1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

những vấn đề pháp lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam

22 415 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 597 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty 1.1.2 Các hình thức đầu tư nước ngoài vào Việt N

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Bước vào thế kỉ XXI chúng ta đang bước vào quá trình mở cửa và hội nhậpquốc tế, cùng với quá trình CNH - HĐH đất nước Với sự hội nhập quốc tế ngàycàng đa dạng đã đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng không ít thử tháchtrong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN

Trong quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới chúng ta phải cónhững sự chuyển mình để khỏi bị gạc ra khỏi vòng quay của sự phát triển, và cũngnhờ vào quá trình hội nhập kinh tế đã tạo ra những cơ hội hợp tác kinh tế, liêndoanh, liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp các nước trongkhu vực và trên thế giới và cũng đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trêntất cả các mặt như kinh tế, chính trị, VH-XH, ngoại giao… Trong quá trình pháttriển mạnh mẽ của nền kinh tế, Việt Nam chúng ta không thể phủ nhận vai trò quantrọng của đầu tư trực tiếp vốn của nước ngoài (FDI) Trong những năm qua chúng

ta đã đặt ra nhiệm vụ hết sức quan trọng: Thu hút và sử dụng luồng vốn đầu tư trựctiếp một cách hiệu quả nhất

FDI ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế đang trên đà phát triểnnói chung cũng như Việt Nam nói riêng Thấy rõ được sự cần thiết của đầu tư trựctiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.Bên cạnh những mặt tích cực

đó, FDI có thể ảnh hưởng xấu đến cán cân thanh toán của nước ta, tới nguồn tàinguyên, môi trường sinh thái, thậm chí còn có thể ảnh hưởng đến lợi ích, chủquyền của quốc gia nếu như không có biện pháp khắc phục và xử lý kịp thời

Cũng từ những suy nghĩa trên em đã quyết định lựa chọn đề tài “ Những vấn

đề pháp lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu

cho bài tiểu luận này

Vì sự hiểu biết có hạn và thời gian đầu tư cho nghiên cứu còn hạn chế nên cònnhiều thiếu sót Vì vậy, rất mong đươc sự góp ý và giúp đỡ của cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIÊT NAM

1.1.1 Khái niệm về luật đầu tư nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt

là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nướckhác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nướcngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này

Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nướcchủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng vớiquyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với cáccông cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản màngười đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp

đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là

"công ty con" hay "chi nhánh công ty

1.1.2 Các hình thức đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài :là doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài

bỏ 100% vốn tại nước sở tại, và có quyền điều hành toàn bộ hoạt động của doanhnghiệp theo quy định, pháp luật của nước sở tại

Doanh nghiệp liên doanh : là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tưnước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp ở nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liêndoanh Các bên tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi ro

Trang 3

theo tỉ lệ góp vốn của mỗi bên vào vốn điều lệ Phần góp vốn của bên nước ngoàikhông được ít hơn 30% vốn pháp định.

Hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh: Đây là một văn bản được ký kết giữamột bên là chủ đầu tư nước ngoài và một bên là chủ đầu tư trong nước để tiến hànhmột hay nhiều hoạt động kinh doanhowr nước chủ nhà trên cơ sở quy định về tráchnhiệm để thực hiện hợp động và xác định quyền lợi của mỗi bên, nhưng khônghình thành một pháp nhân mới

Các hình thức khác : Ngoài các hình thức kể trên ở Việt Nam và ở các nướccòn có các hình thức khác như : Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao(BOT), Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), Hợp đồng xâydựng – chuyển giao(BT) nhằm khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yêu cầu tất yếu của quá trình toàn cầu

hóa đang diển ra ngày càng mạnh mẽ Với những đặc điểm của mình, FDI đóng vaitrò quan trọng nền kinh tế đối với cả nước nhập khẩu đầu tư và nước xuất khẩu đầu

tư, thúc đẩy các nước này gia tăng liên kết, nhằm duy trì nhịp độ tăng trưởng củakinh tế của nước mình Xét vai trò của Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam

