Sở dĩ ngành chăn nuôi lợn chiếm vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi là nhờ các đặc điểm sinh vật học ưu việt của lợn như: Khả năng sinh sản cao, ăn tạp, chi phí thức ăn/1kg thức ăn t
Trang 11 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
3.1 Ý nghĩa trong học tập 2
3.2.Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 2
3.3.Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3
2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun T suis lợn 3
2.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn 7
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 18
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 19
PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ 22
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 22
3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 22
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 22
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 22
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 22
3.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của giun tóc lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 22
3.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun tóc lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 23
3.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh giun tóc lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 23
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của giun tóc lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 23
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun tóc lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 24
Trang 2CHƯƠNG IV DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của giun tóc lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 27
4.1.1 Kết quả mổ khám lợn để thu thập mẫu giun tròn Trichocephalus.spp ở huyện Yên Sơn 27
4.1.2 Kết quả định danh loài giun tóc ký sinh ở lợn tại huyện Yên Sơn28 4.1.3 Hình thái và cấu tạo của giun tóc trưởng thành và trứng 29
4.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun tóc lợn 29
4.2.1 Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun tóc cho lợn nói riêng ở tỉnh Tuyên Quang 29
4.2.2 Tình hình nhiễm giun tóc lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 30
4.4 Hiêu lực của thuốc tẩy giun tóc cho lợn trên thực địa 37
4.5 Độ an toàn của thuốc tẩy giun tóc cho lợn trên thực địa 38
4.6 Đề xuất quy tình phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 39
Phần 5: KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.1 Tồn tại 41
5.3 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 4ở huyện Yên Sơn 27
Bảng 4.2 Kết quả định danh loài giun tròn giống tóc ký sinh ở lợn tại huyện
Yên Sơn 28Bảng 4.3 Kích thước của giun tóc trưởng thành và trứng 29Bảng 4.4 Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh
giun tóc cho lợn nói riêng ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang 29Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc lợn ở các địa phương 30Bảng 4.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo phương thức chăn nuôi 34Bảng 4.8 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tình trạng vệ sinh thú y 36Bảng 4.9 Hiêu lực của thuốc tẩy giun tóc cho lợn trên thực địa 38Bảng 4.10 Độ an toàn của thuốc tẩy giun tóc cho lợn trên thực địa 39
Trang 5Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ nhiễm giun tóc theo tuổi lợn 33 Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ nhiễm giun tóc ở lợn theo phương thức chăn nuôi 35 Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ nhiễm giun tóc ở lợn theo tình trạng vệ sinh thú y 36
Trang 6Hình 2.2 Sơ đồ vòng đời của giun T suis 6
Trang 7PHẦN I : MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp, có hơn 80 %dân số sống bằng nghề nông, vì vậy phát triển kinh tế không thể không nóiđến ngành chăn nuôi và trồng trọt
Trong ngành chăn nuôi thì nghề chăn nuôi lợn chiếm một vị trí hết sứcquan trọng, cung cấp phần lớn số lượng thịt trên thị trường, bên cạnh đó còncung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt
Sở dĩ ngành chăn nuôi lợn chiếm vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi
là nhờ các đặc điểm sinh vật học ưu việt của lợn như: Khả năng sinh sản cao,
ăn tạp, chi phí thức ăn/1kg thức ăn tăng trọng thấp, thịt lợn có giá trị dinhdưỡng cao đáp ứng được nhu cầu xã hội
Để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, ngoài việc chú ý tới cácyếu tố như giống, khí hậu, điều kiện chăn nuôi thì công tác thú y cũng làmột công việc rất quan trọng, quyết định đến năng suất chăn nuôi và sự pháttriển của đàn lợn Công tác thú y còn góp phần nâng cao số lượng và chấtlượng sản phẩm của ngành chăn nuôi
Đặc biệt nước ta nằm trong vùng Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm nên thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnhcho vật nuôi Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinhtrùng đường tiêu hoá lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như nhữngbệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn Song, bệnh ký sinh trùng thường diễn
ra ở thể mạn tính, làm lợn sinh trưởng, phát triển chậm, tăng tiêu tốn thức ăn
và các chi phí như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng Nguy hiểm hơn,
ký sinh trùng ký sinh còn làm giảm sức đề kháng của lợn và là yếu tố mởđường cho nhiều loại vi khuẩn, vi rút xâm nhập gây bệnh Trong bệnh ký sinh
trùng thì bệnh do giun tròn Trichocephalus spp ký sinh ở đường tiêu hóa
được coi là loại bệnh phổ biến trên đàn lợn ảnh hưởng đến chất lượng và sốlượng sản phẩm
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng caonăng suất chăn nuôi lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang chúng tôi
Trang 8nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, dịch tễ bệnh do
giun tròn Trichocephalus spp gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun tóc cho lợn
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.2.Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công
tác nghiên cứu khoa học
- Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu về đặc điểm sinh học,dịch tễ bệnh do giuntóc gây ra ở lợn
- Lá cơ sở khoa học để lựa chọn các biện pháp phòng và trị bệnh giun tóccho lợn hiệu quả
3.3.Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để giúp người chăn nuôi xác định
được bệnh và áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh giun tóc cho lợn, nhằm hạn
chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phầnnâng cao năng suất chăn nuôi
Trang 9PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun T suis lợn
2.1.1.1 Vị trí của giun T suis trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Skrjabin K.I (1979) [41], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20] vị trí
