1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ việt nam trên thị trường nhật bản

87 538 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 646 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ tính cấp thiết trên được đặt ra trong thực tiễn, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản” làm chuyên đề thực t

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, Việt Nam đang thựchiện chuyển đổi và đã thu được những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội quantrọng, được cả cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao Trong quá trình hộinhập, Việt Nam cũng đang cố gắng phát huy tiềm năng, nội lực để sản xuất ranhững mặt hàng chủ lực có khả năng cạnh tranh trên thương trường quốc tế Đặcbiệt, trước và sau khi gia nhập WTO, xuất khẩu đồ gỗ đã có những bứt phángoạn mục, vươn lên vị trí thứ 5 chỉ đứng sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủysản và chính thức trở thành thành viên của “câu lạc bộ tỉ đô” Và hiện nay ViệtNam đứng thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ViệtNam đã và đang nổi lên như một quốc gia xuất khẩu gỗ đầy tiềm năng trong khuvực và trên thế giới, thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành, các doanhnghiệp cũng như báo giới Nhờ khai thác lợi thế so sánh về giá nhân công rẻ, vịtrí địa lý, đất đai hết sức thuận lợi cũng như thể hiện sự khéo léo, tinh tế, nét vănhóa truyền thống trên từng sản phẩm mà người tiêu dùng ngày càng ưa thích cácsản phẩm gỗ của Việt Nam, đặc biệt là người dân Nhật Bản

Nhật Bản là đối tác kinh tế lớn thứ ba thế giới và hiện đang là đối tácthương mại lớn thứ tư của Việt Nam Hàng năm, Nhật Bản nhập khẩu khốilượng hàng hóa trị giá khoảng 500 tỷ USD trong đó nhập từ Việt Nam 7,7 tỷUSD (2010) chiếm khoảng 11-16% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của ViệtNam Hơn nữa giữa Nhật Bản và Việt Nam lại gần gũi về mặt địa lý và cónhững nét tương đồng về văn hóa, điều này càng tạo nhiều thuận lợi cho ViệtNam có thể tăng cường xuất khẩu sang Nhật Bản đáp ứng nhu cầu ngoại tệmạnh, cho nhập công nghệ nguồn và thu hút đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản vàonước ta

Nhu cầu về đồ gỗ của thế giới nói chung và thị trường Nhật Bản – thị

Trang 2

trường tiêu thụ khổng lồ của châu Á nói riêng – ngày càng tăng, mở ra một cơhội lớn cho ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam Bên cạnh cơ hội lớn,chúng ta cũng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức Trongđiều kiện toàn cầu hóa và quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới ngày càng sâusắc hiện nay, cạnh tranh xuất khẩu nói chung và xuất khẩu sang thị trường NhậtBản nói riêng ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt Những mặt hàng mà chúng ta

có lợi thế xuất khẩu sang Nhật Bản thì cũng chính là những mặt hàng mà nhiềunước và khu vực trên thế giới, nhất là các nước trong ASEAN và Trung Quốc cóđiều kiện thuận lợi để xuất sang thị trường này Trước bối cảnh cạnh tranh xuấtkhẩu ngày càng gay gắt và những yêu cầu khắt khe về nhập khẩu, đồ gỗ ViệtNam xuất sang thị trường Nhật Bản thời gian qua tuy đã có nhiều thành tựu,nhưng cũng bộc lộ rõ những yếu kém và hạn chế trong phát huy những tiềmnăng và lợi thế của đất nước để duy trì và mở rộng thị phần trên thị trường nhậpkhẩu lớn nhất nhì thế giới này

Chính vì vậy, việc nghiên cứu và tìm ra những giải pháp góp phần nângcao sức cạnh tranh sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường thế giới nói chung vàthị trường Nhật Bản nói riêng là vô cùng quan trọng, cần thiết và cấp bách hiệnnay

Xuất phát từ tính cấp thiết trên được đặt ra trong thực tiễn, tác giả đã lựa

chọn đề tài: “Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản” làm chuyên đề thực tập.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài được nghiên cứu nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗViệt Nam trên thị trường Nhật Bản

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện được mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

Trang 3

cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thịtrường Nhật Bản.

- Phân tích thực trạng cạnh tranh và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm

gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản, từ đó rút ra những ưu điểm và hạn chếcũng như những nguyên nhân của những hạn chế đó trong việc nâng cao sứccạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản

- Nghiên cứu định hướng của Việt Nam trong xuất khẩu hàng hóa sang thịtrường Nhật Bản, dự báo những lợi thế, bất lợi của sản phẩm gỗ Việt Nam trênthị trường Nhật Bản, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra gay gắt nhưhiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là sức cạnh tranh của sản phẩm gỗViệt Nam trên thị trường Nhật Bản

Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: bài viết tập trung nghiên cứu sức cạnh tranh của sản phẩm

gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản

- Về thời gian: giai đoạn từ năm 2000-2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sửlàm phương pháp luận Đồng thời, phương pháp thống kê, phương pháp phântích tổng hợp cũng được sử dụng để luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài các phần như lời nói đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục,

đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về sức cạnh tranh của hàng hóa và sự cần thiết nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản

Trang 4

Chương 2: Thực trạng cạnh tranh và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản

Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản

Trang 5

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HOÁ VÀ

SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM GỖ VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẠNH TRANH

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Khái niệm cạnh tranh từ lâu đã được rất nhiều nhà kinh tế học của cáctrường phái kinh tế khác nhau quan tâm và nghiên cứu trên nhiều góc độ vớiphạm vi và cấp độ khác nhau

Theo cuốn từ điển kinh doanh của Anh (1992): "Cạnh tranh là sự ganhđua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng mộtloại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình" Còntrong đại từ điển tiếng Việt: "Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tậpthể có chức năng như nhau nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình" Theo từđiển Thuật ngữ kinh tế học: "Cạnh tranh là sự đối lập giữa các cá nhân, tập đoànhay quốc gia và nó nảy sinh khi hai hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ màkhông phải ai cũng có thể giành được"

Khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, C Mac đã nhận xét: "Cạnh tranh tưbản chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giànhđược những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu đượclợi nhuận siêu ngạch"

Tuy nhiên, ngày nay cạnh tranh lại được thừa nhận và được coi là môitrường, động lực của sự phát triển Thế giới đã quan niệm: "Cạnh tranh là cuộcđấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhau dựa trênchế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản

Trang 6

xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển".

Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu đã đưa ra khái niệm cạnh tranh trongphạm vi một quốc gia: "là khả năng của nước đó đạt được những thành quảnhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tếcao, được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội trên đầu ngườitheo thời gian"

Ở Việt Nam, một số nhà kinh tế cho rằng: "Cạnh tranh là vấn đề giành lợithế về giá cả hàng hoá, dịch vụ và đó là con đường, phương thức để giành lấy lợinhuận cao cho các chủ thể kinh tế"

Tóm lại, cạnh tranh xét về bản chất luôn được nhìn nhận trong trạng thái

động và ràng buộc trong mối quan hệ so sánh tương đối Mọi quan hệ giao tiếp

mà các bên tham gia nỗ lực tìm kiếm vị thế có lợi cho mình đều có thể diễn tảtrong khái niệm cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh được xem xét đầy đủ trên cảhai mặt: mặt tích cực là tạo động lực cho việc vươn tới một kết quả tốt nhất.Nhưng một khi những kĩ năng này được thể hiện một cách cực đoan, nó có thểdẫn đến một thực trạng tiêu cực với kết quả trái ngược Cạnh tranh là quá trìnhkinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp, cả nghệthuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình: thường là nhằm chiếmlĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, tiêu thụ

có lợi nhất, tối đa hoá lợi nhuận

1.1.2 Phân loại cạnh tranh

Cạnh tranh có thể được phân chia thành nhiều hình thức khác nhau theonhiều cách khác nhau:

Căn cứ vào phạm vi hoạt động ngành kinh tế:

- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cùng một loại sản phẩm, dịch vụ

Trang 7

- Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau.