FDI là nguồn hỗ trợ cho phát triển, FDI là một trong những nguồn quantrọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt làđối với các nước kém phát triển

Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹsảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủđầu tư không chỉ vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật nhưmáy móc thiết bị, nhuyên vật liệu (hay còn gọi là cộng cứng) trí thức khoa hoạch

bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị thường (hay còn gọi là phần mềm.) Do vậyđứng về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư FDI cóthể thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là nhữngnghề đòi hỏi hàm lượngcông nghệ cao Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa,dịch chuyển cơ cấu kinh tế, ta nhanh của các nước nhận đầu tư FDI đem lại kinh

Trang 4

nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trongnước nhận đầu tư, thông qua những chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừalàm FDI còn mang lại cho họ những kiến thức sản xuất phức tạp trong khi tiếpnhận công nghệ của các nước nhận đầu tư FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu

tư phải cố gắng đào tạo những kỹ sư, những nhà quản lý có trình độ chuyên môn

để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài

Tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triển muốnthực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh ta kinh tế Đây cũng là điểmnút để các nước đang phát triển khoát ra khỏi các vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo.Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, các quốc gia nào thực hiệnchiến lược kinh tế mở của với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác dụng củacác nhân tố bên ngoài biến nó thành những nhân tố bên trong thì quốc gia đó tạođược tốc độ tăng cao Rõ ràng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phầntích cực thúc đẩy kinh tế ở các nước đang phát triển Nó là tiền đề, là chỗ dựa đểkhai thác những tiềm năng to lớn trong nước nhằm phát triển nền kinh tế

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong bộ phận quan trọng của hoạt độngkinh tế đối ngoại Thông qua các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quátrình phân công lao động quốc tế Để hội nhập vào nền kinh tế giữa các nước trênthế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợpvới sự phân công lao dộng quốc tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của nước phùhợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu

tư nước ngoài Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanhquá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế Bởi vì: Một là, thông qua hoạt động đầu tưtrực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở cácnước nhận đầu tư Hai là, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp vào sự phát triển nhanhchóng trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều nghành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăngnăng suất lao động ở một số ngành này và tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế

Ba là, một số ngành được kích thích phát triển bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài,nhưng cũng có nhiều ngành bị mai một đi, rồi đi đến chỗ bị xóa bỏ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đóng góp cải thiện cán cân quốc tế chonước tiếp nhận đầu tư Bởi vì hầu hết các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là sản

Trang 5

xuất ra các sản phẩm hướng vào xuất khẩu phần đóng góp của tư bản nước ngoài

và việc phá triển xuất khẩu là khá lớn trong nhiều nước đang phát triển

Về mặt xã hội, đầu tư trục tiếp nước ngoài đã tạo ra nhiều chỗ làm việc mới,thu hút một khối lượng đáng kể người lao độngở nước nhận đầu tư vào làm việc tạicác đơn vị của đầu tư nước ngoài Điều đó góp phần đáng kể vào việc làm giảmbớt nạn thất nghiệp vốn là một tình trạng nan giải của nhiều quốc gia Đặc biệt làđối với các nước đang phát triển, nơi có lực lượng lao động rất phong phú nhưngkhông có điều kiện khai thác và sử dụng được Thì đầu tư trực tiếp nước ngoàiđước coi là chìa khóa quan trọng để giải quyết vấn đề trên đây FDI có vai trò quantrọng trong quá trình phát triển của bất cứ một quốc gia nào trên thế giới FDI đãđem lại một hơi thở mới cho nền kinh tế thế giới Mở cửa cho sự toàn cầu hóa lanrộng khắp thế giới