của giun tròn Trichocephalus suis (T suis) trong hệ thống phân loại động vật
như sau:
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933
Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928
Họ Trichocephalidae Baird, 1953
Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T suis lợn
Theo Skrjabin K I (1979) [36], thì hình thái cấu tạo của giun tròn T suis
như sau: Con đực: Dài trung bình 40,35 mm; tối thiểu 33 mm; tối đa 48 mm.Chiều dài phần trước trung bình 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1mm (12 -
19 mm) Tỷ lệ chiều dài phần trước với phần sau 1,68 : 1 Thân phủ lớp cutin, trênlớp cutin có nhiều rãnh ngang nên lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ.Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranhgiới giữa phần mỏng và dày của thân Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035
- 0,044 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm Thực quản được baoquanh bởi một hàng tế bào đơn nhân theo dạng móc xích Ruột kết thúc bởi huyệttrên phần đuôi Hệ thống sinh dục gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầuhết phần sau thân Đuôi con đực vòng xoắn ốc Giao gai hợp kết thúc bằng mộtđỉnh nhọn Gai có chiều dài nằm trong khoảng từ 1,74 - 2,84 mm Chỗ rộngnhất của gai gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm Có bao gai bọc xung quanh vàcùng với gai nhô ra khỏi lỗ huyệt Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ,
Trang 10những gai này xếp theo thứ tự quân cờ Số lượng hàng gai nhỏ gần nơichuyển của bao vào thân 24 - 42; Ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăngtới 44 - 46 Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm Chiều rộng của baogai ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên về kích thước: Chiều rộng chỗ gần huyệt
là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai 0,079 - 0,159 mm Tất cảcon đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao nàymột phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân Chiều dài củachỗ gập 0,242 - 0,330 mm; rộng 0,290 - 0,352 mm
Con cái: Thân dài trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53 mm.Phần trước mỏng, phần sau dày Chiều dài phần trước của thân trung bình30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau 15 mm (13 - 18 mm) Trên danhgiới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phíasau cách đầu cuối của thực quản có âm hộ Âm hộ nhô ra ngoài, dạng hình trụhơi cong về phía sau (0,037 - 0,061 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050
- 0,075 mm) Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µm) Tửcung có hình ống thẳng hay hơi cong, nằm ngay trước âm hộ, dài 0,92 - 1,28mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng Đuôi con cái tù Trứng dài0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm Màu sắc thay đổi từ vàng nhạtđến vàng sẫm
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] đã mô tả giun T suis như sau:
Con đực: Dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm.Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài 14,00 - 15,00 mm; códạng xoắn lò xo Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mútcuối gai nhọn Bao gai phủ đầy gai nhỏ Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi
Con cái: Cơ thể dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phầntrước cơ thể dài 23 - 33 mm Ống sinh dục đơn Âm đạo có thành cơ dày,chứa đầy trứng Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm
Phan Địch Lân và cs (2005) [14] cho biết: Loài giun T suis trông giống
như một sợi tóc, màu trắng Cơ thể chia làm hai phần rõ rệt:
Phần đầu: Nhỏ, dài như sợi tóc, chiếm 2/3 chiều dài cơ thể, dưới lớp biểu bì
là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt
Trang 11Phần sau: Ngắn và to hơn phần đầu, bên trong chứa các cơ quan nội tạngcủa giun như: Ruột, cơ quan sinh dục….
Giun đực: Dài 20 - 52 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại, chỉ có mộtgai giao hợp dài 5 - 7 mm, được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ baophủ Lỗ sinh tiết thông với ngoài ở phần cuối của giun
Giun cái: Dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng Hậu môn ở đoạn cuối cùng, âm hộ
ở đoạn cuối thực quản Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kíchthước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm Hai cực có hai nút trong, vỏ dày có 2 lớp
Hình 2.1 Giun Trichocephalus suis a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực
(Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005)[14]
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13] cho biết: Hình thể của giun T suis
giống như một sợi tóc màu trắng Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt Phầntrước nhỏ như sợi tóc, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bàoxếp nối tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể Phần saungắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực dài 20 - 52 mmđuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 - 7 mm,gai giao hợp được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ Giun cáidài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản
2.1.1.3 Vòng đời của giun T suis lợn
Skrjabin K I (1979) [36] cho biết: Giun T suis phát triển không cần
vật chủ trung gian Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoạicảnh Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảmnhiễm từ 3 đến 4 tuần Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thànhhoàn toàn và chuyển động bên trong trứng
Trang 12Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [28], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3] thì
tuổi thọ của giun T suis ở lợn là từ 4 - 5 tháng.
Bonner Stewart T và cs (2000) [34] cho biết: Khi lợn nuốt phải
những ấu trùng giun T suis này nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi
niêm mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [14], thời gian hoàn thành vòng đời
của giun tròn T suis là 30 ngày.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [13], vòng đời phát triển của
giun T suis diễn ra theo sơ đồ sau:
Hình 2.2 Sơ đồ vòng đời của giun T suis
Giun T suis trưởng thành kí sinh ở manh tràng đẻ trứng, trứng theo
phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng) qua 15 - 28ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm Trứng này lẫn vào thức ăn,nước uống, nếu gia súc ăn phải, vào đường tiêu hóa trứng nở thành ấu trùng,thọc sâu phần đầu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng
thành Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tùy từng loài giun T suis nhưng đối với T suis cần 30 ngày.