Căn cứ vào tính pháp lý của cạnh tranh:

- Cạnh tranh hợp pháp

- Cạnh tranh bất hợp pháp

Căn cứ vào tính chất, mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế:

- Cạnh tranh tự do: là cạnh tranh trong một thị trường hoàn toàn không có

sự điều tiết của Nhà nước và pháp luật

- Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước: là cạnh tranh được định hướng,được bảo vệ và giới hạn bởi các thể chế, chính trị và pháp luật

Căn cứ vào mục đích, phương thức cạnh tranh:

- Cạnh tranh lành mạnh: là hình thức cạnh tranh trung thực, bằng năng lựcvốn có của doanh nghiệp

- Cạnh tranh không lành mạnh: là cạnh tranh bằng các thủ đoạn, công cụbất hợp pháp

Căn cứ theo chiến lược cạnh tranh

- Cạnh tranh trực diện: là cạnh tranh trực tiếp, công khai giữa các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh

- Cạnh tranh không trực diện: Đánh thọc sườn, đánh tập hậu

Căn cứ vào hình thái cạnh tranh:

- Cạnh tranh hoàn hảo: là loại cạnh tranh tự do, theo đó có nhiều công tyvừa và nhỏ tham gia vào thị trường với sản phẩm tương tự nhau về phẩm chất,quy cách, chủng loại, mẫu mã…

- Cạnh tranh không hoàn hảo: là loại hình cạnh tranh mà theo đó việc độcquyền sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được tập trung vào một hay một vài tập

Trang 8

đoàn thống trị như lĩnh vực ô tô, thiết bị viễn thông, dầu khí

Căn cứ vào phạm vi địa lý:

- Cạnh tranh trên phạm vi từng quốc gia: Quá trình cạnh tranh này thúc đẩyđổi mới công nghệ, tăng năng suất, hạ giá thành sản xuất, đáp ứng yêu cầu ngàycàng cao của người tiêu dùng, góp phần nâng cao sức cạnh tranh chung của sảnphẩm trong ngành cũng như của quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế

- Cạnh tranh trên phạm vi quốc tế:

Trên thị trường thế giới, cạnh tranh giữa những nhà sản xuất, xuất khẩu đượcphân chia theo các mức độ sau:

+ Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất, xuất khẩu thuộc nhóm nước phát triểnvới nhóm đang phát triển Đây là sự cạnh tranh gay gắt nhất vì trình độ côngnghệ kĩ thuật giữa các bên có sự chênh lệch khá rõ rệt

+ Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất, xuất khẩu thuộc nhóm nước phát triểnvới nhau Đây là quá trình cạnh tranh giữa các nhà sản xuất, xuất khẩu cỡ lớn cókhả năng tài chính mạnh và trình độ công nghệ cao

+ Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất, xuất khẩu thuộc nhóm nước đang pháttriển với nhau Sự cạnh tranh này nhìn chung không có chênh lệch quá lớn vềquy mô, khả năng tài chính và trình độ khoa học công nghệ cũng như lợi thế vềlực lượng nhân công dồi dào với giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên phong phú

1.1.3 Các công cụ cơ bản của cạnh tranh

Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường không thể tránh khỏi sự cạnhtranh, mà bản chất của cạnh tranh trong kinh doanh là phải tạo ra được ưu thế sovới các đối thủ Muốn vậy, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thường phải

sử dụng khéo léo các công cụ cạnh tranh Đó là:

Cạnh tranh thông qua giá cả

Trang 9

Trong thương mại quốc tế, các doanh nghiệp thường đưa ra một giá mứcgiá thấp hơn giá của các đối thủ cạnh tranh nhằm lôi cuốn khách hàng, qua đótiêu thụ được nhiều hoá đơn hơn

Cạnh tranh thông qua sản phẩm

Khi thu nhập và đời sống của dân cư ngày càng cao thì phương thức cạnhtranh bằng giá cả thường không hiệu quả và chất lượng sản phẩm sẽ là mối quantâm của khách hàng

Cạnh tranh thông qua mạng lưới kênh phân phối

Thiết lập mạng lưới kênh phân phối hợp lý hiệu quả sẽ là yếu tố rất có lợi

để cạnh tranh Hàng hoá được cung cấp đúng nơi, đúng lúc, kịp thời đáp ứngnhu cầu khách hàng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất sẽ tạo được lòng tin uytín đối với khách hàng và sẽ được khách hàng lựa chọn

Cạnh tranh thông qua các hoạt động xúc tiến quảng cáo

Quảng cáo và xúc tiến bán hàng là những hoạt động nhằm nâng cao sứccạnh tranh của hàng hoá Quảng cáo là nghệ thuật thu hút khách hàng thông quacác phương thức như in ấn, bưu điện, truyền thanh, báo, phát thanh, thư từ, danhmục hàng hoá và các bản thuyết minh để giới thiệu một cách rộng rãi các loạihàng hoá, các thông tin dịch vụ của doanh nghiệp

Cạnh tranh thông qua dịch vụ bán hàng

Đây là phương thức cạnh tranh hết sức phổ biến trên thị trường quốc tế và

có thể thực hiện được trước, trong và sau khi bán hàng tuỳ thuộc vào loại hìnhkinh doanh Đó có thể là dịch vụ bán hàng tận nơi cho khách hay dịch vụ bảohành, bảo dưỡng, lắp đặt, chạy thử

1.1.4 Các mô hình cạnh tranh

1.1.4.1 Mô hình cạnh tranh của M.Porter

Trang 10

Mô hình 5 sức mạnh (the five forces) của Mỉcheal Porter đã xác định mức

độ khốc liệt của cạnh tranh trong ngành nhằm giúp doanh nghiệp và nhà đầu tưxác định cơ hội kinh doanh cũng như những đe doạ trong kinh doanh khi quyết

định xâm nhập vào một thị trường nhất định

Sơ đồ 1.1: Mô hình 5 sức cạnh tranh của Micheal Porter

Nguồn: http://ecvin.net

* Nhân tố 1: Đối thủ cạnh tranh

Các đối thủ cạnh tranh cũng luôn có những tham vọng, những phươngsách, những thủ đoạn như doanh nghiệp đã thực hiện Sự am hiểu về đối thủcạnh tranh trực tiếp cho phép sử dụng các thủ thuật phân tích, duy trì các hồ sơ

về đối thủ và từ đó có cách ứng xử phù hợp Khi xem xét về đối thủ cạnh tranhchúng ta cần xem xét hai vấn đề: Cường độ cạnh tranh trong ngành và Phân tíchđối thủ cạnh tranh trực tiếp

* Nhân tố 2: Khách hàng

Khách hàng là một tác lực có sức mạnh trong môi trường cạnh tranh, sựtín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp

ĐỐI THỦ TIỀM NĂNG

NHÀ

CUNG CẤP

CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH

KHÁCH HÀNG

SẢN PHẨM THAY THẾ

Trang 11

Khách hàng có quyền lực mua với doanh nghiệp thông qua sức ép giảm giá,giảm khối lượng hàng mua, có quyền đòi hỏi chất lượng và dịch vụ tốt hơn vớicùng một mức giá Sức mạnh của khách hàng phụ thuộc 2 yếu tố cơ bản: mức

độ nhạy cảm của họ đối với giá và việc mặc cả nợ của họ

* Nhân tố 3: Nhà cung cấp

Là người cung cấp các nguồn lực đầu vào cho doanh nghiệp như vật tư,thiết bị, lao động, tài chính nên nhà cung cấp có khả năng chi phối tình hìnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

* Nhân tố 4: Các đối thủ tiềm ẩn

Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn thường có ưu thế về công nghệ mới, khả năngtài chính và đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá và suy xét kĩ lưỡng trước khi gianhập thị trường Do vậy khi xâm nhập vào ngành, họ sẽ trở thành đối thủ cạnhtranh vô cùng nguy hiểm, với khả năng mở rộng sản xuất và chiếm lĩnh thịtrường của các doanh nghiệp hiện tại

* Nhân tố 5: Các sản phẩm thay thế

Sản phẩm thay thế là loại sản phẩm khác có thể thoả mãn tương tự nhucầu khách hàng nhưng nó lại có sự khác biệt và sức cạnh tranh cao hơn Chính

vì vậy, nó là nhân tố đe doạ làm mất thị trường và lợi nhuận của doanh nghiệp

1.1.4.2 Mô hình cạnh tranh SWOT

Phương pháp phân tích SWOT phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơhội, hiểm hoạ và đưa ra các phương án phối hợp các điểm mạnh, điểm yếu vớicác nguy cơ và cơ hội thích hợp nhằm mục đích:

- Phối hợp S/O: phối hợp các điểm mạnh với các cơ hội của doanh nghiệp.Điều quan trọng là doanh nghiệp sử dụng các điểm mạnh của mình nhằm khaithác các cơ hội

- Phối hợp S/T: phối hợp các điểm mạnh với các nguy cơ của doanh

Trang 12

nghiệp Mấu chốt ở đây là doanh nghiệp cần phải tận dụng thế mạnh của mình

để chiến thắng nguy cơ

- Phối hợp W/O: Phối hợp các điểm yếu của doanh nghiệp và các cơ hộilớn Doanh nghiệp có thể vượt qua các điểm yếu của chính mình bằng cáchtranh thủ tận dụng các cơ hội

- Phối hợp W/T: Phối hợp giữa các mặt yếu và nguy cơ của doanh nghiệp.Điều quan trọng là các doanh nghiệp phải cố gắng làm sao giảm thiểu được mặtyếu của mình và tránh được nguy cơ bằng cách đề ra các chiến lược phòng thủ

Thực hiện các phối hợp trên có thể khái quát thông qua sơ đồ sau:

Bảng 1.1: Ma trận SWOT

(O-Oportunities)

Nguy cơ (T-Threats)

Điểm mạnh (S- Strengths) Phối hợp S/O Phối hợp S/T

Điểm yếu (W - Weaknesses) Phối hợp W/O Phối hợp W/T

Nguồn: http://vi.wikipedia.org

Có nhiều mô hình cạnh tranh khác nhau có thể áp dụng đối với các doanhnghiệp Trên đây là hai mô hình phổ biến thông dụng có khả năng áp dụng tốtnhất vào việc nghiên cứu và đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá được nhiềudoanh nghiệp lựa chọn Mỗi mô hình đều có những ưu điểm và các mặt hạn chếcủa nó, vì thế chúng chỉ được áp dụng trong những điều kiện nhất định