1.2 QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIÊT NAM

Với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam bắtbuộc phải thay đổi, phát triển hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về đầu tư vàthương mại Năm 1987 Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoàitại Việt Nam, và sau đó được sửa đổi bổ sung nhiều lần Đến năm 1996, Quốc hộiViệt nam đã ban hành mới Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thay thế Luật đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 và cũng được sửa đổi bổ sung vào năm 2000.Trong khi đó, vào cùng thời điểm đầu thập niên 90, các hoạt động đầu tư do cácnhà đầu tư trong nước thực hiện lại được điều chỉnh bởi Luật Công ty và LuậtDoanh nghiệp tư nhân (1990), sau đó được thay thế bởi Luật Doanh nghiệp (1999)

và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (1994) Trong quá trình hội nhập với nềnkinh tế thế giới, Việt Nam thấy cần thiết phải ban hành một bộ luật thống nhất cóthể điều chỉnh và chi phối các hoạt động đầu tư trong nước lẫn nước ngoài Dovậy, năm 2005 Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu

tư, cùng có hiệu lực từ ngày 01/07/ 2006 Các luật này thay thế Luật Đầu tư nướcngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp (1999) và Luật Khuyến khích đầu tư trongnước (1994)

Trang 6

Bên cạnh đó, nhằm tăng cường thể chế và môi trường kinh doanh, Quốc hội ViệtNam đã thông qua rất nhiều bộ luật quan trọng như Bộ luật Dân sự 2005, LuậtThương mại 2005, Luật Bảo hiểm, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Doanh nghiệpnhà nước, Luật Chứng khoán v.v… Hệ thống pháp luật kinh doanh ngày càng hoànthiện và là cơ sở pháp lý vững chắc để tạo nền tảng cho hoạt động đầu tư trongnước và nước ngoài phát triển, cất cánh.

Dưới đây xin nêu một số nội dung cơ bản của Luật Đầu tư và Nghị định 108, cụthể như sau:

1.2.1 Về những quy định chung

Về việc áp dụng pháp luật, pháp luật đầu tư 2005 quy định trường hợp phápluật Việt Nam được ban hành sau khi Việt Nam là thành viên của các điều ướcquốc tế có quy định thuận lợi hơn so với điều ước quốc tế thì nhà đầu tư có quyềnlựa chọn việc áp dụng theo điều ước quốc tế hoặc pháp luật Việt Nam

Về ngôn ngữ sử dụng, pháp luật đầu tư 2005 quy định hồ sơ dự án đầu tư vàcác văn bản chính thức gửi các cơ quan nhà nước Việt Nam làm bằng tiếngviệt; đối với hồ sơ dự án có vốn đầu tư nước ngoài thì hồ sơ và các văn bản trênlàm bằng tiếng Việt hoặc tiếng Việt và tiếng nước ngoài thông dụng Trong trườnghợp có sự khác nhau giữa văn bản tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì bản tiếng Việtđược áp dụng

Ngoài ra, nhằm bảo đảm khả năng bao quát, không chồng lấn với các luậtchuyên ngành, pháp luật đầu tư 2005 quy định hoạt động đầu tư đặc thù được quyđịnh trong pháp luật chuyên ngành thì áp dụng theo quy định của pháp luật chuyênngành đó Quy định như vậy nhằm bảo đảm thực tế có một số luật chuyên ngànhquy định về chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng, tài chính đã và đang được thựchiện theo pháp luật chuyên ngành

Về giải thích từ ngữ: Nghị định 108 đã bổ sung các thuật ngữ “dự án đầu tưmới”, “dự án đầu tư mở rộng” để nhà đầu tư biết rõ trong quá trình thực hiện hoạtđộng đầu tư của mình mà có liên quan đến ưu đãi đầu tư

1.2.2 Về hình thức đầu tư

Trang 7

So với Luật Đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nướctrước đây thì pháp luật đầu tư 2005 quy định rõ hơn về những hình thức đầu tưnhư: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100%vốn của nhà đầu tư nước ngoài; Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhàđầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC,hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT; Đầu tư phát triển kinh doanh; Mua

cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; và Đầu tư thực hiện việcsáp nhập và mua lại doanh nghiệp Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập tổ chứckinh tế bằng 100% vốn của mình, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đãthành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và/hoặc với nhà đầu tư nước ngoài

để đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới theo quy địnhcủa pháp luật về doanh nghiệp Nhà đầu tư cũng có thể đầu tư thành lập tổ chứckinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, doanhnghiệp liên doanh trên được tiếp tục liên doanh với nhà đầu trong nước và nhà đầu

tư nước ngoài để đầu tư thành lập tổ chức kinh tế mới theo quy định của LuậtDoanh nghiệp và pháp luật có liên quan

Đối với hoạt động đầu tư thành lập tổ chức kinh tế để thực hiện dự án đầu

tư, pháp luật đầu tư 2005 quy định nhà đầu tư trong nước có dự án đầu tư gắn vớiviệc thành lập tổ chức kinh tế thì thực hiện việc đăng ký kinh doanh theo quy địnhcủa Luật Doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quyđịnh của Luật Đầu tư và Nghị định 108 Quy định như trên nhằm bảo đảm sự thuậnlợi cho hoạt động đầu tư trong nước

Bên cạnh đó, pháp luật đầu tư 2005 còn có quy định nhà đầu tư nước ngoàilần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đầu tư đểđược cấp Giấy chứng nhận đầu tư; Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh Một điểm khác so với quy định trước đây, đượccoi là một điểm mở rất thoáng và mới đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, đó làđối với nhà đầu tư nước ngoài đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư tại Việt Nam,nếu nhà đầu tư có dự án đầu tư mới mà không thành lập pháp nhân mới thì chỉ thựchiện thủ tục đầu tư để cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật đầu

tư 2005; nếu nhà đầu tư có dự án đầu tư mới gắn với việc thành lập pháp nhân mới

Trang 8

thì thực hiện thủ tục thành lập tổ chức kinh tế và thủ tục đầu tư theo quy định nhưđối với đầu tư trong nước.

Ngoài ra, để bảo đảm tính linh hoạt của hoạt động đầu tư của nhà đầu tư,Nghị định có quy định về chuyển đổi hình thức đầu tư của doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình hoạt động củamình được tự do chuyển đổi giữa các hình thức đầu tư để phù hợp với tình hình sảnxuất kinh doanh mà không bị cấm hoặc hạn chế

1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư

Pháp luật đầu tư 2005 đã cụ thể hóa những nội dung về quyền và nghĩa vụcủa nhà đầu tư, theo đó nhà đầu tư có quyền tự chủ đầu tư kinh doanh, quyền tiếpcận các nguồn lực đầu tư, sử dụng nguồn vốn tín dụng, đất đai và tài nguyên,quyền sử dụng lao động, quyền mở tài khoản và mua ngoại tệ, quyền xuất khẩu,nhập khẩu, quảng cáo, gia công, gia công lại,

1.2.4 Lĩnh vực, địa bàn ưu đãi và hỗ trợ đầu tư

* Lĩnh vực ưu đãi và địa bàn ưu đãi đầu tư, pháp luật đầu tư 2005 được xâydựng căn cứ vào các mục tiêu, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời

kỳ nhằm thu hút đầu tư tạo nên đòn bẩy kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tronglĩnh vực và địa bàn mà nhà nước ưu đãi

- Lĩnh vực đầu tư ưu đãi tập trung các ngành sản xuất vật liệu mới, nănglượng mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ tin học, công nghệ thông tin; pháttriển nuôi trồng, chế biến nông lâm, hải sản, bảo vệ môi trường; nghiên cứu pháttriển và ươm tạo công nghệ cao, đầu tư vào nghiên cứu phát triển, sử dụng nhiềulao động và phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp v.v

- Địa bàn ưu đãi đầu tư được thiết kế áp dụng cho các địa phương dựa trêncác tiêu chí về thu nhập kinh tế quốc dân, về tỷ lệ đói nghèo, về cơ sở hạ tầng, vềmức độ tăng trưởng công nghiệp, về chính sách phát triển vùng và hài hòa cácvùng