Trang 132.1.1.4 Sức đề kháng của trứng giun T suis lợn ở ngoại cảnh
Theo Đặng Văn Ngữ và cs (1965) [21], ở ẩm độ tối đa (gần 100 %) vànhiệt độ 22 oC thì trứng phát triển được đến giai đoạn trứng cảm nhiễm.Nhưng cũng điều kiện ẩm độ như trên mà ở 30 oC thì trứng sẽ chết sau 1
tháng Nhiệt độ phát triển thuận lợi nhất của trứng giun Trichuris trichiura
(giun tóc người) ở ngoại cảnh là 25 - 30 oC Thời gian là 17 - 30 ngày tỷ lệtrứng có ấu trùng gần 90 % Nhiệt độ lên quá 50 oC làm hỏng phần lớn trứng
trước khi tới giai đoạn trứng cảm nhiễm Như vậy, trứng giun T suis và trứng giun Trichuris trichiura có giới hạn nhiệt độ phát triển thuận lợi ở ngoại cảnh
tương tự nhau
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], trứng giun T suis bị diệt
dưới tác dụng của ủ phân nhiệt sinh học Sau 3 - 4 tuần, nhiệt độ hố ủ tănglên tới 45 oC sẽ làm hủy trứng giun T suis Tuy nhiên, trứng non có khả
năng chịu đựng các điều kiện nhiệt độ cao hơn trứng cảm nhiễm
Theo Lehand S Shapiro (2005) [42], trứng giun T suis có thể tồn tại rất
lâu (vài năm) trong đất Sự phát triển của trứng phụ thuộc vào nhiệt độ: Ở 30 oCcần 17 ngày, ở nhiệt độ thất hơn, thời gian này kéo dài hơn Ở 10 oC trứng ngừngphát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống Nhiệt độ từ 45 oC trở lên diệt được
trứng giun T suis Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13]: Trứng giun T suis có
vỏ dày nên có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh
2.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn
2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do giun T suis gây ra ở lợn.
Bệnh ký sinh trùng thường là những bệnh mãn tính, làm giảm mức sinhtrưởng và sinh sản của gia súc, ảnh hưởng đến sản phẩm chăn nuôi Lợn nuôi lấythịt chậm lớn, sụt cân, phẩm chất thịt giảm (theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982) [27]
Bonner Stewart T và cs (2000) [34] cho biết: Tại Mỹ, nội ký sinh trùng
ở lợn hàng năm gây thiệt hại ước tính khoảng 538 triệu đô la, bao gồm thiệthại do lợn chết, tiêu hủy, giảm thu và chi phí để tẩy giun sán
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], T suis ký sinh là một trong
những nguyên nhân làm giảm năng suất chăn nuôi và tạo điều kiện cho
các mầm bệnh khác xâm nhập Lợn bị bệnh giun T suis giảm tăng trọng
từ 15 - 20 % so với lợn khỏe
Trang 142.1.2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun T suis
* Động vật mắc bệnh
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [33], lợn nhà và lợn rừng đều cảm
nhiễm với giun T suis.
Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [32], người nhiễm bệnh sau khi
nuốt phải trứng giun T suis lẫn trong nước hay thức ăn thực vật chưa được nấu chín Sau khi vào người, trứng cảm nhiễm phát triển thành giun T suis
trưởng thành, khu trú ở ruột thừa và gây bệnh cho người Giun đẻ trứng, trứngnày được bài xuất ra ngoài qua phân người, sau khi phát triển thành trứng cảmnhiễm thì có khả năng gây nhiễm lại lợn (tuy nhiên tỷ lệ trứng phát triển chỉ
có 11 %, trong khi trứng giun T suis ở lợn có tỷ lệ phát triển là 86 %).Bùi Qúy Huy (2006) [6] cho biết : Giun T suis ở lợn và giun Trichuris trichiura ở
người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học và kháng nguyên, do
đó bệnh giun T suis dễ lây sang người.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [10] cho biết: Lợn sau khi cai sữa ở
tỉnh Thái Nguyên nhiễm giun T suis 23,01 % - 27,01 %
* Đường lây nhiễm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [15], bệnh lây nhiễm qua đườngtiêu hóa do lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước
uống.Lây nhiễm trực tiếp: Lợn bệnh bài xuất trứng giun T suis qua phân,
những trứng này phát tán trên nền chuồng, máng ăn, máng uống Vì vậy, lợn
khỏe dễ dàng bị nhiễm trứng giun T suis
Lây nhiễm trực tiếp chủ yếu giữa lợn bệnh và lợn khỏe trong cùng một
ô chuồng Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu khi bú sữa mẹ, nuốt phải trứng bám ởđầu vú lợn mẹ
Lây nhiễm gián tiếp: Dụng cụ chăn nuôi, người chăm sóc… cũng là tácnhân mang mầm bệnh Đây là những yếu tố trung gian góp phần lây nhiễm
giun T suis từ lợn bệnh sang lợn khỏe, từ ô chuồng này sang ô chuồng khác.
Ngoài ra, ruồi, chuột cũng có thể phân tán trứng giun, gió cuốn trứng
giun theo bụi, mang trứng giun T suis từ chuồng này sang chuồng khác gây
phát tán mầm bệnh
Trang 15* Tuổi mắc bệnh
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [24], bệnh thường xảy ra nặng nề đối với
lợn con dưới 6 tháng tuổi Lợn nái và lợn trưởng thành nhiễm giun T suis nhẹ
hơn, ít thể hiện các triệu chứng lâm sàng
Theo Lương Văn Huấn và cs (1990) [5] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun T suis theo
tuổi lợn như sau:
Dưới 3 tháng tuổi nhiễm 20,4 %
Từ 3 - 4 tháng tuổi nhiễm 21,2 %
Từ 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 8,5 %
Trên 6 tháng tuổi nhiễm 6,4 %
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3], lợn ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi nhạy cảm
nhất với giun T suis Kết quả điều tra tại hợp tác xã Tiền Phong (Hà Nội), lợn Ỉ lai Yorkshire, Berkshire có tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn dưới 2 tháng tuổi là 16 %,
trong khi lợn 5 tháng tuổi nhiễm 13,5 % và lợn 7 tháng tuổi nhiễm 6,2 % Tại hợp
tác xã Đông Mỹ (Hà Nội) tỷ lệ lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm giun T suis là 20,8 % Ngày tuổi bình quân phát hiện trứng giun T suis trong phân lợn nội là 74 ngày (từ
58 89 ngày), lợn lai Landrace 56 ngày (43 64 ngày), lợn Berkshire 61 ngày (56
-75 ngày), lợn lai Yorkshire 76 ngày và lợn ngoại 62 ngày (38 - 81 ngày)
Theo Phạm Sĩ Lăng và cs (2009) [17], tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn theo