1.2 SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HOÁ

1.2.1 Khái niệm

Sức cạnh tranh của hàng hoá được hiểu là tất cả các đặc điểm, yếu tố tiềmnăng mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thươngtrường một cách lâu dài và có ý nghĩa Nó là "sức mạnh" hoặc "tính vượt trội"của hàng hoá đó trên thị trường, có thể thay thế hàng hoá cùng loại do doanhnghiệp khác cung cấp để chiếm lĩnh vị trí thống trị thị trường tại cùng một thời

Trang 13

điểm Đồng thời nó thoả mãn yêu cầu của khách hàng về giá cả, chất lượng, sốlượng, tính tiện dụng, độc đáo hay kiểu dáng, bao bì, thương hiệu, các dịch vụchăm sóc khách hàng trước và sau bán hàng , nhờ đó mà thị phần mà nó chiếmlĩnh cao hơn so với thị phần của hàng hoá cùng loại trên cùng một thị trường.Ngày nay khi hội nhập kinh tế quốc tế đang là một trào lưu khó có thể đảongược và đang tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ đối với các quốc gia Do vậy,việc quan tâm đến sức cạnh tranh của hàng hoá không chỉ là nâng cao sức mạnh,tính vượt trội của hàng hoá ở thị trường trong nước mà hàng hoá đó còn phải có

đủ khả năng "đánh bại" đối thủ nước khác tại chính thị trường của nó và cả trênthị trường của nước thứ ba

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá

Trong nghiên cứu về lý luận, các nhà kinh tế đã đưa ra các chỉ tiêu đểđánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá của một doanh nghiệp hay mộtquốc gia như những chỉ tiêu dưới đây:

1.2.2.1 Thị phần của hàng hoá so với các đối thủ cạnh tranh

Đây là chỉ tiêu tổng hợp và hay được sử dụng để đánh giá sức cạnh tranhcủa hàng hoá trên thị trường Thị phần cho thấy khả năng chấp nhận của thịtrường đối với mặt hàng đang được sản xuất kinh doanh như thế nào Thị phầnđược xác định bằng công thức sau:

Si =

n i

i

i Q Q

i

R

R

x 100%

Trong đó: S - Thị phần của mặt hàng x của quốc gia i

Q - Khối lượng bán ra của mặt hàng trên thị trường Y

R - Doanh thu của một mặt hàng của quốc gia i

i - Quốc gia

Trang 14

Thị phần càng lớn chứng tỏ hàng hoá xuất khẩu càng có khả năng cạnhtranh lớn trên thị trường Thị phần nhỏ cho thấy sức cạnh tranh của hàng hoáyếu, chưa có khả năng đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng và tầm ảnh hưởngcủa hàng hoá đối với thị trường kém

1.2.2.2 Mức độ đáp ứng thị hiếu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh

Đây cũng là chỉ tiêu phản ánh sức cạnh tranh của hàng hoá Chỉ tiêu nàyphản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu và mong muốn trên thị trường của hàng hoácủa một quốc gia so với các đối thủ cạnh tranh hay nói cách khác chính là khảnăng thích nghi của sản phẩm với thị hiếu của khách hàng so với đối thủ cạnhtranh khác

1.2.2.3 Giá bán hàng hoá so với đối thủ cạnh tranh

Giá cả là một yếu tố nhạy cảm và cũng là công cụ cạnh tranh hữu hiệutrên thị trường Người tiêu dùng sẽ phải chú ý đến giá cả trong khi xem xét lựachọn tiêu dùng của mình Khách hàng có quyền chọn cho mình sản phẩm tốtnhất và nếu như cùng một loại sản phẩm với chất lượng như nhau thì chắc chắn

họ sẽ lựa chọn sản phẩm có giá bán thấp hơn

1.2.2.5 Mức độ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và mẫu mã, kiểu dáng so với các đối thủ cạnh tranh

Đối với người tiêu dùng, ngoài yếu tố giá cả thì chất lượng, mẫu mã kiểudáng lại là những yếu tố dường như ảnh hưởng mạnh đến quyết định mua sắm.Chất lượng, chất liệu, mẫu mã, kiểu dáng hàng hoá ảnh hưởng lớn đến khảnăng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường

1.2.2.6 Thương hiệu (uy tín, hình ảnh nơi sản xuất) so với các đối thủ cạnh tranh

Đây là một chỉ tiêu đo lường sức cạnh tranh của hàng hoá của một doanhnghiệp, một quốc gia Nó chính là ấn tượng, suy nghĩ và cảm nhận của người

Trang 15

tiêu dùng về nơi xuất xứ của hàng hoá so với những nơi khác sản xuất hàng hoácùng loại Hay nói cách khác, uy tín hình ảnh nơi sản xuất chính là sự tổng hợpcác thuộc tính như chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ sau bán hàng, mẫu

mã sản phẩm, phong cách quảng cáo

1.2.3 Các nhân tố tác động đến sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu

Hàng hoá luôn gắn với doanh nghiệp trong khi doanh nghiệp hoạt độnglại gắn liền với môi trường kinh doanh của mình Vì vậy, tác động đến sức cạnhtranh của hàng hoá xuất khẩu thì bên cạnh một số nhân tố thuộc môi trường nộitại doanh nghiệp còn có các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp

1.2.3.1 Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài doanh nghiệp

Môi trường kinh tế

Có thể nói đây là nhân tố quan trọng nhất tác động đến sức cạnh tranh củahàng hoá Môi trường kinh tế của một quốc gia ổn định hay bất ổn có tác độngtrực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Tính ổn định về kinh tế, trước hết và chủ yếu là nền tài chính quốc gia, ổn địnhtiền tệ và khống chế lạm phát tạo đà để tăng trưởng Tăng trưởng kinh tế là nhân

tố tác động trực tiếp đến sức mua của xã hội tạo điều kiện để sản phẩm mở rộngquy mô sản xuất

Bên cạnh đó, tài chính - tín dụng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởngkinh tế và khả năng cạnh tranh của một sản phẩm tăng trưởng nhanh phụ thuộcvào khu vực tài chính trong việc huy động và phân bố có hiệu quả tín dụng vàosản xuất các sản phẩm Ngoài ra, lãi suất tín dụng ảnh hưởng đến khả năng vaymượn của các cơ sở doanh nghiệp sản xuất sản phẩm Đầu tư cũng mang lạiđộng lực chủ yếu cho nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm Đầu tư có tínhchất quyết định đến đến việc đẩy nhanh tốc độ sản xuất sản phẩm chủ lực

Trang 16

Môi trường chính trị - pháp luật

Các nhân tố chính trị pháp luật là nền tảng quyết định các yếu tố khác củamôi trường kinh doanh Một quốc gia ổn định về chính trị, hệ thống luật phápnghiêm minh, chặt chẽ rõ ràng không phức tạp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cácdoanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, cạnh tranh lànhmạnh bình đẳng giữa các doanh nghiệp để nâng cao khả năng cạnh tranh hànghoá của mình

Môi trường tự nhiên - văn hoá xã hội

Điều kiện tự nhiên của từng vùng sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi hoặckhó khăn cho doanh nghiệp trong cạnh tranh Vị trí địa lý thuận lợi ở nhữngthành phố lớn hay trên các trục đường giao thông quan trọng, hệ thống cảngbiển cùng với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng sẽ tạo cơ hội cho doanhnghiệp phát triển, giảm chi phí, thu lợi nhuận, lợi thế cạnh tranh

Các nhân tố thuộc môi trường văn hoá xã hội như trình độ văn hoá, chuẩnmực đạo đức xã hội, cơ cấu dân số, phân hóa xã hội, sở thích, thói quen, thị hiếutiêu dùng, thái độ, niềm tin, phong tục tập quán của người tiêu dùng trong việcmua sắm và sử dụng sản phẩm cũng có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hànghoá đặc biệt là trong môi trường kinh doanh quốc tế Do vậy, khi nghiên cứu vàphát triển thị trường cần đặc biệt lưu ý khía cạnh này

1.2.3.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Trang 17

phẩm, tăng doanh thu, củng cố vị trí của mình trên thị trường.