* Về áp dụng ưu đãi đầu tư, pháp luật đầu tư quy định nhà đầu tư đã đượchưởng ưu đãi theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu tưnước ngoài tại Việt Nam, Luật Hợp tác xã và các luật thuế được tiếp tục hưởng các

ưu đãi đầu tư theo Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư đã cấp

Trang 9

Đối với dự án đầu tư thực hiện trước ngày Luật Đầu tư có hiệu lực thuộc đối tượng

ưu đãi đầu tư quy định tại Nghị định 108 thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tưcho thời gian ưu đãi còn lại kể từ ngày Nghị định 108 có hiệu lực

Các ưu đãi đầu tư được ghi vào Giấy chứng nhận đầu tư nhằm bảo đảm chonhà đầu tư yên tâm khi thực thực hiện hoạt động đầu tư của mình Đông thời, đểbảo đảm nhà đầu tư yên tâm trong hoạt động đầu tư, pháp luật đầu tư có quy địnhtrường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi và ưu đãicao hơn so với quyền lợi ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đó thì nhà đầu

tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi cho thời gian ưu đãi còn lại (nếu có) kể từngày pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực Ngoài ra, để bám sát các vấn đềthực tế đã phát sinh trong ưu đãi đầu tư, pháp luật đầu tư có quy định về điềuchỉnh, bổ sung ưu đãi đầu tư

* Về hỗ trợ đầu tư: các hỗ trợ đầu tư về chuyển giao công nghệ, đào tạo, tưvấn đầu tư, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất đượctiếp tục cụ thể hóa hơn trong pháp luật đầu tư 2005

* Lĩnh vực đầu tư có điều kiện quy định trong Luật Đầu tư và Nghị định 108

là các điều kiện gia nhập thị trường mà nhà đầu tư phải đáp ứng, không bao gồmcác điều kiện hoạt động mà nhà đầu tư phải bảo đảm trong quá trình hoạt độngkinh doanh Các lĩnh vực đầu tư có điều kiện này phải tuân thủ các quy định vềlĩnh vực đầu tư có điều kiện quy định tại Điều 29 của Luật Đầu tư và các lĩnh vựckhác theo quy định của pháp luật có liên quan; chủ yếu là lĩnh vực đầu tư có tácđộng đến trật tự an toàn xã hội, an toàn tài chính, một số lĩnh vực dịch vụ đặc thùliên quan đến mở cửa thị trường và các lĩnh vực có tác động rộng rãi đến cộngđồng Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư là cơ sở chung,thống nhất cho việc áp dụng các chính sách ưu đãi đầu tư

- Lĩnh vực cấm đầu tư trong dự thảo được quy định cụ thể hơn so với quyđịnh trong Luật Đầu tư về dự án gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia

và lợi ích công cộng, về dự án gây phương hại đến di tích lịch sử, văn hóa, đạođức, thuần phong mỹ tục của Việt Nam, dự án gây tổn hại đến sức khỏe nhân dân,làm hủy hoại tài nguyên, phá hủy môi trường và các dự án xử lý phế thải độc hại

Trang 10

đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hóa chất độc hại hoặc sử dụngtác nhân độc hại bị cấm theo điều ước quốc tế.

1.2.5 Về thủ tục đầu tư trực tiếp

Điểm mới của pháp luật đầu tư năm 2005 là chủ trương phân cấp mạnh cho

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý Khu Công nghiệp, Khu chế xuất, KhuCông nghệ cao và Khu kinh tế (sau đây gọi là Ban quản lý) cấp Giấy Chứng nhậnđầu tư cũng như quản lý hoạt động đầu tư và giảm bớt những dự án phải trình Thủtướng Chính phủ Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về nguyên tắc đối với một

số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch hoặc chưa có quy hoạch Những dự

án đã có trong quy hoạch được duyệt và đáp ứng các điều kiện theo quy định củapháp luật và điều ước quốc tế thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý cấpGiấy chứng nhận đầu tư mà không phải trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủtrương đầu tư Các dự án còn lại sẽ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý tựquyết định và cấp Giấy chứng nhận đầu tư