tuổi ở Hà Nội như sau: Lợn từ 2 - 6 tháng tuổi nhiễm 4,3 - 30 %, lợn trên 6tháng tuổi nhiễm 0,56 - 7,8 %
* Vùng mắc bệnh
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], bệnh giun T suis ở lợn phân bố trên toàn
thế giới Tại Việt Nam, bệnh cũng đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh miền Bắc,
miền Trung và miền Nam Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm T suis từ 4,3 - 30 % (ở lứa tuổi
từ 2 - 6 tháng) và 0,56 - 7,8 % (ở lứa tuổi trên 6 tháng)
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [24], kết quả điều tra ở các lò mổ các tỉnh, tỉ
lệ nhiễm giun T suis ở lợn như sau: Nghĩa Lộ: 40,3 % ; Quảng Ninh: 33,7 % ;
Thanh Hóa: 12,5 %; Hải Hưng: 15,1 % ; Nam Hà: 33,3 %; Hà Bắc: 27,3 %
* Phương thức chăn nuôi
Giun tròn T suis là loài phát triển trực tiếp nên tỷ lệ nhiễm trong đàn
lợn là rất cao, lên đến 100 % Còn những loài giun sán phải qua ký chủ trung
Trang 16gian thì tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thức ăn trồng ở nước hay
ở cạn, sự tồn tại của ký chủ trung gian và điều kiện vệ sinh chăn nuôi (dẫntheo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [26]
Mổ khám 57 lợn và xét nghiệm 1000 mẫu phân lợn tại xã Yên Nguyên(Tuyên Quang) cho biết: Tỷ lệ nhiễm các loài giun tròn ở lợn thả rông là 47 %(dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [26] Bornay F J và cs (2003) [47] chobiết: Kiểm tra 5 trại lợn chăn nuôi theo phương thức công nghiệp tại tỉnh Alicante
(Tây Ban Nha) thấy tỷ lệ nhiễm T suis là 11 %.
2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh
* Đường xâm nhập
Bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa do lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm lẫntrong thức ăn, nước uống (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [17]) Nguyễn Thị Kim Lan
và cs (2012) [13] cho biết: Bệnh giun T suis lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ
trung gian Trứng cảm nhiễm xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua đường tiêu hóa do
lợn ăn phải thức ăn, nước uống có lẫn trứng giun T suis.
* Đường bài xuất mầm bệnh
Lợn mắc bệnh sau một thời gian bài xuất trứng theo phân ra ngoài ngoạicảnh Vì vậy, trứng được phát triển rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triểnbắt đầu để tạo thành trứng cảm nhiễm (trứng có ấu trùng bên trong)
* Vị trí gây bệnh
Giun T suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt ở manh tràng
và kết tràng
* Quá trình sinh bệnh
Phần đầu của giun T suis nhỏ, dài, cắm sâu vào niêm mạc ruột gây tổn
thương, mở đường cho vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể vật chủ Ngoài ra, trong quá
trình sinh sống, giun T suis thải ra cặn bã và độc tố làm con vật trúng độc.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]: Giun T suis lấy dịch tổ
chức niêm mạc ruột để sống gây ra hiện tượng xuất huyết, viêm ruột và dẫnđến ỉa chảy
Ngoài tác động chiếm đoạt dinh dưỡng của lợn, giun T suis còn gây tác
hại nặng nề cho lợn
Trang 17- Tác hại cơ giới: Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9],
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], phần đầu của giun T suis cắm sâu vào
thành ruột gây tổn thương, làm niêm mạc ruột già bị viêm và xuất huyết,gây rối loạn tiêu hóa, làm cho lợn có hội chứng hồng lỵ
- Tác hại mang trùng: Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3], giun
T suis ký sinh gây tổn thương, tạo điều kiện cho các nhân tố khác xâm
nhập Nhân tố gây bệnh kế phát là xoắn khuẩn và phẩy khuẩn
- Tác hại tiết độc tố: Độc tố là những sản phẩm mà giun T suis bài tiết
ra làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, gây rối loạn tiêu hóa
2.1.2.4 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích
* Triệu chứng lâm sàng
Theo Skrjabin K.I (1979) [36], triệu chứng bệnh giun T suis phụ thuộc
vào cường độ nhiễm Khi nhiễm nặng lợn có biểu hiện da khô, xù lông, ỉa chảy rồi
bị táo bón… Độc tố do T suis tiết ra có tác dụng gây bệnh mạnh, làm cho vi
nhung mao và các tế bào biểu mô mất đi tính chất cấu tạo và bị phân hủy
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [15]: Phần đầu của giun T suis cắm
sâu vào thành ruột để hút chất dinh dưỡng gây tổn thương, tạo điều kiện choviêm ruột già nhiễm khuẩn Các tổn thương cũng có thể gây xuất huyết ruộtgià, nên lợn có hội chứng lỵ
Lợn trưởng thành nhiễm giun T suis thường không thể hiện rõ các triệu
chứng lâm sàng Lợn con ở các lứa tuổi 2 - 4 tháng bị nhiễm giun xuất hiệncác dấu hiệu: Ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng sau phân sệt có nhiều dịch nhày nhưmũi, lẫn máu Mỗi lần thải phân lợn bệnh phải cong lưng để rặn, nhưng phânchỉ ra rất ít Các triệu chứng trên giống như lợn bị kiết lị Nếu không đượcđiều trị kịp thời lợn con sẽ bị kiệt sức rồi chết sau 6 - 10 ngày Lợn bị bệnhmãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm
Theo Trần Thị Dân (2008) [3], ruột già khác ruột non ở chỗ: Không cónhung mao nhưng có vi nhung mao Về tổng quát, ruột non là nơi tiết nướccòn ruột già là nơi hấp thu nước Ruột già nguyên cẹn có thể hấp thu bù trừnước khi ruột non tiết nhiều Tuy nhiên những tổn thương ở ruột già do tácđộng của giun T.suis kí sinh sẽ làm giảm khả năng tái hấp thu nước, dẫn đếntiêu chảy
Trang 18Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13]: Khi nhiễm nhẹ thì triệu trứngkhông rõ, khi nhiễm nặng thì con vật ăn kém, gầy yếu, thiếu máu, tiêu chảy,trong phân có lẫn máu và những mảnh niêm mạc ruột bị bong tróc Con vật cókhi bị kiết lỵ, đi ngoài liên tục nhưng mỗi lần đi rất ít phân, phân lẫn máu vàchất nhày Bệnh thường thấy ở lợn con, lợn mẹ và lợn 6 tháng tuổi trong giaiđoạn vỗ béo thì rất ít bị bệnh.