Nguồn lực về công nghệ

Năng lực công nghệ ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến sức cạnh tranhcủa hàng hoá Đó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sảnxuất của doanh nghiệp Các công nghệ tiên tiến hiện đại cho ra đời những sảnphẩm có chất lượng cao, mẫu mã bao bì đẹp, nhiều tính năng ưu việt, đáp ứngtốt hơn nhu cầu của khách hàng và tạo ra lợi thế cạnh tranh rất lớn so với các đốithủ

Nguồn lực con người

Nhân lực là yếu tố quan trọng nhất của sản xuất kinh doanh bao gồm bacấp: lực lượng đội ngũ quản trị viên cao cấp, lực lượng đội ngũ quản trị viênđiều hành và công nhân Trình độ quản lý chiến lược và trình độ chuyên môncủa người lao động ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng cao sức cạnh tranh củasản phẩm hàng hoá

Văn hoá kinh doanh

Ngày nay, cạnh tranh trên thương trường quốc tế, vấn đề không chỉ còn làchất lượng và giá cả đơn thuần nữa Văn hoá kinh doanh đã xuất hiện và đã trởthành phương châm cho bất cứ doanh nghiệp nào muốn tồn tại, phát triển lâu dài

và bền vững Văn hoá trong kinh doanh có thể hiểu là việc kinh doanh tuân thủpháp luật và tôn trọng chữ "tín" với khách hàng Sự tín nhiệm của khách hàng làtài sản vô hình có giá trị nhất của doanh nghiệp Nó là nền tảng cho việc nângcao uy tín và thương hiệu nhà sản xuất, điều này gắn liền với khả năng nâng caosức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá

1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA SẢNPHẨM GỖ VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN

Khu vực hoá, quốc tế hoá là khuynh hướng chủ yếu của thế kỷ XXI, chấp

Trang 18

nhận mở hoà nhập vào thị trường quốc tế là chấp nhận xu hướng cạnh tranhngày càng khốc liệt Chúng ta sống trong nền kinh tế thị trường, điều đó cũngđồng nghĩa với việc luôn phải đối mặt với cạnh tranh, thách thức và rủi ro Cạnhtranh là một quy luật tất yếu và không thể tránh khỏi Tuy nhiên, cạnh tranh làđộng lực như Adam Smith gọi là "bàn tay vô hình" thúc đẩy lực lượng sản xuất

xã hội phát triển Cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực nhưng nó là độnglực phát triển cơ bản kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích của doanh nghiệp, lợiích của người tiêu dùng với lợi ích của xã hội Đối với toàn bộ nền kinh tế xãhội, cạnh tranh không chỉ là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao năngsuất lao động xã hội, nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân mà còn làyếu tố quan trọng trong việc làm lành mạnh các quan hệ kinh tế xã hội

Trong xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế thế giới, các quốcgia ngày càng liên hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau Các hàng rào mậu dịchdần được dỡ bỏ thay vào đó là chế độ mậu dịch tự do, các lợi thế về cạnh tranhban đầu về lao động và nguyên liệu giảm dần và đi đến triệt tiêu Trên thươngtrường quốc tế, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt hơn giữa các đốithủ Các doanh nghiệp sẽ phải chấp nhận cạnh tranh ngang ngửa với nước ngoài

để tồn tại và phát triển Vì vậy, việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá nóichung là hết sức cần thiết đối với Việt Nam trong điều kiện hội nhập như hiệnnay

Trong thời gian qua, với nhiều lợi thế về lao động, vị trí địa lý và tàinguyên thiên nhiên ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đã không ngừngtăng cả về quy mô và năng lực sản xuất, ngày một tăng nhanh cả về số lượng vàchất lượng sản phẩm, vươn lên vị trí thứ 5 trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lựccủa đất nước Thị trường sản phẩm gỗ ngày càng mở rộng do nhu cầu tăng cao

và trong thời gian tới vẫn tiếp tục sôi động trên quy mô toàn cầu Điều đó mở ra

cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam đi khai phá thị trường mới mẻ này

Trang 19

hàng mà chúng ta có lợi thế thì cũng chính là những mặt hàng các nước bạn cóthế mạnh Thực tế cho thấy, hoạt động xuất khẩu và cạnh tranh sản phẩm gỗViệt Nam chưa xứng với tiềm năng của ngành, chưa phát huy được lợi thế sosánh của mình so với đối thủ để chiếm lĩnh được chỗ đứng trên thị trường Vìvậy, tất yếu phải nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam.

Thực tế trong thời gian qua sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu nhiều nhấtvào 3 thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản Sự gần gũi về địa lý, nét tương đồng vềvăn hoá và sức tiêu thụ khổng lồ tại Á Châu là những yếu tố để chúng ta quantâm đến thị trường Nhật Bản Nhật Bản là nước phát triển, thu nhập bình quânngười dân cao, nhu cầu tiêu dùng đa dạng được đánh giá là thị trường rộng lớn

và đầy tiềm năng Hàng năm, tiêu dùng riêng cho đồ gỗ tại nước này xấp xỉ100USD/hộ/tháng Tuy nhiên tỷ trọng sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trườngNhật Bản còn chưa lớn, chỉ chiếm 20% (2010), còn rất nhiều tiềm năng Bêncạnh đó, người tiêu dùng Nhật Bản yêu cầu rất cao đối với sản phẩm gỗ Cạnhtranh trên thị trường này là vô cùng gay gắt với hàng loạt đối thủ mạnh nhưTrung Quốc, Đài Loan, các nước Đông Nam Á và cả các nước xuất khẩu gỗ caocấp từ châu Âu Vì vậy, việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ ViệtNam trên thị trường Nhật Bản là vô cùng cần thiết trong bối cảnh như hiện nay

Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường NhậtBản có vai trò sau:

Góp phần quan trọng trong việc phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế

Củng cố và nâng cao uy tín của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường thếgiới Nhật Bản là một thị trường rất khó tính và yêu cầu rất khắt khe về chấtlượng sản phẩm Khi sản phẩm gỗ của nước ta cạnh tranh được trên thị trườngNhật Bản thì đương nhiên được các thị trường khác công nhận, từ đó uy tínđược nâng cao

Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu, gia tăng doanh số cho xuất khẩu

Trang 20

từ đó thu được nhiều ngoại tệ về cho đất nước Từ đó tạo nguồn vốn cho Nhànước nhập khẩu công nghệ, máy móc, nguồn nguyên vật liệu cần thiết phục vụcho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá nước nhà Hiện nay hoạt động xuấtkhẩu sản phẩm gỗ của nước ta bị ảnh hưởng bởi một thực tế là nhập khẩu nguồnnguyên liệu quá lớn nên sau khi trừ đi mọi chi phí thì kim ngạch ròng còn lạikhông nhiều

 Tận dụng được những lợi thế so sánh: Việt Nam có đội ngũ lao động rấtdồi dào, giá nhân công rẻ, có khả năng đem lại sức cạnh tranh rất cao trên thịtrường sản xuất đồ gỗ xuất khẩu Hơn nữa, với tài nghệ của người thợ kết hợpvới những bí quyết sản xuất đồ gỗ mang tính đặc sắc chỉ có ở Việt Nam nhưchạm trổ đồ gỗ có khảm trai - mặt hàng được các khách nước ngoài rất ưachuộng

 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tác động dây chuyền đến sự pháttriển các ngành sản xuất hàng hoá trong nước phục vụ cho xuất khẩu và cácngành có liên quan như vận tải, bảo hiểm, ngân hàng

 Tác động tích cực trong việc giải quyết việc làm và cải thiện đời sốngnhân dân, góp phần nâng cao thu nhập cho một số lượng lớn lao động liên quanđến ngành chế biến gỗ xuất khẩu từ đó tạo động lực cho phát triển kinh tế

Trang 21

Chương 2THỰC TRẠNG CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO SỨC CẠNH

TRANH CỦA SẢN PHẨM GỖ VIỆT NAM TRÊN

THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN

2.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU CỦANGÀNH GỖ VIỆT NAM

2.1.1 Đặc điểm ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam

Những đặc điểm cơ bản của ngành chế biến gỗ xuất khẩu nói chung vàngành chế gỗ xuất khẩu Việt Nam nói riêng là một trong những vấn đề quantrọng trong việc phân tích thực trạng cạnh tranh và nâng cao sức cạnh tranh củasản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản Trước hết phải kể đến nhữngđặc điểm cơ bản chủ yếu của ngành chế biến gỗ xuất khẩu:

- Nhu cầu về sản phẩm gỗ rất đa dạng Rừng từ lâu đã gắn bó với con người

và sản phẩm gỗ từ rừng lại càng không hề xa lạ đối với cuộc sống của chúng ta.Với đặc tính đặc biệt của mình, sản phẩm gỗ vẫn có nhu cầu tiêu thụ rất lớn hiệntại cũng như trong tương lai

- Sản xuất: Các nước và khu vực sản xuất và xuất khẩu gỗ lớn nhất thế giới

là khu vực châu Âu, Bắc Mỹ, một số nước đang phát triển và chậm phát triển ởchâu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, Đông Á

- Tiêu thụ: Gỗ là mặt hàng nguyên liệu có quy mô buôn bán lớn thứ ba trên

thế giới chỉ sau dầu lửa và than đá Có khoảng 12.000 dạng sản phẩm gỗ đượctrao đổi buôn bán trên thị trường thế giới Sản phẩm gỗ được sử dụng trong rấtnhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Hơn nữa, thị trường gỗ thế giới vẫn cònnhiều tiềm năng phát triển do nhu cầu về gỗ rất lớn và vẫn tiếp tục sôi động ởquy mô toàn cầu

Một số đặc điểm riêng của sản phẩm gỗ ảnh hưởng đến công tác chế biến

Trang 22

và xuất khẩu:

- Gỗ là sản phẩm của núi rừng, phân tán rải rác khắp nơi: Vùng núi cao, địahình hiểm trở đã gây khó khăn trong vận chuyển sản phẩm khai thác, tăng chiphí kinh doanh, cản trở đối với thông tin liên lạc và sự chỉ đạo hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp

- Gỗ là tài nguyên quý giá của quốc gia đòi hỏi khai thác phải gắn bó với bảo

vệ và phát triển rừng Gỗ là tài nguyên không thể tái sinh được, phải mất nhiềunăm mới có thể có được cây gỗ hàng chục hàng trăm tuổi mà một thế hệ đờingười không đủ điều kiện để tái tạo ra

