 20:5n-3 đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển buồng trứng, trái lại 22:6n-3 có thể đóng một vài
vai trò khác trong quá trình phát triển phôi trong giai đoạn đầu Một nghiên cứu
tương tự của Cahu và cs (1995) trên tôm bố mẹ từ ao nuôi F.izđicus với chế độ ăn
gồm dầu hướng dương, dầu gan cá và dầu trứng cá Lượng n-3 HUFA trong trứng bị
ảnh hưởng bởi chế độ ăn, ví dụ nếu thức ăn chứa 1,44-2,49% n-3 HUFA thì lượng n-
3 HUFA trong trứng sẽ là 3,61-3,82%, nhưng nếu lượng n-3 HUFA trong thức ăn
khoảng 0,56% thì n-3 HUFA trong trứng cũng thấp hơn (2%) Tỷ lệ nở cũng liên quan đến n-3 HUFA Trong nghiên cứu ban đầu, Cahu và cs (1994) đã quan sát tỷ
lệ đề của L.vannamei khi cho ăn thức ăn không có HUFA va phospholipid Wouters
và cs (1999) thí nghiệm trên P.vannamei cho ăn artemia sinh khối giàu dinh dưỡng,
sau đó thay bằng artemia được nuôi bằng dầu dừa (không có HUFA và cholesterol), kết quả tỷ lệ thụ tỉnh giầm, nhưng không ảnh hưởng đến sự thành thục [16]
Bước đầu nghiên cứu sản xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh từ PL I2 — 15
Trang 15Đỗ Thị Thu Minh 16
sự khác biệt quan trọng về acid béo nên rất khó để xác định acid béo nào tốt nhất
Bảng 1.3 cho thấy thức ăn nhân tạo có ít arachidonic acid (20:4n-6) - một dạng
HUFA - 1a tién chat dé téng hop prostaglandin, có vai trò trong sinh san (Sargent
va cs., 1989) Hơn nữa, thức ăn nhân tạo cũng ít EPA (20:5n-3) so với thức ăn tươi,
dẫn đến tỷ lệ DHA/EPA cao và n-3 HUFA thấp Không có sự so sánh nào giữa n-3
và n-6 Thực tế, tỷ lệ n-3/n-6 trong thức ăn tươi, thức ăn nhân tạo và mô tôm rất
khác nhau Lylte và cs (1990) cho rằng có sự tổn tại cân bằng giữa n-3 và n-6, ông cho rằng chế độ ăn trong giai đoạn thành thục phải có tỷ lệ n-3 và n-6 cao Người ta
chấp nhận lượng 20:5n-3 và 22:6n-3 cao, lượng arachodonic acid (20:4n-6) vừa phải trong chế độ ăn Lượng n-3 và n-6 trong báo cáo của Ravid và cs (1999) và
Wouters và cs (1999) củng cố thêm giả thuyết này Cả 2 nghiên cứu chứng minh tỉ
lệ n-3 và n-6 trong buồng trứng thành thục ở P.semisulcatus và P.vannamei Khoảng 2:1, đặc biệt trong nauplil của P.vannamei tỷ lệ này là 3:1.[ L6]
Bảng 1.4: Thành phần acid béo (% trên tổng acid béo) trong thức ăn tươi và thức ăn nhân tạo dùng cho tôm bố mẹ [ 16]
Acid béo 'Thức ăn tươi Thức ăn nhân tạo
16:00 7,5 25,0 13,6 20,7 19,4 | 29,2 | 16:1 | 3,6 5,7 6,1 7,2 3,5 4,6
Trang 16
- Cac nhom lipid
Những nghiên cứu sinh hóa ban đầu trên tôm hoang dã cho thấy phospholipids, tricylglycerides (TAG) và cholesterol là các nhóm Iipid chính trong buồng trứng thành thục Trong giai đoạn thành thục, TAG trong buồng trứng tôm
hoang dã tăng đáng kể Ravid và cs (1999) cho biết ở tôm P.semisulcatus TAG
trong buồng trứng tăng từ 1,09% đến 39,65% Wouters và cs (1999) cho biết lượng
TAG trong buồng trứng tôm P.vannamei tăng từ 8,30% đến 33,81%, sau đó giảm xuống 20,6% vào giai đoạn cuối của sự thành thục buồng trứng và cuối cùng ở giai
đoạn nauplii là 33,5% TAG tôn tại một các chọn lọc trong trứng và là nguồn năng
lượng chủ yếu cho qua trình phân chia hợp tử, nở và sự phát triển nauplii trong giai
Bước đầu nghiên cứu sẵn xuất đàn tôm bố mẹ P vannamel sạch bệnh từ PL 12 — l5
Trang 17Đỗ Thị Thu Minh 18
đoạn đầu Vai trò quan trọng của TAG trong sinh sắn tôm và chất lượng trứng cũng được nghiên cứu bởi Palacios và cs (1998, 1999) Các tác giả này nghiên cứu mối quan hệ giữa sức sinh sản và thành phần sinh hóa của trứng, nauplii và postlarvae
từ tôm bố mẹ thuần hoá P.vannamei Họ nhận thấy khi sức sinh sản giảm, dẫn đến
sự vận chuyển một số thành phần sinh hóa sang con con cũng bị giảm theo, trong đó
có TÀG và cholesterol Họ cũng đã thấy mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa nỗng độ các
chất này và khả năng chịu đựng độ mặn của postlarvae
Phospholipids là thành phần chiếm nhiều nhất trong trứng tôm, chủ yếu là
phosphatidylcholine va phosphatidylethanolamine Bray va cs cho biét chat lugng
nauplii, ty 1é nd va tỉnh trùng 6 t6m L.stylirostris tang lén đáng kể khi cho thức ăn
có bổ sung thêm 1,5% lecithin từ đậu nành Alava và cs (1993) cho biết sự thành thuc buéng tritng 6 tom M japonicus bi chậm lại khi trong thức ăn không có phospholipid Cahu và cs (1994) đã có thí nghiệm chứng minh lượng phospholipid trong thức ăn ảnh hưởng đến nồng độ phospholipid trong trứng tôm P.vannamei, họ
đã thử cho tôm bố mẹ ăn thức ăn có hơn 2% phospholipids nhằm chứng minh 50%
tổng lượng lipids trong trứng là phospholipids, giúp duy trì khả năng đề liên tục và
tính mắn đẻ
Cholesterol cũng là một nhóm lipid quan trọng trong sự thành thục buồng
trứng tôm Cholesterol phải được cung cấp qua thức ăn cho sự phát triển của tôm non và được cho là lipid thiết yếu cho sự thành thục và sinh sản ở tôm Sự thành
công của một số thức ăn tươi là do lượng cholesterol từ mực, trai Cholesterol được
biết rõ nhất trong một vài chức năng nội tiết và vai trò của nó trong quá trình thành
thục Đến nay chưa có báo cáo nào về nhu cầu cholesterol trong giai đoạn sinh sản
[16]
Bước đầu nghiên cứa sẵn xuất đàn tôm bố mẹ P vannamei sạch bệnh tit PL 12 - 15