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3] cho biết: Về mặt tổ chức học, giun
T suis ký sinh gây viêm niêm mạc, thâm nhiễm tế bào, hình thành nhiều
vết loét và tạo nhiều niêm dịch
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13]: Lợn bị bệnh giun T suis xác chết gầy, có nhiều giun T suis ở ruột già (nhất là manh tràng) Một số giun
T suis vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột, phải kéo mạnh mới lấy ra được.
Trên niêm mạc ruột có những lỗ loét to bằng hạt đậu xanh Khi bị nhiễm
nặng, toàn bộ ruột già có giun T suis ký sinh dày đặc, niêm mạc ruột sần
sùi, xuất huyết, lớp chất nhầy trên niêm mạc có màu hồng sẫm Niêm mạcruột có thể bị bong tróc từng mảng
2.1.2.5 Chẩn đoán bệnh giun T suis ở lợn
* Với gia súc sống
Để chẩn đoán bệnh có thể áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm sàngkết hợp với đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm Chẩn đoántrong phòng thí nghiệm lại gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định tính nhằm xác định có hoặc không có giun T suis ký sinh Đây
là phương pháp thông dụng để đánh giá tình hình nhiễm giun T suis ở lợn.
Nghiên cứu định lượng nhằm xác định số lượng trứng trong phân để đánh giámức độ nhiễm và hiệu quả của một số thuốc tẩy giun
Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Nhữngtriệu chứng lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô, lông xù, ỉa chảy…
Trang 19Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ, tìnhtrạng vệ sinh thú y… Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói trên đểchẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường có nhữngtriệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể trạng gầy, da khô, lôngxù…) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến hành xét nghiệm phân tìm
trứng giun T suis (theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [9].
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [15], có 4 phương pháp xét nghiệmphân: Phương pháp trực tiếp, phương pháp Fullerborn, phương pháp Darling
và phương pháp Cherbovick
- Phương pháp trực tiếp
Dùng đũa thủy tinh lấy 1 mẫu phân bằng hạt đậu của con vật định xétnghiệm, để mẫu phân lên phiến kính sạch, nhỏ 1 - 2 giọt glycerin 50 % vàomẫu phân Nghiền nát phân trong glycerin và gạt cặn bã ra 2 đầu phiến kính.Phân được dàn mỏng trên phiến kính và kiểm tra dưới kính hiển vi để tìmtrứng giun tròn
- Phương pháp phù nổi (Fulleborn)
Nguyên lý: Dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng của dung dịch muốiNaCl bão hòa lớn hơn tỷ trọng của trứng giun Trứng sẽ nổi lên trên, ta có thểtìm thấy trứng giun dưới kính hiển vi, độ phóng đại 100 hoặc 400
Cách pha dung dịch muối bão hòa: Cho 380 g muối NaCl vào 1 lítnước sôi, khuấy đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên bềmặt có lớp muối kết tinh là được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn
Cách xét nghiệm phân: Dùng đũa thủy tinh lấy 1 mẫu phân khoảng 5 - 10gam của con vật cần xét nghiệm, chẩn đoán Để phân vào cốc (nên dùng cốcnhựa) cho tiếp nước muối bão hòa vào cốc với lượng thể tích gấp 10 lần khốilượng phân Dùng đũa thủy tinh khuấy nát phân và lọc qua phễu lọc vào lọ tiêubản Cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được giữ lại
Sau khi đã để yên từ 15 - 20 phút, dùng vòng vớt lớp váng phía trênmặt dung dịch để lên phiến kính sạch, đậy lá kính và kiểm tra dưới kính hiển
vi tìm trứng giun tròn
Trang 20- Phương pháp Darling
Nguyên lý: Dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng giữa dung dịch NaCl bão
hòa và trứng giun, đồng thời lợi dụng lực ly tâm để phân ly trứng giun T suis
nhẹ hơn ra khỏi phân Khi đó, dùng vòng sắt vớt lớp váng phía trên ta sẽ tìmđược trứng giun
Cách xét nghiệm: Lấy khoảng 5 - 10 gam phân của con vật cần chẩnđoán, để vào một cốc nhựa Cho vào đó một lượng nước sạch gấp khoảng 10 lầnthể tích khối lượng phân, dùng đũa thủy tinh khuấy tan phân và lọc qua phễu lọcvào các ống ly tâm, cặn bã bỏ đi Sau đó ly tâm dung dịch phân với tốc độ 3000vòng /phút từ 3 - 5 phút Đổ bỏ lớp nước phía trên và giữ lại cặn trong các ống lytâm Sau đó cho nước muối bão hòa váo ống ly tâm bịt miệng ống và lắc đều chocặn bã hòa đều trong dung dịch, tiến hành li tâm lần 2 với thời gian và tốc độnhư trên, dùng vòng vớt để vớt lớp váng nổi trên bề mặt, đặt lên các phiến kínhsạch, đậy lá kính, kiểm tra dưới kính hiển vi tìm trứng giun