- Sản phẩm gỗ liên quan đến chính sách của Chính phủ và các quốc gia kháckhi kinh doanh xuất nhập khẩu Nhà nước ban hành chế độ, qui định bảo vệ tài

nguyên thiên nhiên đòi hỏi các doanh nghiệp tuân thủ

- Nguyên liệu gỗ phụ thuộc nhiều vào địa hình, khí hậu từng vùng khai tháckhác nhau nên khó đảm bảo tính đồng nhất về chất lượng theo nhu cầu khách hàng.Bên cạnh những đặc điểm chung của ngành chế biến gỗ xuất khẩu vốn có, ngànhchế biến gỗ Việt Nam còn có những đặc điểm riêng thể hiện qua các lợi thế:

- Ngành gỗ Việt Nam có truyền thống lâu đời:

Lịch sử cho thấy người dân Việt Nam có truyền thống làm nghề mộc Từxưa tay nghề của từng nhóm thợ mộc và chạm khắc đã tự truyền cho nhau đạtđến mức điêu luyện thể hiện qua các tác phẩm mộc điêu khắc trong đìnhchùa Cả nước hiện có khoảng gần 500 làng nghề mộc truyền thống Các làngnghề này cho ra đời những tác phẩm cực kì tinh xảo, thẩm mỹ cao, đậm chất dântộc từ đôi bàn tay tài hoa, tỉ mỉ của các nghệ nhân Yếu tố truyền thống là mộtlợi thế trong quá trình phát triển công nghiệp chế biến gỗ giai đoạn hiện nay

- Ngành gỗ Việt Nam có lợi thế về lao động

Trình độ công nghệ sản xuất của Việt Nam trong lĩnh vực này ở mức

Trang 23

trung bình, tuy nhiên có lợi thế về nguồn lao động dồi dào, khéo léo, chăm chỉ

và rẻ Trung bình 1 giờ làm việc của công nhân Việt Nam trong lĩnh vực này là0,4-1,2 USD, trong khi đó của Indonesia là 0,6-0,8 USD, Trung Quốc là 1,0-1,5USD, Malaysia là 2,5-2,8 USD, Thái Lan là 3 USD và Đài Loan là 9 USD Việctăng cường sử dụng lao động có thể thay thế được những thiết bị tự động và cácdây chuyền sản xuất phức tạp Tất cả những con số này cho thấy rằng, Giá cảsức lao động khá thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới, điều nàycũng tạo ra cho sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu một lợi thế cạnh tranh tốt trênthị trường Nhật Bản

- Số các doanh nghiệp tham gia vào ngành chế biến gỗ ngày càng nhiều

Tính đến tháng 4 năm 2011, cả nước đã có trên 3.000 doanh nghiệp chếbiến gỗ, trong đó khoảng 50% là số cơ sở chế biến gỗ quy mô nhỏ làm ra sảnphẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa hoặc gia công, sơ chế theo đặt hàng của các doanhnghiệp lớn Hiện có 1.200 doanh nghiệp chuyên chế biến xuất khẩu đồ gỗ, nhiềudoanh nghiệp đã phát triển thành các tập đoàn lớn Trong đó, chỉ với hơn 420doanh nghiệp FDI đã tạo ra khoảng hơn 55% giá trị kim ngạch xuất khẩu Bêncạnh đó là gần 500 làng nghề mộc truyền thống và nổi tiếng, góp vào kim ngạchxuất khẩu cả ngành gỗ hàng năm là 70 triệu USD Những con số đó cho thấy sự

lớn mạnh của ngành này trong những năm gần đây (Nguồn: Bản tin kinh tế số 5

– Vụ Tổng hợp Kinh tế - Bộ Ngoại giao)

2.1.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu gỗ Việt Nam

2.1.2.1 Vài nét về ngành chế biến gỗ của Việt Nam

Nguồn nguyên liệu cho sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu từ chỗ dựa chủyếu vào rừng tự nhiên là chính đã chuyển sang nguồn gỗ nhập khẩu và gỗ rừngtrồng là chính Theo số liệu thống kê, để bù đắp sự thiếu hụt về nguyên liệu gỗrừng tự nhiên, năm 2010 cả nước đã nhập khẩu 1,1 tỷ USD gỗ và sản phẩm gỗ

từ 23 thị trường trên thế giới Bên cạnh đó chúng ta cũng tăng cường sử dụng gỗ

Trang 24

rừng trồng để sản xuất xuất khẩu.

Đến nay, ngành chế biến gỗ đã hình thành mạng lưới toàn quốc có nhiềuthành phần kinh tế tham gia với tổng công suất chế biến khoảng 3 triệu m3 gỗquy tròn/năm phân bố theo các thành phần kinh tế: 374 xí nghiệp quốc doanhTrung ương và địa phương (lớn nhất là Tổng công ty VINAFOR) chiếm 31%năng lực chế biến Còn lại là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Nguồn: http://www.vinafor.com.vn).

2.1.2.2 Thực trạng công nghệ và năng lực ngành chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ

Nhìn chung các doanh nghiệp chế biến hiện nay đang dừng ở mức độ chếbiến bán cơ giới, quy mô vừa và nhỏ (khoảng từ 500 công nhân, sản xuất kếthợp kỹ thuật thủ công với cơ khí, sản xuất và xuất khẩu vài chục container 40feet đồ gỗ/ tháng) Đặc biệt ngành công nghiệp chế biến gỗ đã thu hút được trên

420 công ty có vốn đầu tư nước ngoài, chuyên sản xuất đồ gỗ xuất khẩu với tổng

số vốn đăng ký lên tới hàng trăm triệu USD, trong đó có những xí nghiệp quy

mô lớn trên 5000 công nhân

Tuy nhiên các cơ sở chế biến nhỏ thường phân tán Do tình trạng này màkhả năng cơ giới hoá và hiện đại hoá ngành chế biến cũng rất hạn chế

2.1.2.3 Thực trạng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm gỗ

Tình hình sản xuất chế biến sản phẩm gỗ

Ngành chế biến gỗ trong thời gian qua đã tạo ra được các sản phẩm phục vụtrong nước và xuất khẩu như gỗ xẻ, gỗ xây dựng, đồ mộc thông dụng, đóng tàuthuyền, giao thông vận tải, hàng thủ công mỹ nghệ, ván dảm mảnh và các sảnphẩm, song mây xuất khẩu Cơ cấu sản phẩm trên cơ sở giá trị hàng hoá chiếm

tỷ trọng cao nhất là đồ mộc (60%), tiếp đến là gỗ xẻ và hàng thủ công mỹ nghệ(13%) và thấp nhất là dăm mảnh (0,4%)

Trang 25

Cơ cấu sản phẩm và khối lượng sản phẩm giữa các vùng cũng có sự khácnhau Mặt hàng sản phẩm gỗ nội thất chiếm tỷ trọng cao, khoảng 71%, tiếp đến

là sản phẩm gỗ ngoài trời chiếm 17% và sản phẩm mỹ nghệ 8%

Tình hình xuất khẩu sản phẩm gỗ

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia nước ngoài, Việt Nam đang nổi lên và làmột trong những quốc gia có thế mạnh trong xuất khẩu các sản phẩm gỗ chếbiến và nội thất Nhờ hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới một cách chủđộng và hợp lý, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành chế biến gỗ và nộithất nói riêng đã được hưởng lợi từ tiến trình này

 Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu

Sản phẩm gỗ xuất khẩu từ chỗ chỉ là sản phẩm thô (gỗ tròn, gỗ xẻ) đã pháttriển lên một trình độ gia công cao hơn, áp dụng công nghệ tẩm sấy, trang trí bềmặt xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm có giá trị tăng thêm về côngnghệ và lao động Các mặt hàng xuất khẩu chính như sau:

Bảng 2.1: Cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu năm 2005

Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam

 Về kim ngạch xuất khẩu

Với cơ cấu và khối lượng sản phẩm nêu trên, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ củaViệt Nam từ năm 2000 trở lại đây không ngừng tăng lên: Giá trị kim ngạch xuất

Trang 26

khẩu gỗ năm 2000 mới chỉ là 219 triệu USD, năm 2005 đã đạt đến 1,517 tỷUSD, năm 2007 đạt 2,4 tỷ USD, đến năm 2010 đã đạt 3,4 tỷ USD, và tính riêng

9 tháng đầu năm 2011 đã đạt 2,9 tỷ USD tăng 18% so với cùng kỳ năm 2010

(xem bảng 2.2) Sản phẩm gỗ xuất khẩu đã vươn lên vị trí thứ 5 trong nhóm các

mặt hàng chủ lực của Việt Nam chỉ xếp sau dầu thô, giày dép, thuỷ sản và dệtmay Nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ đứng thứ 2 sau dầu thô Mà dầu thô tăng chủyếu do tăng giá dầu còn lượng xuất khẩu thì không những không tăng mà còn bịgiảm sút

Bảng 2.2: Kim ngạch XK sản phẩm gỗ Việt Nam giai đoạn 2005-2010

(Đơn vị: tỷ USD)