Đối với các dự án đầu tư không nằm trong quy hoạch đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt hoặc dự án không đáp ứng điều kiện

mở cửa thị trường quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thì cơquan cấp Giấy chứng nhận đầu tư chủ trì, lấy ý kiến Bộ quản lý ngành, Bộ Kếhoạch và Đầu tư và các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyếtđịnh việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch hoặc quyết định mở cửa thị trường Đốivới dự án đầu tư thuộc lĩnh vực chưa có quy hoạch, thì cơ quan cấp Giấy chứngnhận đầu tư lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủquyết định chủ trương đầu tư

Việc phân cấp cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh vàBan quản lý là một chủ trương thực hiện cải cách hành chính trong quản lý kinh tế

và đã được đúc rút, tổng kết trong nhiều năm qua Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh vàBan quản lý là cơ quan quản lý trực tiếp các nguồn lực đầu tư về đất đai, lao động,môi trường, quy hoạch và nắm sát nhất điều kiện, tình hình thực hiện các dự án đầutrên địa bàn Việc phân cấp mạnh cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lýcòn nhằm tiến tới xóa bỏ cơ quan chủ quản, tạo điều kiện cho các bộ, ngành quản

Trang 11

lý nhà nước tập trung thực hiện chức năng hoạch định chính sách, dự báo, kiểm tra,giám sát.

Về thủ tục đăng ký và thẩm tra đối với dự án đầu tư pháp luật đầu tư cũngquy định đơn giản hơn nhiều và trách nhiệm thẩm tra của các bộ, ngành liên quanđến dự án đầu tư cũng được quy định cụ thể hơn so với trước đây; điều đó tạothuận lợi cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý trong việc xem xét cấpGiấy chứng nhận đầu tư

Đối với việc điều chỉnh dự án đầu tư, pháp luật đầu tư quy định khi điềuchỉnh dự án đầu tư liên quan đến mục tiêu, quy mô, địa điểm, hình thức, vốn vàthời hạn thực hiện dự án đầu tư, nhà đầu tư phải làm thủ tục tại cơ quan tiếp nhận

hồ sơ để làm thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư Việc điều chỉnh dự ánđầu tư được thực hiện theo một trong các quy trình: (1) không phải làm thủ tụcđăng ký điều chỉnh hoặc thẩm tra điều chỉnh dự án đầu tư (2) Đăng ký điều chỉnh

dự án đầu tư; (3) Thẩm tra điều chỉnh dự án đầu tư

1.2.6 Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước

Nhằm cụ thể hoá các quy định về đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước (ChươngVII của Luật Đầu tư) dự thảo có quy định một số các nguyên tắc về thủ tục sửdụng vốn nhà nước để đầu tư kinh doanh (vốn ngân sách nhà nước; vốn tín dụngđầu tư phát triển của nhà nước; vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh; vốn đầu tư pháttriển của doanh nghiệp nhà nước) Nội dung của các điều khoản này chỉ đề cập đếngiai đoạn quyết định bỏ vốn của nhà nước để đầu tư kinh doanh Sau khi quyếtđịnh bỏ vốn đầu tư kinh doanh, các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động đầu tưtheo các quy định của Luật Đầu tư và pháp luật có liên quan

1.2.7 Về triển khai thực hiện dự án đầu tư

Về triển khai thực hiện dự án đầu tư, Luật Đầu tư và Nghị định 108 đã quyđịnh rõ mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư và hoạt động xây dựng; về thuê quản lý;chuyển nhượng vốn và chuyển nhượng dự án; điều chỉnh dự án đầu tư

1.2.8 Về quản lý nhà nước về đầu tư

Pháp luật đầu tư 2005 quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của từng cơquan quản lý nhà nước , trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của Uỷ bannhân dân cấp tỉnh trong quản lý hoạt động đầu tư Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là một

Ngày đăng: 19/12/2014, 20:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w