- Phương pháp Cherborvich: Phương pháp này hoàn toàn giống phương phápDarling, chỉ khác dung dịch bão hòa sử dụng là MgSO4
Thường dùng để chẩn đoán, xét nghiệm phân tìm trứng giun tròn có tỷtrọng cao (khi có ấu trùng bên trong) Cách tiến hành tương tự như phươngpháp Darling nhưng dùng dung dịch MgSO4 bão hòa có tỷ trọng cao hơn nướcmuối (NaCl) bão hòa để làm nổi những trứng đã hình thành ấu trùng bêntrong khi theo phân ra ngoài
Trang 212.1.2.6 Biện pháp phòng và trị bệnh giun T suis cho lợn
Hagsten Dr (2000) [35] cho rằng, thực chất của bất kỳ chương trình khốngchế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết Và điều này phụthuộc trước hết vào sự ô nhiễm nơi đó Mức độ ô nhiễm cao là những nơi lợn nuôitrong tình trạng vệ sinh thú y kém, ít sử dụng các thuốc phòng và trị bệnh cho lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], để phòng bệnh T suis cần thực
hiện tốt các biện pháp sau:
Vệ sinh chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi để hạn chế sựphát tán trứng giun, kết hợp với sử dụng hóa chất phun vào chuồng trại theo định
kỳ như: Dung dịch NaOH 2 %, Cresyl 3 %, nước vôi 10 % để diệt trứng giun
Việc phòng bệnh giun T suis nói riêng và các bệnh ký sinh trùng nói
chung có ý nghĩa rất quan trọng Vì vậy, để nâng cao hiệu quả trong việc
phòng ngừa bệnh T suis, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, giảm
thiệt hại kinh tế chúng ta cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
- Vệ sinh chuồng trại, thiết bị sạch sẽ Không sử dụng chung các dụng
cụ chăn nuôi khi chưa qua khử trùng Cơ sở chăn nuôi phải được xây ở nơicao ráo, có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Chuồng trại khi xây dựngphải đảm bảo đông ấm, hè mát
- Ở các cở sở bị ô nhiễm, có thể sử dụng những hóa dược đặc hiệu tẩy
dự phòng cho lợn nái trước khi sinh và cho lợn từ 2 - 4 tháng
- Chất thải từ đàn gia súc phải được thu gom ủ phân để diệt trứng giun.Hiện nay có hai phương pháp ủ đó là ủ yếm khí (biogas) và ủ hiếu khí (ủ phâncompost), khi ủ phân nhiệt độ trong hố ủ có thể lên đến 60 oC làm cho trứnggiun sán bị chết
- Thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật hoang dã
vì chúng là những động vật môi giới mang mầm bệnh phát tán trong tự nhiên
Trang 22- Không nuôi chung lợn ở nhiều nứa tuổi khác nhau trong cùng mộtkhu vực.
- Thức ăn phải đảm bảo về chất lượng, nước uống sạch sẽ
- Có kế hoạch tẩy giun T suis định kỳ cho lợn.
Tất cả các nghiên cứu trước đây cho thấy việc phòng ngừa các bệnhgiun tròn cho lợn gồm: Diệt giun trong cơ thể lợn, mục đích làm cho con vậtkhỏe mạnh và ngăn ngừa ngoại cảnh không bị ô nhiễm; diệt trứng giun ởngoại cảnh mục đích đề phòng cho lợn không bị nhiễm bệnh
* Biện pháp trị bệnh
Nguyễn Xuân Bình và cs (1996) [1] cho biết, hiện nay trên thị trường
có nhiều thuốc điều trị bệnh giun T suis Tuy nhiên, tác giả khuyên nên dùng một trong các hóa dược sau để tẩy giun T suis cho lợn:
- Levamisol: Liều 7,5 mg /kg TT
- Mebendazol: Liều 5 mg /kg TT
- Ivermectin: Liều 0,3 mg /kg TT
Trong thời gian điều trị cần chăm sóc, nuôi dưỡng tốt
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], để tẩy giun T suis có hiệu quả
cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
+ Trước tiên phải chẩn đoán bệnh chính xác Sau đó tẩy cho những lợn
bị nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng Với mục đích phòng bệnh thì nêntẩy cho cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiệnđược
+ Xác định thời điểm tẩy thích hợp Tốt nhất là tẩy vào mùa xuân(tháng 3 - 4) và mùa thu (tháng 8 - 9) Lượng phân lợn thải ra phải đem ủnhiệt sinh học để diệt mầm bệnh, sau 15 - 20 ngày kiểm tra để đánh giá hiệuquả của thuốc
Theo Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2000) [19], Levamisol tên thương phẩm là Tramisol hay Ripercol, thuốc có thể trộn vào thức ăn hay
pha nước uống có phổ tác dụng rộng với giun tròn Ngoài ra, Fenbendazoltên thương phẩm là Safe Guard, thuốc có thể trộn vào thức ăn dùng liên tục
trong 3 ngày, không tồn dư trong cơ thể, có hiệu quả mạnh đối với giun T suis.
Trang 23Theo Phạm Đức Chương và cs (2003) [2], các thuốc dùng để điều trịbệnh giun tròn có hiệu quả cao như:
Levamisole: Thuốc có tác dụng đối với cả ấu trùng và giun trưởng
thành Hiệu lực tẩy giun T suis là 72 - 99 %.