-Nguồn: Hải quan Việt Nam

Nhìn vào bảng số liệu, cho thấy ngành gỗ đã tăng trưởng vượt bậc thể hiện ở

sự tăng trưởng và phát triển không ngừng về kim ngạch qua các năm trong suốt

6 năm qua (không kể năm 2009, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới).Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam mới chỉ đạt giá trịhơn 1,5 tỷ USD mà đến năm 2010 giá trị kim ngạch đã lên tới con số 3,4 tỷ

USD, tăng 220% (Xem biểu đồ 2.1)

Trang 27

Biểu đồ 2.1: KNXK sản phẩm gỗ Việt Nam 2005-2010

 Về cơ cấu thị trường

Thị trường xuất khẩu đã có chuyển biến mạnh từ thị trường trung chuyển làchính sang thị trường tiêu dùng là chính Sản phẩm gỗ Việt Nam từ chỗ chỉ xuấtkhẩu sang các nước trong khu vực như Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc để rồicác nước này tái xuất khẩu sang các thị trường khác thì nay một số doanh nghiệpViệt Nam đã xuất khẩu trực tiếp sang các nước thị trường của người tiêu dùng.Hiện nay sản phẩm gỗ Việt Nam đã xuất khẩu sang 120 quốc gia với giá cả hợp

lý và chất lượng vừa phải, hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Những thịtrường lớn của Việt Nam là Hoa Kỳ (chiếm 38-41%), EU (chiếm 28-44%) vàNhật Bản (chiếm 12-15%) thị phần giá trị sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp quy hoạch chế biến gỗ Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025 – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) Bên cạnh

đó là Trung quốc, Đài Loan, Hàn Quốc… (Xem bảng 2.3)

Trang 28

Bảng 2.3: Top 10 thị trường chủ đạo xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam

Tình hình nhập khẩu nguyên liệu gỗ

Có tới 70 - 80% gỗ nguyên liệu sử dụng trong các doanh nghiệp chế biến gỗViệt Nam là từ nguồn nhập khẩu, vừa tạo ra ít giá trị gia tăng vừa tiềm tàngnhững rủi ro lớn về giá cả, về rào cản thương mại và rốt cục làm giảm khả năngcạnh tranh và hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp Kim ngạch nhập khẩunguyên liệu gỗ hàng năm tương đương khoảng 40-45% kim ngạch xuất khẩu sảnphẩm gỗ Cụ thể, năm 2005: 667 triệu USD; năm 2006: 760 triệu USD; năm2007: trên 1 tỷ USD; năm 2008: 1,095 tỷ USD; năm 2009: 1,134 tỷ USD

(Nguồn: Tổng cục Thống kê) Việt Nam nhập khẩu gỗ từ Lào, Campuchia, Thái

Trang 29

Lan, Malaysia, Mianma, Đài LoanTrung Quốc, Mỹ, Newzilan, Braxin… Năm

2009, sản lượng gỗ khai thác của Việt Nam đạt 3,766 triệu m3 Trong đó, lượng

gỗ khai thác từ rừng trồng đạt 3,626 triệu m3, còn lại là từ rừng tự nhiên Đểphục vụ ngành chế biến xuất khẩu gỗ, Việt Nam vẫn phải nhập đến 4 triệu m3

gỗ (Nguồn: Tổng cục Lâm nghiệp) Như vậy nếu Việt Nam không có kế hoạch

xây dựng vùng nguyên liệu cho ngành chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ thì chỉtrong thời gian tới Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ phụ thuộc lớn vàonguồn cung nguyên liệu gỗ từ thị trường nước ngoài

2.2 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ VIỆT NAM VÀO THỊTRƯỜNG NHẬT BẢN TRONG THỜI GIAN QUA

Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản đã có những bước phát triểnkhá tốt đẹp trong thời gian qua Nhật Bản luôn là một trong những thị trườngxuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với các mặt hàng như dầu thô, cà phê, chè, hảisản, giày dép, hàng dệt may và sản phẩm chế biến gỗ trong đó sản phẩm gỗchiếm 20% kim nhập nhập khẩu gỗ của Nhật Bản Và để đánh giá một cách sâusắc được thực trạng cạnh tranh và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ xuấtkhẩu Việt Nam trên thị trường Nhật Bản thì bên cạnh việc phân tích đối thủcạnh tranh, quan hệ cung cầu trên thị trường, việc nghiên cứu thực trạng hoạtđộng của xuất khẩu sản phẩm gỗ chế biến Việt Nam sang thị trường Nhật Bảntrong thời gian qua là vô cùng cần thiết

2.2.1 Về thị trường gỗ Nhật Bản

Nhật Bản là thị trường rộng lớn nhưng tính cạnh tranh rất cao do lượnghàng hoá nhập khẩu nhiều và từ nhiều xuất xứ khác nhau Vì vậy, để phân tíchđược thực trạng cạnh tranh và sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thịtrường Nhật Bản cũng như để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ ViệtNam trên thị trường này thì việc nắm được những thông tin chung nhất về thịtrường gỗ Nhật Bản với các quy định của thị trường và hệ thống phân phối là vô

Trang 30

cùng quan trọng và cần thiết.

2.2.1.1 Khái quát về thị trường gỗ Nhật Bản

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ II đã vươn dậy, phục hồi và hiệnnay trở thành nước có nền kinh tế hùng mạnh thứ ba trên thế giới (sau Mỹ vàTrung Quốc)

Quy mô thị trường

Dân số Nhật Bản theo điều tra năm 2010 là 126,804,433 với tỷ lệ tăng dân

số là 0,17%.GDP (danh nghĩa) ước tính năm 2010 là $5.474 nghìn tỉ(hạng 3),GDP/người là $43.168 Là một nền kinh tế phát triển với thu nhập bình quânđầu người cao, nhu cầu tiêu dùng lớn và đa dạng, Nhật Bản được đánh giá là thịtrường tiềm năng cho tất cả các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệpxuất khẩu gỗ của Việt Nam nói riêng

Nhật Bản là thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ lớn trên thế giới Tiêu dùngriêng cho đồ gỗ tại Nhật Bản sấp xỉ 150USD/hộ/tháng Đặc biệt trong xã hộicông nghiệp với mức độ rất cao như hiện nay, người Nhật ngày càng có nhu cầu

sử dụng đồ vật bằng chất liệu gỗ thay thế các vật liệu nhôm, sắt

Phân tích thị hiếu và xu hướng tiêu dùng sản phẩm gỗ của người Nhật Bản

Người Nhật thường có những đặc điểm chung sau:

Đòi hỏi cao về chất lượng : xét về mặt chất lượng, người Nhật Bản có

yêu

cầu khắt khe nhất Sống trong môi trường có mức sống cao nên người tiêu dùngNhật Bản đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính xác về chất lượng, độ bền, độtin cậy và sự tiện dụng của sản phẩm Họ sẵn sàng trả giá cao hơn một chút chonhững sản phẩm có chất lượng tốt Những lỗi nhỏ do sơ ý trong khâu vậnchuyển hay hoàn thiện sản phẩm ví dụ như những vết xước nhỏ, bao bì xô

Trang 31

lệch cũng có thể dẫn đến tác hại lớn làm lô hàng khó bán, ảnh hưởng đến kếhoạch sản xuất lâu dài của doanh nghiệp Bởi vậy, cần có sự quan tâm đúng mứctới khâu hoàn thiện, vệ sinh sản phẩm, bao gói và vận chuyển hàng.

Nhạy cảm với giá cả tiêu dùng hàng ngày

Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của người tiêu dùng Nhật.Người tiêu dùng Nhật Bản không chỉ yêu cầu chất lượng cao, bao bì đảm bảo,dịch vụ bán hàng và dịch vụ sau bán hàng tốt mà còn muốn mua hàng với giá cảhợp lý

Thị hiếu về màu sắc

Thị hiếu về màu sắc thuộc rất nhiều vào lứa tuổi Giới thanh niên NhậtBản ngày càng thiên về xu hướng căn cứ vào chất lượng và giá cả mua hàng.Còn các gia đình truyền thống, người ta thích màu nâu đất của nệm rơm và sànnhà Thị hiếu về màu sắc cũng có sự thay đổi theo mùa: xuân, hạ, thu, đông

Người tiêu dùng Nhật Bản ưa chuộng sự đa dạng của sản phẩm

Hàng hoá có mẫu mã đa dạng phong phú thu hút được người tiêu dùngtrong Nhật Bản Người Nhật giờ đây có sở thích rất đa dạng, họ thích các kiểu

đồ gỗ mở - tức là người sử dụng có thể tuỳ chọn bọc da hay bọc vải, có nệm haykhông có nệm, kích cỡ thay đổi to hay nhỏ để phù hợp với sở thích cá nhâncủa mình

Sinh thái

Gần đây, mối quan tâm đến các vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càngcao đã nâng cao ý thức sinh thái và bảo vệ môi trường của người tiêu dùng Cácsản phẩm đồ gỗ tái sinh cũng như đồ gỗ có nguồn gốc xuất xứ đang chiếm đượcthị phần lớn tại Nhật

Phân đoạn thị trường Nhật Bản về sản phẩm gỗ

Trước đây, đồ gỗ nhập khẩu vào Nhật Bản chủ yếu là các sản phẩm sang

Trang 32

trọng, cao cấp từ châu Âu, Mỹ và một số hàng đại trà từ Châu Á Trong nhữngnăm gần đây, nhiều sản phẩm châu Âu và Mỹ được bán với giá vừa phải do nỗlực của các nhà nhập khẩu cắt giảm chi phí phân phối Đồ gỗ châu Âu và Mỹthu hút người mua Nhật Bản do có kiểu cách đẹp, hiện đại, chất lượng tốt và uytín với những nhãn hiệu nổi tiếng Nhiều sản phẩm nhập khẩu từ châu Á là cácsản phẩm sản xuất dưới dạng OEM từ các cơ sở sản xuất của Nhật đóng tại nướcngoài Các sản phẩm này ít thay đổi nhiều về thiết kế so với các sản phẩm đượcsản xuất tại Nhật Trong khi đó các nước Asean đã có tiến bộ rất nhiều về chấtlượng sản phẩm và kiểu dáng, nhưng khi nhập khẩu vào Nhật Bản vẫn phải trải

qua các cuộc kiểm tra rất khắt khe (Xem phụ lục 1 Nguồn: Xuất khẩu gỗ

-những điều cần biết).