Ivermectin: Tác dụng trên phổ rộng đối với nhiều loại giun tròn Tiêmdưới da liều 0,3 mg /kg TT lợn, có tác dụng làm giảm 94 - 100 % các giai
đoạn chưa trưởng thành của giun T suis.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17], có thể dùng một trong các hóa dược
sau để tẩy giun T suis cho lợn:
Mebenvet: Dùng liều 50 mg /kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn một lần.Fenbendazol: Liều 30 mg /kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn từ 6 - 15ngày
Levamisol: Liều 7,5 mg /kg TT, trộn thức ăn hoặc tiêm cho lợn
Febentel: Liều 20 mg /kg TT thuốc dùng dạng uống
Ivermectin: Liều 0,2 - 0,3 mg /kg TT, thuốc dùng tiêm cho lợn 2 lần,cách nhau 1 - 2 ngày
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [13] , việc dùng thuốc tẩy giunphải đạt được những yêu cầu sau:
Trước hết phải tiêu diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho vậtnuôi Chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bịnhiễm bệnh giun sán Tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vật khác Phảidùng thuốc tẩy giun sán từ lúc nó chưa trưởng thành, chưa đẻ trứng và phảitiêu độc thật tốt phân có trứng giun
Dùng thuốc tẩy giun sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức
là độc với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực nhấtđối với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền và
dễ dùng nhất
Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt,
bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đótrước khi cho con vật nuôi vào lại
Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc có
hiệu lực chống được nhiều loài ký sinh trùng như: Mebendazole có tác dụng
Trang 24tẩy nhiều loài giun tròn Có các loại thuốc điều trị giun tròn như:
Menbendazol; Levamisol; Ivermectin; Febentel; Oxybendazol.
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Năm 1975 - 1979 điều tra ở 10 địa điểm thuộc 10 vùng địa lý khác nhau
trong những điều kiện chăn nuôi khác nhau trên khoảng 2000 con lợn bằngcách xét nghiệm phân cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đầu gai
(Macracanthoruynobis hirudinageus) là 0,18 %, giun T suis là 2,3 %, giun đũa (Ascaris suum) là 56 %, các loài giun xoăn (Strongilata) là 3,25 % Tuổi
lợn nhiễm các loại giun tròn nặng nhất là từ 2 - 4 tháng tuổi trên một tỷ lệnhiễm chung là 49 - 65,9 % Qua mổ khám thấy các loài giun sán chính ở lợn
là: Ascaris suum, Metastrongylus enlongatus, T suis, Oesophagostomum dentatum (Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1975 [22]).
Theo Nguyễn Đăng Khải (1996) [7] , tỷ lệ nhiễm T suis ở 7 vùng kinh tế
Ở một số tỉnh phía Nam, Lương Văn Huấn và cs (1990) [5], ở các tỉnh:
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, lợn nhiễm giun T suis với tỷ lệ 14 %;
Quảng Nam, Đà Nẵng 8,75 %; Quảng Ngãi, Bình Định 27,5 %; Phú Yên, KhánhHoà 8,3 %; Lâm Đồng 10 %; Đồng Nai 26,3 %; Bình Dương, Bình Phước 10 %;
Trang 25Tây Ninh 8,6 %; thành phố Hồ Chí Minh 39,0 %; Long An 11 %, Tiền Giang 2 %;Cần Thơ, Sóc Trăng 8,69 - 30 %.
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [14], kết quả điều tra mổ khám ở 7tỉnh miền Bắc và miền Trung như sau: Tỷ lệ nhiễm giun đũa từ 13 - 43 % với
cường độ nhiễm trung bình từ 3,0 - 21,5 con /lợn Tỷ lệ nhiễm giun T suis từ 12,5 - 40,3 % Tác giả còn cho biết: Do giun T suis lợn và loài giun tóc gây
bệnh cho người có rất nhiều điểm giống nhau về mặt hình thái Do vậy, bệnhnày ở lợn có thể lây sang người, người nhiễm bệnh một cách tự nhiên do nuốt
trứng giun T suis của lợn chứa ấu trùng Sau khi vào ruột người, ấu trùng phát triển thành giun T suis trưởng thành, cư trú ở ruột và gây bệnh giun tóc
ở người Sau khi trứng giun T suis được bài xuất ra ngoài qua phân người có
khả năng gây nhiễm lại cho lợn (tỷ lệ trứng phát triển chỉ có 11 % so với
trứng của lợn có tỷ lệ phát triển là 86 %).
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [10], khi nghiên cứu T suis và các loại
ký sinh trùng đường tiêu hóa lợn tại Thái Nguyên thấy: Đàn lợn nuôi ở Thái
Nguyên nhiễm T suis, Oesophagostomum sp và Fasciolopsis buski Trong đó, lợn bình thường nhiễm T suis 23,01 %; Oesophagostomum 20,86 %; Fasciolopsis buski 18,71 %; tỷ lệ nhiễm tương ứng ở lợn tiêu chảy là 27,01 %; 23,85 % và 16,95
%, mức độ nhiễm T suis ở lợn tiêu chảy lớn hơn lợn bình thường.
Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợnsau cai sữa Lợn sau cai sữa tại Thái Nguyên mắc tiêu chảy là 11,81 % Ở lợn bình
thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại Ascaris suum, Oesophagostomum sp., Strongyloides, Fasciolopsis buski và T suis nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ
cao hơn và mức độ nặng hơn (theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009 ) [12]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Hale O M và Stewart T B (1979) [39], đã tiến hành thí nghiệm nhưsau: 48 lợn ở 83 ngày tuổi có khối lượng trung bình 25,7 kg /con Căn cứ vàotính biệt và khối lượng ban đầu, số lợn này được chia thành 4 nhóm, mỗinhóm 12 con Mỗi nhóm lợn được gây nhiễm bằng một trong 4 mức như sau:
Nhóm 1 : 0 trứng giun T suis /kg TT
Nhóm 2 : 550 trứng giun T suis /kg TT
Nhóm 3 : 1100 trứng giun T suis /kg TT
Trang 26Nhóm 4 : 1650 trứng giun T suis /kg TT
Khẩu phần ăn và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng ở mỗi nhóm được thựchiện như nhau trong suốt thời gian thí nghiệm
Trứng giun T suis dùng để gây nhiễm được lấy từ những lợn bị bệnh giun
T suis nặng trong tự nhiên Những trứng này được nuôi trong dung dịch Kali
Bicromat 1 % trong phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 25 oC và chỉ những trứng đãphát triển thành trứng cảm nhiễm (trứng có ấu trùng) mới được gây nhiễm cholợn Mỗi nhóm lợn được gây nhiễm qua đường tiêu hóa bằng một số lượng trứngnhư đã trình bày Lợn thí nghiệm được theo dõi trong vòng 77 ngày
Kết quả thí nghiệm như sau: Khối lượng cuối cùng (khi kết thúc thínghiệm) và tăng trọng hàng ngày của lợn gây nhiễm bị ảnh hưởng dưới tác động
của giun T suis Mức độ bị ảnh hưởng tỷ lệ thuận với số lượng trứng giun T suis đã gây nhiễm ban đầu Khi kết thúc thí nghiệm, lợn không bị nhiễm giun T suis nặng hơn 23 % và tăng trọng hàng ngày nhanh hơn 35 % so với những lợn
bị nhiễm trung bình 1650 trứng giun T suis /kg thể trọng (P < 0,05).
Vào ngày thứ 21 sau gây nhiễm, khối lượng trung bình của những lợngây nhiễm bắt đầu giảm xuống so với những lợn đối chứng (lợn nhóm 1).Kết quả này phù hợp với những nghiên cứu của Powers (1960) khi tácgiả cho rằng có sự khác nhau về khối lượng giữa nhóm lợn đối chứng vànhóm lợn thí nghiệm trong 3 tuần đầu sau gây nhiễm
Kết quả sau 77 ngày, tất cả những lợn gây nhiễm (lợn nhóm 2, 3 và 4)đều bị tiêu chảy với những mức độ khác nhau Lợn ở nhóm 4 (gây nhiễm
với cường độ cao nhất 1650 trứng giun T suis /kg TT) bị nặng nhất: Có 4 lợn
trong nhóm 4 bị ỉa ra máu trong khi đó nhóm 3 có 2 lợn ỉa ra máu
Cuối cùng, có sự khác nhau lớn về số lượng giun ký sinh tìm được khi
mổ khám giữa các nhóm lợn được gây nhiễm Số lượng giun biến động từ 0
- 4410 ở nhóm 2; từ 0 - 8850 ở nhóm 3 và từ 10 - 3350 ở nhóm 4 Số
lượng giun T suis trung bình khi mổ khám ở lợn thuộc nhóm 2, nhóm 3 và
nhóm 4 tương ứng là 1067, 2386, và 1532 Lợn chỉ tăng được 10,9 kg trong
77 ngày Không tìm thấy giun T suis khi mổ khám những lợn thuộc nhóm 1.
Kết quả này phù hợp với những nghiên cứu của Hass và Collins (1973)
Trang 27Johanes Kaufmann (1996) [43] cho biết: Ivermectin với liều 300 µm /kg TTcho hiệu quả tốt trong 1 - 2 tuần Tuy nhiên, cần chú ý tới lượng sữa của lợn mẹ khi
sử dụng thuốc tẩy
Theo Bowman D D (1999) [37], biện pháp tẩy giun trước khi chúng trưởngthành có tác dụng phòng bệnh rất tốt Hầu hết các tác giả đều thống nhấtPhenothiazin là một trong những thuốc ức chế giun trưởng thành đẻ trứng và có tácdụng tẩy cả giun non nên được khuyến cáo dùng Mejer H và cs (2001) [44]cho
biết: Ngoài Ascaris suum thì Oesophagostomum và T suis cũng rất phổ biến ở lợn tại Đan Mạch Oesophagostomum và T suis ký sinh ở ruột già (manh tràng) nhưng những tác động bệnh lý do chúng gây ra là rất đáng kể T suis nhiễm ở mức nặng
ảnh hưởng đến tăng trọng và có thể gây chết nhiều lợn con
Pedersen S và cs (2001) [45] đã nghiên cứu ảnh hưởng của giun T suis và
A suum ký sinh đến sự thiếu sắt của cơ thể lợn Sáu mươi hai lợn ở 10 tuần tuổi được chia làm 2 lô: Lô 1 gây nhiễm đồng thời 4500 trứng giun T suis và 1200 trứng giun A suum Lô 2: Đối chứng Khẩu phần ăn của lợn ở 2 lô là như nhau Kết quả cho thấy, giun T suis và A suum ký sinh đã làm cho cơ thể lợn thiếu sắt,
ngoài ra số lượng hồng cầu trong máu của những lợn này giảm thấp
Bornay F J và cs (2003) [47] cho biết: Kiểm tra 5 trại lợn chăn nuôi theo
phương thức công nghiệp tại tỉnh Alicante (Tây Ban Nha) thấy tỷ lệ nhiễm T suis
là 11 % Helene Kringel và cs (2006) [40] đã làm thí nghiệm sau:
Lô thí nghiệm: Gây nhiễm 40 lợn với 5000 trứng giun T suis /lợn.
Lô đối chứng: 40 lợn Số lợn của 2 nhóm được nuôi trong những điềukiện tương tự nhau và theo dõi từ tuần 1 - 11 Kết quả mổ khám lợn thí
nghiệm đã thu được những giun T suis ký sinh.
Kết quả nghiên cứu mô học cho thấy sự xuất hiện của T suis gắn liền
với những biến đổi bệnh lý đường ruột lợn Tại niêm mạc manh tràng củanhững lợn bị nhiễm, số lượng bạch cầu ái toan tăng lên ở tuần thứ 5 Số lượngđại thực bào tăng đáng kể từ tuần thứ 5 - 11 sau gây nhiễm
Jarvis Toivo và cs (2007) [41] nghiên cứu về nội ký sinh trùng lợn tại một trang
trại nuôi lợn rừng ở Estonia, thấy tỷ lệ nhiễm các loài như sau: Oesophagostomum spp.
64 %, T suis 21 %, Metastrongylus sp 7 % và Eimeria spp 100 %