2.2.1.2 Các luật lệ và các quy định về nhập khẩu sản phẩm gỗ của Nhật Bản

Nhập khẩu thiết bị nội thất không có những quy định đặc biệt Tuy nhiêntheo Hiệp ước Washington về bảo tồn các loài động vật hoang dã và những sảnphẩm làm bằng chất liệu thuộc danh mục điều chỉnh của Hiệp ước này sẽ phải tuânthủ các quy định của Luật ngoại thương và ngoại hối trong khuôn khổ Hiệp ước

Các quy định pháp luật khi kinh doanh đồ gỗ

Một số sản phẩm đồ gỗ muốn kinh doanh trên thị trường Nhật Bản phảiđáp ứng được yêu cầu của "Luật nhãn hiệu chất lượng hàng tiêu dùng" và Luật

an toàn sản phẩm"

Luật về nhãn hiệu chất lượng hàng hoá : Yêu cầu của nhà nhập khẩu phải

đảm bảo nhãn hiệu của sản phẩm (như bàn, ghế, chạn bát ) phải có đầy đủ cácthông tin cho người tiêu dùng (Xem phụ lục)

Luật an toàn sản phẩm

Một số sản phẩm tiêu dùng mà kết cấu, vật liệu hoặc cách sử dụng đặt ravấn đề an toàn đặc biệt được coi là "sản phẩm đặc biệt" có quy định tiêu chuẩn

Trang 33

cho từng sản phẩm riêng biệt.

- Luật quy định giường cho trẻ em là sản phẩm đặc biệt loại 1

- Từ ngày 1/7/2003, các quy định mới về việc thải các chất hoá học dề bayhơi, về tiêu chuẩn nhà của Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và Giao thông được banhành và có hiệu lực tác động mạnh tới đồ gỗ xuất khẩu Đồ gỗ nhập khẩu bắtbuộc phải được kiểm tra formaldehyde theo luật JAS (quy định về sản phẩm gỗ),luật JIS (quy định về chất lượng công nghiệp) và luật BSL (đối với sản phẩmkhông thuộc phạm vi điều chỉnh của luật JAS và luật JIS)

Tiêu chuẩn công nghiệp tự nguyện:

- Nhãn hiệu căn cứ vào Luật an toàn hàng hoá SG: Hiệp hội sản phẩm antoàn cho người tiêu dùng được thành lập theo Luật an toàn hàng hóa đã đề ra cáctiêu chuẩn để đảm bảo tính an toàn của sản phẩm hàng hóa Đến nay, một số sảnphẩm đồ gỗ như tủ đựng đồ trong bếp, ghế không chân cho các phòng có trảichiếu, thảm (Tatami), giường hai tầng, ghế trẻ em, tủ trẻ em, cũi trẻ em phảituân theo tiêu chuẩn hàng hóa an toàn (nhãn hiệu SG) Sản phẩm mang nhãnhiệu SG có lỗi gây thương tích cho người tiêu dùng thì phải trả một khoản tiềnbồi thường là 100 triệu yên/người

- Nhãn hiệu tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản JIS Tiêu chuẩn công nghiệpNhật Bản JIS là một trong những tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi ở Nhật Tiêuchuẩn này dựa trên “Luật tiêu chuẩn hóa công nghiệp” được ban hành vào tháng

6 năm 1949 và thường được biết tới dưới cái tên”dấu chứng nhận tiêu chuẩncông nghiệp Nhật Bản” hay JIS Hệ thống JIS đã góp phần vào việc mở rộngtiêu chuẩn hóa trên phạm vi toàn bộ nền công nghiệp Nhật Bản

Theo quy định của điều 26 trong Luật tiêu chuẩn hóa công nghiệp: tất cả các

cơ quan của Chính phủ phải ưu tiên đối với sản phẩm được đóng dấu chất lượngJIS khi mua hàng hóa để phục vụ cho hoạt động

Trang 34

Theo tiêu chuẩn hóa công nghiệp, các tiêu chuẩn được đặt ra để đảm bảo chấtlượng hàng công nghiệp Các sản phẩm đạt được tiêu chuẩn JIS có thể đượcđóng dấu JIS Trong hệ thống các mặt hàng nội thất, bàn sử dụng cho văn phòng

sẽ được ký hiệu S1031-01, ghế văn phòng là S1032-01, tủ đựng hồ sơ văn phòng

là S1033-01, giường thông dụng các sản phẩm nội thất S1102-01, bàn ghế chotrường học là S1021-01…Hơn nữa khi được đóng dấu này, mỗi sản phẩm phải

có các thông tin chi tiết đi kèm

Các quy định về nhập khẩu

Đối với đồ gỗ xuất sang Nhật Bản, hàng hoá của Việt Nam không gặpnhiều rào cản trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của Nhật Bản nhưnhững mặt hàng khác do Nhật Bản khuyến khích nhập khẩu đồ gỗ nhằm đápứng nhu cầu tiêu thụ lớn trong nước Thuế suất nhập khẩu đối với hầu hết cácmặt hàng đồ gỗ đều bằng 0% Ngoài thuế nhập khẩu, tất cả các hàng hoá nhậpkhẩu và bán tại thị trường Nhật đều phải chịu mức thuế tiêu thụ là 5% Loại thuếnày phải được thanh toán ngay khi khai báo hải quan hàng nhập khẩu Thuế tiêuthụ được tính trên trị giá CIF của hàng nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu Bao

bì được miễn thuế nếu chúng chứa một lượng hàng có giá trị ít hơn 10.000 Yên

Từ ngày 26/05/1999, Nhật Bản và Việt Nam đã chính thức dành cho nhauquy chế tối huệ quốc MFN Chính vì vậy, trong 3 mức thuế nhập khẩu (mứcthuế nhập khẩu áp dụng chung, mức thuế theo quy định của WTO và mức thuế

ưu đãi) thì Việt Nam hiện được áp dụng chế độ ưu đãi của Hệ thống ưu đãi thuếquan phổ cập (GSP) nên có mức thuế thấp theo điều kiện phân bổ trước hoặc

miễn thuế (Xem phụ lục 2)

2.2.1.3 Hệ thống phân phối sản phẩm gỗ ở Nhật Bản

Nhật Bản là nước tiêu thụ hàng hoá lớn thứ 2 trên thế giới với hệ thốngphân phối rất đặc trưng: khá phức tạp, đội ngũ nhân viên đông, bộ máy cồngkềnh làm tăng chi phí tiêu thụ sản phẩm Sản phẩm gỗ nhập khẩu từ Việt Nam

Trang 35

nói riêng và từ nước ngoài nói chung vào Nhật Bản được cung cấp theo các

kênh phân phối chính là: (Xem sơ đồ 2.1)

Sơ đồ 2.1: Hệ thống phân phối sản phẩm gỗ Nhật Bản

Nguồn: http:// www.furniture-vietnam.com

Hiện có khoảng trên 6.920 cửa hàng chuyên bán đồ gỗ ở Nhật, trong đókhoảng 6.000 cửa hàng là cửa hàng dạng vừa và nhỏ, với diện tích bán hàng nhỏhơn 1.500 m2, 920 cửa hàng còn lại là các cửa hàng lớn có diện tích lớn hơn1.500 m2 Đây là đối tượng mà các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm đồ gỗ

cao cấp Việt Nam cần quan tâm

2.2.2 Tình hình xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam vào thị trường Nhật Bản

Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đang trong thời kì phát triển sôi động Kim

Nhà sản xuất đồ gỗ nước ngoài

Nhà xuất khẩu

Nhà nhập khẩu hoặc nhà sản xuất trong nước

Cửa hàng bán đồ đạc chuyên tổ hợp

Cửa hàng bán đồ đạc chuyên dụng NK

Cửa hàng tổng hợp

Công ty bán hàng theo thư đặt hàng

Công ty bán hang giao tại nhà

Các nhà bán lẻ

Công ty kiến trúc và thiết kế

Nhà thầu xây dựngTổng thầu

Người sử dụng cuối cùng – Khách hàng

Trang 36

ngạch xuất khẩu Việt Nam - Nhật Bản năm 2010 đạt 7,73 tỉ USD, chiếm 10,7%trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, tăng 23% so với năm

2009 Riêng 6 tháng đầu năm 2011 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Namsang Nhật Bản đạt 4,43 tỷ USD về trị giá, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước.Điều đáng nói là tốc độ luôn tăng trưởng cao, trung bình từ 15 - 19%/năm Đónggóp vào thành công đó không thể không kể đến sự vươn lên không ngừng và rấtđáng khich lệ của ngành gỗ xuất khẩu Thực trạng hoạt động xuất khẩu sảnphẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản thời gian qua thể hiện ở các mặtchủ yếu sau:

2.2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu

Thời gian qua, xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị trường Nhật Bản đã tăngdần với tốc độ tăng trưởng khá Nhu cầu nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của NhậtBản từ Việt Nam trong thời gian qua cũng khá ổn định trừ thời điểm năm 2009

có sự sụt giảm trong kim ngạch xuất khẩu do Nhật Bản phải chịu tác động nặng

nề của khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Bảng 2.4: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị

Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam

Tính chung 8 tháng 2011 Việt Nam đã xuất khẩu 362,8 triệu USD gỗ vàsản phẩm sang Nhật Bản, tăng 33,66% so với cùng kỳ năm 2010

So với kim ngạch xuất khẩu cả nước thì kim ngạch xuất khẩu sang NhậtBản chiếm khoảng 13% (giai đoạn 2005-2009) Nhật Bản là một trong 3 thị

Trang 37

trường trọng điểm xuất khẩu gỗ Hình 2.3 sẽ cho thấy mức đóng góp của thịtrường Nhật Bản vào kim ngạch chung của cả nước Năm 2006 mức đóng gópnày là 10,9%; năm 2007: 12,8%; năm 2008: 13,3%; năm 2009: 14%; năm 2010:13,4% Nhìn chung, mức đóng góp của thị trường Nhật Bản vào kim ngạchchung của cả nước đều tăng qua các năm Nhưng nhìn một cách tổng thể, nhờchính sách mở cửa nền kinh tế, khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước cùng mốiquan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản tốt đẹp và nỗ lực của các doanhnghiệp Việt Nam mà trong thời gian vừa qua sản lượng cũng như kim ngạch

xuất khẩu sản phẩm gỗ vẫn tăng tương đối đều qua các năm (Xem biểu đồ 2.2)

Biểu đồ 2.2: KNXK gỗ vào thị trường Nhật Bản giai đoạn 2006-2010 2.2.2.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu

Sản phẩm gỗ xuất khẩu sang Nhật Bản nhìn chung khá đa dạng gồm: gỗnhiên liệu dạng khúc (mã HS 4401), gỗ cây (mã HS 4403), gỗ đã cưa hoặc xẻtheo chiều dọc (mã HS 4407), tấm gỗ lạng làm lớp mặt (mã HS 4408), gỗ vántrang trí làm sàn (mã HS 4409), ván sợi bằng gỗ (mã HS 4412), gỗ dán (mã4412), khung tranh ảnh bằng gỗ (4414), hòm, hộp thùng bằng gỗ (4415), tượng

gỗ và đồ trang trí bằng gỗ (mã HS 4420), ghế ngồi (mã HS 9401), đồ nội thấtkhác và các bộ phận của chúng (mã HS 9403) Cơ cấu hàng gỗ xuất khẩu sangthị trường Nhật Bản được thể hiện ở bảng 2.5:

Trang 38

Bảng 2.5: Cơ cấu các chủng loại sản phẩm gỗ xuất khẩu vào thị trường

Nhật Bản năm 2008 (tỷ trọng tính theo kim ngạch)

2.2.2.4 Mạng lưới phân phối sản phẩm gỗ Việt Nam ở thị trường Nhật Bản

Hiện tại, chúng ta chưa thực sự tổ chức được những kênh phân phối củamình tại thị trường Nhật Bản, như những văn phòng đại diện hoặc chi nhánh đại

lý phân phối Chủ yếu chỉ dừng ở việc thông qua trung gian, môi giới như

Trang 39

tác còn việc xuất khẩu trực tiếp chưa nhiều Tuy nhiên gần đây các doanhnghiệp đã tích cực và năng động hơn khi đi khảo sát thị trường tìm kênh phânphối, mở văn phòng Nhiều doanh nghiệp đã có những trang web quảng cáogiới thiệu sản phẩm và bán hàng qua mạng Internet.

2.3 PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ CẠNH TRANH VÀ CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANHCỦA SẢN PHẨM GỖ VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN

2.3.1 Mức độ cạnh tranh về sản phẩm gỗ trên thị trường Nhật Bản

Quan hệ cung cầu trên thị trường là nhân tố thể hiện rõ nhất mức độ cạnhtranh trên thị trường ấy Nhu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản chỉ được cácnhà sản xuất đồ gỗ nội địa đáp ứng khoảng 40% Hàng năm Nhật Bản phải nhậpkhẩu một khối lượng lớn sản phẩm gỗ các loại Theo Jetro (Tổ chức Thúc đẩyngoại thương Nhật Bản), nhu cầu nhập khẩu đồ gỗ của Nhật vẫn đang gia tăng

Trung Quốc

Trung Quốc có trên 50.000 cơ sở sản xuất với 50 triệu nhân công và sản xuấtvới doanh số xấp xỉ 20 tỷ USD Trung Quốc hiện nay chiếm chỗ Italia trở thànhnhà xuất khẩu lớn nhất trên thị trường gỗ thế giới với 11,9% thị phần thế giới.Khuynh hướng nổi bật của Trung Quốc là cạnh tranh về giá bằng biện pháp "hạgiá thành và giảm giá bán" đồng thời kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm theomọi yêu cầu để tận dụng triệt để các cơ hội thị trường từ thấp tới cao, giảm cạnhtranh mua nguyên liệu đầu vào của các doanh nghiệp bằng chính sách "mua

Trang 40

theo hội bán theo nhu cầu" Các Hội buôn quy định trước về mức giá nhập khẩunguyên liệu để đảm bảo một trật tự kinh doanh vô hình buộc các nhà doanhnghiệp phải tuân thủ biện pháp giảm giá thành đầu vào là "đầu tư nhỏ phân kỳ".Nếu đầu tư lớn ngay tại một thời điểm sẽ vấp phải trỏ ngại về khấu hao lớn, khóthu hồi vốn đổi mới thiết bị Giảm giá thành sản phẩm được sản xuất ở dâychuyền thứ nhất có chi phí thấp do đã khấu hao hết, sẽ được tung ra bán ở cácthị trường cấp thấp Những sản phẩm sản xuất theo dây chuyền hiện đại sẽ đượcbán với giá cao ở thị trường cao cấp Chính phủ Trung Quốc phát huy hiệu lựctiến hành chính sách "tránh cạnh tranh mua, đẩy nhanh cạnh tranh bán" như cấmđầu cơ tư nhân nhưng nhà nước giữ vai trò là người điều tiết có quyền đầu cơ,tích trữ nguyên vật liệu để giảm xuất cho nền kinh tế, cung cấp tín dụng chohoạt động mua dự trữ để bình ổn giá, liên kết chặt chẽ các Trung tâm xúc tiếnthương mại Hoa Kiều trên thế giới Trong số các nước Châu Á xuất khẩu đồ gỗsang Nhật, Trung Quốc chiếm gần 29% thị phần

Indonesia

Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Indonesia là 1,505 tỷ USD

Ngày đăng: 19/12/2014, 20:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Mô hình 5 sức cạnh tranh của Micheal Porter - nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ việt nam trên thị trường nhật bản
Sơ đồ 1.1 Mô hình 5 sức cạnh tranh của Micheal Porter (Trang 9)
Bảng 2.1: Cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu năm 2005 - nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ việt nam trên thị trường nhật bản
Bảng 2.1 Cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu năm 2005 (Trang 24)
Bảng 2.2: Kim ngạch XK sản phẩm gỗ Việt Nam giai đoạn 2005-2010 - nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ việt nam trên thị trường nhật bản
Bảng 2.2 Kim ngạch XK sản phẩm gỗ Việt Nam giai đoạn 2005-2010 (Trang 25)
Bảng 2.3: Top 10 thị trường chủ đạo xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam  2009 – 2010 (ĐVT: USD) - nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ việt nam trên thị trường nhật bản
Bảng 2.3 Top 10 thị trường chủ đạo xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam 2009 – 2010 (ĐVT: USD) (Trang 27)
Sơ đồ 2.1: Hệ thống phân phối sản phẩm gỗ Nhật Bản - nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ việt nam trên thị trường nhật bản
Sơ đồ 2.1 Hệ thống phân phối sản phẩm gỗ Nhật Bản (Trang 34)
Bảng 2.4: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản (2006-2010) - nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ việt nam trên thị trường nhật bản
Bảng 2.4 Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản (2006-2010) (Trang 35)
Bảng 2.5: Cơ cấu các chủng loại sản phẩm gỗ xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản năm 2008 (tỷ trọng tính theo kim ngạch) - nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ việt nam trên thị trường nhật bản
Bảng 2.5 Cơ cấu các chủng loại sản phẩm gỗ xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản năm 2008 (tỷ trọng tính theo kim ngạch) (Trang 37)
Bảng 2.6: Mô hình ma trận SWOT áp dụng cho sản phẩm gỗ  Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản - nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ việt nam trên thị trường nhật bản
Bảng 2.6 Mô hình ma trận SWOT áp dụng cho sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w